1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình việt nam đàm phán, kí kết hiệp định thương mại tự do (fta) và hiệp định bảo hộ đầu tư (ipa) với liên minh châu âu (2010 2020)

112 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quá trình Việt Nam đàm phán, ký kết hiệp định thương mại tự do (FTA) và hiệp định bảo hộ đầu tư (IPA) với Liên minh châu Âu (2010 - 2020)
Tác giả Nguyễn Thị Hương
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Sáng
Trường học Đại học Đà Nẵng - Trường Đại học Sư phạm
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 8,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Thứ nhất: Nhóm các công trình nghiên cứu về các nhân tố tác động đến sự tham gia của Việt Nam vào EVFTA và EVIPA Các công trình này chủ yếu khai thác những yếu tố tác động đến quá trì

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

TRANG THÔNG TIN LUẬN VĂN THẠC SĨ iii

ENGLISH INFORMATON ON THESIS iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Đóng góp của luận văn 9

7 Cấu trúc của luận văn 9

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LIÊN MINH CHÂU ÂU VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN, KÍ KẾT HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO (FTA) VÀ HIỆP ĐỊNH BẢO HỘ ĐẦU TƯ (IPA) 10

1.1 Tổng quan về EU 10

1.1.1 Sự ra đời và lịch sử phát triển 10

1.1.2 Cơ cấu tổ chức và nguyên tắc hoạt động 13

1.2 Các nhân tố tác động đến quá trình Việt Nam đàm phán và í ết hiệp định EVFTA và EVIPA 16

1.2.1 Lợi ích tự do hoá thương mại đối với Việt Nam và EU 16

1.2.2 Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước 19

1.2.3 Truyền thống hợp tác Việt Nam-EU trước hi í ết EVFTA và EVIPA 21 1.2.4 Sự hác biệt và các rào cản thương mại Việt Nam và EU 24

Tiểu kết chương 1 29

CHƯƠNG 2 TIẾN TRÌNH ĐÀM PHÁN, KÍ KẾT HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO (FTA) VÀ HIỆP ĐỊNH BẢO HỘ ĐẦU TƯ (IPA) VỚI LIÊN MINH CHÂU ÂU (2010 - 2020) 30

2.1 Quá trình đàm phán, kí kết EVFTA và EVIPA 30

2.1.1 Giai đoạn 2010 - 2017 30

2.1.2 Giai đoạn từ 2017 đến 2020 39

Trang 8

2.2 Các nội dung đạt được từ quá trình đàm phán, í ết EVFTA và EVIPA 42

2.2.1 Nội dung đạt được EVFTA 42

2.2.2 Nội dung đạt được của EVIPA 48

Tiểu kết chương 2 53

CHƯƠNG 3 NHẬN XÉT VỀ QUÁ TRÌNH VIỆT NAM ĐÀM PHÁN, KÍ KẾT HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO (FTA) VÀ HIỆP ĐỊNH BẢO HỘ ĐẦU TƯ (IPA) VỚI LIÊN MINH CHÂU ÂU (2010 - 2020) 54

3.1 Đặc điểm của quá trình đàm phán EVFTA và EVIPA 54

3.1.1 Đàm phán diễn ra lâu dài, phức tạp 54

3.1.2 Đàm phán toàn diện 56

3.1.3 Sự chủ động trong quá trình đàm phán, í ết đến từ phía EU 58

3.2 Ý nghĩa, tác động của việc kí kết EVFTA và EVIPA đối với Việt Nam 60

3.2.1 Phương diện kinh tế 60

3.2.2 Phương diện chính trị 64

3.3.3 Các phương diện khác 66

Tiểu kết chương 3 69

KẾT LUẬN 70

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 72

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73 PHỤ LỤC

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (Bản sao)

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN Hiệp Hội các quốc gia Đông Nam Á Association of Southeast Asia

EVFTA Hiệp định Thương mại tự do Việt

Nam - Liên minh châu Âu

European- Vietnam free Trade Agreement

EVIPA Hiệp định Bảo hộ Đầu tư Việt Nam -

liên minh Châu Âu

European – Vietnam Investment Protection Agreement

FTA Hiệp định Thương mại Tự do Free Trade Agreement

ECSC Cộng đồng than và Thép Châu Âu European Coal and steel

SPS Hiệp định về các biện pháp vệ sinh

và kiểm dịch động vật

Sanitari and phytosanitari

VJEPA Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam-

Nhật Bản VN-EAEU

FTA

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh kinh tế Á Âu

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

2.2.1a Tóm tắt cam ết của EU dành cho một số sản ph m xuất h u của

Việt Nam sang thị trường EU theo EVFTA [18, tr 2-3] 43

2.2.1b Tóm tắt cam ết của Việt Nam dành cho một số sản ph m xuất

h u của EU sang thị trường Việt Nam theo EVFTA [18, tr 2-3] 45

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Đất nước ta

chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế uy tín quốc tế như ngày nay” [8, tr 25]

Để có thể khẳng định như vậy, trong hơn 35 năm đổi mới, Việt Nam đã hông ngừng

đ y mạnh thực thi đường lối đối ngoại hội nhập quốc tế hợp lý Trong bối cảnh thế giới đang chuyển mình mạnh mẽ, đứng trước nhiều cơ hội cũng như thách thức, việc tận dụng được các thời cơ đó sẽ giúp chúng ta đạt được nhiều mục tiêu, vị thế mới hết sức cần thiết Trong thực tế, Việt Nam đã xây dựng được chiến lược hội nhập đúng đắn với nhiều quốc gia, tổ chức khu vực và một trong những tổ chức quan trọng nhất

là Liên minh Châu Âu (EU) Thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1990 đến nay, quan

hệ Việt Nam - EU đã phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực, nhất là quan hệ thương mại Tháng 6 năm 2012, Việt Nam và EU đã chính thức triển hai đàm phán Hiệp định thương mại tự do (FTA) Sau 14 vòng đàm phán, FTA giữa Việt Nam-EU đã cơ bản hoàn thành vào tháng 12 năm 2015 tại Brussels, mở ra một kỷ nguyên mới cho thương mại hàng hóa giữa hai nền kinh tế nói riêng và hợp tác toàn diện nói chung Trong quá trình hội nhập, cả Việt Nam và EU đều tìm thấy những lợi ích khi phát triển mối quan

hệ từ hai phía Năm 2020, Hiệp định thương mại tự do và Hiệp định bảo hộ đầu tư với Liên minh Châu Âu cũng được phê chu n ngay sau đó càng khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, đặc biệt là trong mối quan hệ với EU Do đó, việc nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến hai hiệp định này là một vấn đề có ý nghĩa hoa học

và thực tiễn

Đại dịch COVID-19 đã ảnh hưởng đến tình hình sản xuất, xuất nhập kh u của không chỉ Việt Nam mà cả khu vực EU và trên toàn thế giới Tăng trưởng kinh tế năm nay ở khu vực EU được dự báo thấp hơn nhiều so với mục tiêu đề ra Trong bối cảnh

đó, việc Hiệp định EVFTA và Hiệp định EVIPA được đưa vào thực thi mang ý nghĩa quan trọng, giúp bù đắp sự suy giảm của các nền kinh tế trong giai đoạn dịch bệnh EVFTA và EVIPA được dự báo mang đến cơ hội thị trường đa dạng hơn cho cả doanh nghiệp Việt Nam và EU để lấy lại đà tăng trưởng Khi Hiệp định EVFTA và EVIPA được đưa vào thực thi, doanh nghiệp Việt Nam sẽ có lợi thế rất lớn từ việc giảm, xóa

bỏ hàng rào thuế quan vào thị trường EU để khai thác thị trường 18.000 tỷ USD này

Về nhập kh u, doanh nghiệp Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ nguồn hàng hóa, nguyên liệu nhập kh u với chất lượng tốt và ổn định với mức giá hợp lý hơn của EU Nguồn máy móc, thiết bị, công nghệ - kỹ thuật cao từ các nước EU sẽ giúp nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng sản ph m của Việt Nam Ngoài ra, hàng hóa, dịch vụ từ EU

Trang 12

vào Việt Nam sẽ tạo ra sức ép để doanh nghiệp Việt Nam nỗ lực cải thiện năng lực cạnh tranh Bởi vì nhận thức được vai trò quan trọng của mối quan hệ giữa Việt Nam – Liên minh Châu Âu đặc biệt là tầm quan trọng của EVFTA và EVIPA trong bối cảnh hiện nay Cho nên, việc nghiên cứu tìm hiểu về quá trình Việt Nam đàm phán và kí kết hiệp định EVFTA và EVIPA có ý nghĩa vô cùng quan trọng góp phần nhận diện nhiều lợi ích và giá trị to lớn trong quá trình hội nhập của Việt Nam Nó rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm quý giá từ tiến trình đàm phán, hội nhập của Việt Nam đối với

EU cũng như cho các FTA mà Việt Nam sẽ đàm phán trong tương lai

Thêm vào đó, ở Việt Nam trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về tổ chức EU và mối quan hệ với Việt Nam Nhìn chung các công trình kể trên chỉ là những bài viết, các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học về một khía cạnh nào đó trong mối quan hệ Việt Nam – EU Cho đến nay, chưa có công trình nào được công bố hoàn chỉnh bàn về tiến trình đàm phán và í ết EVFTA và EVIPA từ năm

2010 đến năm 2020, qua đó nhận thức được rằng: với EVFTA và EVIPA, chuỗi giá trị mới của Việt Nam và một đối tác quan trọng trên thế giới sẽ được hình thành EVFTA và EVIPA thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của cả EU và Việt Nam trong việc thúc đ y quan hệ song phương phát triển mạnh mẽ, trên nhiều lĩnh vực và thực chất hơn Hơn nữa, đây là hiệp định thế hệ mới có mức độ cam kết sâu rộng và toàn diện nhất, EVFTA và EVIPA sẽ mở ra những cơ hội to lớn để thức đ y trao đổi thương mại đầu tư, thúc đ y phát triển bền vững trong bối cảnh EU là một trong hai thị trường xuất kh u lớn của Việt Nam Vì vậy, việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam - EU qua quá trình đàm phán và í ết EVFTA và EVIPA ở giai đoạn này có ý nghĩa quan trọng, bổ khuyết cho một vấn đề còn thiếu vắng trong quan hệ Việt Nam - EU, góp phần tăng cường các tư liệu, công trình nghiên cứu ở Việt Nam về quan hệ Việt Nam

và EU ở giai đoạn từ 2010- 2020

Từ những lý do kể trên, chúng tôi chọn: Quá trình Việt Nam đàm phán, kí kết

Hiệp định Thương mại tự do (FTA) và Hiệp định bảo hộ đầu tư (IPA) với Liên minh châu Âu (2010-2020) làm đề tài luận văn thạc sĩ

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

EU đang trở thành một trong những trung tâm kinh tế của thế giới, có vai trò và tác động to lớn đến tiến trình phát triển của thế giới Vì vậy, EU sớm trở thành đối tượng nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước với nhiều công trình đã được xuất bản Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về quá trình đàm phán và í ết EVFTA – EVIPA từ 2010 đến năm 2020 chưa được đề cập nhiều và chưa được nghiên cứu một cách hoàn chỉnh Các công trình đó chủ yếu đề cập nghiên cứu theo bốn nhóm vấn đề sau:

Trang 13

- Thứ nhất: Nhóm các công trình nghiên cứu về các nhân tố tác động đến sự

tham gia của Việt Nam vào EVFTA và EVIPA

Các công trình này chủ yếu khai thác những yếu tố tác động đến quá trình Việt Nam tham gia vào các FTA với EU, những chủ trương của Đảng và Chính phủ trên

con đường hội nhập với thế giới: Tài liệu tuyên truyền Hiệp định thương mại tự do

giữa Việt Nam và liên minh kinh tế Á – Âu của Ban Tuyên giáo Trung ương Trong

quá trình hội nhập, mọi vấn đề phải theo chủ trương của Ban Tuyên giáo Trung ương- đó là im chỉ nam cho mọi hành động Ngoài ra, một số bài viết, công trình nghiên cứu trình bày một cách khái quát nhất về Liên minh Châu Âu và Việt Nam

trước khi tiến hành hiệp định thương mại tự do như: Hiệp định thương mại tự do

giữa Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên minh châu Âu (Liên minh châu

Âu và nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam); Các hiệp định thương mại tự do

của Việt Nam với các nước đăng trên tạp chí Asia Business Consulting; Hỏi đáp về Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA) do Bộ

Công Thương ấn hành; Tổng quan về hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và

liên minh kinh tế Á- Âu (VN- EAEU FTA) Bộ Công Thương - Vụ Thị trường Châu

Âu chủ trì; Kì họp thứ 9 quốc hội khóa XIV thông qua nghị quyết phê phán EVFTA

và EVIPA đăng trên Bản tin ISG (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Vụ Hợp

tác Quốc tế); EVFTA –động lực mới cho tăng trưởng xuất kh u của Việt Nam (Đinh

Quang Hinh) Báo cáo chuyên đề, Công ty Cổ phần Chứng khoán VNDIRECT; Th c

đ y quan hệ thương mại – đầu tư giữa iên hiệp Ch u u và Việt Nam trong những

n m đầu thế I do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) NXB

Khoa học xã hộI (Bùi Huy Khoát); Đánh giá tác động thuế quan của Hiệp định

EVFTA đến một số ngành xuất nhập kh u của Việt Nam đăng trên Tạp chí Công

Thương (Võ Thị Ngọc Trinh, Cao Bằng); Quy tắc xuất xứ (Roo) trong các hiệp định

thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam là thành viên của Trung tâm WTO và Hội

nhập, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam C m nang doanh nghiệp NXB

Tài chính; Tóm lược Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu

(EVFTA) Trung tâm WTO và Hội nhập Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt

Nam (VCCI); Kinh tế và thương mại quốc tế tác động tới doanh nghiệp Việt Nam Kỷ

yếu Hội thảo Khoa học Quốc tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân NXB Lao động

– xã hội; Quan hệ Việt Nam - E Đối tác b nh đ ng hợp tác toàn diện l u dài v

h a b nh và phát tri n, Tạp chí Nghiên cứu châu Âu(Đinh Công Tuấn) ; Hiệp định mậu dịch tự do (FTA) Việt Nam – E trợ lực cho quan hệ hợp tác song phương”,

Tạp chí Nghiên cứu châu Âu (Đinh Công Tuấn)

Ngoài ra, một số tài liệu nước ngoài có đề cập đến cơ hội và thách thức đối với

Trang 14

Việt Nam khi tham gia vào EVFTA như: The panorama for Vietnam’s Timber

Industry with Vietnam-EU Free Trade Agreement (EVFTA): Opportunities and challenges, Academic Cooperation Project Working Paper Series (Bao, H C A.); EU- Vietnam Free Trade Agreement: Insights on the Substantial and Procedural Guarantees for Labour Protection in Vietnam” (Areg, N.) European Papers

Trên phương diện tổng thể, các công trình đã tóm lược những yếu tố tác động tới mối quan hệ Việt Nam và EU trong bối cảnh tiến hành đàm phán, í ết EVFTA và EVIPA hay tác động EVFTA và EVIPA đối với Việt Nam Tuy nhiên, là các công trình ở phạm vi của bài báo hay là kỉ yếu trong một hội thảo khoa học quốc tế không

có tập trung chủ yếu về chủ đề các nhân tố tác động đến sự tham gia của Việt Nam và

EU vào EVFTA và EVIPA nên còn nhiều vấn đề về các nhân tố tác động đưa Việt Nam tham gia vào liên minh thương mại với EU thông qua hiệp định EVFTA- EVIPA chưa được làm sáng tỏ thông qua các công trình nói trên

- Thứ hai: Nhóm các công trình nghiên cứu về quá trình đàm phán, kí kết của

EVFTA- EVIPA và sự chuẩn bị của Việt Nam

Đây là nội dung nhận được sự quan tâm của rất nhiều công trình nghiên cứu, đặc

biệt là quá trình đàm phàn để Việt Nam tham gia vào EVFTA và EVIPA cụ thể là: Tờ

trình tóm tắt về việc phê chu n hiệp định bảo hộ đầu tư giữa một bên là CHXHCN Việt Nam và một bên là liên minh Ch u u và các nước thành viên liên minh Châu Âu

của Chủ tịch nước; Bản tờ trình của chủ tịch nước là sự “danh chính ngôn thuận” để công tác đàm phán của Việt Nam và EU thuận lợi hơn và nâng tầm vị thế của đất nước

ta “Việc thực hiện các Hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam là thành

viên”, Báo cáo kết quả giám sát chuyên đề (Đoàn Giám sát, Uỷ ban Thường vụ Quốc

hội); Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - E tác động đối với thương mại hàng

hoá giữa hai bên và hàm ý cho Việt Nam” (Vũ Thanh Hương) Luận án Tiến sĩ Kinh tế

Quốc tế, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội; “Mục tiêu và kết quả ban

đầu đối với Việt Nam khi thực hiện FTA và liên minh kinh tế Á- u” (Nguyễn Thị

Thơm, Lê Thị Hoà) đăng trên Tạp chí Nghiên cứu châu Âu Các công trình kể trên là

sự thể hiện về quá trình đàm phán và sự chu n bị của Việt Nam song chưa đầy đủ Hơn nữa, ở phương diện của một bài báo khoa học, một tờ trình, bài báo mạng, các công trình kể trên dù mang tính cập nhật cao nhưng chưa bao quát toàn diện được quá trình đi từ sự chu n bị của Việt Nam, đàm phán đến kí kết Hiệp định EVFTA và EVIPA Bên cạnh đó, một số bài đăng trên tạp chí châu Âu và Mỹ đã đề cập tới chủ đề

này: EU-Vietnam Free Trade Agreement: Opportunities and Challenges for European

Businesses; EU-Vietnam FTA includes binding rules on climate, labour and human rights; 9 n m đàm phán EVFTA Có những hó h n tưởng không th vượt qua;…

Trang 15

- Thứ ba: Nhóm các công trình nghiên cứu về thời cơ, thách thức và các giá trị

mà Việt Nam có được khi tham gia EVFTA và EVIPA

Những công trình nghiên cứu sau đã đặt ra nhiều vấn đề, hai thác tương đối đầy

đủ các khía cạnh của quá trình khi Việt Nam tham gia và kí kết EVFTA và EVIPA, có

thể kể đến như: Việt Nam: Nắm bắt cơ hội của hiệp định thương mại tự do thế hệ

mới”đăng trong Kỉ yếu Hội thảo Khoa học (Bộ công thương, ngân hàng thế giới); Yêu cầu hoàn thiện pháp luật trong tự do cơ hội thực thi hiệp định thương mại Việt Nam liên minh châu Âu và thách thức đối với Việt Nam” (Trần Tuấn Anh) đăng trên tạp chí

Cộng sản; “Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam trong thực thi các cam kết và nghĩa

vụ về môi trường trong hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) (Đào

Mộng Điệp), Tạp chí Khoa học Pháp lý; Phát tri n xuất kh u hàng hóa Việt Nam

trong điều kiện thực thi hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) (Trần Thị

Thu Hiền) đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Công nghiệp và Thương mại; uất h u da

giầy sang thị trường E Thực trạng và tri n vọng (Đinh Công Hoàng) đăng trên Tạp

chí Nghiên cứu châu Âu; Tác động của hiệp định EVFTA đến xuất kh u mặt hàng giày

dép của Việt Nam sang thị trường EU (Nguyễn Tiến Hoàng, Nguyễn Thị Bích Hạnh)

đăng trên Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý; Tác

động của hiệp định EVFTA đến nhập kh u dược ph m từ thị trường EU vào Việt Nam

(Nguyễn Tiến Hoàng, Trần Thị Vân) đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Tài chính –

Marketing; Thị trường E Cơ hội xuất kh u hồ tiêu khu vực Tây Nguyên trong bối

cảnh tri n khai hiệp định EVFTA” (Bùi Việt Hưng, Đỗ Hương Lan) đăng trên tạp chí

Nghiên cứu châu Âu; Phân tích những cơ hội và thách thức khi Việt Nam gia nhập

Hiệp định EVFTA (Tô Lê Nguyên Khoa), Tạp chí Công thương; Tác động của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-Liên minh châu Âu (EVFTA) đến quan hệ lao động tại nơi làm việc ở Việt Nam (Báo cáo nghiên cứu); Đ y mạnh xúc tiến xuất kh u vào thị trường EU khi thực thi hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (Vũ Bá Phú)

đăng trên tạp chí Nghiên cứu Công nghiệp và Thương mại; Thực thi EVFTA: những

giải pháp trọng tâm cho doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh đại dịch Covid-19

(Phạm Thị Diệu Phúc) đăng trên Tạp chí Công Thương; Thực thi Hiệp định thương

mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu: Những tín hiệu ban đầu (Nguyễn Chiến

Thắng, Đinh Mạnh Tuấn) đăng trên Tạp chí Cộng sản; Hiệp định EVFTA và thực

trạng tác động tới các doanh nghiệp dệt may Việt Nam (Trần Thị Tho, Trần Thị Trà)

đăng trên Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương; Cơ hội và thách thức của Hiệp

định EVFTA đối với ngành chế biến gỗ xuất kh u của Việt Nam (Đỗ Thị Thơ) đăng

trên tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương; Ảnh hưởng của thương mại tự do đến

nhân quyền (Lê Thị Hoài Thu, Vũ Công Giao) NXB Hồng Đức; Tận dụng hiệp định

Trang 16

EVFTA trong xuất kh u thủy sản Việt Nam sang thị trường EU (Nguyễn Thị Hoài

Thu) đăng trên tạp chí Công thương; Ảnh hưởng của Hiệp định thương mại tự do giữa

Việt Nam và iên minh Ch u u đến xuất kh u hàng thủy sản Việt Nam sang Liên minh Châu Âu (Đào Quỳnh Trang) Luận văn Thạc sĩ; Cơ hội và thách thức với các doanh nghiệp Việt Nam hi EVFTA được thực thi (Nguyễn Thị Mỹ Trinh, Bùi Trường

An) đăng trên tạp chí Kinh tế và Dự báo… Các công trình kể trên đã đề cập đến thời

cơ, thách thức và lợi ích của quá trình tham gia EVFTA và EVIPA nhưng chưa là một công trình trình bày toàn diện tổng hợp về các vấn đề trên

Một số công trình nước ngoài đề cập đến thời cơ thách thức và hiệu quả của

EVFTA và EVIPA tác động đến Việt Nam như: Guide to the Eu-Vietnam trade and

investment agreements, Delegation of the European Union to Vietnam; Report the free trade agreement between vietnam and the European Union: Quantitative and qualitative impact analysis, Mutilateral Trade Assisstance Project (Jean, M P.,

Eugenia, L F., Lupo, P., Dinh V A., Nguyen, H S., Pham, A T., Nguyen, L M),

Project code: FTA-9 EU; European-Vietnam Free Trade Agreement (EVFTA) Impacts

on Imports: A Case study (Minh, D N., & Dat, P M.) Journal of Security &

Sustainability Issues, Vol 9; “EU-Vietnam Free Trade Agreement: Opportunities and Challenges for European Businesses” (Wnu ows i, D.) PISM Bulletin, Pols i Instytut

Spraw Międzynarodowych; Ngoài ra, còn có một số bài báo trên internet như: EVFTA:

Cơ hội lớn cho nhiều ngành; EVFTA: Implications for the European Union-Vietnam Strategic Ties in the Upcoming Time;…

- Thứ tư Nhóm các công trình nghiên cứu về triển vọng của EVFTA và EVIPA

Nhóm các công trình này khai thác về triển vọng của EVFTA và EVIPA đối với

Việt Nam nói chung có thể kể đến như: Thực thi Hiệp định EVFTA nhũng tác động

tới nền kinh tế Việt Nam” (Trần Tuấn Anh) đăng trên Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái

Bình Dương; Tác động của Hiệp định EVFTA đến kinh tế Việt Nam và một số giải

pháp đề xuất ( Nguyễn Thị Thanh Tâm) đăng trên Tạp chí Tài chính; Quan hệ inh tế Việt Nam - iên minh Ch u u thực trạng và tri n vọng (Nguyễn Quang Thuấn) NXB

Khoa học xã hội; Những tác động nổi bật của FTA thế hệ mới đối với t ng trưởng kinh

tế Việt Nam (Trần Thị Trang, Đỗ Thị Mai Thanh); Hội thảo Quốc gia inh tế Việt Nam n m và tri n vọng n m 9 Hướng tới ch nh sách tài hóa bền vững và

hỗ trợ t ng trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Kỉ yếu Hội thảo khoa học)…

Những công trình, bài viết, bài báo đã tái hiện được bức tranh triển vọng trong tương lai khi Việt Nam tham gia EVFTA, tuy chưa thật đầy đủ nhưng đã phác họa được phần nào bức tranh toàn cảnh mối quan hệ kinh tế- thương mại Việt Nam- Liên minh Châu

Âu Ngoài ra, một số tài liệu có đề cập đến vấn đề này như: The EU and Vietnam:

Trang 17

Taking (trade) relations to the next level, EIAS Briefing Seminar, European institute

for Asian Studies; Effects of EVFTA on Vietnam’s apparel exports An application of

WITS-SMART simulation model (Vo, T T., Le, Q H., & Hoang, T H.) Journal of

Asian Business and Economic Studies,

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã góp phần vào trình bày những thời cơ, thách thức, lợi ích có được khi Việt Nam gia nhập vào EVFTA và EVIPA, cũng như những tựu bước đầu của Việt nam Tuy nhiên, xét một cách toàn diện, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách sâu sắc và có hệ thống về quá trình đàm phán và í ết EVFTA và EVIPA từ năm 2010 đến năm 2020 Song, kết quả nghiên cứu đó là cơ sở quan trọng để tác giả luận văn ế thừa, làm rõ các luận điểm trong nghiên cứu

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu

Luận văn nghiên cứu nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản sau:

- Trình bày toàn diện và hệ thống về quá trình Việt Nam đàm phán, kí kết EVFTA và EVIPA từ năm 2010 đến năm 2020

- Đánh giá được kết quả của quá trình Việt Nam đàm phán, kí kết EVFTA và EVIPA với EU

- Đánh giá được ý nghĩa, các lợi ích, đặc điểm của việc Việt Nam đàm phán, í kết EVFTA và EVIPA với EU

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thứ nhất: Trình bày các nhân tố tác động đến quá trình Việt Nam đàm phán, kí

kết EVFTA và EVIPA với EU

- Thứ hai: Nghiên cứu về quá trình Việt Nam đàm phán, í ết EVFTA và

EVIPA với EU qua các thời kì từ năm 2010 đến năm 2020

- Thứ ba: Đánh giá được ý nghĩa, các lợi ích, đặc điểm của việc Việt Nam đàm

phán, kí kết EVFTA và EVIPA với EU

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình Việt Nam đàm phán, kí kết EVFTA và EVIPA giữa Việt Nam và EU từ năm 2010 đến năm 2020 Trong đó, lấy Việt Nam là đối tượng chủ thể trong nghiên cứu của đề tài

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn được xác định như sau:

- Phạm vi không gian và nội dung nghiên cứu: Luận văn chủ yếu tập trung làm rõ

quá trình Việt Nam đàm phán, kí kết EVFTA và EVIPA với EU từ năm 2010 đến năm

2020 Ngoài việc làm rõ được bản chất, nội dung cũng như hiệu quả của quá trình đàm

Trang 18

phán, kí kết EVFTA và EVIPA đề tài còn nghiên cứu sự vận động của các yếu tố quốc

tế, nội tại của Việt Nam, EU lên quá trình đàm phán, kí kết kể trên, cũng như ý nghĩa, đặc điểm của quá trình Việt Nam đàm phán, í ết EVFTA và EVIPA trong thời gian tới từ đó làm rõ nội dung, mục tiêu của đề tài đặt ra

- Phạm vi thời gian nghiên cứu: Luận văn được giới hạn nghiên cứu trong

khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2020 Sở dĩ năm 2010 được chọn là mốc khởi đầu trong nghiên cứu của luận văn vì đây là thời điểm Việt Nam chính thức tuyên bố khởi động đàm phán EVFTA Trong hi năm 2020 được chọn là năm ết thúc vì kể từ năm 2020, EVFTA và EVIPA được Quốc hội Việt Nam và Quốc hội Châu Âu phê chu n và thực hiện

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện dựa trên sử dụng hệ thống phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cơ bản như sau:

- Phương pháp luận nghiên cứu: Luận văn quán triệt quan điểm của chủ nghĩa

Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong nghiên cứu, đặc biệt là quan điểm, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong nghiên cứu các vấn đề đối ngoại của Việt Nam

- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được thực hiện trên cơ sở kết hợp hai

phương pháp chuyên ngành Lịch sử là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu hác để bổ trợ cho hai phương pháp ể trên trong quá trình thực hiện luận văn

Phương pháp lịch sử được sử dụng để tái hiện trung thực bức tranh về mối quan

hệ Việt Nam – EU từ khi mới hình thành đến quá trình đàm phán, kí kết EVFTA, EVIPA theo đúng trình tự thời gian diễn ra trong giai đoạn từ 2010 đến 2020 Phương pháp lịch sử cho phép chúng tôi nghiên cứu phân tích được nguồn gốc bản chất lịch sử của các sự kiện để hiểu thêm giá trị cốt lõi của mối quan hệ kinh tế thương mại EVFTA và EVIPA giữa Việt Nam - EU

Phương pháp lôgic được sử dụng để nghiên cứu tổng quát các sự kiện, phát hiện tính tất yếu và quy luật vận động khách quan của mối quan hệ giữa Việt Nam –EU Bởi xu thế toàn cầu hóa là xu thế mang tính tất yếu, Việt Nam cũng hông thể đứng ngoài dòng chảy lịch sử ấy được Mặt hác, phương pháp logic còn cho phép phân tích được các yếu tố, mối quan hệ giữa các vấn đề, sự kiện trong mối quan hệ giữa Việt Nam – EU về ngoại giao, văn hóa, du lịch

Ngoài ra, luận văn còn ết hợp các phương pháp hác như: Phân tích – tổng hợp, thống kê – mô tả, so sánh – đối chiếu được sử dụng để xử lý tư liệu trước khi phác họa nên bức tranh toàn diện về chủ đề nghiên cứu Hơn nữa, luận văn cũng sử dụng

Trang 19

phương pháp phân tích để đánh giá quá trình đàm phán, cơ hội thách thức trong mối quan hệ giữa Việt Nam – EU Thêm vào đó, luận văn còn sử dụng phương pháp nghiên cứu quốc tế để phân tích những thành tựu đạt được trên bình diện quan hệ quốc

tế, luật quốc tế để từ đó nhận định, đánh giá chính xác về bản chất của Hiệp định thương mại tự do và hiệp định bảo hộ đầu tư trong mối quan hệ giữa Việt Nam – EU

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu được xác định thì dự kiến có những đóng góp sau:

- Thứ nhất: Đây sẽ là công trình chuyên khảo về quá trình Việt Nam đàm phán,

kí kết EVFTA và EVIPA với EU Do đó, đóng góp đầu tiên và quan trọng nhất của công trình chuyên khảo chính là trình bày, phân tích một cách toàn diện, hệ thống quá trình đàm phán, kí kết của EVFTA và EVIPA từ năm 2010 đến năm 2020 thông qua việc làm rõ các nhân tố tác động, quá trình đàm phán, những thời cơ và thách thực; sự chu n bị của Việt Nam, việc dự báo hiệu quả của việc tham gia EVFTA và EVIPA

- Thứ hai: Từ phân tích quá trình đàm phán, kí kết EVFTA và EVIPA giữa Việt

Nam và EU, công trình chuyên khảo còn đưa ra những dự báo về các lợi ích mà các hiệp định mang lại Đó là cơ sở tham chiếu, cung cấp một số bài học kinh nghiệm để nâng cao hơn nữa các giá trị lợi ích khi tham gia EVFTA, cũng như các hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam với các nước hác Đồng thời, kết quả nghiên cứu của đề tài còn góp phần xác lập cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc hợp tác toàn diện, sâu rộng giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu trong thập niên tới

- Thứ ba: công trình chuyên khảo hoàn thành sẽ bổ sung thêm nguồn tư liệu về

nghiên cứu mối quan hệ Việt Nam với EU, quá trình đàm phán, kí kết EVFTA và EVIPA Từ đó, công trình chuyên hảo sẽ là tài liệu tham khảo cho giảng dạy, nghiên cứu của sinh viên, học viên chuyên ngành Lịch sử, các chuyên ngành liên quan và những ai quan tâm đến vấn đề này

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày gồm ba chương:

- Chương Tổng quan về Liên minh châu Âu và các nhân tố tác động đến quá

trình Việt Nam tham gia, kí kết Hiệp định thương mại tự do (FTA) và Hiệp định bảo

hộ đầu tư (IPA)

- Chương Tổ chức đàm phán, kí kết Hiệp định thương mại tự do (FTA) và

Hiệp định bảo hộ đầu tư (IPA) với Liên minh châu Âu (2010 - 2020)

- Chương 3 Đánh giá về quá trình Việt Nam đàm phán, kí kết Hiệp định thương

mại tự do (FTA) và Hiệp định bảo hộ đầu tư (IPA) với Liên minh châu Âu (2010 - 2020)

Trang 20

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LIÊN MINH CHÂU ÂU VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN, KÍ KẾT

HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO (FTA)

VÀ HIỆP ĐỊNH BẢO HỘ ĐẦU TƯ (IPA)

1.1 Tổng quan về EU

1.1.1 Sự ra đời và lịch sử phát triển

Giấc mộng thống nhất châu Âu được khởi nguồn từ rất sớm trong lịch sử nhưng phải sau chiến tranh thế giới thứ hai ý tưởng về một châu Âu thống nhất mới trở thành hiện thực Trên cơ sở nhu cầu quản lý tài nguyên than, thép là những nhu yếu ph m quan trọng trong sản xuất vũ hí dưới một cơ quan thống nhất, cũng như sự hợp tác giữa một số nước ở châu Âu trong quá trình sản xuất và tiêu thụ than, thép; hòa giải và xây dựng quan hệ thiện chí Pháp - Đức, tổ chức Cộng đồng Than và Thép châu Âu (European Coal and Steel Community, ECSC) được thành lập, tạo cơ sở cho sự hình thành Liên minh Châu Âu (EU)

Sự hình thành EU được đánh dấu chính thức với “Tuyên bố Schuman” vào ngày

9 tháng 5 năm 1950 của Ngoại trưởng Pháp Robert Schuman với đề nghị đặt toàn bộ nền sản xuất gang thép của Cộng hòa Liên bang Đức và Pháp dưới một cơ quan quyền lực chung, trong một tổ chức mở cửa để các nước châu Âu khác cùng tham gia Tuyên

bố này nhận được sự ủng hộ của 5 nước khác là Đức, Ý, Bỉ, Hà Lan và Lucxembua Sau khi ủng hộ về sự ra đời của một cộng đồng, sáu quốc gia đã tiến hành quá trình đàm phán éo dài gần 1 năm Trên cơ sở đó, hiệp ước thành lập Cộng đồng Than và Thép châu Âu được kí kết vào ngày 18 tháng 4 năm 1951 tại Paris với sự tham gia của

6 nước Pháp, Đức, Italia, Hà Lan, Bỉ và Lucxembua [7, tr 18] Mục đích của ECSC là đảm bảo sản xuất và tiêu thụ than thép của các nước thành viên trong những điều kiện thống nhất, đ y nhanh tiến bộ khoa học ĩ thuật trong sản xuất, phân phối tiêu thụ và nâng cao năng suất lao động trong hai ngành than và thép - hai ngành chủ lực sản xuất

ra những nguyên liệu hàng đầu phục vụ cho công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế Mục đích trước mắt của ECSC là hóa giải quan hệ thù địch lâu đời giữa Đức và Pháp, kiểm soát nước Đức, biến hai nước này thành trụ cột cho khối liên kết kinh tế Tây Âu, kiềm chế lẫn nhau để vừa phát triển kinh tế, vừa gìn giữ hoà bình [9, tr 40]

Sau khi hiệp ước được kí kết, kể từ tháng 5 năm 1953 thị trường chung về than

và thép đi vào hoạt động Sau chiến tranh nhu cầu của các quốc gia Châu Âu về than

và thép rất lớn - là nguồn nguyên liệu thiết yếu để khôi phục kinh tế - ECSC nhanh

Trang 21

chóng trở thành tổ chức giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế Tây Âu Hiệp ước không chỉ góp phần cải thiện quan hệ chính trị giữa Pháp - Đức, quan trọng hơn là sự thành công của ECSC đã tác động tâm lý đối với người Tây Âu, lần đầu tiên họ thấy rằng không cần chiến tranh mà vẫn có thể thống nhất được Tuy nhiên, do sự tồn tại của NATO kể từ năm 1949 ở châu Âu, Mỹ muốn tái vũ trang cho Tây Đức như là một nguồn lực trong chiến tranh lạnh Điều này dẫn đến sự lo ngại đối với các nước, đặc biệt là Pháp Năm 1950, Pháp đề nghị thành lập quân đội Châu Âu dưới sự kiểm soát của ECSC Ngày 27 tháng 5 năm 1952, các thành viên ECSC kí hiệp ước thành lập Cộng đồng phòng thủ Châu Âu Đây được xem như là một công cụ kiềm chế sự trỗi dậy của Đức Mặc dù vậy đến ngày 30 tháng 8 năm 1954, Quốc hội Pháp từ chối phê duyệt Hiệp ước, đánh dấu sự phá sản của hiệp ước phòng thủ về quân sự ở Châu Âu

Sự thất bại này đã hiến các nước Châu Âu hiểu rằng việc thống nhất Châu Âu cần bắt nguồn từ nền tảng hợp tác kinh tế sâu và rộng, sau đó mới đến các lĩnh vực khác Tiếp theo đó, vào những năm 1950 do nhu cầu về năng lượng, các nước ECSC đã họp để tại Roma để thảo luận về 4 vấn đề cơ bản là hợp tác trong các ngành năng lượng truyền thống, vấn đề năng lượng hạt nhân vì hoà bình, mở rộng và phát triển giao thông vận tải, xây dựng một thị trường chung Trên cơ sở thảo luận, các nước thành viên ECSC đã í hai hiệp ước về thành lập Cộng đồng năng lượng nguyên tử Châu Âu (EURATOM) và Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EEC) vào ngày 25/3/1957 Mục đích của EURATOM là thống nhất việc quản lý ngành năng lượng nguyên tử của

6 nước thành viên trong đó tập trung việc phát triển các cơ sơ sản xuất chung, phát triển một thị trường chung Trong hi đó, EEC ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu tăng cường liên kết giữa 6 nước này, tạo ra một tập hợp sức mạnh kinh tế tổng hợp dưới

hình thức một “thị trường chung” mà lao động, hàng hóa được tự do di chuyển như

một thị trường nội địa Hai hiệp ước này đóng vai trò quan trọng trong tiến trình tiến tới thống nhất Châu Âu [7, tr 22] Đến đây ba tổ chức ECSC, EURATOM, EEC tồn tại như những tổ chức độc lập của 6 quốc gia Điều này đã đặt ra nhu cầu về một tổ chức có liên kết chặt chẽ, thống nhất

Để nâng cao hiệu quả liên kết giữa các nước thành viên, tránh sự chồng chéo, trùng lặp giữa chức năng và hoạt động của các thể chế của những cộng đồng này, ngày

1 tháng 7 năm 1967, tại Brucsxen (Bỉ), 6 nước đã í hiệp ước hợp nhất ba tổ chức là ECSC, EEC và EURATOM thành lập Cộng đồng Châu Âu (EC) Với việc hợp nhất này, vai trò, chức năng của EC được thể hiện trên cả phương diện kinh tế, chính trị, xã hội cũng như thúc đ y các vấn đề về môi trường, năng lượng, hạt nhân Trên cơ sở sự

ra đời của EC, ngày 1 tháng 7 năm 1968, Liên minh thuế quan được thiết lập [15, tr 3] Với việc hình thành EC và Liên minh thuế quan đã xác nhận một cấp độ nhất thể

Trang 22

hóa kinh tế cao hơn giữa các quốc gia này thể hiện việc thành lập một thị trường thống nhất, trong đó, ngoài việc hàng hóa, lao động và vốn đầu tư được tự do di chuyển, hàng rào thuế quan và phi thuế quan cũng được dỡ bỏ, hệ thống thuế quan và chính sách thương mại chung được thành lập, một số chính sách đối với các lĩnh vực kinh tế hác cũng được thống nhất nhằm tăng sức cạnh tranh với các khối kinh tế bên ngoài, tiến tới một liên minh chặt chẽ về chính trị [16, tr 161]

Trong giai đoạn này, tiến trình liên kết về kinh tế, chính trị, văn hóa ở mức độ cao hơn còn được biểu hiện thông qua việc mở rộng các thành viên của EEC Năm

1960, Anh, Ailen, Đan Mạch xin được gia nhập EEC Sau đó, năm 1962, Na Uy, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha cũng có nguyện vọng được trở thành thành viên của EEC Tuy nhiên, phải đến ngày 22 tháng 1 năm 1972, đề nghị của Anh, Ailen, Đan Mạch mới được chấp nhận sau 2 lần xin gia nhập Theo hiệp ước này, từ ngày 1 tháng 1 năm

1793, EC có thêm 3 thành viên mới là Anh, Ailen, Đan Mạch nâng tổng số thành viên của EC từ 6 lên 9 thành viên [15, tr 4] Đây được xem là lần mở rộng thứ nhất của EC Sau đó, EC tiếp tục mở cửa lần thứ hai về Nam Âu với việc kế nạp thêm Hi Lạp (1981), Bồ Đào Nha (1986) và Tây Ban Nha (1986) Ngày 29 tháng 5 năm 1986, lá cờ xanh da trời với 12 ngôi sao vàng tượng trưng cho sự hoàn hảo và đều đặn lần đầu tiên tung bay trên bầu trời châu Âu Như vậy, từ 6 nước thành viên ban đầu đến năm 1986,

EC đã có 12 nước thành viên Với sự gia tăng về số lượng đã hẳng định sự lớn mạnh của EC và là một tổ chức đang có sức hấp dẫn đối với các nước khác Từ đây các nước thành viên không ngừng nỗ lực để xây dựng, phát triển nhằm đưa EC tổ chức ngày càng lớn mạnh

Từ những thành tựu trên các phương diện tổ chức và mở rộng thành viên, nhằm tạo lập một không gian Châu Âu thống nhất về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng

và các lĩnh vực xã hội hác, ngày 7 tháng 2 năm 1992, hiệp ước Maastricht về việc thành lập Liên minh châu Âu được kí kết Ngày 1 tháng 1 năm 1993, Hiệp ước về Liên minh Châu Âu chính thức có hiệu lực sau khi 12 quốc gia thành viên EC phê chu n

Kể từ thời điểm này EC chính thức được gọi với tên là Liên minh Châu Âu (European Union, EU) [10, tr 99] Với hiệp ước này một thị trường chung Châu Âu chính thức được hình thành với việc xóa bỏ biên giới lãnh thổ quốc gia và biên giới hải quan giữa các nước thành viên để cho hàng hóa, con người, dịch vụ và tư bản được tự do lưu thông Các nước thành viên áp dụng một chính sách thương mại và tuân theo một quy tắc Thị trường chung hình thành đánh dấu một bước tiến quan trọng trên con đường nhất thể hóa Châu Âu Đến đây, mục tiêu hàng đầu của liên kết kinh tế Châu Âu được hình thành, tạo động lực vô cùng quan trọng cho sự phát triển kinh tế của EU

Vào ngày 1 tháng 1 năm 1995, EU tiếp tục kết nạp thêm ba thành viên mới Áo,

Trang 23

Phần Lan và Thụy Điển gia nhập vào EU, nâng tư cách thành viên lên 15 quốc gia thành viên Năm 1997, các nhà lãnh đạo EU đã họp để xem xét lại hiệp ước Maastricht và xem xét quá trình hội nhập Châu Âu trong tương lai Trên cơ sở đó, ngày 2 tháng 10 năm 1997, các nước đã í kết Hiệp ước Amsterdam để xây dựng một liên minh tiền tệ Hiệp ước là cơ sở cho sự ra đời của đồng tiền Euro, đồng tiền chung Châu Âu Đồng Euro ra đời được đánh giá là “một đồng tiền mạnh của thế giới với đầy đủ các chức năng của một đồng tiền quốc tế” Tính đến nay đã có hầu hết các quốc gia thành viên EU đều sử dụng đồng tiền chung Việc đưa vào sử dụng đồng tiền chung đã đánh dấu một bước tiến mới trong quá trình liên kết Châu Âu nói chung và liên kết kinh tế nói riêng

Sau Hiệp ước Nice về việc củng cố, xây dựng chặt chẽ hơn nữa cơ cấu tổ chức, thể chế, ngày 1 tháng 5 năm 2004 EU chính thức kết thúc có thêm 10 thành viên mới bao gồm: Síp, Séc, CH Estonia, Hungary, Latvia, Litva, Malta, Ba Lan, Slovakia, Slovenia Như vậy, tính đến thời điểm này số lượng các nước thành viên EU lên 25 quốc gia Đây là lần mở rộng thứ 5 và là lần mở rộng thành viên lớn nhất, phức tạp nhất trong lịch sử EU Ngày 1 tháng 1 năm 2007, Bulgari và Romani chính thức gia nhập EU Đến ngày 1 tháng 7 năm 2013, Croatia gia nhập EU, đưa liên minh lên 28 quốc gia thành viên Kể từ năm 2016, nước Anh bắt đầu tiến hành các thủ tục để rời khỏi Liên minh Châu Âu hay còn gọi là “Brexit” Ngày 31 tháng 1 năm 2020, vương quốc Anh rút khỏi EU, chấm dứt tư cách thành viên 47 năm của mình Đến nay EU bao gồm 27 quốc gia thành viên là Áo, Bỉ, Bulgaria, Croatia, Síp, Séc, Đan Mạch, Estonia, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Hungary, Ireland, Italy, Latvia, Lithuania, Luxembourg, Malta, Hà Lan, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Rumani, Slovakia, Slovenia, Tây Ban Nha và Thuỵ Điển Ngoài ra EU hiện đang xem xét về việc gia nhập EU của một

số quốc gia Châu Âu khác

Nhìn chung, quá trình phát triển của EU chủ yếu thể hiện thông qua việc thực hiện mục tiêu xây dựng một Châu Âu thống nhất về chính trị, kinh tế với việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức, sự mở rộng tổ chức và tiến trình liên kết trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Tất cả những điều này nhằm góp phần khẳng định vị thế của tổ chức trên trường quốc tế Trên thực tế, EU trở thành trung tâm kinh tế hàng đầu thế giới, một

siêu cường thương mại và “một yếu tố gây ảnh hưởng chính trị, quốc tế”

1.1.2 Cơ cấu tổ chức và nguyên tắc hoạt động

Nhằm thực hiện những mục tiêu chung đã được đề ra trong các hiệp ước, EU đã

xây dựng cho mình một hệ thống thể chế “siêu quốc gia” để điều hành, giám sát quá

trình liên kết của các quốc gia thành viên Hệ thống thể chế này bao gồm 5 cơ quan chính: Nghị viện Châu Âu, Hội đồng Châu Âu, Ủy ban Châu Âu, Hội đồng Bộ trưởng

Trang 24

EU và Tòa án Châu Âu

- Nghị viện Châu Âu (European Parliament): Ra đời vào năm 1952 với tên gọi

ban đầu là Đại hội đồng của Cộng đồng than và Thép Châu Âu Kể từ năm 1962, tên Nghị viện Châu Âu chính thức được sử dụng Nghị viện được công dân các nước thành viên bầu trực tiếp theo hình thức phổ thông đầu phiếu, 5 năm 1 lần kể từ năm

1979 Nghị viện Châu Âu được đặt trụ sở luân phiên ở ba địa điểm Strasbourg (Pháp), Brussels (Bỉ), Luxembourg gồm 705 nghị sĩ [34] Nghị viện có ba chức năng

cơ bản là lập pháp (legislative), giám sát (supervisory), thông qua ngân sách (budgetary) Đối với chức năng lập pháp, Nghị viện được thể hiện thông qua luật pháp của EU cùng với Hội đồng dựa trên các đề xuất của Ủy Ban Châu Âu Chức năng giám sát được thể hiện thông qua các hoạt động giám sát chuyên môn của tất cả các tổ chức EU Chức năng thông qua ngân sách bao gồm thành lập ngân sách EU; phê duyệt mục tiêu dài hạn của EU…

- Hội đồng Châu Âu (European Council): Được hình thành không chính thức

năm 1974, chính thức từ năm 1992 và chính thức trở thành một thể chế của EU kể từ năm 2009 [35] Đây là cơ quan tối cao của EU có trụ sở ở Brussels (Bỉ) với cơ cấu bao gồm những người đứng đầu nhà nước, chính phủ các nước thành viên và chủ tịch Ủy ban Châu Âu Đứng đầu là Chủ tịch Hội đồng Châu Âu (President of the European Council) có nhiệm kỳ 2,5 năm (tối đa 2 nhiệm kỳ) Hội đồng Châu Âu có nhiệm vụ xác định những định hướng lớn của cộng đồng và đóng vai trò lãnh đạo chính trị chung Hội đồng cũng làm trọng tài cho những vấn đề tranh chấp chưa đạt được sự thống nhất trong hội đồng bộ trưởng EU Mỗi nước thành viên luân phiên giữ chức chủ tịch Hội đồng Châu Âu trong một nhiệm kỳ 6 tháng

- Hội đồng bộ trưởng (Council of Minister): Được sự trợ giúp của ủy ban đại

diện thường trực và văn phòng của hội đồng bộ trưởng sử dụng tới 2100 nhân viên Các bộ trưởng các nước EU họp luân phiên hội đồng tùy theo từng lĩnh vực họ phụ trách để thông qua các chỉ thị và luật định của EU do Nghị viện Châu Âu đề nghị Như vậy, Hội đồng bộ trưởng là cơ quan lập pháp tối cao và có quyền thông qua các quyết định chính đối với chính sách của cộng đồng dựa trên các đề nghị của Ủy ban Châu

Âu, ngoại trừ lĩnh vực cạnh tranh Đưa ra các quy chế, chỉ thị mang tính bắt buộc đối với các thành viên, đồng thời cũng chịu trách nhiệm về hợp tác Liên minh chính phủ

- Ủy ban Châu Âu (European Commission): Là cơ quan hành pháp của EU, gồm

205 ủy viên được ủy nhiệm trên cơ sở thỏa thuận của các nước thành viên và phải được quốc hội Châu Âu tán thành Ủy ban châu Âu đặt trụ sở tại Bruxells (Bỉ) có các văn phòng ở Luxemburg, đại diện ở các nước thành viên và phái đoàn ở nhiều thủ đô trên thế giới Ủy ban Châu Âu được coi là bộ máy lập chính sách là cơ quan hởi

Trang 25

xướng các quyết định của cộng đồng, có nhiệm kỳ 5 năm Ủy ban Châu Âu đề xuất lên Hội đồng bộ trưởng các biện pháp phát triển chính sách chung và theo dõi việc tôn

trọng các hiệp ước

- Tòa án EU (Court of Justice of the EU): Trụ sở đặt tại Luxemburg là cơ quan

đảm bảo việc tuân thủ luật pháp của cộng đồng Tòa án có vai trò độc lập, có quyền bác bỏ những quy định của các tổ chức của Uỷ ban Châu Âu, văn phòng chính phủ các nước nếu bị coi là không phù hợp với luật của EU Tòa án Châu Âu có chức năng iểm tra các khoản tài chính của EU để đảm bảo tính hợp pháp của các khoản thu chi, đồng thời phối hợp với các cơ quan thể chế khác của EU để thực hiện các hoạt động có liên

quan đến tài chính của mình

- Tòa ki m toán Châu Âu (The European Court of Auditors audits EU): Thành

lập từ năm 1975 và bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 1977 Trụ sở chính đóng tại Luxemburg Cơ quan này có chức năng iểm toán các khoản tài chính của EU để đảm bảo tính hợp pháp của các khoản thu chi, quản lý tốt ngân sách cộng đồng, đồng thời phối hợp với các hoạt động có liên quan đến tài chính của EU và viết các báo cáo về

sử dụng công quỹ [16, tr 179]

Ngoài 5 cơ quan chính trên còn có một số cơ quan hác như:

- Uỷ ban kinh tế và xã hội: là cơ quan hỗ trợ cho Hội đồng bộ trưởng và Ủy ban Châu Âu, đại diện cho lợi ích các nhóm người trong xã hội: giới chủ, công nhân, nhóm

hỗn hợp gồm đại diện của nông dân, người tiêu dùng…

- Ủy ban về khu vực: là cơ quan tư vấn cho các cơ quan thể chế của EU về các

vấn đề liên quan tới lợi ích của các đơn vị địa phương và hu vực

- Ngân hàng kiểm toán Châu Âu: đảm bảo trách nhiệm cấp phát tín dụng cho các

tổ chức nhà nước, các doanh nghiệp của các thành viên trên cơ sở nguồn vốn của các thành viên đóng góp hoặc vốn vay quốc tế

- Ngân hàng trung ương Châu Âu: có trụ sở được đặt tại Frankfurt (Đức) có nhiệm vụ quản trị đồng Euro, duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính thông qua giám sát các thị trường, tổ chức tài chính và đảm bảo sự ổn định của giá cả tại EU Ngân hàng còn có nhiệm vụ thiết lập các khuôn khổ, thực hiện chính sách kinh tế và tiền tệ của EU Ngân hàng Trung ương hoạt động với 27 Ngân hàng Trung ương ở 27 quốc gia thành viên [16, tr 179]

- Ngân hàng đầu tư Châu Âu: là tổ chức sử dụng nguồn vốn do các nước thành viên đóng góp và đặc biệt là vay vốn quốc tế để cấp phát tín dụng cho các tổ chức nhà nước, các công ty của các nước thành viên hoặc các nước đang phát triển có góp vốn [7, tr 42]

Như vậy, với cơ cấu tổ chức và nguyên tắc hoạt động của EU ta thấy đây là một

Trang 26

tổ chức khá chặt chẽ và hoàn chỉnh về hệ thống chính trị Đây là cơ sở để tổ chức EU không ngừng lớn mạnh và trở thành tổ chức quốc tế lớn nhất trong quan hệ quốc tế

1.2 Các nhân tố tác động đến quá trình Việt Nam đàm phán và kí kết hiệp định EVFTA và EVIPA

1.2.1 Lợi ích tự do hoá thương mại đối với Việt Nam và EU

Các FTA là một thỏa thuận giữa hai hay nhiều quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nhằm mục đích tự do hóa về một hoặc một nhóm mặt hàng bằng cách cắt giảm thuế quan Đối với Việt Nam và EU, việc í ết các hiệp định này sẽ đánh dấu một cột mốc mới trên chặng đường hợp tác phát triển giữa hai bên, là một thông điệp tích cực về quyết tâm của Việt Nam trong việc thúc đ y sự hội nhập sâu rộng và toàn diện hơn vào nền inh tế thế giới trong bối cảnh tình hình inh tế chính trị thế giới đang có nhiều diễn biến phức tạp hó đoán định Lợi ích tự do hóa thương mại Việt Nam và EU được xem

là động lực để hai bên thúc đ y đàm phán, í ết các hiệp định thương mại tự do và bảo hộ đầu tư

Trong số các đối tác, EU là đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực như inh tế, chính trị, khoa học – công nghệ, y tế, giáo dục – đào tạo Việc ký kết các hiệp định về thương mại, đầu tư sẽ thúc đ y quá trình tự do hoá về thương mại, đầu tư và thuế quan Từ đó, giúp quan hệ Việt Nam – EU phát triển thuận lợi trên nhiều phương diện, lĩnh vực Thực tế cho thấy rằng từ năm 2001 đến 2017, im ngạch xuất - nhập h u của EU và Việt Nam đều gia tăng vững chắc, trong đó xuất h u từ Việt Nam sang EU tăng mạnh mẽ và nhanh hơn nhập h u, góp phần làm thặng dư thương mại của Việt Nam với EU tăng nhanh Điều này góp phần đưa Việt Nam chuyển từ trạng thái thâm hụt sang thặng dư thương mại Cụ thể, trong các năm từ 2010-2016, kim ngạch xuất kh u sang thị trường EU liên tục tăng Đến năm 2016,

2017 thì Việt Nam đã trở thành thị trường xuất nhập kh u lớn nhất của EU với tổng giá trị đạt 23.443 triệu USD Đặc điểm nổi bật là cơ cấu xuất nhập kh u của hai bên

“có tính bổ sung cao, ít mang tính cạnh tranh trực tiếp” [11, tr 148]

Từ vị trí, ý nghĩa của EU trong cán cân thương mại của Việt Nam như vậy, một hiệp định thương mại với EU là một thỏa thuận có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển của nền inh tế Việt Nam Hiệp định thương mại thế hệ mới với EU được dự báo

sẽ giúp Việt Nam đ y mạnh thương mại và đa dạng hóa thị trường Thông qua việc kí kết hiệp định, quan hệ thương mại giữa Việt Nam với EU sẽ được phát triển, gắn kết chặt hơn Đồng thời, theo hiệp định thế hệ mới, các loại thuế quan được áp dụng đối với hàng hóa sẽ được gỡ bỏ Đặc biệt, EU sẽ loại bỏ thuế với nghìn mặt hàng có nguồn gốc xuất xứ từ Việt Nam Việc được gỡ bỏ hàng rào thuế quan này sẽ giúp cho tình hình thương mại giữa hai bên trở nên tốt đẹp hơn nữa Từ đó góp phần tạo sự đa dạng

Trang 27

hóa cho thị trường và những mặt hàng xuất kh u đối với cả hai bên [11, tr 149]

Khi có một hiệp định thương mại, việc tự do hóa về đầu tư sẽ mang đến nhiều giá trị tích cực cho nền kinh tế Việt Nam thông qua tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động Việt Nam Theo các nhà nghiên cứu, một hiệp định thương mại thế

hệ mới được kí với EU sẽ giúp Việt Nam tăng thêm việc làm khoảng 146.000/năm, tập trung vào những ngành sử dụng lao động phổ thông và có tốc độ xuất kh u cao sang thị trường EU Mức tăng thêm việc làm trong một số ngành dự kiến như sau: dệt may tăng 71.300 (năm 2025) và 72.600 (năm 2030) mức tăng tương ứng so với năm 2018 là 1,2%, 2,3% và 2,4%; ngành da giày có tốc độ tăng việc làm là 4,3% và 3,8% vào các năm 2025 và 2030 Một số ngành hác cũng có số lượng việc làm tăng cao là vận tải hàng hông (1,5% vào năm 2025), vận tải thuỷ (0,9% vào năm 2025) Tuy nhiên một số ngành sẽ chịu tác động giảm việc làm như ngành lâm nghiệp, khai khoáng, sản xuất lúa gạo với mức giảm từ 0,26 đến 0,36%/năm Ngoài ra, với khả năng mức lương của lao động có tay nghề cao sẽ tăng tới 12%, với mức lương của lao động phổ thông tăng 13%, Hiệp định có thể giúp đưa hoảng 800.000 người thoát nghèo vào năm 2030 [11, tr 149]

Bên cạnh đó, việc kí kết một hiệp định tự do thế hệ mới sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh Hiệp định này sẽ tạo sự liên kết giữa Việt Nam với các nước trên thế giới; giúp Việt Nam có thể thu hút các doanh nghiệp nước ngoài và ngược lại Đây

là động lực hết sức quan trọng để phát triển kinh tế đất nước trong thời gian tới Tuy nhiên, khi tham gia hiệp định thương mại tự do với EU, Việt Nam cũng dự báo sẽ gặp

hó hăn do sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam so với doanh nghiệp thế giới chênh lệch khá nhiều Đa phần doanh nghiệp nước ngoài đều là doanh nghiệp lớn, còn doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu chỉ là vừa và nhỏ, năng lực yếu hơn rất nhiều so với doanh nghiệp của nước ngoài Yếu tố này cũng là một động lực để các doanh nghiệp Việt Nam tiến hành cải cách, đổi mới để không bị đè bẹp trong làn sóng hội nhập và cạnh tranh

Ở phương diện vĩ mô, một hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với EU dự báo

sẽ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Đây là cơ hội rất tốt để hàng hóa Việt Nam tiếp cận với một thị trường cao cấp và tiềm năng rộng mở Lợi thế nữa là trong cam kết mở cửa thị trường của hai bên có nhiều hàng hóa thuộc thế mạnh của Việt Nam và những mặt hàng này không cạnh tranh với hàng hóa châu Âu, như: Nông sản, thủy hải sản, đồ gỗ, hàng lắp ráp điện tử…[14, tr 37] Châu Âu cũng đặt ra những tiêu chu n kiểm soát về kỹ thuật, quản trị, sự minh bạch rất cao Khi kí kết với EU một hiệp định, chúng ta sẽ phải nâng cao năng lực cạnh tranh, nhất là phải cải thiện môi trường đầu tư để ngang tầm với các nước, trở thành thị trường đầu tư hấp dẫn với

Trang 28

Châu Âu Vì vậy, hiệp định sẽ được kí kết trong tương lai giữa Việt Nam và EU, sẽ là

cơ hội nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia

Đồng thời, một trong số các vấn đề lợi ích của các hiệp định thương mại thế hệ mới đã mang đến huynh hướng phát triển bền vững cho các bên tham gia Do đó, hiệp định với EU cũng được dự báo sẽ giúp Việt Nam tăng cường năng lực bảo vệ môi trường Môi trường Việt Nam đang đối diện với nguy cơ ô nhiễm nặng nề do hệ quả của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhiều vấn đề về môi trường đang được quan tâm ở Việt Nam như: Ô nhiễm đất, ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí, suy thoái rừng, mất sự đa dạng sinh học Việc ký kết hiệp định thương mại với EU sẽ giúp Việt Nam có những biện pháp đối phó để bảo vệ cho môi trường thông qua việc hợp tác và giúp đỡ từ phía EU Hiệp định thương mại tự do được kí kết với EU còn giúp Việt Nam cải cách trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Khi ký hiệp định, Việt Nam chúng ta sẽ gia nhập thêm hiệp ước Internet của tổ chức sở hữu trí tuệ WIPO Những hiệp ước đó giúp ngăn chặn việc truy cập trái phép hoặc sử dụng những sản ph m mang tính sáng tạo để chủ sở hữu bảo vệ những sản ph m của mình Đồng thời, giúp giải quyết những thách thức mà công nghệ, truyền thông mới đặt ra đối với quyền sở hữu trí tuệ Ngoài ra, một hiệp định tự do thương mại thế hệ mới còn giúp Việt Nam cải thiện toàn diện với chuỗi thực ph m sạch Hiện nay, an toàn thực ph m là mối quan tâm lo ngại hàng đầu của Việt Nam Ký hiệp định, thực ph m sạch của Việt Nam như hạt tiêu hay cà phê, các loại hạt sẽ được nhập kh u vào Châu

Âu đáp ứng được tiêu chu n đặt ra Nhờ đó chất lượng sản xuất của Việt Nam cũng

sẽ tăng cao hơn, góp phần tạo động lực cho nền nông nghiệp của Việt Nam tiến xa hơn Người dân Việt Nam cũng sẽ nâng cao hơn nhận thức, góp phần đảm bảo an toàn vệ sinh thực ph m [14, tr 37]

Ở phương diện ngược lại, lợi ích tự do hóa thương mại cũng đem lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế các nước thành viên EU khi kí kết với Việt nam về lĩnh vực kể trên

Tự do hóa thương mại với Việt Nam sẽ giúp cho EU có một thị trường mới ở khu vực Đông Nam Á giàu tiềm năng chưa hai phá hết Đầu tiên, quá trình tự do hóa thương mại thông qua một hiệp định sẽ giúp EU chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nguồn nhân lực tại Việt Nam gó phần đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển đổi số đang diễn ra hết sức nhanh chóng trên thế giới Lĩnh vực đầu tư lớn nhất của EU vào Việt Nam là sản xuất công nghiệp và chế biến Ngoài ra, EU có thể cung cấp và đầu tư nhiều hơn vào những lĩnh vực công nghệ cao, ít tiêu thụ năng lượng và thân thiện với môi trường Các doanh nghiệp đến từ châu Âu hi đầu tư vào Việt Nam cũng mang lại nguồn công nghệ và việc làm chất lượng Bên cạnh đó, họ cũng thực hành kinh doanh rất có trách nhiệm [14, tr 37] Sự đầu tư này, mang đến cho EU

Trang 29

nguồn lợi nhuận lớn hơn với việc gia tăng nhiều lợi ích về thương mại, thuế quan và đầu tư thông qua í ết với Việt Nam một FTA

Bên cạnh đó, việc tự do hóa thương mại cũng sẽ góp phần bổ sung vào cơ cấu

nền kinh tế hàng hóa cho thị trường EU, giúp thị trường EU tiếp nhận được “một số

mặt hàng có giá thành rẻ từ Việt Nam như dệt may giày dép điện tử, sản xuất hàng tiêu dùng, nông nghiệp…” [14, tr 37], có giá thành thấp do chệnh lệch tỉ giá tiền tệ,

bớt lệ thuộc vào thị trường Trung Quốc với thị trường các nước khác trong điều kiện nếu có xung đột hoặc có tác động từ các nhân tố bất lợi giữa EU và các quốc gia kể trên Ngoài ra, thông qua các cam kết sẽ được kí giữa Việt Nam và EU để tự do hoá thương mại, đầu tư, Việt Nam sẽ thực hiện các cam kết của các hiệp định Khi đó, các

cơ sở hạ tầng và môi trường kinh doanh của Viêt Nam cũng “sẽ giúp cho các hoạt

động đầu tư – kinh doanh của các doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài trong đó

có các doanh nghiệp và nhà đầu tư của E được thuận lợi và và hiệu quả hơn” [46]

Về cơ bản, việc kí kết FTA trong lĩnh vực thương mại và bảo hộ đầu tư sẽ giúp tối đa hóa lợi ích thương mại tự do cả Việt Nam và EU Cả 2 bên đều nhận được nhiều

cơ hội để phát triển kinh tế và là động lực quan trọng cho nền kinh tế, cải thiện vị thế Việt Nam và EU trong chuỗi cung ứng toàn cầu Đây được xem nhân tố quan trọng để Việt Nam và EU đi đến đàm phán í ết các hiệp định về thương mại, đầu tư sau một chặng đường dài thiết lập quan hệ ngoại giao

1.2.2 Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước

Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước là định hướng cho hội nhập cũng như phát triển kinh tế xã hội của đất nước Kể từ năm 1986 đến nay, các chủ trương, trong đó có hội nhập về kinh tế góp phần thúc đ y quan hệ giữa Việt Nam với các đối tác quốc tế Hai hiệp định EVFTA và EVIPA được khởi động, đàm phán thành công với EU cũng được xem là thành công trong chủ trương chính sách và đường lối kinh tế đối ngoại của Việt Nam Những thành công trên con đường hội nhập suốt bao nhiêu năm qua đều đánh dấu sự vận động tích cực, linh hoạt trong đường lối chính sách đối ngoại đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta

Trên cơ sở đường lối đổi mới được khởi xướng từ Đại hội Đảng lần thứ VI năm

1986, Đại hội Đảng lần thứ IX tiếp tục khẳng định chủ trương “phát huy cao độ nội lực, tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững” Tiếp đó, Đại hội X của Đảng nêu rõ chủ trương

“chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế

trên các lĩnh vực” [25] Sang Đại hội XI của Đảng chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” nhằm khai thác tối đa các nguồn lực bên ngoài để phục vụ phát

triển nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, thực hiện thắng lợi

Trang 30

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, coi đây là một trong những nhiệm

vụ trọng tâm của công tác đối ngoại trong thời gian tới: “Chủ động và tích cực hội

nhập quốc tế là chủ trương chiến lược của Đảng ta, phù hợp với xu thế phát tri n của thế giới, phù hợp với thế và lực của đất nước sau 5 n m đổi mới và thực tiễn quá trình hội nhập của đất nước đáp ứng yêu cầu đ i hỏi của công cuộc phát tri n đất nước trong giai đoạn mới” [25] Chính từ các quan điểm, định hướng về hội nhập

quốc tế sâu rộng của Đảng và Nhà nước đã trở thành nhân tố góp phần thúc đ y các hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam chủ động, tích cực trong đề xuất việc đàm phán các FTA với các đối tác quốc tế, trong đó có EU

Trong thời gian gần đây, Đảng và Nhà nước ta ngày càng cụ thể hoá chiến lược coi trọng việc hợp tác, ý ết các hiệp định nhằm thúc đ y quan hệ hợp tác và phát triển inh tế với các đối tác quốc tế Đây là một mục tiêu mang tính dài hạn của Đảng

Cộng sản Việt Nam Đảng ta hẳng định: “Tri n hai chủ trương chủ động t ch cực

hội nhập quốc tế tham gia s u rộng và toàn diện hơn vào nền inh tế hu vực và toàn cầu thông qua ý ết các FTA hu vực và song phương” [26] Bởi vì hội nhập inh tế

quốc tế là một trong những động lực quan trọng để hoàn thiện thể chế, thúc đ y tăng trưởng và phát triển inh tế Đ y mạnh tái cơ cấu inh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với phát triển bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia [26] Tính đến thập niên đầu tiên của thế ỷ XXI, EU được xem là thị trường hàng đầu của Việt Nam, cho nên việc phát triển quan hệ đối tác sâu rộng toàn diện theo tinh thần của Đảng và đường lối chủ trương của Nhà nước thì EU được xem là ưu tiên số 1 Đó là cơ sở để định hướng cho các cơ quan, bộ ngành cũng như toàn thể hệ thống chính trị có những chủ trương, giải pháp đ y mạnh việc hởi động đàm phán các FTA với EU

Bên cạnh đó, trong chủ trương hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước ta chủ trương phát triển và nâng tầm mối quan hệ chiến lược, sâu rộng với các đối tác truyền thống, láng giềng, hu vực, với các tổ chức quốc tế trên thế giới Trong bối cảnh thập niên thứ hai của thế ỷ XXI, hai tổ chức hu vực nằm trong ưu tiên của Việt Nam là ASEAN và EU Trong đó, EU - với những sự bổ sung quan trọng cho sự hội nhập inh

tế Việt Nam vào chuỗi cung ứng và thị trường toàn cầu - được xem là mục tiêu của hoạt động inh tế đối ngoại của Việt Nam Do đó, Đảng và Nhà nước ta bên cạnh thúc

đ y sự phát triển toàn diện với EU còn thúc đ y việc hình thành bộ hung, các cam ết quốc tế mới với EU để từ đó nâng tầm mối quan hệ Việt Nam – EU và Việt Nam với cộng đồng quốc tế Chính điều này đã thúc đ y nhanh chóng việc chúng ta đi đến bàn thảo với EU nhất trí hởi động đàm phán các FTA

Đường lối hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước được hình thành từ năm

1986, đặc biệt là các chủ trương hội nhập quốc tế trong đầu thập niên thứ hai của thế

Trang 31

ỷ XXI là cội nguồn, là kim chỉ nam cho hoạt động hội nhập của Việt Nam với các đối tác quốc tế, trong đó có EU Việc đi đến đàm phán hiệp định thương mại tự do với EU

là ết quả của đường lối hội nhập đúng đắn ể trên

1.2.3 Truyền thống hợp tác Việt Nam-EU trước khi kí kết EVFTA và EVIPA

Trong nhóm các quốc gia phát triển đặt quan hệ hợp tác với Việt Nam, EU có thể được coi là đối tác thiết lập quan hệ sớm Ngày 22 tháng 10 năm 1990, EU và Việt Nam chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Đây là một sự iện quan trọng, đánh dấu Việt Nam bắt đầu thoát khỏi sự bao vây cấm vận của các nước phương Tây Điều này đã tác động tích cực đến quan hệ đối ngoại và tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam Trải qua chặng đường hơn 20 năm thiết lập quan hệ, các thành tựu đạt được giữa Việt Nam và EU đã tạo nền tảng vững chắc để hai bên tin tưởng, tăng cường sự hợp tác với các cam kết sâu rộng hơn thông qua các hiệp định thương mại tự do để phù hợp với xu thế vận động chung của thời đại

Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986 đã mở đầu cho công cuộc đổi mới cho đất nước trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có chính sách đối ngoại mới nhằm “mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình” đã dần thay đổi hình ảnh về Việt Nam với cộng đồng quốc tế EU là một trong những đối tác tiên phong trong việc ghi nhận những động thái thay đổi của Việt Nam Ngay sau khi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia năm 1989 và thậm chí khi Mỹ còn chưa thực

sự bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, EU đã quyết định thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Mặc dù, trước đó Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao song phương với 22/27 nước thành viên của EU hiện nay, song việc thiết lập quan hệ với EU - là một chủ thể đặc biệt với các nước thành viên Tây Âu - là một sự kiện có tính then chốt đối với công cuộc đổi mới của Việt Nam [60]

Quan hệ hợp tác Việt Nam - EU được khởi đầu trên các vấn đề nhân đạo, khắc phục hậu quả chiến tranh Đó là Chương trình quốc tế của EC do Liên minh Châu Âu phối hợp với Cao ủy Liên hợp quốc về người tị nạn, hỗ trợ cho người Việt Nam hồi hương và tái hòa nhập cộng đồng với số vốn tối đa là 50.000 USD Đồng thời, EU cũng viện trợ 7 triệu USD để đưa lao động Việt Nam ở Irắc về nước trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh cuối năm 1990 [7, tr 119] Kết quả của chương trình này có ý nghĩa quan trọng đối với quan hệ Việt Nam - EU khi đã mở ra cánh cửa hợp tác trong các lĩnh vực khác Thông qua đó, cộng đồng quốc tế thấy được sự nghiêm túc, độ tin cậy của Việt Nam trong các cam kết quốc tế với châu Âu cũng như thế giới

Năm 1995, Hiệp định hung Việt Nam – EU được í ết, hình thành mối quan

hệ hợp tác tin cậy giữa hai bên Có thể nói, đây là dấu mốc quan trọng thiết lập cơ

sở pháp lý cho việc xây dựng quan hệ giữa hai bên, mở rộng quan hệ đối tác ngoài

Trang 32

phạm vi hợp tác nhân đạo ban đầu Ngay sau đó, tháng 9 tháng 1995, Phó Chủ tịch

Ủy ban châu Âu đã đến thăm Việt Nam và nhất trí thành lập một phái đoàn ngoại giao thường trực tại Hà Nội Năm 1996, EU đã đặt cơ quan đại diện ngoại giao tại Việt Nam khẳng định quan hệ ngoại giao chính thức và đầy đủ với Việt Nam Không chỉ vậy, hiệp định có tính tiên phong vì quá trình đàm phán hiệp định đã diễn ra trước khi Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận và khôi phục quan hệ ngoại giao với Việt Nam, do đó ít nhiều đã tác động đến Mỹ cùng các đối tác khác trong tiến trình tiến tới bình thường hóa quan hệ với Việt Nam [60] Những giá trị mà Liên minh Châu

Âu mang lại hi đặt quan hệ với Việt Nam thực sự không gì có thể phủ nhận được, lịch sử ghi nhận những cố gắng và nỗ lực của cả hai Bên vô cùng to lớn trong bối cảnh lúc bấy giờ

Trong thời ì đ y mạnh việc cải cách và hội nhập của nền kinh tế Việt Nam, EU

đã đồng hành cùng Việt Nam với nhiều hoạt động hỗ trợ quan trọng Chính Liên minh Châu Âu đã tích cực hỗ trợ Việt Nam trong hoạch định chính sách và nâng cao năng lực thể chế, từ đó góp phần thúc đ y tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam Sự hỗ trợ này được thực hiện trong nhiều chương trình, dự án khác nhau, tiêu biểu là Chương trình hỗ trợ quá trình chuyển tiếp sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam (EURO TAP VIET) từ 1994 đến 1999 tài trợ cho Việt Nam 20 triệu Euro; Chương trình hỗ trợ chính sách Thương mại đa phương (MUTRAP) từ 1998 đến 2017 [79] Ngoài ra, EU

là nhà cung cấp viện trợ phát triển ODA không hoàn lại lớn nhất cho Việt Nam Giai đoạn 1993-2013, ODA của EU chiếm 20% tổng cam kết của các nhà tài trợ quốc tế đối với Việt Nam, trong đó viện trợ không hoàn lại là 1,5 tỉ USD Giai đoạn 2014 - 2020,

EU đã viện trợ 400 triệu Euro cho Việt Nam, tập trung vào các lĩnh vực năng lượng bền vững và tăng cường năng lực thể chế Các dự án ODA của EU đã hỗ trợ hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam Hai bên còn đ y mạnh hợp tác về văn hóa nghệ thuật, bảo tồn di sản, giáo dục, giao lưu nhân dân…

Kể từ khi hai bên ký kết hiệp định khung đến nay, quan hệ Việt Nam - EU đã

có những bước tiến vượt bậc Quan hệ Việt Nam - EU bắt đầu mở rộng và tiếp cận trên nhiều phương diện Trên cơ sở sự phát triển của quan hệ hai bên, năm 2007 đề nghị việc hởi động đàm phán cho hiệp định đối tác toàn diện với ASEAN, nhằm xây dựng huôn hổ hợp tác mới giữa EU với các nước trong hu vực, do các hiệp định trước đây hông còn phù hợp nữa Ngày 10 tháng 10 năm 2007, EU đã chính thức đề nghị đàm phán hiệp định đối tác toàn diện giữa Việt Nam và EU với mục tiêu thay thế hiệp định hung được í năm 1995 [16] Việc đề xuất này phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của hai bên Về phía EU mong muốn mở rộng hợp tác với Việt Nam và phía Việt Nam mong muốn tận dụng hợp tác thương mại và đầu tư với

Trang 33

EU ở tầm quan hệ chiến lược Sau 9 vòng đàm phán (từ tháng 6 năm 2018 đến tháng

10 năm 2010), ngày 4 tháng 10 năm 2010, hiệp định đối tác toàn diện đã được í tắt bên lề hội nghị ASEM-8 Việc í ết hiệp định đã tạo nên một bước đột phá mới

trong quan hệ giữa hai bên “mở rộng phạm vi hợp tác Việt Nam - E vượt qua lĩnh

vực thương mại và hợp tác kinh tế, sang cả những lĩnh vực hác như môi trường,

n ng lượng, công nghệ, quản trị công hiệu quả, du lịch v n hóa di cư an ninh chống tham nhũng và tội phạm có tổ chức” [60]

Về quan hệ thương mại Việt Nam- EU, đây có thể coi là một lĩnh vực rất thành công trong hợp tác giữa EU và Việt Nam Nếu như năm 1995, tổng kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam và EU mới chỉ đạt 1,5 tỷ USD thì đến năm 2008, đã tăng đến mức kỉ lục 16,2 tỷ USD Mức tổng kim ngạch này đã vượt mức trong đề án tổng thể về phát triển quan hệ Việt Nam – EU đến năm 2010 và định hướng cho năm 2015 Điều này có nghĩa là sự phát triển kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và EU đã vượt trước kế hoạch hai năm [16] Liên minh châu Âu hiện cũng là thị trường xuất h u lớn thứ hai của Việt Nam, điểm đến của 18% lượng hàng xuất h u từ Việt Nam, đối tác thương mại lớn thứ ba của Việt Nam với im ngạch thương mại đạt 50 tỷ USD trong năm 2018 và là nhà đầu tư lớn thứ năm tại Việt Nam [80]

Trong lĩnh vực đầu tư, các thành viên trong EU là những nhà đầu tư lớn ở Việt Nam Tính đến ngày 20 tháng 3 năm 2015 đã có 23 nước thành viên đầu tư vào Việt Nam với 1607 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đầu tư đăng í đạt 19,7 tỷ USD Trong

đó Hà Lan đứng đầu với 233 dự án với vốn đầu tư đăng í 6,63 tỷ USD (chiếm 33,6% tổng vốn đầu tư của EU tại Việt Nam) Pháp đứng thứ 2 có 429 dự án với vốn đầu tư với vốn đầu tư 3,38 tỷ USD (chiếm 17,2% tổng số vốn đầu tư của EU vào Việt Nam) Vương quốc Anh đứng thứ ba có 204 dự án với 3,18 tỷ USD vốn đầu tư (chiếm 16,2 % tổng số vốn đầu tư của EU tại Việt Nam) Tiếp đó là Lucxambua có

32 dự án đầu tư với tổng số vốn đầu tư là 1,57 tỷ USD (chiếm 8% tổng vốn đầu tư của EU tại Việt Nam) [16]

Trên cơ sở mối quan hệ truyền thống giữa Việt Nam và EU trong hơn 25 năm thiết lập quan hệ từ 1990 đến 2005 có thể thấy:

- Thứ nhất, bản chất quan hệ Việt Nam – EU có sự chuyển đổi nhanh chóng từ

phương diện tập trung vào sự hỗ trợ, giúp đỡ của EU đối với Việt Nam trong giai đoạn đầu sau quan hệ hợp tác đối tác trên các lĩnh vực thương mại, đầu tư và các lĩnh vực hác Điều đó cho phép tạo ra một cơ sở và minh chứng hẳng định mối quan hệ đó cần được nâng tầm, phát triển hơn nữa trong giai đoạn mới Đây cũng là điều iện tác động thuận lợi đối với Việt Nam trong đàm phán với EU về các FTA thế hệ mới

- Thứ hai, từ sự hợp tác giữa Việt Nam và EU trên nhiều phương diện, có thể

Trang 34

thấy sự bổ sung của hai bên cho nhau trong hợp tác ngày càng lớn Đồng thời, sự hác biệt giữa hai bên cũng là hó hăn và thách thức đối với quá trình tự do hóa thương mại Do đó, Việt Nam - EU đặt ra nhu cầu cần phải tiến hành đàm phán về các sự hác biệt, sự bổ sung và xoá bỏ các hó hăn, thách thức để thúc đ y sự hội nhập sâu rộng trong quan hệ hai bên

- Thứ ba, sau một chặng đường dài thiết lập và phát triển, mối quan hệ Việt Nam

và EU được thử thách với xu thế gia tăng liên ết quốc tế và cạnh tranh lợi ích từ các nước hác Điều đó đòi hỏi Việt Nam và EU tiếp tục thảo luận về những hợp tác chặt chẽ để đảm bảo lợi ích trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động

Có thể nói, lịch sử mối quan hệ truyền thống đã tạo ra được những cơ sở tốt đẹp

để Việt Nam và EU có thể nghĩ về, nâng tầm mối quan hệ hai bên thông qua việc đàm phán các FTA thế hệ mới Hơn nữa, các hó hăn, thách thức, sự cạnh tranh, sự hác biệt đòi hỏi Việt Nam và EU phải đ y mạnh đàm phán, có giải pháp và lộ trình cam

ết sâu rộng, toàn diện trong các FTA để giải quyết vấn đề ể trên

1.2.4 Sự khác biệt và các rào cản thương mại Việt Nam và EU

Liên minh Châu Âu là đối tác có vị thế quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển inh tế, thương mại, đầu tư của Việt Nam Việc í ết hiệp định thương mại, đầu

tư với EU sẽ mở ra thời ì thương mại mới, hai bên cùng có lợi Thêm vào đó, hi í hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, các hiệp định đầu tư với EU sẽ là một bước tiến về xu thế hội nhập của Việt Nam Song song với việc đạt được lợi ích như vậy, các thách thức, hác biệt, rủi ro cũng có tác động đến tiến trình đàm phán, í ết giữa

EU và Việt Nam về các hiệp định thương mại đầu tư

Đầu tiên, hó hăn và rào cản lớn nhất đối với việc đàm phán hiệp định thương mại giữa hai bên là các yêu cầu hắt he về qui tắc xuất xứ hàng hoá từ EU Xuất xứ

hàng hóa được hiểu là “nước nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ

hàng hóa hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng” Đi èm với nó

là bộ qui tắc về xuất xứ hàng hóa, là 1 bộ tiêu chí, 1 bộ điều iện để xem xét hàng hóa đến từ đâu Các hiệp định thương mại tự do hác nhau thì có qui định về nguồn gốc xuất xứ hác nhau EU là một thị trường khó tính, yêu cầu cao về chất lượng sản

ph m Các yêu cầu bắt buộc về vệ sinh an toàn thực ph m, dán nhãn, môi trường của EU rất khắt khe và không dễ đáp ứng Vì vậy, dù có được hưởng lợi về thuế quan thì hàng hóa của Việt Nam cũng phải hoàn thiện rất nhiều về chất lượng để

có thể vượt qua được các rào cản này Đối với hàng nhập h u từ các nước, phía EU

có rất nhiều các qui định hắt he, chặt chẽ về chất lượng và truy xuất nguồn gốc xuất xứ Ví dụ, hi nói đến hàng nông sản nếu tham gia vào một hiệp định thương mại với EU sẽ mang đến các ưu đãi với những quy định linh hoạt nhưng đa số ngành

Trang 35

hàng nông sản của nước ta như chè, rau quả vẫn vấp phải những hạn chế do thiếu tính đồng nhất trong từng lô hàng, công tác thu hoạch bảo quản chưa tốt nên chất lượng còn hạn chế Hay, như trường hợp ngành gỗ EU rất quan tâm đến việc truy xuất nguồn gốc của sản ph m Ví dụ gỗ và các sản ph m từ gỗ, khi xuất kh u sang

EU thì phải được khai thác một cách hợp pháp”, phải chứng minh được nguồn gốc xuất kh u là từ Việt Nam

Với hàng Việt Nam khi xuất kh u sang thị trường khối EU phải đảm bảo quy tắc xuất xứ để có thể hưởng ưu đãi thuế quan, muốn tận dụng tốt cơ hội, nông, thủy sản Việt Nam phải vượt qua các hàng rào kỹ thuật, tiêu chu n khắt he… Từ năm 2016, ngành nông nghiệp đã tập trung vào các vấn đề tiêu chu n, chất lượng, mẫu mã bao bì… để ứng xử không chỉ với EVFTA mà còn nhiều FTA khác Bởi không chu n hóa thì không thể hội nhập bền vững” Thực sự, các qui tắc ứng xử có thể hó đáp ứng Thông thường hàng hóa muốn hưởng ưu đãi thuế quan theo FTA thì nguyên liệu phải đáp ứng được một tỉ lệ về hàm lượng nội khối nhất định (nguyên liệu có xuất xứ tại

EU hoặc ở Việt Nam) Đây là một thách thức lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam bởi nguồn nguyên liệu cho sản xuất hàng xuất kh u hiện nay được nhập kh u từ Trung Quốc, ASEAN hoặc các nước không thuộc khối, không thuộc các đối tác có FTA với Việt Nam Ví dụ, trong ngành hàng Điều, EU có qui định tương đối chặt chẽ về nguồn gốc xuất xứ hạt Điều hi xem công đoạn gia công bóc vỏ hạt điều là chế biến giản đơn nên bắt buộc mặt hàng điều nhân của Việt Nam muốn đạt nguồn gốc xuất xứ phải chế biến từ nguồn điều nguyên liệu sản xuất trong nước Trong hi đó, Việt Nam đang nhập kh u rất nhiều Điều nguyên liệu (63% nhu cầu chế biến) từ Bờ Biển Ngà, Gana, Nigeria để sản xuất chế biến Với ngành gỗ, Việt Nam đang nhập kh u gỗ nguyên liệu chủ yếu từ Lào và Campuchia (chiếm 39.38% tổng kinh ngạch nhập kh u gỗ) Đây là những nước ngoại khối và thường không có chứng chỉ nguồn gốc hợp pháp Do đó, Việt Nam chúng ta cũng gặp hó hăn trong đáp ứng cam kết này Điều này đặt ra cho Việt Nam phải tìm kiếm nguồn hàng nhập kh u nguyên liệu mới như thị trường EU hoặc phát triển nguồn nguyên liệu nội địa

Một trong những hó hăn rào cản hác đến từ EU nếu kí kết thực thi hiệp định thương mại và đầu tư là yêu cầu khắt khe về ghi nhãn sản ph m và tiêu chu n tiếp thị

từ EU Những qui định trên của EU xuất phát từ yêu cầu cao trong việc truy xuất nguồn gốc, nhằm đảm bảo khả năng giám sát thực ph m trong mọi công đoạn từ sản xuất đến phân phối Trong một cuộc khảo sát năm 2014 của 21 nước thành viên của

Tổ chức hợp tác và phát triển (OECD) cho thấy EU xếp hạng cao nhất với các yêu cầu cao nhất về truy xuất nguồn gốc thực ph m Ví dụ, trái cây, dù là sản ph m tươi hay đã qua chế biến đã được bán ở thị trường EU phải tuân thủ theo các qui định của EU về

Trang 36

ghi nhãn thực ph m Sản ph m trái cây tươi chủ yếu được lưu trữ trong các thùng cac- ton Những thùng cac- ton này phải hiển thị các thông tin: tên và địa chỉ người đóng gói và nhà vận chuyển; tên sản ph m; nước xuất xứ; ích thước và loại sản ph m; và

số lô (mục đích để truy xuất dữ liệu) Hầu hết các nước nhập kh u yêu cầu thùng ton phải có đầy đủ thông tin trên, các nhà sản xuất đã quen thuộc với những thông tin này Tuy nhiên, qui định về hiển thị thông số lô ở các thị trường khác của Việt Nam như Mỹ, Canada và Trung Quốc không phải là nghĩa vụ bắt buộc với các nhà sản xuất trái cây Hay những loại trái cây đã qua chế biến thường được đóng trong các bao bì nhỏ và các bao bì này thể hiện một số nội dung bắt buộc Ngoài ra, những nội dung này còn phải tuân thủ theo định dạng cụ thể do EU đặt ra, bao gồm phông chữ, màu sắc kích cỡ của chữ Thông tin chung về tên sản ph m, tên nhà sản xuất, nước xuất xứ, hạn sử dụng, bao bì của thực ph m đã qua chế biến còn cần thể hiện những thông tin sau: hàm lượng dinh dưỡng, cảnh báo dị ứng Ngoài ra, còn có các qui tắc chung, qui tắc cụ thể Nhìn chung, các qui định của EU về dán nhãn tương đối phức tạp và chi tiết Các nhà sản xuất phải biết và hiểu tất cả các yêu cầu để tránh trường hợp bị thiếu thông tin bắt buộc và phải tuân thủ theo qui định cụ thể về định dạng và hình thức của từng thông tin được thể hiện Các qui định phức tạp về dán nhãn cộng với mức độ chấp nhận lỗi không tuân thủ của EU rất thấp khiến cho điều này trở thành rào cản ảnh hưởng đến việc tiếp cận thị trường EU của các nhà sản xuất Việt Nam

cac-Bên cạnh đó, rào cản về quy định, chính sách của Việt Nam và sự hác biệt trong chính sách Việt Nam và EU cũng là một hó hăn thách thức đối với Việt Nam và EU trong thỏa thuận về hiệp định thương mại đầu tư Cam ết của Việt Nam và EU trong các hiệp định thương mại và đầu tư tạo ra môi trường đầu tư cởi mở, thuận lợi cho doanh nghiệp hai bên Tuy nhiên, điều này lại gặp phải nhiều rào cản về qui định, chính sách của Việt Nam lẫn sự hác biệt trong chính sách của hai bên Cụ thể, các nhà sản xuất ô tô châu Âu thường thắc mắc mức tiêu thụ ô tô của thị trường Việt Nam còn rất thấp, do họ chưa hiểu được những quy định luật pháp liên quan của Việt Nam, chưa hình dung được hoạt động kinh doanh ô tô tại Việt Nam chính vì vậy, để FDI có thể chảy vào thị trường Việt Nam mạnh hơn nữa chúng ta cần gỡ bỏ các rào cản thương mại Song song với thu hút FDI, Việt Nam cũng cần tính toán việc giữ chân các doanh nghiệp FDI các chuyên gia nước ngoài làm việc tại Việt Nam rất cần cập nhật các quy định ở Việt Nam, nhưng nhiều chính sách, nghị định và thông tư của Việt Nam vẫn chưa được cập nhật bằng tiếng Anh, dẫn đến khả năng tiếp cận và hiểu rõ chính sách của họ còn rất hạn chế

Việt Nam chưa cần tạo ra thay đổi lớn trong toàn bộ các chính sách, nhưng phải có những điều chỉnh chính sách phù hợp với các quy định của EU, bởi đây là

Trang 37

điều các nhà đầu tư EU rất quan tâm Việc làm rõ và điều chỉnh chính sách là con đường tốt nhất để Việt Nam hội nhập sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu Thêm vào đó, với việc thực thi các cam kết trong EVFTA về các vấn đề thể chế, chính sách pháp luật sau đường biên giới, môi trường kinh doanh và chính sách, pháp luật Việt Nam sẽ có những thay đổi, cải thiện theo hướng minh bạch hơn, thuận lợi và phù hợp hơn với thông lệ quốc tế

Rào cản về các biện pháp vệ sinh an toàn thực ph m và iểm dịch động thực vật cũng là một trong những vấn đề đáng quan tâm EU là một thị trường khó tính Khách hàng có yêu cầu cao về chất lượng sản ph m Các yêu cầu bắt buộc về vệ sinh an toàn thực ph m, dán nhãn, môi trường của EU rất khắt khe và không dễ đáp ứng Vì vậy,

dù có được hưởng lợi về thuế quan thì hàng hóa của Việt Nam cũng phải hoàn thiện rất nhiều về chất lượng để có thể vượt qua được các rào cản này

Về chất lượng vệ sinh an toàn thực ph m và kiểm dịch động thực vật, theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, hiện nay, hiểu biết về EVFTA của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam không nhiều Hơn nữa, khả năng thay đổi để thích ứng với việc kí kết thực thi các hiệp định thương mại, đầu tư cũng còn há hạn chế khi có tới

“40% doanh nghiệp khó cải thiện điều kiện lao động; 55% doanh nghiệp hó đầu tư vào công nghệ mới; 59% doanh nghiệp hó đáp ứng yêu cầu nội địa hóa… Tuy nhiên, sức ép cạnh tranh mà các hiệp định thương mại và đầu tư dự kiến mang lại được nhận định là sức ép cạnh tranh lành mạnh, có chọn lọc và theo lộ trình phù hợp Do đó, việc

kí kết cũng là cơ hội, sức ép hợp lý để các doanh nghiệp Việt Nam điều chỉnh, thay đổi phương thức inh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh

Bên cạnh đó, rào cản về các hàng rào ỹ thuật và phòng vệ thương mại cũng rất đáng để quan tâm Thông thường khi rào cản thuế quan hông còn là “công cụ hữu hiệu để bảo vệ nữa, doanh nghiệp ở thị trường nhập kh u có xu hướng sử dụng nhiều hơn các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp hay tự vệ để bảo vệ ngành sản xuất nội địa Và, EU cũng là một trong những thị trường có “truyền thống” sử dụng các công cụ này [63] Việt Nam cần nâng cao chất lượng sản ph m, liên kết thành các chuỗi cung ứng sản ph m: Nhiều doanh nghiệp vẫn đang phát triển theo chiều rộng, tăng về doanh thu, số lượng sản ph m, số lượng lao động, nguồn vốn… Tuy nhiên, chưa chú trọng cải thiện về chất lượng sản ph m cũng như chiều sâu trong công tác quản lý Hàng hóa Việt Nam chưa có nhiều thương hiệu nổi tiếng hấp dẫn khách hàng

và chưa đáp ứng được các tiêu chu n chất lượng của các thị trường quốc tế Đây chính

là điều các doanh nghiệp Việt Nam cần trang bị tốt kiến thức cho quá trình hội nhập Ngoài ra, các quy định về sở hữu trí tuệ, lao động và môi trường cũng tác động như một hó hăn thách thức để đàm phán và í ết các hiệp ước với EU Mở cửa thị

Trang 38

trường Việt Nam cho hàng hóa, dịch vụ từ EU đồng nghĩa với việc doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải cạnh tranh hó hăn hơn ngay tại thị trường nội địa trên cả lĩnh vực sở hữu trí tuệ, lao động và môi trường Trên thực tế, đây là một thách thức rất lớn, bởi các doanh nghiệp EU có lợi thế hơn hẳn các doanh nghiệp Việt Nam về năng lực cạnh tranh, kinh nghiệm thị trường, sở hữu trí tệ cũng như hả năng tận dụng các FTA Tuy nhiên, cam kết mở cửa của Việt Nam là có lộ trình, đặc biệt đối với những nhóm sản

ph m có đăng í sở hữu trí tuệ, do đó EVFTA cũng là cơ hội, sức ép hợp lý để các doanh nghiệp Việt Nam điều chỉnh, thay đổi phương thức kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo ra môi trường thuận lợi cho chính mình ngay trên “sân nhà” Như vậy, nếu kí kết các hiệp định tự do trong lĩnh vực thương mại và đầu tư sẽ tạo ra khuôn khổ pháp lý thông thoáng, ổn định để phát triển quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và EU Tuy nhiên, những hó hăn, rào cản đối với việc đàm phán và thực thi các hiệp ước trên cần nhận diện được và khắc phục để thúc đ y nhanh quá trình đàm phán, đ y mạnh thương mại đầu tư trong bối cảnh tự do thương

mại và đầu tư là hướng đi chủ đạo của thế giới

Trang 39

Từ năm 1990, Việt Nam và EU đã chính thức thiệp lập quan hệ Trên cơ sở những thành tựu đạt được, sự hiểu biết lẫn nhau giữa Việt Nam và EU, hiệp định thương mại tự do thế hệ mới được tuyên bố khởi động đàm phán trong quan hệ giữa hai bên Quá trình đàm phán các hiệp định thương mại tự do và đầu tư giữa Việt Nam

và EU chịu sự chi phối của nhiều nhân tố như các lợi ích của quá trình tự do hoá thương mại, đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, lịch sử và truyền thống hợp tác giữa Việt Nam và EU cũng như sự khác biệt trong cơ chế, chính sách và các vấn đề liên quan giữa hai bên

Các nhân tố bên trong và bên ngoài kể trên là động lực thúc đ y, là cơ sở, là yếu

tố nền tảng để phát triển mối quan hệ giữa Việt Nam và EU lên một tầm cao mới Việc

kí kết EVFTA và EVIPA là một trong những minh chứng về sự phát triển vị thế mới của quan hệ Việt Nam và EU dưới tác động của các nhân tố kể trên

Trang 40

CHƯƠNG 2 TIẾN TRÌNH ĐÀM PHÁN, KÍ KẾT HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI

TỰ DO (FTA) VÀ HIỆP ĐỊNH BẢO HỘ ĐẦU TƯ (IPA)

VỚI LIÊN MINH CHÂU ÂU (2010 - 2020)

2.1 Quá trình đàm phán, kí kết EVFTA và EVIPA

2.1.1 Giai đoạn 2010 - 2017

Trước hi í ết EVFTA và EVIPA, Việt Nam và EU đã có một mối quan hệ chính thức được thiết lập hơn 30 năm Việc đàm phán để í các hiệp định ể từ tháng

10 năm 2010 được đánh giá là “sự ết tinh của một thập ỉ nỗ lực hông ngừng nghỉ”

[47] Quá trình này có thể phân định thành hai giai đoạn cơ bản: Giai đoạn 1 từ năm

2010 đến 2017, giai đoạn 2 từ năm 2017 đến năm 2020 Trong giai đoạn 1, Việt Nam -

EU tập trung đàm phán về các vấn đề nội dung và việc phê chu n EVFTA Sang giai đoạn 2, hai bên tập trung vào việc tách EVFTA thành hai hiệp định, hoàn tất quá trình đàm phán EVIPA và phê chu n cả hai hiệp định này trong thực tế để thực thi

Ở phương diện chiến lược, việc đàm phán và thực thi các hiệp định sẽ gửi đi một thông điệp tích cực về quyết tâm của Việt Nam trong thúc đ y sự hội nhập sâu rộng

vào nền inh tế thế giới Đặc biệt, các doanh nghiệp Việt Nam có thêm “cơ hội tham

gia vào các thị trường, sản ph m và dịch vụ của ch u u Tương tự các công ty của

ch u u cũng có th thâm nhập s u hơn vào thị trường đang phát tri n mạnh của Việt Nam” [48] Chính vì vậy, tháng 10 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam và Chủ

tịch EU đã đồng ý hởi động đàm phán Hiệp định EVFTA như là một dấu mốc mới cho hành trình quan hệ Việt Nam – EU sau 30 năm thiết lập quan hệ Sau 2 năm ể từ khi tuyên bố về hởi động đàm phán, công tác chu n bị cho việc bắt đầu đàm phán Hiệp định thương mại tự do song phương Việt Nam - EU đã được hẳng định tại Phnom Penh (Campuchia) vào ngày 31 tháng 3 năm 2012 bên lề cuộc họp Kinh tế ASEAN-EU lần thứ 11 Vào ngày 31 tháng 5 năm 2012, Hội đồng EU đã ủy quyền cho Ủy ban Châu Âu bắt đầu đàm phán về một hiệp định thương mại tự do giữa EU với Việt Nam [33, tr 16], [36]

Trong giai đoạn đầu, việc đàm phán giữa Việt Nam và EU diễn ra trong 14 phiên với nhiều vấn đề thảo luận và sự tham gia của các nhóm chuyên môn, bàn thảo về các vấn đề từ hung pháp lý cho đến những vấn đề cụ thể cho đến hi đạt được các nội dung của EVFTA

- Phiên đàm phán đầu tiên: Phiên đàm phán chính thức đầu tiên giữa Việt Nam

và EU đã diễn ra tại Hà Nội từ ngày 8 - 12/10/2012 Hội nghị với sự tham gia của 60

Ngày đăng: 19/06/2023, 11:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Trần Thị Hải An (2020), “Tìm hiểu cơ chế giải quyết tranh chấp theo Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và EU (EVIPA)”, Tạp chí Nhân lực Xã hội, (6), tr. 28-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu cơ chế giải quyết tranh chấp theo Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và EU (EVIPA)
Tác giả: Trần Thị Hải An
Nhà XB: Tạp chí Nhân lực Xã hội
Năm: 2020
[2] Trần Tuấn Anh (2021), “Thực thi Hiệp định EVFTA: những tác động tới nền kinh tế Việt Nam”, Kinh tế châu Á – Thái B nh Dương, 585(3), tr. 40-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực thi Hiệp định EVFTA: những tác động tới nền kinh tế Việt Nam
Tác giả: Trần Tuấn Anh
Nhà XB: Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương
Năm: 2021
[3] Trần Tuấn Anh (2021), “Yêu cầu hoàn thiện pháp luật trong tự do cơ hội thực thi hiệp định thương mại Việt Nam liên minh châu Âu và thách thức đối với Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, 957, tr. 101-105 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yêu cầu hoàn thiện pháp luật trong tự do cơ hội thực thi hiệp định thương mại Việt Nam liên minh châu Âu và thách thức đối với Việt Nam
Tác giả: Trần Tuấn Anh
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 2021
[4] Ban Tuyên giáo Trung ương (2016), Tài liệu tuyên truyền Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và liên minh kinh tế Á - Âu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tuyên truyền Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và liên minh kinh tế Á - Âu
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2016
[5] Bộ Công Thương (2020), Hỏi đáp về Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA)
Tác giả: Bộ Công Thương
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2020
[6] Chủ tịch nước (2020), Tờ trình tóm tắt về việc phê chu n hiệp định bảo hộ đầu tư giữa một bên là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và một bên là liên minh Châu Âu và các nước thành viên Liên minh Châu Âu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tờ trình tóm tắt về việc phê chu n hiệp định bảo hộ đầu tư giữa một bên là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và một bên là liên minh Châu Âu và các nước thành viên Liên minh Châu Âu
Tác giả: Chủ tịch nước
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2020
[7] Trần Thị Kim Dung (2001), Quan hệ Việt Nam – Liên minh châu Âu, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt Nam – Liên minh châu Âu
Tác giả: Trần Thị Kim Dung
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2001
[8] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), V n iện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIII, Tập 1, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: V n iện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIII, Tập 1
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Sự thật
Năm: 2021
[9] Bùi Hải Đăng (2013), Bản sắc châu Âu trong tiến trình hình thành và phát tri n của EU, Luận án Tiến sĩ Văn hoá học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc châu Âu trong tiến trình hình thành và phát tri n của EU
Tác giả: Bùi Hải Đăng
Nhà XB: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2013
[10] Bùi Hồng Hạnh (2005), “Liên minh châu Âu – Từ hợp tác chính trị đến một chính sách đối ngoại chung”, Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, 4 (64), tr. 96- 100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên minh châu Âu – Từ hợp tác chính trị đến một chính sách đối ngoại chung
Tác giả: Bùi Hồng Hạnh
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu châu Âu
Năm: 2005
[11] Trần Thị Mai Hoa, Nguyễn Hồng Minh (2021), “Hiệp định EVFTA: Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam”, Kỉ yếu Hội thảo Khoa học Quốc tế: Kinh tế và Thương mại quốc tế tác động tới doanh nghiệp Việt Nam, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB Lao động-Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định EVFTA: Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam
Tác giả: Trần Thị Mai Hoa, Nguyễn Hồng Minh
Nhà XB: Kỉ yếu Hội thảo Khoa học Quốc tế: Kinh tế và Thương mại quốc tế tác động tới doanh nghiệp Việt Nam
Năm: 2021
[12] Nguyễn Tiến Hoàng, Nguyễn Thị Bích Hạnh (2021), “Tác động của hiệp định EVFTA đến xuất kh u mặt hàng giày dép của Việt Nam sang thị trường EU”, Tạp chí Phát tri n Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, Số 5(2), tr. 1499-1508 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của hiệp định EVFTA đến xuất kh u mặt hàng giày dép của Việt Nam sang thị trường EU
Tác giả: Nguyễn Tiến Hoàng, Nguyễn Thị Bích Hạnh
Nhà XB: Tạp chí Phát tri n Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý
Năm: 2021
[13] Nguyễn Tiến Hoàng, Trần Thị Vân (2021), “Tác động của hiệp định EVFTA đến nhập kh u dược ph m từ thị trường EU vào Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing, Số 1, tr. 64-81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của hiệp định EVFTA đến nhập kh u dược ph m từ thị trường EU vào Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Hoàng, Trần Thị Vân
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
Năm: 2021
[14] Vũ Thanh Hương, Nguyễn Thị Minh Phương (2016), “Đánh giá tác động theo ngành của Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU: Sử dụng các chỉ số thương mại”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN inh tế và Kinh doanh, 32(3), tr. 28-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác động theo ngành của Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU: Sử dụng các chỉ số thương mại
Tác giả: Vũ Thanh Hương, Nguyễn Thị Minh Phương
Nhà XB: Tạp chí Khoa học ĐHQGHN inh tế và Kinh doanh
Năm: 2016
[15] Lương Văn Kế, Nguyễn Thị Thuỷ Nguyên (2012), “Sự mở rộng của liên minh châu Âu từ góc độ địa chính trị”, Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, 8(143), tr. 3- 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự mở rộng của liên minh châu Âu từ góc độ địa chính trị
Tác giả: Lương Văn Kế, Nguyễn Thị Thuỷ Nguyên
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu châu Âu
Năm: 2012
[16] Ngô Thị Tuyết Mai, Nguyễn Như Bình (2020), Giáo trình Hội nhập Kinh tế quốc tế, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Hội nhập Kinh tế quốc tế
Tác giả: Ngô Thị Tuyết Mai, Nguyễn Như Bình
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2020
[17] Ngân hàng Thế giới (2020), Việt Nam T ng cường hội nhập quốc tế và thực thi EVFTA, Ngân hàng Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam T ng cường hội nhập quốc tế và thực thi EVFTA
Tác giả: Ngân hàng Thế giới
Nhà XB: Ngân hàng Thế giới
Năm: 2020
[18] Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2020), Tóm tắt Chương – Đối xử Quốc gia và mở cửa thị trường hàng hóa, Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU, Trung tâm WTO và Hội nhập Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tóm tắt Chương – Đối xử Quốc gia và mở cửa thị trường hàng hóa
Tác giả: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Nhà XB: Trung tâm WTO và Hội nhập Việt Nam
Năm: 2020
[19] Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2020), Tóm lược hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu (EVFTA), Trung tâm WTO và Hội nhập Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tóm lược hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu (EVFTA)
Tác giả: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Nhà XB: Trung tâm WTO và Hội nhập Việt Nam
Năm: 2020
[20] Quốc hội (2020), Nghị quyết Phê chu n Hiệp định Thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA), Nghị quyết số 102/2020/QH14, Ngày 8 tháng 6 năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Phê chu n Hiệp định Thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA)
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2020

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w