Đề cương chi tiết Luận Văn Thạc Sỹ i MỤC LỤC Trang Mục lục i Danh mục các chữ viết tắt được sử dụng trong luận văn v Danh mục các bảng được sử dụng trong luận văn vii Danh mục các hình vẽ, đồ thị được[.]
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Danh mục các chữ viết tắt được sử dụng trong luận văn v
Danh mục các bảng được sử dụng trong luận văn vii
Danh mục các hình vẽ, đồ thị được sử dụng trong luận văn viii
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING XUẤT KHẨU VÀ HOẠT
ĐỘNG MARKETING XUẤT KHẨU TẠI THỊ TRƯỜNG HOA KỲ
4
1.1 Marketing xuất khẩu và ảnh hưởng của marketing quốc tế tới hoạt động marketing
1.1.2 Marketing xuất khẩu là một bộ phận chính yếu của marketing Quốc tế 4
1.1.3 Các hoạt động marketing trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu 7
1.1.4 Những biến đổi của Thương mại Quốc tế và sự tác động của nó tới marketing
1.2.2 Marketing để đánh giá tiềm năng xuất khẩu vào thị trường 13
1.2.3 Marketing để lựa chọn biện pháp thâm nhập thị trường 15
1.2.4 Marketing về chính sách sản phẩm và chính sách giá xuất khẩu 16
1.3 Thị trường Hoa Kỳ đối với hoạt động Marketing xuất khẩu thuỷ sản 22
1.3.2 Thị trường thủy sản Hoa Kỳ và các vấn đề cần quan tâm khi thực hiện
marketing xuất khẩu sang thị trường này
26
1.4 Kinh nghiệm marketing xuất khẩu các mặt hàng thủy sản tới Hoa Kỳ ở một số nước
trên thế giới.
35
Trang 21.4.1 Kinh nghiệm đẩy mạnh hoạt động marketing xuất khẩu của Thái Lan 35
1.4.2 Kinh nghiệm đẩy mạnh hoạt động marketing xuất khẩu của Hàn Quốc 37
1.4.3 Kinh nghiệm đẩy mạnh hoạt động marketing xuất khẩu của Trung Quốc 39
1.5 Những vấn đề hoạt động marketing xuất khẩu thuỷ sản cần chú ý từ việc nghiên
cứu: lý luận marketing xuất khẩu, đặc thù của thị trường thủy sản Hoa Kỳ và kinh
nghiệm các nước
41
Chương 2
THỰC TRẠNG CÁC HOẠT ĐỘNG MARKETING XUẤT KHẨU
CÁC MẶT HÀNG THỦY SẢN VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG
HOA KỲ TRONG GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY 45
2.1 Thực trạng về kim nghạch xuất nhập khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường
Hoa Kỳ từ năm 2000 đến nay.
45
2.1.2 Cơ cấu hàng thủy sản xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ 47
2.2 Thực trạng sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ thủy sản ở nước ta 54
2.3 Thực trạng hoạt động marketing xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản Việt
Nam vào thị trường Hoa Kỳ từ năm 2000 đến nay
56
2.3.1 Tình hình hoạt động marketing xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị
trường Hoa Kỳ
56
2.3.3 Hoạt động marketing để cạnh tranh mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị
trường Hoa Kỳ
63
2.4 Những thuận lợi, khó khăn, hạn chế và nguyên nhân trong hoạt động marketing xuất
khẩu hàng thuỷ sản Việt Nam vào Hoa Kỳ.
69
2.4.2 Những hạn chế, khó khăn và nguyên nhân dẫn đến hoạt động marketing xuất
khẩu chưa hiệu quả
71
2.5 Những kết luận rút ra
2.5.1 Về tổ chức nghiên cứu marketing thị trường Hoa Kỳ
2.5.2 Về nghiên cứu chiến lược sản phẩm
2.5.3 Về nghiên cứu kênh phân phối sản phẩm thủy sản
75 75 75 76
Trang 3Chương 3
CÁC GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY CÁC HOẠT ĐỘNG
MARKETING XUẤT KHẨU CÁC MẶT HÀNG THỦY SẢN VIỆT
NAM VÀO THỊ TRƯỜNG HOA KỲ TỪ NAY ĐẾN NĂM 2010 79
3.1 Các căn cứ để đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ 79
3.2. Triển vọng phát triển xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam đến năm
2010
80
3.2.1 Chiến lược phát triển Kinh tế - Xã hội của Việt Nam 83
3.2.2 Vị trí của ngành thủy sản trong chiến lược phát triển kinh tế
Việt Nam
84
3.2.3 Các mục tiêu phát triển xuất khẩu Thủy sản đến 2010 85
3.2.4 Định hướng phát triển xuất khẩu Thủy sản của Việt Nam đến
năm 2010
86
3.2.5 Triển vọng thị trường thủy sản thế giới và khả năng thực hiện
chiến lược phát triển Thủy sản của Việt Nam đến 2010
87
3.2.5.1 Triển vọng thị trường thủy sản thế giới 87
3.2.5.2 Khả năng phát triển xuất khẩu thủy sản của Việt
Nam đến năm 2010
89
3.3 Các giải pháp nhằm thúc đẩy các hoạt động marketing xuất khẩu các mặt hàng thủy
sản của doanh nghiệp Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ
92
3.3.1 Tiếp tục các hoạt động marketing để khám phá thị trường Hoa Kỳ 93
3.3.3 Hoạt động marketing về đảm bảo và nâng cao chất lượng hàng thủy sản xuất
khẩu
95
3.3.4 Xây dựng chính sách giá cả trong hoạt động marketing xuất khẩu thủy sản 100
3.3.5 Hoàn thiện công tác tổ chức phân phối hàng thủy sản 104
3.4.1 Các kiến nghị từ phía các cơ quan quản lý nhà nước 106
3.4.2 Những ý kiến đề xuất đối với các doanh nghiệp thủy sản đang xuất khẩu vào
thị trường Hoa Kỳ
112
Trang 4Tài liệu tham khảo 116
Trang 5Danh mục các chữ viết tắt được sử dụng trong Luận văn
I Tiếng Anh
ASEAN Association of Southeast Asian
Hiệp định ưu đãi thuế quan
có hiệu lực chung (ASEAN)
FAO Food and Agriculture
Orrganization
Tổ chức Nông lương thếgiới của Liên Hợp Quốc
GDP Gross Domestic Production Thu nhập Quốc nội
GSP Generalized System of
Preferences
Hệ thống ưu đãi thuế quan
USDA United State Department of
Agriculture
Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế
giới
MFN Most Favored-Nation Quy chế Tối huệ quốc
UNCTAD United Nations Conference on
Trade and Developement
Hội nghị về thương mại vàphát triển của Liên HợpQuốc
TBT Technical Barrie to Trade Rào cản kỹ thuật thương
mại
SPS Sanitary and Phytoanitory Rào cản an toàn thực phẩm
và dịch bệnh
Trang 6WHO World Health Organization Tổ chức Y tế thế giới
NICs News Industrial Countries Các nước công nghiệp mới
FDI Fund Direct Investment Vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài
II Tiếng Việt
Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam
Trung tâm kiểm tra chất lượng và vệ sinh thuỷ sản
Hiệp hội cá nheo Mỹ
Cục thực phẩm và dược phẩm Mỹ
Bộ Thương mại Mỹ
Nhập khẩuKim ngạch xuất khẩuXuất nhập khẩu
Trang 7Danh mục các bảng được sử dụng trong Luận văn
o Bảng 1.1: Chỉ số kinh tế - xã hội của Hoa Kỳ so với nước
o Bảng 2.2: Kim ngạch xuất khẩu hàng thuỷ sản của Việt Nam
sang thị trường Hoa Kỳ
46
o Bảng 2.3: Trị giá xuất khẩu Mực và Bạch tuộc của Việt Nam
tới thị trường Hoa Kỳ trong những năm gần đây
51
o Bảng 2.4: Sản phẩm thủy sản xuất khẩu chủ yếu của Việt
Nam trong năm 2000-2001
53
o Bảng 2.5: Cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản của một số
doang nghiệp được khảo sát
58
o Bảng 2.6: Các hình thức tiếp thị được sử dụng ở các doanh
nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản
58
Trang 8o Bảng 2.7: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang
o Bảng 2.9: Vị trí của các doanh nghiệp Việt Nam trong các
nước xuất khẩu tôm vào Hoa Kỳ năm 2000-2001
61
o Bảng 2.10: Cơ cấu xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Hoa
Kỳ năm 2002 (so sánh với các nước)
62
o Bảng 2.11: So sánh mặt hàng thủy sản Việt Nam so vói 3 đối
thủ cạnh tranh trên thị trường Hoa Kỳ
Danh mục các hình vẽ, đồ thị được sử dụng trong Luận văn
o Biểu đồ 2.1: Kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản Việt Nam
vào thị trường Hoa Kỳ
47
o Biểu đồ 2.2: Thị phần hàng thủy sản Việt Nam và một số đối
thủ cạnh tranh trong tổng nhập khẩu thủy sản của Hoa Kỳ
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Những năm cuối của thế kỷ XX, nền kinh tế toàn cầu đã có sự biến độngkhông ngừng và là hệ quả của quá trình quốc tế hoá: đó là xu hướng toàn cầuhoá thị trường Nền kinh tế thế giới từ ở thế phân chia, đa phương thành nền kinh
tế hợp tác cùng phát triển Các quốc gia, căn cú vào mục tiêu và khả năng riêngbiệt của mình để quyết định tham gia vào thị trường thế giới ở các mức độ khácnhau Trong thương mại quốc tế, hoạt động marketing có một vị trí, vai trò đặcbiệt quan trọng Đó là một quá trình mà nhờ đó một tổ chức có thể tập trung mọinguồn lực và mục tiêu của mình vào việc nhận biết và chớp lấy các cơ hội củathị trường thế giới
Nghiên cứu về marketing xuất khẩu đã được nhiều nhà khoa học, các bàiviết được đề cập như: Quản trị chiến lược marketing xuất khẩu của các doanh
nghiệp thương mại Việt Nam (Luận án Tiến sĩ khoa học: 5.02.05/Lê Minh Đức),
Marketing xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam: Lý luận và thực tiễn
(Luận án Tiến sĩ khoa học:5.02.05/Vũ Trí Dũng), Marketing xuất khẩu và việc vận dụng trong kinh doanh xuất khẩu Việt Nam (Luận án Tiến sĩ Khoa học: 5.02.11/Đỗ Thị Loan) Nhưng nghiên cứu riêng marketing cho mặt hàng xuất
khẩu thuỷ sản ở Việt nam chưa có nhà khoa học nào, luận văn nào đề cập đếnđặc biệt là đẩy mạnh hoạt động marketing xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ Mặtkhác trong những năm gần đây mặt hàng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vàothị trường Hoa Kỳ tăng nhanh nhưng chưa tương xứng với tiềm năng xuất khẩu
thủy sản của nước ta Chính vì vậy mà tôi lựa chọn đề tài “ Đẩy mạnh hoạt động marketing xuất khẩu các mặt hàng thuỷ sản Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ” làm luận văn thạc sĩ kinh tế của mình
Từ nhiều năm qua, các sản phẩm xuất khẩu thủy sản của Việt Nam khôngngừng tăng lên, thể hiện qua số lượng, chủng loại sản phẩm và giá trị kim ngạchxuất khẩu Mặt hàng thủy sản đã trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩuchiến lược của Việt Nam và chiếm giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốcdân Xuất khẩu các mặt hàng chủ chốt ra thị trường quốc tế, là một trong những
Trang 10ưu tiên hàng đầu của Việt Nam, và đẩy mạnh marketing xuất khẩu các mặt hàngthuỷ sản là một trong những hoạt động kinh doanh xuất khẩu quan trọng của cácdoanh nghiệp thuỷ sản.
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Nghiên cứu cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của hoạt động marketingxuất khẩu, kinh nghiệm thực tiễn của các quốc gia trên thế giới
Kiến nghị đưa ra các giải pháp có căn cứ cho marketing xuất khẩu các mặthàng thuỷ sản (hải sản) sang thị trường Hoa Kỳ
4 Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu tập trung vào các hoạt động (nghiệp vụ) marketing xuất khẩu
cả về lý thuyết và thực tiễn áp dụng cho các doanh nghiệp xuất khẩu ViệtNam
Hoạt động marketing xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản Việt Namtại thị trường Hoa Kỳ
Trang 11 Khi tiến hành đề tài, sử dụng phép duy vật biện chứng, và duy vật lịch sử
để xem xét, phân tích và phê phán
Dựa vào tiền đề lý luận marketing nói chung và marketing xuất khẩu nóiriêng, dựa vào kết quả điều tra thực trạng hoạt động marketing xuất khẩucủa các doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam để phân tích tổng hợp
Nghiên cứu tài liệu, báo cáo xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn:
Luận văn ngoài phần lời nói đầu, kết luận và phụ lục được chia thành bachương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về marketing xuất khẩu và hoạt động marketing xuất khẩu tại thị trường Hoa Kỳ.
Chương 2: Thực trạng các hoạt động marketing xuất khẩu các mặt hàng thuỷ sản Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay
Chương 3: Các giải pháp nhằm thúc đẩy các hoạt động marketing xuất khẩu các mặt hàng thủy sản Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ từ nay đến năm 2010.
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING XUẤT KHẨU VÀ HOẠT ĐỘNG MARKETING XUẤT KHẨU TẠI THỊ TRƯỜNG HOA KỲ
1.1 Marketing xuất khẩu và ảnh hưởng của marketing quốc tế tới
hoạt động marketing xuất khẩu của doanh nghiệp
1.1.1 Marketing quốc tế là gì ?
Marketing được định nghĩa : “là hoạt động kinh tế trong đó hàng hoá đượcđưa từ người sản xuất đến người tiêu dùng” hay là “việc tiến hành các hoạt độngkinh doanh có liên quan trực tiếp đến dòng vận chuyển hàng hoá và dịch vụ từngười sản xuất đến người tiêu dùng”
Một định nghĩa khác về marketing nhưng theo cách tiếp cận hiện đại :
“marketing là các hoạt động liên quan đến việc hoạch định, xúc tiến, hỗ trợ, phânphối, định giá và các dịch vụ do người tiêu dùng trung gian hay người tiêu dùngtrực tiếp yêu cầu”
Định nghĩa về marketing quốc tế là dựa trên định nghĩa chung vềmarketing, chỉ khác là hàng hoá và dịch vụ được trao đổi vượt qua biên giớichính trị của quốc gia, mang hình thức từ xuất nhập khẩu đến các hoạt động liêndoanh, các công trình chìa khoá trao tay, các hợp đồng quản lý, các hoạt độngcủa các công ty đa quốc gia
Barry Berman thì định nghĩa : “Marketing quốc tế đó là marketing vềhàng hoá và dịch vụ ngoài biên giới quốc gia của một công ty”
1.1.2 Marketing xuất khẩu là một bộ phận chính yếu của marketing quốc tế
Đến nay marketing xuất khẩu được định nghĩa như là các hoạt động nhằmnắm bắt nhu cầu thông tin để xác lập các biện pháp thỏa mãn tối đa các nhu cầu
đó, qua đó mang lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp
Trang 13Marketing quốc tế là sự vận dụng những nguyên lý, nguyên tắc, cácphương pháp và kỹ thuật tiến hành của marketing thị trường nước ngoài Địnhnghĩa marketing quốc tế là dựa trên định nghĩa chung về marketing, chỉ khác làhàng hóa và dịch vụ được trao đổi vượt qua biên giới địa lý và chính trị của mộtquốc gia, mang hình thức xuất nhập khẩu hàng hoá dịch vụ thông thường đếncác hoạt động, liên doanh, liên kết, các công trình chìa khóa trao tay, các hợpđồng quản lý, hoạt động của các công ty đa quốc gia … Một số chuyên giamarketing khi định nghĩa về marketing quốc tế còn thêm câu: “Hàng hóa vàdịch vụ được trao đổi ở nhiều nước” vào cuối phần định nghĩa về marketingchung hoặc: “Marketing quốc tế là marketing về hàng hóa và dịch vụ ngoài biêngiới quốc gia của một công ty.”.
Gerald Albaum đã nêu ra trong cuốn “Marketing quốc tế và quản trị xuấtkhẩu” rằng: “Phạm vi chủ yếu của các hoạt động marketing quốc tế là hoạt độngxuất khẩu nhằm bán sản phẩm ra thị trường nước ngoài, hoạt động nhập khẩunhằm mua các sản phẩm từ thị trường nước ngoài và quản trị các hoạt động kinhdoanh quốc tế.” Michel R Czinkota và Ilkka A Ronkainen trong cuốn
“Marketing quốc tế” cho rằng: “Marketing quốc tế bao gồm những hoạt độngxuất nhập khẩu đến các hoạt động cấp giấy phép, liên doanh, chi nhánh độc lập,các công trình chìa khóa trao tay và các hợp đồng quản lý.” Philip Kotler lại chorằng: “hoạt động marketing quốc tế là những quyết định về các phương thứcthâm nhập thị trường có thể là xuất khẩu, liên doanh hay đầu tư trực tiếp.” SakOnkvisit và John Shaw trong cuốn “Marketing quốc tế” lại quan niệm việc dùngcụm từ “Marketing quốc tế”, “Marketing toàn cầu”, “Marketing đa quốc gia” hay
“Marketing thế giới” chỉ là do ý thích, đây là sự phân từ không khác nhau vềnghĩa Thực tế cụm từ “Marketing quốc tế” và “Marketing đa quốc gia” có thểđược dùng thay thế cho nhau và được hiểu là: “quá trình lập kế hoạch và thựchiện trên phạm vi đa quốc gia về ý tưởng, định giá, xúc tiến và hình thành cáckênh phân phối hàng hóa và dịch vụ nhằm tạo ra sự trao đổi để thỏa mãn mụcđích cá nhân và tập thể” Trong cuốn “Marketing Quốc tế” (NXB Thanh niên,
Hà nội, 1999) của TS Nguyễn Xuân Vinh và các tác giả khác, cho rằng:
“Marketing quốc tế bao gồm marketing xuất khẩu, marketing thâm nhập vàmarketing toàn cầu.”
Trang 14Từ những quan điểm nêu trên ta thấy nổi bật lên một cái chung là, khi nóiđến hoạt động Marketing quốc tế, các tác giả đều đề cập đến các hoạt độngmarketing nhằm đưa sản phẩm vào và tiêu thụ sản phẩm ở thị trường nước ngoài.Như vậy, hoạt động marketing xuất khẩu là hoạt động chủ yếu trong marketingquốc tế Gerald Albaum cũng đã viết trong cuốn “Marketing quốc tế và quản trịxuất khẩu” rằng: “Mặc dù cuốn sách này bàn luận đến mọi lĩnh vực hoạt độngcủa marketing quốc tế song chủ yếu vẫn tập trung vào marketing xuất khẩu.”
Marketing xuất khẩu là bộ phận chính của marketing quốc tế, cụ thể là cáchoạt động, cách thức nhằm thâm nhập vào thị trường nước ngoài
Marketing xuất khẩu mang đầy đủ các đặc trưng cơ bản của marketingchung song theo Gerald Albaum: “Sự thành thạo những nguyên tắc marketingchung là rất cần thiết nhưng chưa đủ để đạt được những thành công trongmarketing xuất khẩu Như vậy, marketing quốc tế cần được tiếp cận theo các tìnhhuống khác nhau:
a Marketing xuất khẩu: đó là hoạt động marketing của doanh nghiệp, của
một quốc gia nhất định, ứng dụng vào việc xuất khẩu hàng hóa và dịch vụcủa mình ra nước ngoài và yêu cầu cơ bản là làm thích ứng các chiếu lệMarketing nội địa với môi trường và nhu cầu của thị trường xuất khẩu
b Marketing thâm nhập: đó là marketing của các doanh nghiệp nước ngoài
nhưng được xây dựng ở một nước khác và có nhiệm vụ thực hiệnmarketing ngay tại thị trường nước đó Thực chất đó là marketing nội địacủa các hãng đa quốc gia trên thị trường của nước mà doanh nghiệp đãthâm nhập hay đã đầu tư xây dựng
c Marketing toàn cầu: đó là marketing của một số hãng lớn theo đuổi mục
tiêu hướng ra thị trường thế giới và thỏa mãn nhu cầu của thị trường quốctế
d Marketing xuyên quốc gia: đó là sự kết hợp giữa marketing đa quốc gia và
marketing toàn cầu theo hướng tạo ra cái “môđun” sản phẩm cho phép đạtđược đồng thời cả mức chi phí thấp và mức thích nghi cao với điều kiệnđịa phương Trên thực tế, doanh nghiệp có thể áp dụng chiếu lệ marketing
Trang 15phân biệt (marketing thâm nhập) hoặc marketing không phân biệt(marketing toàn bộ).
Từ những phân tích trên cho thấy: “Marketing xuất khẩu là một hình tháiđặc biệt của marketing thương mại, là quá trình tổ chức, quản lý và điều khiểncủa các hoạt động nhằm tạo ra khả năng và đạt được mục tiêu xuất khẩu hànghóa và dịch vụ của doanh nghiệp ra thị trường nước ngoài một cách có hiệu quảnhất.”
Marketing xuất khẩu là một loại hình chủ yếu trong marketing quốc tế,khác với marketing quốc nội là môi trường marketing và điều kiện thị trườngNhà nước
1.1.3 Các hoạt động marketing trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu
a Phân tích môi trường marketing quốc tế, hoạt động khởi đầu quan trọngcủa marketing xuất khẩu
b Đánh giá khả năng của doanh nghiệp quyết định tham gia xuất khẩu
Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT)
Đánh giá khả năng của doanh nghiệp quyết định tham gia xuất khẩu
Từ những kết quả của việc phân tích SWOT, doanh nghiệp tự đánh giákhả năng kinh doanh của mình dựa trên những kết quả nghiên cứu thị trường,nghiên cứu môi trường marketing quốc tế, dựa trên những đánh giá sơ bộ về sảnphẩm, xem sản phẩm của doanh nghiệp có đáp ứng được nhu cầu của thị trườnghay không?, có cạnh tranh được với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh kháctrên thị trường hay không? Và cuối cùng là có khả năng thu lợi nhuận từ việckinh doanh xuất khẩu hay không? Nếu yếu tố cân nhắc đều cho triển vọng tốt,doanh nghiệp quyết định tham gia xuất khẩu
c Hoạch định chiến lược marketing xuất khẩu
Hai bộ phận cấu thành chủ yếu nhất của chiến lược marketing xuất khẩu
là lựa chọn thị trường mục tiêu và chính sách sản phẩm Một thị trườngmarketing xuất khẩu hữu hiệu cần phản ánh được tổng thể các hoạt độngmarketing nhằm đưa sản phẩm vào thị trường Chiến lược marketing xuất khẩu
Trang 16đưa ra được những phương pháp nhằm khắc phục những khó khăn, tránh đượcnhững hiểm họa, tân dụng và khai thác được những thế mạnh của doanh nghiệptrong phân tích SWOT một cách hữu hiệu nhất Do vậy, việc phân tích SWOT
và việc hình thành chiến lược marketing có liên quan chặt chẽ với nhau
Thực tế cho ta thấy rằng khi xây dựng chiến lược marketing xuất khẩu cầnthiết phải cân nhắc những yếu tố sau:
- Lựa chọn thị trường xuất khẩu
- Lựa chọn nhà nhập khẩu, đại lý hay phân phối
- Thu xếp việc phân phối
- Thích nghi sản phẩm với thị trường
- Bao bì, đóng gói, ký mã hiệu và nhãn hiệu sản phẩm
- Cải tiến sản phẩm
- Các biện pháp xúc tiến thương mại như hội chợ, quảng cáo…
- Nghiên cứu thị trường
+ Không nên tập trung vào từng sản phẩm riêng biệt hay từng thị trườngriêng biệt Doyle và Gidengil, 1977; Wind và Douglass, 1981 cho rằng: “Cầnxem xét vai trò của từng sản phẩm trong từng thị trường trong tổng thể kế hoạchxuất khẩu của công ty.”
+ Ngoài những biện pháp truyền thống tập trung vào việc phân đoạn thịtrường, quá trình lựa chọn thị trường còn cần phải tập trung vào những biện phápchiến lược rộng lớn hơn được sử dụng trong khi lập kế hoạch mang tính chiến
Trang 17lược Những biện pháp này phải phản ánh được mức độ hấp dẫn chung của thịtrường và vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường đó.
+ Hơn ai hết các nhà quản trị Marketing xuất khẩu cần phải đóng một vaitrò chủ đạo trong quá trình đề ra chiến lược xuất khẩu, bởi vì trong quá trình xâydựng chiến lược Marketing xuất khẩu phải vận dụng nhiều đến những khả năngMarketing như: thị phần, vòng đời sản phẩm, xác định thị trường, phân đoạn thịtrường, thị trường mục tiêu …
1.1.4 Những biến đổi của thương mại quốc tế và sự tác động của nó tới marketing xuất khẩu
Hiện nay việc thực hiện marketing xuất khẩu trên thị trường quốc tế củacác doanh nghiệp gặp nhiều rủi ro thể hiện như sau:
Trước hết là nợ nước ngoài của một số quốc gia quá lớn Đây là rủi ro tàichính mà tất cả các nước, các doanh nghiệp xuất khẩu phải tính đến khi quyếtđịnh hoạt động trên những thị trường này
Thứ hai, rủi ro gắn liền với sự mất ổn định về chính trị Cùng với số nợquá lớn, mức lạm phát và thất nghiệp đang góp phần làm cho tình hình của mộtnước ngày càng mất ổn định Điều này dẫn đến rủi ro trong xuất khẩu, quốc hữuhoá và hạn chế chuyển dịch vốn
Thứ ba, sự trao đổi không cân bằng: sự không ổn định về chính trị thườnggây ra việc mất giá đồng tiền quốc gia và do đó tác động xấu đến hiệu quả củatrao đổi thương mại và đầu tư Tỷ lệ lạm phát cao chắc chắn sẽ làm nản lòng cácnhà kinh doanh nước ngoài
Thứ tư, hệ thống các rào cản thương mại làm hạn chế đến thâm nhập thịtrường Mỗi nước đều bảo vệ lợi ích quốc gia và lợi ích của doanh nghiệp mìnhbằng cách duy trì kiểm soát sự thâm nhập thị trường Sự kiểm soát này có thểdưới dạng sử dụng chính sách độc quyền hay một loạt các chính sách Những rủi
ro này thường buộc các nhà kinh doanh và đầu tư nước ngoài phải chi nhữngkhoản tiền lớn hơn hoặc giảm quyền tự chủ khi muốn thâm nhập thị trường
Thứ năm, là nạn hối lộ trong nhiều nước Để có thể thâm nhập và hoạtđộng trên thị trường nước ngoài đặc biệt đối với các nước thế giới thứ ba, các
Trang 18nhà kinh doanh phải bỏ ra những khoản tiền hối lộ và do đó, làm tăng thêm chiphí kinh doanh Điều này làm cho cạnh tranh trở nên không bình đẳng.
Thứ sáu, thuế nhập khẩu cao Nhiều nước, kể cả những nước phát triển,qui định về thuế nhập khẩu cao đối với một số sản phẩm nhằm mục đích bảo vệngành công nghiệp quốc gia
Thứ bẩy, hiện tượng “cưỡng đoạt” công nghệ Khi tiến hành sản xuất ởnước ngoài, doanh nghiệp có nguy cơ bị nước sở tại chiếm đoạt công nghệ
Thứ tám, chi phí thích ứng cao Đây là loại rủi ro thường mại thường thấykhi doanh nghiệp quyết định thay đổi sản phẩm và khuyếch trương nhằm thíchứng với nhu cầu tại chỗ
Thứ chín, sự đảo lộn của hệ thống tiền tệ quốc tế Ngày nay, khung cảnhtiền tệ quốc tế được biểu thị ở sự thả nổi các đồng tiền quốc tế Mặc dù có nhiều
cố gắng nhằm hạn chế sự giao động giữa các đồng tiền chủ chốt, theo quan điểmdoanh nghiệp, rủi ro có thể do những giao động đột ngột và mạnh mẽ vẫn có xuhướng tăng lên Đây là điều đặc biệt đáng quan tâm cho các doanh nghiệp xuấtkhẩu của Việt Nam do tính chất không chuyển đổi của đồng tiền quốc gia và vịthế cạnh tranh thấp trên thị trường quốc tế
Thứ mười, sự áp dụng các rào cản kỹ thuật trong thương mại làm hạn chếthực hiện marketing xuất khẩu
Xu hướng toàn cầu hoá cũng làm cho hoạt động marketing xuất khẩu và quản
lý xuất khẩu phải thay đổi một cách căn bản Toàn cầu hoá đã làm tăng các cáchthức đối với doanh nghiệp do:
- Mở cửa thị trường làm giảm, thậm chí loại bỏ hàng rào quan thuế, việctruyền tin rất nhanh chóng, sự tăng cường trao đổi, tức là tăng mạnh khốilượng thương mại quốc tế Chính điều này vừa tạo cơ hội vừa tạo ra tháchthức cho các doanh nghiệp Việt Nam
- Mở rộng phạm vi cạnh tranh và buộc các doanh nghiệp phải phát triểnhoạt động ở bên ngoài biên giới Đây là một thách thức to lớn đối với cácdoanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Trang 19Tuy nhiên toàn cầu hoá cũng tạo ra những cơ hội mới cho hoạt độngmarketing xuất khẩu Bởi vì:
- Tính chất đồng nhất của nhu cầu thế giới ngày càng cao: người tiêu dùng
ở các thị trường khác nhau ngày càng có nhu cầu và mong muốn giốngnhau Điều này trước hết do mức sống của họ có xu hướng xích gần nhau
và do phát triển mạnh mẽ của truyền thông và giao lưu quốc tế
- Nhu cầu và mong muốn có tính chất toàn cầu của người tiêu dùng là cóđược những sản phẩm với giá thấp và chất lượng đảm bảo Tất cả ngườitiêu dùng trên thế giới đều mong muốn là với một mức giá nhất định, sảnphẩm có chất lượng ngày càng cao càng tốt, chất lượng được thể hiệnthông qua giá cả sản phẩm ngày càng công khai, minh bạch Nguyên lýnày ngày càng có hiệu quả trong marketing xuất khẩu
- Nhiều công ty theo đuổi chiến lược chi phí và vì vậy thực hiện tiết kiệmtheo quy mô sản xuất
Tuy nhiên, mức độ toàn cầu hoá không giống nhau đối với sản phẩm khácnhau Nó còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác như: hàng hoá ở gần, tính sẵnsàng của hàng hoá, đáp ứng được vai trò thích ứng của khách hàng Chính xuhướng toàn cầu hoá thị trường và tính sẵn sàng của sản phẩm dẫn đến nhiều thayđổi trong thương mại quốc tế và nâng cao vai trò của marketing trên thị trườngquốc tế Điều này càng khẳng định sự cần thiết phải áp dụng marketing tronghoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu nói chung và thuỷ sản củaViệt Nam nói riêng
Sự phát triển của thương mại thế giới đang đòi hỏi các nhà làm marketingxuất khẩu quan tâm đến một số vấn đề mới như thương mại điện tử, thương mạimôi trường (Eco Trade) Thương mại điện tử đang tạo điều kiện cho các doanhnghiệp tiếp cận được nguồn thông tin phong phú về kinh tế, thương mại và thịtrường Nó cũng cho phép tiết kiệm chi phí, đặc biệt là các chi phí liên quan đếngiao dịch, chi phí văn phòng Cuối cùng, thương mại điện tử tạo điều kiện choviệc thiết lập, củng cố và phát triển các quan hệ bạn hàng, đối tác Tất nhiên,thương mại điện tử cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết về mặt pháp luật, kỹthuật và công nghệ…
Trang 20Sự ra đời và phát triển của thương mại môi trường cũng buộc các nhà làmmarketing xuất khẩu phải hiểu biết và thích ứng với môi trường đó Trước hết, là
hệ thống tiêu chuẩn hoá quốc tế về môi trường (ISO 14000) kéo theo những chiphí đối với nhà xuất khẩu Tiếp đến là hệ thống HACCP (hệ thống kiểm soátchất lượng) nhấn mạnh yêu cầu kiểm tra chặt chẽ toàn bộ quá trình sản xuất vàchế biến sản phẩm, đặc biệt là thực phẩm)
1.2 Nghiệp vụ marketing xuất khẩu
Hoạt động marketing trong kinh doanh xuất khẩu là xác định xem công
ty hay doanh nghiệp làm công tác xuất khẩu như thế nào thông qua việc đánh giásản phẩm, đánh giá sự sẵn sàng để thực hiện marketing xuất khẩu của công ty.Chiến lược marketing xuất khẩu là cốt lõi của hoạt động kinh doanh xuất khẩu.Khi chiến lược marketing đã được xây dựng, đòi hỏi phải có kế hoạch marketing
cụ thể từng bước thực hiện các chiến lược đó Chiến lược marketing và kế hoạchmarketing xuất khẩu có mối liên quan chặt chẽ và tác động lẫn nhau, bổ sungcho nhau và có thể điều chỉnh để phù hợp với thị trường quốc tế
1.2.1 Lựa chọn thị trường xuất khẩu mục tiêu
Có hai phương thức tìm và lựa chọn thị trường chủ yếu trong Marketingxuất khẩu: phương thức chủ động và phương thức bị động
Đặc trưng cơ bản của phương thức bị động là doanh nghiệp nhận đơn đặthàng từ các hãng nước ngoài hoặc là doanh nghiệp chủ động tìm đến hoặc là quacác kênh thông tin trên mạng mà họ có được Các nhà xuất khẩu có thể quảngcáo hay liệt kê tên trong danh bạ những người làm xuất khẩu hoặc tham gia hộichợ triển lãm ở trong nước và ngoài nước Phương thức này chủ yếu do cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ áp dụng Tuy nhiên, đôi khi các doanh nghiệp lớn cókinh nghiệp cũng áp dụng và thấy có hiệu quả Mục tiêu chính của phương phápnày là lợi nhuận ngắn hạn và chi phí thấp Việc lựa chọn phương thức marketing
bị động trong xuất khẩu mặt hàng thuỷ sản cũng đang được triển khai mang lạikết quả bước đầu
Phương thức marketing chủ động trái ngược với phương thức marketing
bị động Nhà xuất khẩu chủ động tìm kiếm thị trường, sàng lọc thị trường, lựa
Trang 21chọn thị trường, phân đoạn kế hoạch trong thị trường đã chọn Thông quaphương thức lựa chọn thị trường này mà tiến hành một cách có hệ thống vànghiêm túc cho nên đòi hỏi nhà xuất khẩu phải giỏi trong khâu tổ chức, phải cókinh nghiệm trong kinh doanh quốc tế, có khả năng tiếp cận và nắm bắt nhữngthông tin cập nhật về thị trường thế giới, phải tiến hành nghiên cứu thị trườngmột cách có hệ thống và phải trực tiếp tham gia khảo sát thị trường nước ngoài
để đưa ra các kết luận tương đối đúng đắn về tiềm năng của thị trường đó
Ngoài ra còn phải lựa chọn thị trường thông qua trao đổi trực tiếp các đốitác với khách hàng và với những người thân quen có kinh nghiệm kinh doanh ởmột thị trường cụ thể nào đó, hay thông qua những chuyến đi du lịch khảo sát ởnước ngoài để có những cơ hội tìm kiếm thị trường
Tùy theo hoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp mà có thể lựa chọn thịtrường chủ động hay bị động Nhiều doanh nghiệp áp dụng cả hai, phương thứcchủ động thường áp dụng cho thị trường chủ yếu, thị trường mục tiêu cònphương thức bị động dành cho thị trường thứ yếu, thị trường nhỏ
1.2.2 Đánh giá tiềm năng xuất khẩu vào thị trường
Khái niệm về tiềm năng xuất khẩu vào thị trường:
Theo Gerald Albaum định nghĩa: “tiềm năng xuất khẩu vào thị trường làkhối lượng hàng hóa mà thị trường đó có thể tiếp thụ trong một khoảng thời gianchưa xác định trong điều kiện phát triển tối ưu của thị trường”
Tiềm năng của thị trường là một chỉ tiêu trong hoạt động marketing đểđánh giá mức độ hấp dẫn của thị trường mà căn cứ vào đó công ty đi đến quyếtđịnh có thâm nhập thị trường đó hay không?
Có hai chỉ tiêu chủ yếu mà marketing dùng để đánh giá tiềm năng của thịtrường:
+ Số lượng người có thể tiêu thụ sản phẩm là bao nhiêu, là hàngtriệu người, hay chục triệu người, trăm triệu người…
+ Mức độ dự đoán mua hàng tối đa là bao nhiêu theo số lượng haytheo trị giá
Trang 22Chúng ta có thể lập luận rằng tiềm năng của thị trường và tiềm năng bánhàng vào thị trường đó là như nhau Một khi nhà xuất khẩu đã đưa ra đượcnhững bức tranh cụ thể về thị trường sẽ liên quan trực tiếp đến những mục tiêumang tính chiến lược và chiến thuật áp dụng xuất khẩu của công ty Cầu thịtrường đối với một sản phẩm là: “tổng lượng hàng sẽ mua của một nhóm kháchhàng xác định, ở một khu vực địa lý xác định, trong thời gian xác định, dưới mộtđiều kiện môi trường marketing xác định, trong chương trình marketing xácđịnh” Khi đã hình thành bức tranh trên cho nhà marketing xuất khẩu, nhà xuấtkhẩu có thể suy nghĩ và đưa ra các quyết định về thị trường và dự báo cho cáchoạt động kinh doanh của công ty Dự báo thị trường là dự báo về nhu cầu củathị trường hay dự báo mức độ bán hàng của công ty dựa trên các khách hàng vàmôi trường hoạt động quốc tế.
Một số kỹ thuật thông thường được dùng để đánh giá tiềm năng và quy
mô xuất khẩu vào thị trường như: phân tích mô hình cầu, xác định độ co giãn thunhập, phân tích chênh lệch về thời gian (lead lag), đánh giá bằng mức độ tươngđồng (analogy), phân tích dựa trên nhiều chỉ số, phân tích hồi quy (regressionanalysis), phân tích theo nhóm
Xác định và phân đoạn thị trường
Xác định thị trường không phải là một bài tập được dập khuân một cáchmáy móc mà là một bộ phận cấu thành chủ yếu và phức tạp của chiến lượcmarketing xuất khẩu Xác định đúng thị trường là cơ sở để tính toán được thịphần và các thông số hoạt động trên thị trường, cụ thể hóa được khách hàng mụctiêu, nhu cầu của họ và nhận biết được những đối thủ cạnh tranh Sau việc xácđịnh thị trường là việc phân đoạn thị trường Phân đoạn thị trường có nghĩa làchia nhỏ thị trường thành từng nhóm khách hàng khác nhau cho từng nhóm sảnphẩm và dịch vụ Bằng hình thức phân đoạn thị trường, doanh nghiệp có thể đưa
ra những chính sách, những chiến lược marketing phù hợp với nhu cầu của từngđoạn thị trường cụ thể, hy vọng sẽ đạt được lợi nhuận cao hơn so với một chiếnlược chung, đồng bộ cho toàn bộ thị trường
Phân đoạn thị trường xuất khẩu cũng quan trọng như phân đoạn thị trườngnội địa song do sự khác biệt về môi trường kinh tế, chính trị, pháp luật và văn
Trang 23hóa giữa các nước, đòi hỏi các nhà hoạt động marketing xuất khẩu phải năngđộng hơn và linh hoạt hơn Sự khác biệt về mức thu nhập, sự đa dạng về lối sống
và quan điểm xã hội dẫn đến sự tồn tại các đoạn thị trường rất khác nhau
Do nguồn tài chính hạn hẹp, doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu chỉ nênnhận biết và xác định những đoạn thị trường hấp dẫn nhất mà doanh nghiệp cóthế mạnh và có khả năng cạnh tranh cao Từ đó sẽ đưa ra những kế hoạchmarketing phù hợp với nhu cầu cuả từng nhóm khách hàng khác nhau
Có rất nhiều cách phân đoạn thị trường nhưng áp dụng cách tổng hợp cóthể đem lại hiệu quả lớn nhất Khi quyết định phân đoạn thị trường đều phải cânnhắc những yếu tố:
+ Khả năng đo được: đây là mức độ mà đoạn thị trường đó có thể đo được
về tầm cỡ và về sức mua
+ Khả năng tiếp cận thị trường: là mức độ mà doanh nghiệp có thể thâmnhập, phục vụ đoạn thị trường mới được phân hoạch một cách có hiệu quả
+ Khả năng thu lợi nhuận: là mức độ mà đoạn thị trường này đủ độ lớn để
có thể đầu tư cho các hoạt động Marketing vào đây mà vẫn có thể thu được lợinhuận
+ Khả năng hành động: là khả năng có thể đưa ra được một chương trìnhhành động có hiệu quả nhằm thu hút và phục vụ đoạn thị trường đó
1.2.3 Marketing để lựa chọn biện pháp thâm nhập thị trường
Khi lựa chọn phương thức thâm nhập thị trường xuất khẩu doanh nghiệpcần đặt ra kế hoạch cho hai dòng luân chuyển: dòng luân chuyển giao dịch vàdòng luân chuyển sản phẩm
Dòng luân chuyển giao dịch còn được gọi là dòng chuyền quyền sở hữuthông qua các cuộc giao dịch để cuối cùng chuyển quyền sở hữu hàng hoá chongười tiêu dùng cuối cùng
Dòng luân chuyển hàng hoá là dòng trực tiếp vận chuyển hàng hoá đếntay người tiêu dùng thông qua các khâu vận chuyển, chuyên chở hay lưu kho,lưu bãi
Trang 24Trong các kênh marketing hai yếu tố này luôn luôn trùng hợp song cũng
có trường hợp ngoại lệ như khi sử dụng môi giới xuất khẩu chỉ bao gồm yếu tốgiao dịch chứ không có yếu tố vận chuyển hàng hoá
Trong giao dịch xuất khẩu có hai phương thức thâm nhập chủ yếu: thâmnhập bằng cách xuất khẩu trực tiếp và thâm nhập bằng cách xuất khẩu gián tiếp
Xuất khẩu trực tiếp được tiến hành khi nhà sản xuất hay xuất khẩu trựctiếp bán hàng cho nhà nhập khẩu hay người mua ở thị trường nước ngoài thôngqua các tổ chức do nhà sản xuất lập ra, trực thuộc nhà sản xuất, đóng tại trongnước hay ở ngoài nước Xuất khẩu trực tiếp thể hiện người mua, người bán đã cóquan hệ trực tiếp với nhau, họ am hiểu và đã thông thạo nghiệp vụ xuất nhậpkhẩu
Các công ty đơn vị xuất khẩu trực tiếp đã hình thành các tổ chức đóng tạitrong nước như: phòng xuất khẩu nằm trong doanh nghiệp, thuộc doanh nghiệp,phòng xuất khẩu hoạt động độc lập, chi nhánh bán hàng xuất khẩu
Các tổ chức hoạt động ngoài nước như: chi nhánh bán hàng ở nước ngoài,chi nhánh lưu kho hàng ở nước ngoài, công ty con ở nước ngoài, đại diện củadoanh nghiệp ở nước ngoài, các nhà phân phối đại diện/ đại lý
Xuất khẩu gián tiếp là khi các nhà sản xuất xuất khẩu sử dụng các tổ chứctrung gian nằm ở nước nhà sản xuất để xuất khẩu hàng hoá của mình ra nướcngoài Có ba loại hình phổ biến mà các nhà sản xuất sử dụng để xuất khẩu giántiếp: nhà buôn xuất khẩu, đại lý xuất khẩu, tổ chức hợp tác xuất khẩu
Thông thường thì nhà buôn và đại lý là hai tổ chức marketing trung gianbán buôn độc lập nằm tại nước nhà sản xuất Nhà buôn khác với đại lý là nhàbuôn nắm quyền sở hữu hàng hoá còn đại lý thì không
1.2.4 Marketing về chính sách sản phẩm và chính sách giá xuất khẩu
Trong các loại hình công ty, từ công ty đa quốc gia lớn nhất đến công tyxuất khẩu bé nhất, quyết định về sản phẩm đều là mối quan tâm của các nhàquản lý Mỗi khi đưa ra các quyết định về sản phẩm đều phải dựa vào các thôngtin về thị trường từ các nhân viên marketing cung cấp Quá trình lập kế hoạch vàthực thi các quyết định liên quan đến đặc tính của sản phẩm, ngành hàng, ký mã
Trang 25hiệu, bao bì, đóng gói và nhãn hiệu hàng hoá nhằm thu hút được sự chú ý củakhách hàng
Marketing đối với chính sách sản phẩm :
Chính sách sản phẩm trong hoạt động marketing xuất khẩu thể hiện haikhía cạnh lớn có liên quan mật thiết với nhau : đó là việc lập kế hoạch để có cácchính sách cho việc phát triển thị trường sản phẩm và chiến lược sản phẩm
Hai khía cạnh này được áp dụng cho từng loại sản phẩm riêng biệt Danhmục các sản phẩm mà doanh nghiệp có thể ưu đãi để chào bán cho một kháchhàng hoặc nhiều khách hàng khác nhau
Khi xây dựng chính sách sản phẩm doanh nghiệp thường phải trả lời những câuhỏi sau đây:
- Liệu doanh nghiệp có cần những chính sách ưu đãi để duy trì hỗn hợp cácsản phẩm hiện hành khi nó đã đến giai đoạn chín muồi hay không ?
- Mức độ ưu đãi mà doanh nghiệp phải theo đuổi để thực hiện chiến lược sảnphẩm mới, sản phẩm cần cải tiến như thế nào ?
- Nhu cầu về mặt tổ chức để thực hiện hai câu hỏi trên ?
Trong marketing xuất khẩu, chiến lược sản phẩm luôn thể hiện ra rằng cácchính sách liên quan đến việc cải tiến sản phẩm để thích nghi với môi trườngthương mại quốc tế hay tiêu chuẩn hoá sản phẩm trên phạm vi toàn cầu hoặc đưasản phẩm mới ra thị trường Do đó công tác tổ chức cần điều chỉnh sao cho phùhợp để đáp ứng được với sự phát triển của thị trường
Marketing đối với chính sách giá xuất khẩu :
Chính sách giá xuất khẩu thường hướng vào các mục tiêu như : thâm nhậpthị trường (hay đoạn thị trường) quốc tế, tăng thị phần và tăng doanh số bán, tối
đa hoá lợi nhuận
Các quyết định về giá xuất khẩu liên quan đến các vấn đề sau :
- Vấn đề cơ bản khi quyết định về giá cho sản phẩm căn cứ vào các chi phísản xuất trong nước và các chi phí để tiêu thụ ở thị trường nước ngoài
Trang 26- Chính sách về giá còn phải căn cứ vào tập quán, thủ tục những sản phẩmđược sản xuất và tiêu thụ tại thị trường đó và còn phải chịu sự chi phối,kiểm soát của nước sở tại.
- Quyết định về giá cho những sản phẩm xuất khẩu còn liên quan đến tiêuthụ sản phẩm đó trên thị trường khác
Doanh nghiệp xuất khẩu cần đưa ra các quyết định về giá ban đầu cho cáckhách hàng khác nhau, những thay đổi giá hiện tại, giá sản phẩm mới về hìnhthức và mẫu mã khác nhau trên thị trường xuất khẩu đều liên quan đến chiếnlược marketing của doanh nghiệp
Về phương diện quốc tế, chính sách giá có thể có ba hướng lựa chọn Thứnhất, chính sách giá duy nhất, tức là quy định giá thống nhất cho sản phẩm trêntoàn thế giới Khách hàng chịu chi phí vận chuyển và thuế quan Đây là thể hiệngiá FOB Chính sách giá này có ưu điểm là đơn giản nhưng nhược điểm của nó
là không có tính đến cạnh tranh và không cho phép công ty tối đa hoá lợi nhuận.Thứ hai, chính sách giá thích ứng theo từng khu vực thị trường Chính sách nàycho phép mỗi chi nhánh xác định mức giá được xem như là tối ưu so với cạnhtranh và không đòi hỏi sự phối hợp giữa các nước Khó khăn chủ yếu của nó làvận dụng hệ thống giá chu chuyển nội bộ Khi áp dụng chiến lược này, cần phảiđảm bảo khoảng cách về giá giữa các thị trường sao cho không vượt quá chi phívận chuyển và thuế quan để tránh việc mua đi bán lại Thứ ba, xác định cácthông số chung cho tất cả các thị trường và sử dụng chúng khi quyết định giá
Các nhân tố tác động đến giá xuất khẩu:
Để có được một chính sách giá đúng đắn, cần phải hiểu biết các yếu tố cơbản tác động đến giá xuất khẩu như chi phí, cạnh tranh, điều kiện môi trường,thời vụ, mục tiêu và chính sách của doanh nghiệp
Chi phí: giá bán sẽ chênh lệch giữa các thị trường do chi phí vận chuyển
và chi phí thâm nhập tới các thị trường khác Cơ cấu chi phí hay giá thành xuấtkhẩu đầy đủ, bao gồm chi phí sản xuất hàng xuất khẩu, chi phí ngoài sản xuất(dịch vụ xuất khẩu, chi phí quản lý chung), các chi phí liên quan đến xuất khẩu(phân phối, thương mại, tài chính)
Trang 27Căn cứ vào chi phí, có thể có các phương pháp tính giá khác nhau:
- Giá giới hạn: mức giá bằng chi phí trực tiếp hoặc chi phí khả biến;
- Giá kỹ thuật: mức giá đảm bảo bù đắp chi phí hay giá hoà vốn;
- Giá mục tiêu: mức giá đảm bảo có lãi theo mục tiêu
Cầu trên thị trường: để xác định ảnh hưởng của nhân tố cầu đối với giá
bán, cần phải thực hiện nhiều công đoạn tính toán:
- Xác định đường cầu và độ đàn hồi của cầu so với giá trên thị trường;
- Làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến độ nhậy của người tiêu dùng so vớigiá;
- Phân tích các điều kiện gắn với độ đàn hồi;
- Xác định giá “chấp nhận” được;
- Xác định thái độ của người tiêu dùng đối với giá
Trên thị trường xuất khẩu, có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến cầu thị trườngnhư: nhân khẩu học, phong tục, tập quán trong trao đổi và tiêu dùng; điều kiệnkinh tế; các nhân tố liên quan đến mức độ sẵn sàng và khả năng chi trả theo mộtmức giá bán như thói quen, thái độ, hành vi…của người tiêu dùng; giá trị nhậnđược nơi người mua
Ưu điểm của phương pháp hình thành giá theo cầu thị trường là cho phépdoanh nghiệp hình thành giá trần, mức độ giá qui định sát với mức giá mà ngườimua sẵn sàng trả, khả năng tối đa hoá lợi nhuận cao
Nhân tố cạnh tranh: tính đến nhân tố này đòi hỏi doanh nghiệp xuất khẩu
phải xác định vị trí trong hình thái thị trường, xác định số lượng và bản chất củacác đối thủ cạnh tranh hiện tại và tiềm tàng (quốc tế, quốc gia) Đồng thời, doanhnghiệp phải hiểu biết chính sách giá của cạnh tranh và đánh giá khả năng phảnứng và hành vi của họ Cũng cần phải tính đến áp lực đàm phán với khách hàngtrung gian và khách hàng cuối cùng
Điều kiện môi trường của thị trường: nhân tố này rất quan trọng và được
biểu hiện ở các vấn đề như: qui định chống bán phá giá, thay đổi giá trị tiền tệ
Trang 28trong quan hệ hối đoái, tình hình lạm phát, chính sách thuế nhập khẩu, sự canthiệp của chính quyền sở tại về giá.
Các chiến lược giá khi tung sản phẩm ra thị trường nước ngoài:
Khi xác lập chiến lược giá cho sản phẩm xuất khẩu, doanh nghiệp có thểlựa chọn giữa chiến lược giá “hớt váng sữa” hay giá cao và chiến lược giá thâmnhập hay giá thấp
Chiến lược giá “hớt váng sữa” hay giá cao thường được áp dụng trong
các điều kiện sau: sản phẩm mới và khác biệt so với sản phẩm cạnh tranh, chiphí sản xuất và thâm nhập thị trường quá cao, sản phẩm không có tương lai vữngchắc trên thị trường, cầu ít co giãn và khó đánh giá, đe doạ của cạnh tranh trongtương lai lớn, yếu tố môi trường không ổn định
Ưu điểm của phương pháp này là cho phép doanh nghiệp đạt được mụctiêu lợi nhuận ngắn hạn và dễ áp dụng chiến lược giá về phương diện tâm lýkhách hàng Tuy nhiên, chiến lược này chỉ có thể áp dụng thành công nếu doanhnghiệp tiến hành tốt việc phân đoạn thị trường và lựa chọn đoạn thị trường mụctiêu
Ngược lại, các doanh nghiệp thường áp dụng chiến lược giá thâm nhậphay giá thấp khi có các điều kiện như chi phí sản xuất thấp, tồn tại quan hệ rõ nétgiữa chi phí và khối lượng; độ co giãn của cầu so với giá cao; cạnh tranh về giámạnh Phương pháp này sẽ cho phép doanh nghiệp thực hiện mục tiêu phần thịtrường hay doanh số, nhưng doanh nghiệp sẽ khó nâng giá lên và hiệu quả ngắnhạn thấp
Mối quan hệ giữa giá xuất khẩu và giá nội địa: Một trong những nội
dung quan trọng của việc xác lập giá trên thị trường xuất khẩu là mối quan hệgiữa giá xuất khẩu và giá nội địa Có 3 khả năng: thứ nhất, giá xuất khẩu cao hơngiá nội địa Đó là do chi phí thâm nhập và thích ứng thị trường xuất khẩu tăngđáng kể cũng như mong muốn bán giá cao để tận dụng cơ hội thị trường, bù đắprủi ro cho người xuất khẩu Thứ hai, giá xuất khẩu ngang bằng giá nội địa Chínhsách giá này được áp dụng cho các doanh nghiệp chưa có nhiều kinh nghiệmxuất khẩu và với mức giá đó, họ cảm thấy an toàn khi hoạt động trong môitrường chưa quen thuộc Chính sách giá này dễ thay đổi khi doanh nghiệp tích
Trang 29luỹ được kinh nghiệm xuất khẩu Thứ ba, giá xuất khẩu thấp hơn giá nội địa.Chính sách giá này thường được áp dụng đối với sản phẩm chưa được người tiêudùng biết đến hoặc do cạnh tranh về giá trên các thị trường xuất khẩu rất mạnh
mẽ hoặc do cách tính khấu hao của người xuất khẩu (tức là chủ động tính khấuhao thấp trong thời kỳ đầu hoặc chỉ tính đến chi phí cố định trực tiếp liên quanđến sản lượng xuất khẩu)
Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu có quy mô nhỏ áp dụngphương pháp xác định giá xuất khẩu thấp hơn giá nội địa (cộng thêm chi phí vậnchuyển và bảo hiểm quốc tế, chi phí phân phối và các chi phí khác liên quan đếnviệc bán hàng trên thị trường nước ngoài)
Phương pháp xác định giá là phương pháp giá “cận biên” Đó là việc xácđịnh mức giá chỉ căn cứ vào chi phí khả biến của sản phẩm xuất khẩu:
Giá = Chi phí khả biến + Lãi
Trong trường hợp này, giá hoà vốn đối với sản phẩm xuất khẩu thấp hơn
so với sản phẩm tiêu thụ nội địa Phương pháp này thường được áp dụng với mộttrong các điều kiện sau:
- Phần chi phí cố định được bù đắp bởi khối lượng sản phẩm tiêu thụ trên thịtrường nội địa hoặc doanh nghiệp chủ động không tính phần chi phí nàyvào giá xuất khẩu
- Tồn tại quy luật “lợi thế qui mô” và hiệu ứng “đường cong kinh nghiệm”,tức là chi phí đơn vị của sản phẩm giảm mạnh theo khối lượng sản xuất vàtiêu thụ
- Dư thừa công suất sản xuất và mong muốn phát triển dài hạn ở nước ngoài
- Sản phẩm xuất khẩu là sản phẩm bị ứ đọng, tồn kho
- Mức giá này không vi phạm Luật chống bán phá giá của nước sở tại
Việc áp dụng chính sách giá này có thể làm cho lợi nhuận gắn liền vớiviệc bán hàng xuất khẩu thấp hơn việc bán trên thị trường nội địa Tuy nhiên, nócho phép doanh nghiệp mở rộng hoạt động kinh doanh, đặc biệt trong trườnghợp thị trường trong nước đã bão hoà Hơn nữa, giá thấp cho phép vượt qua hàngrào thuế quan và nâng cao khả năng cạnh tranh về giá trên thị trường nước ngoài
Trang 30Chính sách giá xuất khẩu còn đề cập đến quyết định xác lập giá thốngnhất trên thị trường toàn cầu hay giá phân biệt theo thị trường, xác định giá chuchuyển nội bộ của doanh nghiệp…Cũng rất cần thiết phải đề cập đến các điềukiện thương mại quốc tế và vấn đề ngoại hối thanh toán.
Các điều kiện thương mại quốc tế (INCOTERMS) được dùng để xác định
rõ các mức giá và các điều kiện cơ sở giao hàng, qua đó xác định chính xác cácmức thuế và các nghĩa vụ của người mua và người bán, đặc biệt là thời điểmchuyển quyền sở hữu (và do đó là trách nhiệm) từ người bán sang người mua.Trừ khi INCOTERMS được đưa vào luật trong nước, nó sẽ không được tự động
áp dụng nếu không có sự tham chiếu trong các hợp đồng bán hàng hoặc hợpđồng vận chuyển Nhân tố ngoại hối có vai trò quan trọng trong việc xác định giásản phẩm xuất khẩu Nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động xuấtkhẩu Ví dụ như: một doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sử dụngđồng đô la Hoa Kỳ để chào bán sản phẩm, sẽ nhận lấy rủi ro của việc thay đổi tỷgiá hối đoái của đồng tiền đó Trường hợp đồng đô la lên giá so với nội tệ, hiệuquả của doanh nghiệp sẽ tăng lên và ngược lại
1.3 Thị trường Hoa Kỳ đối với hoạt động marketing xuất nhập khẩu thuỷ sản
1.3.1 Đặc điểm về thị trường Hoa Kỳ
a Đặc điểm về kinh tế.
Nền kinh tế Hoa Kỳ là nền kinh tế thị trường, hoạt động theo cơ chế thịtrường cạnh tranh Hiện nay nó được coi là nền kinh tế lớn nhất thế giới với tổnggiá trị sản phẩm quốc nội bình quân hàng năm trên 10.000 tỷ USD, chiếm trên20% GDP toàn cầu và thương mại chiếm khoảng 21% tổng kim ngạch thươngmại quốc tế Với GDP bình quân đầu người hàng năm trên 37.000 USD, và sốdân khoảng 280 triệu người, có thể nói Hoa Kỳ là một thị trường có sức mua lớnnhất thế giới Đồng USD là đồng tiền mạnh nhất thế giới hiện nay Mọi sự biếnđộng của đồng USD và hệ thống tài chính Hoa Kỳ đều có ảnh hưởng đáng kểđến sự biến động của nền tài chính quốc tế
Trang 31Thị trường Hoa Kỳ vừa là nơi thuận lợi cho đầu tư nước ngoài lại vừa lànơi đầu tư ra nước ngoài Hoa Kỳ là nước đi đầu thế giới trong nhiều lĩnh vực nhưcông nghệ máy tính và viễn thông, nghiên cứu hàng không vũ trụ, công nghệ gen
và hoá sinh và một số lĩnh vực kỹ thuật cao khác Hoa Kỳ cũng là nước nôngnghiệp hàng đầu thế giới
Hoa Kỳ còn là nước đi đầu trong quá trình quốc tế hoá kinh tế toàn cầu vàthúc đẩy tự do hoá thương mại phát triển Nhưng Hoa Kỳ cũng là nước hay dùng
tự do hoá thương mại để yêu cầu các quốc gia khác mở cửa thị trường của họ chocác công ty của mình nhưng lại tìm cách bảo vệ nền sản xuất trong nước thôngqua hệ thống các tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh an toàn thực phẩm và môi trường
Mới đây, Economist Intelligence Unit (EIU), nhánh nghiên cứu của tạp chí
uy tín The Economist, phối hợp với Cisco đã đưa ra một báo cáo nhìn về triểnvọng từ nay đến 2020 Nghiên cứu này dự báo giai đoạn 2006-2020 GDP toàn cầutăng trung bình 3,5%, Hoa Kỳ vẫn là nước dẫn đầu tăng trưởng dự đoán 3% mỗinăm, EU 2,5% ; Nhật Bản 1%
Bảng 1.1:Chỉ số kinh tế - xã hội của Hoa Kỳ so với nước khác năm 2003
KNXK
so vớitổngKNXKTG
Triệungười của%
thếgiới
TỷUSD hạng Xếp chiếm%
GDP–TG-
USD Xếp
hạng Chiếm%
GDPBQ–TG-
Trang 32b Đặc điểm về chính trị
Hệ thống chính trị của Hoa Kỳ hoạt động theo nguyên tắc tam quyền phânlập Hiến pháp quy định ba nhánh quyền lực chính riêng rẽ: Lập pháp, Hànhpháp và Tư pháp Mỗi nhánh là một bộ máy kiểm soát đối với hai nhánh kia, tạonên một sự cân bằng để tránh lạm dụng quyền lực hoặc tập trung quyền lực
Quyền lập pháp tối cao ở Hoa Kỳ được quốc hội thực hiện thông qua haiviện: Thượng nghị viện và Hạ nghị viện Công việc của hai viện phần lớn đượctiến hành tại các uỷ ban
Hệ thống hành pháp được phân chia thành hai cấp chính phủ: các Bang vàTrung ương Các Bang có những quyền khá rộng rãi và đầy đủ Các Bang thựchiện điều chỉnh thương mại của Bang, điều chỉnh hoạt động của các công ty, đưa
ra các quy định về thuế …cùng với chính phủ trung ương
Một đặc điểm lớn về chính trị của Hoa Kỳ là thường hay sử dụng chínhsách cấm vận và trừng phạt kinh tế để đạt được mục đích của mình
Về luật thuế: Để vào được thị trường Hoa Kỳ, điều cần thiết và đáng chú ý
đối với các doanh nghiệp là hiểu được hệ thống danh bạ thuế quan thống nhất(The Harmonised Tariff schedule of the Unitedstated-HTS ) và chế độ ưu đãithuế quan phổ cập (Generalised System of Preferences-GSP)
Về hải quan: Hàng hoá nhập khẩu vào Hoa Kỳ được áp dụng thuế suất
theo biểu thuế quan Hoa Kỳ gồm 2 cột: cột 1 quy định thuế suất tối huệ quốc, cột
2 quy định thuế suất đầy đủ hoặc thuế suất pháp định áp dụng cho các nướckhông được hưởng quy chế tối huệ quốc
Trang 33Một vấn đề nữa mà các doanh nghiệp cần lưu ý về môi trường luật phápcủa Hoa Kỳ là Luật Thuế đối kháng và Luật chống phá giá và những quy định vềQuyền tự vệ, Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, Trách nhiệm đối với sản phẩm Đây lànhững công cụ để Hoa Kỳ bảo hộ các ngành công nghiệp trong nước, chống lạihàng nhập khẩu.
d Đặc điểm về văn hoá và con người.
Hoa Kỳ có thành phần xã hội đa dạng, gồm nhiều cộng đồng riêng biệt,được mệnh danh là “quốc gia của dân nhập cư” Hầu hết người Hoa Kỳ có nguồngốc từ Châu Âu Chủ nghĩa thực dụng là nét tiêu biểu nhất của văn hoá Hoa Kỳ
và lối sống Hoa Kỳ Họ rất quý trọng thời gian, ở Hoa Kỳ có câu thành ngữ “thờigian là tiền bạc” Chính vì vậy, họ đánh giá cao hiệu quả và năng suất làm việccủa một người
Người Hoa Kỳ rất coi trọng tự do cá nhân, coi trọng dân chủ Trong kinhdoanh, chủ nghĩa tự do cá nhân biểu hiện ở việc các cá nhân, doanh nghiệp được tự
do lựa chọn việc làm, nơi làm việc, chọn loại hình kinh doanh, loại hình đầu tư
Tôn giáo chiếm vị trí quan trọng trong đời sống văn hoá tinh thần củangười Hoa Kỳ Ở Hoa Kỳ có tới 219 tôn giáo lớn nhỏ, song chỉ có 3 trụ cột chính
là Kitô giáo chiếm hơn 40%, Thiên chúa giáo 30%, Do Thái giáo 3,2% Đâychính là thuận lợi đối với những doanh nghiệp muốn xâm nhập vào thị trườngHoa Kỳ, bởi vì các doanh nghiệp ít khi (nếu không muốn nói là không) gặp phảitrở ngại nào do yếu tố tín ngưỡng hay tôn giáo như các thị trường khác
Về mức sống của người dân Hoa Kỳ cao thứ 2 thế giới, là hợp chủng quốcnên tiêu dùng đa dạng, tiêu dùng với số lượng lớn là thị trường đầy tiềm năngcủa ta
Từ các đặc điểm về kinh tế, chính trị và hệ thống pháp luật của Hoa Kỳnêu trên, các doanh nghiệp thủy sản của Việt Nam khi làm ăn với các doanhnghiệp của Hoa Kỳ cần phải tiếp cận sâu sắc để tìm hiểu luật pháp của Hoa Kỳnói chung và thực hiện ở các bang nói riêng, đồng thời còn phải tiếp tục nghiêncứu về sự hoạt động của các kênh phân phối của tập đoàn, của các công ty Hoa
Kỳ để tìm ra các cơ hội bán hàng vào thị trường còn nhiều tiềm năng như đãnghiên cứu ở trên Hoạt động marketing xuất khẩu hàng thuỷ sản Việt Nam vào
Trang 34Hoa Kỳ đòi hỏi các doanh nghiệp của ta cần nghiên cứu kỹ, Hoa Kỳ là thị trườngthủy sản mới của Việt Nam, là thị trường cả xuất khẩu thuỷ sản lẫn thị trườngnhập khẩu thuỷ sản Yêu cầu chất lượng thuỷ sản rất cao, vì vậy các doanhnghiệp Việt Nam xuất khẩu thuỷ sản thô vào thị trường này rất khó khăn vìkhoảng cách xa về mặt địa lý, chuyên chở tốn kém, không hiệu quả so với thịtrường khác như Hồng Kông, Singapore…Do đó tập trung hoạt động marketingvào xuất khẩu thuỷ sản chế biến sâu, xuất khẩu thuỷ sản hàng cao cấp Đồng thờichú ý đến marketing về giá hàng thuỷ sản để bán với giá cao trên thị trườngtránh không bị cho là Việt Nam bán phá giá hàng thủy sản.
1.3.2 Thị trường thuỷ sản Hoa Kỳ và các nhân tố ảnh hưởng
Hiện nay, với dân số trên 280 triệu người, theo tính toán của các chuyên giatrên thế giới, trung bình hàng năm một ngưòi Hoa Kỳ sẽ tiêu dùng 25 kg cá.Thuỷ sản là một loại thực phẩm được người Hoa Kỳ rất thích tiêu dùng bởi giátrị dinh dưỡng cao, ít chất béo, rất tốt cho sức khoẻ con người Theo số liệuthông kê năm 2000, người Hoa Kỳ sử dụng xấp xỉ 8% tổng sản lượng thuỷ sảnthế giới từ các nguồn khai thác nuôi trồng trong nước và nhập khẩu Hơn mộtnửa lượng tiêu dùng thuỷ sản của Hoa Kỳ có nguồn gốc từ nhập khẩu Hoa Kỳ làthị trường nhập khẩu thuỷ sản lớn thứ 2 trên thế giới sau Nhật Bản và cũng là thịtrường tiêu thụ đa dạng về mặt hàng, giá trị và chất lượng Khoảng 1000 cơ sởchế biến của Hoa Kỳ phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu.Không chỉ là nước nhập khẩu thuỷ sản lớn mà Hoa Kỳ còn là nước xuất khẩuthuỷ sản lớn trên thế giới Các mặt hàng quan trọng đều là những mặt hàng Hoa
Kỳ sản xuất ra rất nhiều nhưng người Hoa Kỳ lại không ưa chuộng
Mặc dù là thị trường có sức hút hàng lớn song hàng thuỷ sản nhập khẩu vàoHoa Kỳ phải tuân theo những quy định rất khắt khe Để xâm nhập vào thị trườngđầy tiềm năng nhưng cực kỳ khó tính là điều không dễ dàng đối với các doanhnghiệp xuất khẩu hàng thuỷ sản củaViệt Nam
a Tình hình khai thác và nuôi trồng thuỷ sản của Hoa Kỳ
* Khai thác.
Trang 35Hoa Kỳ là một trong những quốc gia có nguồn lợi hải sản giàu có và phongphú vào bậc nhất thế giới, với hơn 300 loài được khai thác ở Hoa Kỳ đã phầnnào chứng minh cho điều đó Theo đánh giá của Hoa Kỳ, khả năng có thể chophép khai thác hàng năm từ 6-7 triệu tấn hải sản, nhưng để bảo vệ và duy trì lâudài nguồn lợi này người ta chỉ hạn chế mức khai thác từ 4,5-5 triệu tấn/năm.Hoa Kỳ có khoảng 23.000 tàu đánh cá với trọng tải hơn 5 tấn và hơn100.000 tàu thuyền nhỏ với 170.000 lao động trên các tàu thuyền Theo đánh giácủa FAO, đội tàu khai thác của Hoa Kỳ hiện đứng ở vị trí thứ 4 trên thế giới vớitổng lượng khai thác thuỷ sản chiếm khoảng 6% tổng sản lượng thuỷ sản củatoàn thế giới và đứng ở vị trí thứ năm sau Trung Quốc, Pêru, Chi Lê và NhậtBản Tuy nhiên khai thác thuỷ sản của Hoa Kỳ hiện nay đang có xu hướng giảm(xem bảng 1.2).
Bảng 1.2 Sản lượng khai thác thuỷ sản của Hoa Kỳ trong giai đoạn
Nguồn: CFA, Hiệp hội cá nheo Hoa Kỳ
Trong sản lượng khai thác thuỷ sản của Hoa Kỳ thì cơ cấu sản lượng khaithác được phân định rõ ràng và khá đầy đủ về khối lượng và giá trị vì khai thácthuỷ sản của Hoa Kỳ mang tính thương mại rất cao
Trang 36* Nuôi trồng thuỷ sản
Nuôi trồng thuỷ sản được đánh giá là một lĩnh vực đang phát triển ở Hoa
Kỳ Theo nghiên cứu của trung tâm thông tin khoa học kỹ thuật và kinh tế thuỷsản- Bộ thuỷ sản, thì Hoa Kỳ là một trong 10 nước đứng đầu thế giới về nuôitrồng thuỷ sản Tính đến năm 2005 Hoa Kỳ nuôi khoảng 30 loài thuỷ sản khácnhau, dự kiến có khoảng 1801 ngàn lao động trong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản
và đạt giá trị tổng sản lượng hơn 5,6 tỷ USD
b Chế biến thuỷ sản của Hoa Kỳ
Công nghệ chế biến thuỷ sản khổng lồ của Hoa Kỳ được phân bố ở khắpcác Bang, nhưng tập trung nhiều ở các Bang bờ Đông và các thành phố lớn ở bờTây Ngoài ra còn nhiều sản phẩm được chế biến ngay trên biển (ở các tàu lướikéo chế biến cá tuyết, tàu mẹ chế biến cá hồi, cá ngừ, cá trích…) Đến nay Hoa
Kỳ có khoảng 1300 cơ sở chế biến được trang bị máy móc, thiết bị hiện đại,năm 1998 các cơ sở này xuất khẩu 760 ngàn tấn thuỷ sản đạt trị giá 2,2 triệuUSD
Công nghệ chế biến thuỷ sản của Hoa Kỳ phục vụ cả thị trường nội địa vàthị trường nước ngoài Do người tiêu dùng Hoa Kỳ chỉ ưa chuộng các sản phẩmtinh chế dù giá cao đã thúc đẩy công nghệ chế biến phát triển mạnh và luôn ởtrình độ cao
c Cơ cấu nhập khẩu thuỷ sản của Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là một trong những quốc gia lớn, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao
Từ một nước nông nghiệp Hoa Kỳ đã trở thành một nước công nghiệp vượt xacác nước khác đứng đầu thế giới về quy mô xuất nhập khẩu hàng hoá Đối vớithuỷ sản, Hoa Kỳ là một trong 3 thị trường lớn của thế giới, hàng năm nhập khẩukhoảng 5,6-6,2 tỷ USD chiếm 13-14% nhập khẩu thuỷ sản của thế giới Ngoạithương thuỷ sản của Hoa Kỳ có những đặc điểm chính sau:
+ Cả nhập và xuất khẩu đều đạt giá trị rất lớn
+Thâm hụt ngoại thương thuỷ sản ngày càng tăng
Hoa Kỳ đứng ở vị trí thứ hai trên thế giới về nhập khẩu thuỷ sản chiếm16,5% tổng giá trị nhập khẩu thuỷ sản của thế giới và giá trị nhập khẩu liên tục
Trang 37gia tăng trong những năm gần đây Đặc biệt từ năm 1997 đến 2000 giá trị nhậpkhẩu tăng trên 10%/năm, giai đoạn đến 2005 giá trị nhập khẩu vẫn tăng tương tự.
Bảng 1.3 Kim ngạch nhập khẩu thuỷ sản của Hoa Kỳ giai đoạn 1995-2005
Đơn vị:Ngàn tấn; Triệu USD
Nguồn: CFA, Hiệp hội cá nheo Hoa Kỳ.
Ta thấy giá trị nhập khẩu tăng cao hơn so với số lượng nhập khẩu, chứng tỏ
cơ cấu nhập khẩu có thay đổi căn bản về các mặt hàng cao cấp giá đắt và trungbình
+ Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Hoa Kỳ
Hoa Kỳ nhập khẩu trên 100 loại hàng thuỷ sản từ cao cấp nhất đến thấpnhất với nhiều mức giá khác nhau Những mặt hàng nhập khẩu có giá trị caonhất:
-Tôm đông: Hoa Kỳ đứng đầu thế giới về nhập khẩu mặt hàng này Từ lâu
tôm đông đang là mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Hoa Kỳ và có giá trị lớn nhất.Sau 10 năm, nhập khẩu tôm đông của Hoa Kỳ từ 1,79 tỷ USD năm 1991 tănggấp đôi và đạt 3,756 tỷ USD năm 2000, đó cũng là mức tăng trưởng cao nhấttrên thế giới Vượt qua Nhật Bản, Hoa Kỳ trở thành nước nhập khẩu tôm số mộtthế giới
Trang 38Thái Lan chiếm thị trường tôm ở Hoa Kỳ với khối lượng xuất khẩu hàngnăm đạt giá trị vào khoảng 1480 triệu USD, chiếm 40% giá trị nhập khẩu tômcủa Hoa Kỳ Tiếp theo đó là Mêhicô, ấn Độ, Việt Nam, Indonexia…
- Cua: Đây là nhóm hàng nhập khẩu lớn thứ 2 sau tôm Năm 2000 giá trị
nhập khẩu cua là 953 triệu USD, chiếm 9,5% tổng giá trị nhập khẩu thuỷ sản Cóthể nói Hoa Kỳ là thị trường nhập khẩu các sản phẩm cua lớn nhất thế giới, cótới 25 các sản phẩm cua được nhập khẩu nhưnhg nhiều nhất là cua đông nguyêncon với giá trị 380 triệu USD, tiếp theo là thịt cua đông Ngoài ra Hoa Kỳ cònnhập khẩu cả cua biển và cua nước ngọt của Trung Quốc
- Tôm hùm: Mặc dù là một cường quốc về khai thác tôm hùm nhưng đây
cũng là mặt hàng có nhu cầu rất lớn tại thị trường Hoa Kỳ nên sản lượng khaithác chỉ đáp ứng được một nửa so với nhu cầu Người Hoa Kỳ ngày càng ưuchuộng các loại sản phẩm cao cấp đắt tiền trong đó tôm hùm luôn là sự lựa chọnhàng đầu Giá trị nhập khẩu tôm hùm năm 2000 lên tới con số kỷ lục là 870 triệuUSD, đứng thứ 3 về giá trị và chiếm gần 9% tổng giá trị nhập khẩu thuỷ sản.Trong đó tôm hùm nguyên con là 530 triệu USD, tôm hùm sống là 205 triệuUSD Các nước cung cấp chính sản phẩm này vào Hoa Kỳ phải kể đến: Canada,Mêhicô, Brazil, Oxtraylia…
- Cá ngừ: Mặc dù là nước có sản lượng khai thác cá ngừ lớn và cũng là
nước sản xuất nhiều hộp cá ngừ nhất thế giới, song nhu cầu của người Hoa Kỳđối với sản phẩm này rất cao nên cung luôn không đáp ứng đủ cầu Nếu nhưtrước đây người Hoa Kỳ chỉ ưu chuộng cá ngừ hộp thì nay họ còn thích tiêudùng cả cá ngừ tươi Các nước xuất khẩu chính sang Hoa Kỳ: Cá ngừ hộp làThái Lan, Philippin, Indonexia; Cá ngừ tươi và đông từ Mêhicô,Equado,Indonexia, Việt Nam…
Tuy nhiên, sang năm 2000 thị trường cá ngừ của Hoa Kỳ rất ảm đạm do xuhướng giảm nhập khẩu cá ngừ của Hoa Kỳ trong những năm gần đây, giá trịnhập khẩu hai mặt hàng chính giảm 29% so với năm1999, từ 884 triệu USDxuống còn 628 triệu USD năm 2000
- Cá nước ngọt: Hoa Kỳ dẫn đầu thế giới về nhập khẩu cá nước ngọt Năm
2000 sản lượng cá nước ngọt lên tới 173 triệu USD Trong những năm gần đây
Trang 39nhu cầu về cá rôphi trên thị trường Hoa Kỳ tăng mạnh với giá trị nhập khẩu năm
2000 là 10,2 triệu USD, chiếm 59% Gía trị nước ngọt nhập khẩu với ba sảnphẩm chủ yếu; cá philê đông, philê tươi và cá đông nguyên con Các nước xuấtkhẩu cá rô phi với lượng lớn vào Hoa Kỳ là Đài Loan Equado, Trung Quốc.Không chỉ có cá rô phi năm 2000 mức nhập khẩu cá basa filê vào Hoa Kỳ cũngrất cao với khối lượng 3736 tấn đạt 12,4 triệu USD và được nhập khẩu chủ yếu
từ Việt Nam đặc biệt từ năm 2002 đến nay
d Nhu cầu và xu hướng tiêu thụ thuỷ sản của Hoa Kỳ
Khối lượng tiêu thụ thuỷ sản của Hoa Kỳ qua các thời kỳ như sau:
Bảng 1.4 Mức tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản của Hoa Kỳ giai đoạn 1991-2005
Nguồn: CFA, Hiệp hội cá nheo Hoa Kỳ
Nhìn chung tiêu thụ thuỷ sản thực phẩm của Hoa Kỳ không có biến độngnhiều về số lượng nhưng thay đổi nhiều về chất lượng nghiêng về các sản phẩmcao cấp đắt tiền như tôm he, tôm hùm, cá ngừ, cá hồi, cua biển, cá rô phi, cáchình, cá basa… Ngoài ra Người Hoa Kỳ còn rất ưu chuộng các sản phẩm tinhchế như: tôm nõn, filê, hộp cá, thịt cua và các sản phẩm ăn liền… Vì vậy, tuykhối lượng nhập khẩu không tăng nhiều nhưng giá trị nhập khẩu thuỷ sản tănglên rất nhanh đã vượt qua con số 10 tỷ năm 2000 với mức thâm hụt ngoại thương
kỷ lục trên 7 tỷ USD
Trang 40Bảng 1.5 Mức tiêu thụ 10 mặt hàng thuỷ sản chính của Hoa Kỳ năm
Nguồn: Viện nghề cá quốc gia Hoa Kỳ (NFI).
Xu hướng tiêu thụ thực phẩm nói chung và thực phẩm thuỷ sản nói riêngtrong thời gian tới của người Hoa Kỳ còn phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng nềnkinh tế Hoa Kỳ cũng như mức thu nhập của đa số người tiêu dùng Hoa Kỳ trongtương lai Nhưng có một điều không thay đổi nhiều trong thị hiếu tiêu dùng củangười Hoa Kỳ đó là họ vẫn chỉ ưu chuộng tiêu dùng các "đặc thuỷ sản" và cácmặt hàng thuỷ sản cao cấp
e Hệ thống phân phối thuỷ sản của Hoa Kỳ
Hệ thống phân phối thuỷ sản tại của Hoa Kỳ được tổ chức rất hiện đại,tiện lợi cho người tiêu dùng ở các khu vực thị trường khác nhau như hệ thốngcung ứng nhà hàng, hệ thống cung ứng cho các cơ sở ăn uống công cộng ở cáctrường học hay các chợ cá bán cho các hộ gia đình và hoạt động quảng cáo cóhiệu quả