1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trung gian thương mại trong hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ vào hoa kỳ

109 588 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trung gian thương mại trong hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ vào Hoa Kỳ
Tác giả Nguyễn Thị Luyện
Người hướng dẫn PGS.TS. Phạm Duy Liên
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh Tế Ngoại Thương
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ nói chung và vào Hoa Kỳ nói riêng đã từng sử dụng các dịch vụ của người trung gian thương mại nhưng không ít các nhà kinh doanh,

Trang 1

KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

TÊN ĐỀ TÀI

TRUNG GIAN THƯƠNG MẠI TRONG HOẠT ĐỘNG

XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ VÀO HOA KỲ

HÀ NỘI 2007

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin trân trọng cảm ơn PGS TS Phạm Duy

Liên đã giao đề tài và tận tình hướng dẫn em hoàn thành

tốt bản Khóa luận tốt nghiệp Em cũng xin cảm ơn các

thầy cô khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, chuyên

ngành Kinh tế Ngoại thương đã giúo đỡ, tạo điều kiện

cho em hoàn thành tốt đề tài

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các anh chị, các bạn

đang công tác tại Tổng cục Hải quan,Tổng cục Thống kê,

các anh chị, các bạn đang công tác tại Công ty TNHH

Nhật Thắng đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình làm

nghiên cứu, thực hiện đề tài

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn lớn nhất tới gia đình,

tới mẹ, tới các anh chị, các em Cảm ơn mẹ vì tất cả cho

hôm nay!

Hà nội, ngày 02 tháng 10 năm 2007

Nguyễn Thị Luyện

Trang 3

MỤC LỤC

Danh mục bảng biểu và hình vẽ

Danh mục thuật ngữ viết tắt

Chương 1 Khái quát về trung gian thương mại 3

I Sự ra đời và phát triển của trung gian thương mại 3

II Vai trò của trung gian trong thương mại quốc tế 6

1 Vai trò của trung gian thương mại trong nền kinh tế 6

2 Trung gian thương mại đối với người xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa 7

2.1 Đối với người xuất khẩu hàng hóa 7

2.2 Đối với người nhập khẩu hàng hóa 7

2.3 Trung gian thương mại với các ngành dịch vụ 7

III Trung gian thương mại theo Luật Thương mại Việt Nam và Hoa Kỳ 8

1 Các loại hình trung gian thương mại 8

1.1 Theo Luật Thương mại Việt Nam 8 1.1.1 Đại diện cho thương nhân (Represent the Deales) 8

1.2 Theo Bộ Luật Thương mại Hoa Kỳ 19

2 Điều kiện để trở thành trung gian thương mại 20

IV Các hình thức trung gian thương mại trên thế giới 22

2.1 Phân theo quyền của người đại lý 22

2.3 Phân theo tính chất của mối quan hệ 23

2.5 Nhượng quyền thương mại (Franchising) 24

Trang 4

4 Hợp đồng với nhà phân phối 34

Chương 2 Thực trạng sử dụng trung gian thương mại trong xuất khẩu

hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam vào Hoa Kỳ 37

I Đánh giá hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam vào

1 Khái quát về tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ 37

1.1 Đặc điểm của ngành thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế thị

1.2 Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ những năm vừa qua 39

1.3 Thị trường truyền thống và thị trường mục tiêu cho xuất khẩu

hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam 42

1.4 Những vấn đề còn tồn tại trong xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ

của Việt Nam 44

1.4.2 Vấn đề thương hiệu và vấn đề bản quyền 46 1.4.3 Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ chưa được đầu tư xứng

2 Thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam vào Hoa Kỳ 50

2.1 Lịch sử quan hệ thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ 50

2.2 Những thông tin về thị trường Hoa Kỳ 51

2.2.2 Bán hàng cho các nguồn trung gian đặt hàng (Sourcing

2.3 Thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam vào Hoa

Kỳ trong thời gian qua

54

2.3.1 Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam

vào Hoa Kỳ trong những năm vừa qua

54

2.3.2 Đánh giá thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt

Nam vào Hoa Kỳ

57

II Thực trạng sử dụng trung gian thương mại trong hoạt động xuất khẩu

hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ thời gian qua

60

1 Tình hình sử dụng trung gian thương mại trong hoạt động xuất khẩu 60

Trang 5

hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam vào Hoa Kỳ

1.2 Sử dụng môi giới trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu hàng thủ

công mỹ nghệ 61

1.3 Tình hình sử dụng đại lý trong hoạt động xuất khẩu hàng thủ

công mỹ nghệ vào Hoa Kỳ 64

2 Những khó khăn, tồn tại trong việc lựa chọn và sử dụng trung gian

2.1 Khó khăn trong việc lựa chọn, sử dụng trung gian thương mại 70

2.2 Khó khăn trong khi làm trung gian thương mại cho nước ngoài 70

2.3 Quản lý hoạt động của trung gian thương mại 71

III Những bất cập trong việc tổ chức và quản lý hoạt động của trung gian

thương mại trong xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam vào

2 Đăng ký thành lập doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh 78

2.1 Các văn bản hướng dẫn còn chưa đồng bộ 78

2.2 Chưa hình thành hệ thống đăng ký kinh doanh thống nhất từ

Trung ương đến địa phương 79

2.3 Quản lý hoạt động của trung gian thương mại ở Việt Nam 79

Chương 3 Các giải pháp nhằm sử dụng một cách hiệu quả trung gian

Trang 6

thương mại trong hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam

I Nhu cầu sử dụng trung gian thương mại trong hoạt động xuất khẩu hàng thủ

công mỹ nghệ Việt Nam vào Hoa Kỳ trong thời gian tới

80

1 Phương hướng phát triển xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ và những

lĩnh vực có liên quan đến năm 2010

80

2 Dự báo xu hướng sử dụng trung gian thương mại trong hoạt động xuất

khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam vào Hoa Kỳ 81

2.1 Sự phân công lao động xã hội ngày một diễn ra sâu rộng hơn 82

2.2 Do tự do hóa thương mại nên ngày càng có nhiều công ty tham

gia vào lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ

82

2.3 Chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối

ngoại của Đảng và Nhà nước đã, đang và sẽ làm cho thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam ngày càng mở

II Các giải pháp nhằm sử dụng một cách hiệu quả trung gian thương mại trong

hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ vào Hoa Kỳ trong thời gian tới 84

1.1 Hoàn thiện các qui định về trung gian thương mại trong luật Việt

2 Các giải pháp về phía doanh nghiệp 90

2.1 Nâng cao hiểu biết về pháp luật liên quan đến trung gian thương

mại và thị trường Hoa Kỳ

90

2.3 Lựa chọn trung gian thương mại trong hoạt động kinh doanh 91

2.4 Thiết lập hợp đồng chặt chẽ với các tổ chức trung gian 93

2.5 Đào tạo cán bộ có nghiệp vụ chuyên môn về các lĩnh vực kinh

doanh có liên quan

94

DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ

Trang 7

HÌNH VẼ

Mô hình 1 Mua bán qua đại lý 14

Mô hình 2 Sơ đồ mua bán qua đại lý bao tiêu 14

Mô hình 3 Sơ đồ mua bán qua tổng đại lý 15

Mô hình 4 Sơ đồ quan hệ giữa các bên trong giao nhận 17

B¶ng biÓu Bảng 1 Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ và tỷ trọng trong tổng

kim ngạch xuất khẩu cả nước những năm vừa qua

40

Bảng 2 Tỷ trọng và tình hình thực hiện kế hoạch xuất khẩu của

hàng thủ công mỹ nghệ chín tháng đầu năm 2007

41

Bảng 3 Kim ngạch xuất khẩu hàng TCMN Việt Nam vào Hoa Kỳ

những năm vừa qua

55

Bảng 4 Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng TCMN chủ yếu của Việt

Nam sang Hoa Kỳ qua các năm

55

B¶ng 5 So s¸nh kim ng¹ch xuÊt khÈu mét sè mÆt hµng TCMN ViÖt Nam

xuÊt khÈu sang Hoa Kú vµ NhËt B¶n qua c¸c n¨m

56

B¶ng 6 T×nh h×nh xuÊt khÈu hµng thñ c«ng mü nghÖ vµo Hoa Kú

qua c¸c ph-¬ng thøc ë C«ng ty TNHH NhËt Th¾ng

63

B¶ng 7 Tû träng kim ng¹ch xuÊt khÈu ñy th¸c hµng TCMN trong tæng kim

ng¹ch xuÊt khÈu TCMN vµo Hoa Kú nh÷ng n¨m võa qua

Trang 8

FIATA International Federation of Freight

Forwarder

Liên đoàn các Hiệp hội giao nhận quốc tế

UNESCO United Nations Educational,

Scientific and Cultural Organization

Uỷ ban Liên hợp quốc về Xã hội và Kinh tế

UNCTAD United Nations Conference on

Trade and Development

Uỷ ban Liên hợp quốc về thương mại và phát triển

ESCAP Economic and Social Commission

for the Asia - Pacific

Uỷ ban xã hội và kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương

NCBFA National Customs Brokers and

Forwarders Association

Hiệp hội dịch vụ thủ tục hải quan

và giao nhận Hoa Kỳ

IFCBA International Federation of

Customs Brokers Associations

Liên đoàn quốc tế các hiệp hội những người kinh doanh dịch vụ thủ tục hải quan

WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại quốc tế

EU Europian Union Liên minh Châu Âu

VIFFAS Vietnam Freight Forwarders

Association

Hiệp hội giao nhận kho vận Việt Nam

MTO Multimodal Transport Operator Tổ chức vận tải đa phương thức

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội

SME Small and Medium Enterprises Doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực hiện chiến lược phát triển kinh tế theo mô hình công nghiệp hóa, hiện

đại hóa hướng về xuất khẩu là con đường đúng đắn được Đảng và Nhà nước lựa chọn

Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, Nhà nước ta luôn nỗ lực hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, phát triển kinh tế xã hội Do kinh tế dựa vào nông nghiệp là chủ yếu nên xuất khẩu những sản phẩm thủ công nghiệp đã trở thành mục tiêu quan trọng, vừa có ý nghĩa thúc đẩy xuất khẩu, tăng trưởng kinh tế, vừa giải quyết nhiều việc làm trong xã hội và khai thác được tài nguyên cũng như nguồn lao động của đất nước Việt Nam đã vận dụng tối đa lợi thế của mình trong quá trình giao thương với nước ngoài Cùng với các mặt hàng thế mạnh như nông sản, thủy sản, dệt may, giày dép… các mặt hàng truyền thống đang được sự quan tâm của Nhà nước và Chính phủ, đặc biệt là mặt hàng thủ công mỹ nghệ

Việt Nam được xem là “mỏ vàng” của ngành thủ công mỹ nghệ thế giới Tuy

nhiên, lượng hàng xuất khẩu còn rất hạn chế so với nhu cầu thế giới và chưa xứng với tiềm năng của ngành Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do các cơ sở, doanh nghiệp sản xuất hầu như không tham gia xuất khẩu trực tiếp nên không nắm bắt được nhu cầu của khách hàng Việc xuất khẩu chủ yếu thông qua các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước Đôi khi các doanh nghiệp này do qui mô nhỏ và trình độ chuyên môn còn hạn chế nên việc xuất khẩu phải tiến hành thông qua các trung gian thương mại

Hoa Kỳ là một trong ba thị trường mục tiêu chính của ngành thủ công mỹ nghệ Nhu cầu nhập khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ của thị trường này là rất lớn Dự báo trong những năm sắp tới, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam vào Hoa Kỳ sẽ còn tăng mạnh Các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu hàng thủ công

mỹ nghệ nói chung và vào Hoa Kỳ nói riêng đã từng sử dụng các dịch vụ của người trung gian thương mại nhưng không ít các nhà kinh doanh, các doanh nghiệp còn chưa hiểu đúng và chưa biết sử dụng, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trang 10

Trên cơ sở nhận định chung về tình hình thực tiễn xuất khẩu hàng thủ công mỹ

nghệ, em lựa chọn vấn đề: “Trung gian thương mại trong hoạt động xuất khẩu hàng

thủ công mỹ nghệ vào Hoa Kỳ” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình với mong

muốn có cái nhìn sâu sắc hơn về một loại hình xuất nhập khẩu chủ đạo, từ đó đóng góp một phần nhỏ vào chiến lược nâng cao hiệu quả xuất khẩu của ngành thủ công mỹ nghệ, đưa xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trở thành một trong những ngành hàng xuất khẩu trọng điểm của Việt Nam trong thời gian tới

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung vào việc nghiên cứu hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ nói chung và xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ nói riêng và thực tiễn sử dụng trung gian thương mại trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực nói trên

3 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp duy vật lịch sử, duy vật biện chứng kết hợp các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, diễn giải, phương pháp tiếp cận thực tiễn và một số phương pháp khác

4 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:

- Hệ thống hoá các khái niệm, đặc điểm, loại hình, các qui định về trung gian thương mại

- Đánh giá thực trạng sử dụng trung gian thương mại trong hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ trong thời gian qua

- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp nhằm sử dụng có hiệu quả trung gian thương mại trong xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ trong thời gian tới

5 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được chia thành 3 chương

Chương 1: Khái quát về trung gian thương mại

Chương 2: Thực trạng sử dụng trung gian thương mại trong xuất khẩu hàng

thủ công mỹ nghệ của Việt Nam vào Hoa Kỳ

Trang 11

Chương 3: Các giải pháp nhằm sử dụng một cách có hiệu quả trung gian

thương mại trong xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam vào Hoa Kỳ

Trang 12

Chương 1

KHÁI QUÁT VỀ TRUNG GIAN THƯƠNG MẠI

I SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRUNG GIAN THƯƠNG MẠI

Từ rất lâu, trong hoạt động sản xuất kinh doanh của con người đã có sự tham gia của các trung gian thương mại Từ thời kỳ chiếm hữu nô lệ, chúng ta đã thấy sự hiện diện của trung gian trong các buổi bán đấu giá nô lệ Trong thời kỳ phong kiến, người môi giới đã xuất hiện trong cả mối quan hệ giữa vua chúa và các thương gia, như được

mô tả trong truyện “Ngàn lẻ một đêm” Đến giai đoạn tư bản chủ nghĩa phát triển, đội

ngũ các nhà trung gian thương mại đã phát triển ở một tầm cao mới Họ thành lập công

ty, hiệp hội, tập đoàn… với hình thức tổ chức chặt chẽ hơn Ngày nay chúng ta có thể thấy họ xuất hiện ở mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội loài người từ môi giới nhà đất,

môi giới việc làm đến môi giới các loại hàng hoá, cả hữu hình và vô hình

Giao nhận vận tải và bảo hiểm là hai lĩnh vực, hai cột mốc quan trọng trong sự

ra đời và phát triển của trung gian thương mại

Trong lĩnh vực giao nhận vận tải, những người trung gian hoạt động rất mạnh

Họ thành lập nên các Hãng, các Hiệp hội Ngay từ những năm 1522, hãng giao nhận

đầu tiên trên thế giới đã xuất hiện ở Badiley (Thụy Sĩ) với tên gọi là E.Vasnai Hãng

này kinh doanh cả vận tải lẫn giao nhận với phí thu rất cao, khoảng 1/3 giá trị của hàng

Lan, Mỹ… Đặc biệt, vào ngày 31/5/1926 tại Viên - thủ đô của nước Áo, “Liên đoàn

các Hiệp hội giao nhận quốc tế” - FIATA (International Federation of Freight Forwarder Association) ra đời, có sự tham gia của 19 Hiệp hội quốc gia của những

Trang 13

người giao nhận FIATA là một tổ chức giao nhận vận tải lớn nhất trên thế giới Cái tên

đó vẫn được giữ cho tới nay Hiện nay trụ sở của FIATA được chuyển về Zurich, Thụy

các vấn đề tư vấn cho Liên hợp quốc FIATA cũng được các tổ chức quốc tế khác liên quan đến buôn bán và vận tải công nhận như Hội đồng thương mại quốc tế (ICC) FIATA là một tổ chức giao nhận lớn nhất trên thế giới hiện nay, được thành lập không

nhằm mục đích kinh doanh và lợi nhuận

Mục tiêu chính của FIATA là bảo vệ và tăng cường lợi ích của người giao nhận trên phạm vi quốc tế, nâng cao chất lượng dịch vụ giao nhận, liên kết nghề nghiệp, tuyên truyền dịch vụ giao nhận vận tải, xúc tiến quá trình đơn giản hoá và thống nhất chứng từ và các điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn nhằm cải tiến chất lượng dịch vụ của các hội viên, đào tạo nghiệp vụ ở trình độ quốc tế, tăng cường mối quan hệ phối hợp

với các tổ chức giao nhận, với các chủ hàng và người chuyên chở

Hiện nay, nhiều công ty giao nhận của Việt Nam đã trở thành thành viên chính

thức của FIATA

Trong lĩnh vực bảo hiểm, những người môi giới cũng hoạt động rất mạnh mẽ Bảo hiểm hàng hoá xuất hiện đầu tiên ở Anh vào đầu thế kỷ 17 Các điều kiện bảo

hiểm của Viện những người bảo hiểm London đã trở thành quen thuộc và được áp dụng

rộng rãi trên thị trường bảo hiểm thế giới

Trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu bảo hiểm của các tổ chức và cá nhân hết sức phong phú, đồng thời cũng có nhiều doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp đa dạng các sản phẩm bảo hiểm tới khách hàng Người có nhu cầu bảo hiểm đặc biệt là các tổ chức kinh tế lớn, mặc dù luôn nhận được các thông tin về các doanh nghiệp bảo hiểm, nhưng

họ không thể đánh giá khả năng của nhiều doanh nghiệp có chung một loại bảo hiểm

Trang 14

để lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm tốt hơn hoặc những sản phẩm có điều kiện bảo hiểm rộng hơn và mức phí rẻ hơn, phù hợp hơn Chính vì vậy đã xuất hiện các nhà môi

giới bảo hiểm

Tổ chức môi giới bảo hiểm ra đời, đại diện cho quyền lợi của người tham gia bảo hiểm để lựa chọn, thu xếp và ký kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm Để tiến hành hoạt động môi giới bảo hiểm, đòi hỏi phải có kiến thức và quy mô hoạt động nhất định và phải có trách nhiệm nghề nghiệp Người môi giới bảo hiểm phải phân tích để cung cấp cho người tham gia bảo hiểm những phương án bảo hiểm hiệu quả nhất Sau khi hợp đồng bảo hiểm được ký kết, người được bảo hiểm còn có thể uỷ thác cho môi giới theo dõi việc thực hiện hợp đồng và đòi người bảo hiểm bồi thường các trường hợp xảy ra sự kiện bảo hiểm gây thiệt hại cho đối tượng được bảo hiểm Điều 90 luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam qui định nội dung hoạt động của môi giới bảo hiểm bao gồm các công việc như: Cung cấp thông tin về loại hình bảo hiểm, điều kiện, điều khoản, phí bảo hiểm, thông tin về doanh nghiệp bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm; tư vấn cho bên mua bảo hiểm trong việc đánh giá rủi ro, lựa chọn loại hình bảo hiểm, điều kiện, điều khoản, biểu phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm; đàm phán, thu xếp giao kết hợp đồng bảo hiểm giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm, thực hiện các công việc khác có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của bên mua bảo hiểm

Có thể nói, sự ra đời của trung gian thương mại chính là tất yếu lịch sử trong tiến trình phát triển của nền kinh tế Thế giới Về phần mình, trung gian thương mại cũng tác động mạnh mẽ trở lại, thúc đẩy quá trình phát triển của thương mại Thế giới thông qua những đóng góp to lớn trong sắp xếp, phân công lại lao động xã hội, làm tăng giá trị sản phẩm, thay đổi kênh phân phối, đưa sản phẩm nhanh chóng đến tay người tiêu dùng…

Trang 15

II VAI TRÒ CỦA TRUNG GIAN TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

1 Vai trò của trung gian thương mại trong nền kinh tế

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, nhu cầu mua bán, giao nhận vận tải, bảo hiểm của các tổ chức và cá nhân hết sức đa dạng Song hành với nó, nhiều doanh nghiệp giao nhận vận tải, bảo hiểm… đưa ra một lượng lớn các dịch vụ - sản phẩm với nội dung, hình thức và chất lượng phong phú ra thị trường Người có nhu cầu

sử dụng các sản phẩm loại này, đặc biệt là các tổ chức kinh tế lớn mặc dù luôn nhận được thông tin về các doanh nghiệp cung cấp, nhưng họ không thể đánh giá được khả năng của các doanh nghiệp có cùng một loại sản phẩm để lựa chọn doanh nghiệp cung cấp tốt hơn hoặc cùng một loại sản phẩm của những doanh nghiệp có uy tín trên thị trường, tìm đến những sản phẩm có mức phí rẻ hơn, phù hợp hơn Vì thế, các nhà môi giới, các nhà đại lý buôn bán hàng hóa, dịch vụ xuất hiện và nhanh chóng trở thành người bạn thân thiết, người trợ thủ đắc lực cho các doanh nghiệp, người tiêu dùng…

Với sự phát triển của phân công lao động xã hội, mỗi người, mỗi doanh nghiệp đều có xu hướng tập trung kinh doanh hàng hóa, dịch vụ mà mình có thế mạnh, chi phí thấp, để tối đa hóa lợi nhuận Sự xuất hiện nhiều ngành nghề mới cho phép xã hội phát triển nhanh hơn, mạnh hơn, tốt hơn Các ngành này, bản thân chúng cũng có mối quan

hệ chặt chẽ với nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển

Trung gian thương mại là một loại hình kinh doanh xuất hiện sau, do nhu cầu của xã hội Những người trung gian xuất hiện trong sản xuất, lưu thông hàng hóa vừa giải quyết những bế tắc phát sinh, vừa tạo điều kiện cho sản xuất, tiêu dùng phát triển Mặt khác do chuyên môn hóa nên các nhà trung gian sẽ xây dựng cho mình một hệ thống các mối quan hệ chuyên sâu, thu lượm cho mình nhiều kiến thức, kinh nghiệm quý báu mà các nhà sản xuất, kinh doanh không thể có được Chẳng hạn, trong lĩnh vực thuê tàu chở hàng, những người môi giới với lợi thế quen biết rộng, họ có thể biết được các thông tin về tàu, về tuyến đường, mức cước của rất nhiều hãng tàu nên họ có thể dễ dàng lựa chọn cho các chủ hàng một tuyến đường, một con tàu hay các điều khoản trong hợp đồng có lợi nhất cho người thuê tàu

Trang 16

Trung gian ra đời đã mang lại cho nền kinh tế nhiều lợi ích to lớn:

- Đẩy mạnh phân công lao động xã hội phát triển

- Giảm bớt thời gian, công sức của các nhà sản xuất, kinh doanh trong việc nghiên cứu, tìm hiểu thị trường

2 Trung gian thương mại đối với người xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa

2.1 Đối với người xuất khẩu hàng hóa

- Giảm bớt chi phí nghiên cứu, tìm hiểu, xâm nhập thị trường xuất khẩu, khách hàng

- Có thể sử dụng được thị trường cùng các dịch vụ trợ giúp, nguồn tài chính của người trung gian

- Có thể sử dụng được cơ sở vật chất của người trung gian trong khi tiêu thụ hàng (kho tàng, hệ thống cửa hàng, hệ thống thông tin, đội ngũ nhân viên bán hàng…)

- Có thể giảm bớt được các rủi ro, rắc rối trong quan hệ với những người tiêu dùng và các khách hàng trực tiếp trên thị trường

2.2 Đối với người nhập khẩu hàng hóa

- Giảm bớt chi phí nghiên cứu, tìm hiểu, xâm nhập thị trường nhập khẩu, khách

hàng

- Có thể sử dụng được cơ sở vật chất của người trung gian trong khi nhập hàng

(kho tàng, hệ thống cửa hàng, hệ thống thông tin, đội ngũ nhân viên…)

- Có thể giảm bớt được các rủi ro, rắc rối trong quan hệ với những người bán và

các khách hàng trực tiếp trên thị trường

2.3 Trung gian thương mại với các ngành dịch vụ

- Nhờ có người trung gian tập trung cung, cầu về một loại dịch vụ nào đó mà

người kinh doanh có kế hoạch phục vụ tốt hơn

- Các ngành dịch vụ có điều kiện tập trung sức lực, tiền của để xây dựng và phát

triển ngành nghề, trang bị các máy móc thiết bị mới, hiện đại hơn

- Các ngành dịch vụ có thể giảm bớt các chi phí quảng cáo…

Trang 17

III TRUNG GIAN THƯƠNG MẠI THEO LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VÀ HOA KỲ

1 Các loại hình trung gian thương mại

1.1 Theo Luật Thương mại Việt Nam

Theo luật Thương mại Việt Nam 2005, các hoạt động trung gian thương mại bao gồm: đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa và đại lý thương mại

1.1.1 Đại diện cho thương nhân (Represent the Deales)

Điều 141 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 định nghĩa: “Đại diện cho

thương nhân là việc một thương nhân nhận ủy nhiệm (gọi là bên đại diện) của thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện) để thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó và được hưởng thù lao về việc đại diện”

Hình thức này xuất hiện khi kim ngạch buôn bán chưa lớn, việc đặt văn phòng đại diện

là không có lợi, hay người giao đại diện gặp rất nhiều khó khăn về mặt nhân sự… Ví

dụ, tại thị trường Đông Âu, sau khi Liên bang Xô viết sụp đổ, quan hệ buôn bán, thanh toán… của Việt Nam với các nước trên thị trường này bị trục trặc, nhưng đây lại là thị trường truyền thống của Việt Nam khi đó Nhiều nhà máy, xí nghiệp, máy móc thiết bị đang cần các nguyên liệu, phụ tùng thay thế… Để thiết lập quan hệ buôn bán, các công

ty đã sử dụng hình thức lập văn phòng đại diện, chi nhánh hay công ty con Cách làm này có nhiều lợi thế, nhưng chi phí sẽ rất lớn: chi phí văn phòng, chi phí đi lại, ăn ở, giao dịch, lương… Các công ty Việt Nam còn có thể cử người của mình đến các nước

sở tại để làm đại diện nhưng nhiều khi các đại diện này không thông thạo đường xá, ngoại ngữ, không nắm bắt được tình hình thị trường… cho nên hiệu quả hoạt động rất thấp, nhiều hợp đồng đã bị đổ bể Để tránh các rủi ro đó, các công ty đã tích cực sử dụng các lưu học sinh, nghiên cứu sinh, công nhân lao động làm đại diện cho mình Những người đại diện này lúc đầu được công ty trả lương tháng có kèm các chi phí cần thiết cho hoạt động, việc làm này đã dẫn đến việc thua lỗ của nhiều công ty do không kiểm soát được chi phí Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đại diện, các công ty

đã dùng hình thức trả thù lao theo kết quả công việc mà người đại diện làm được Cách

Trang 18

làm này đã góp phần làm cho hình thức đại diện cho thương nhân phát triển, một người

có thể làm đại diện cho nhiều công ty về các loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau nhằm thu được nhiều thù lao hơn Khi làm cho công ty nào, họ lấy danh nghĩa của công ty

đó Tuy nhiên, hợp đồng do người đại diện ký kết với khách hàng sẽ đứng tên của người giao đại diện, điều này đã làm cho khách hàng thiếu sự tin tưởng vào tư cách pháp lý của đối tác Nhiều hợp đồng đã được ký kết với những thương nhân không có khả năng thanh toán hay độ tín nhiệm thấp trong những những năm qua giữa các công

ty Việt Nam với các khách hàng nước ngoài là những ví dụ minh chứng

1.1.2 Môi giới thương mại (Broker)

giống nhau

Theo Điều 150, Luật Thương mại Việt Nam 2005 qui định: “Môi giới thương

mại là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân làm trung gian (gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới” Trong khái niệm trên, Luật Thương mại Việt Nam mới

chỉ đề cập đến phạm vi hoạt động của người môi giới là lĩnh vực mua bán hàng hóa và cung ứng các dịch vụ liên quan đến việc mua bán hàng hóa, như mua bán ở Sở giao dịch, tìm khách hàng… còn các dịch vụ khác có liên quan như thuê tàu, mua bảo hiểm, giao nhận, làm thủ tục hải quan… lại được đề cập đến trong các đạo luật khác như:

Luật Hải quan, Luật Hàng hải, Luật Bảo hiểm…

Trong lĩnh vực hàng hải, Điều 166 Bộ Luật Hàng hải Việt Nam năm 2005 qui

định: “Môi giới hàng hải là dịch vụ làm trung gian trong việc giao dịch, đàm phán, ký

kết hợp đồng vận chuyển, hợp đồng bảo hiểm hàng hải, hợp đồng cho thuê tàu, hợp

Trang 19

đồng mua bán tàu, hợp đồng lai dắt, hợp đồng thuê thuyền viên và các hợp đồng khác

có liên quan đến hợp đồng hàng hải theo hợp đồng môi giới hàng hải” Qua khái niệm

trên, chúng ta có thể hình dung được lĩnh vực hoạt động của người môi giới Khái niệm này về mặt câu từ có khác so với Luật Thương mại 2005 nhưng về cơ bản đã khắc họa

được bản chất và công việc của người môi giới

Luật Kinh doanh Bảo hiểm Việt Nam năm 2000 cũng đã nêu doanh nghiệp môi giới bảo hiểm là doanh nghiệp hoạt động môi giới theo qui định của Luật kinh doanh

bảo hiểm và các qui định của pháp luật có liên quan

Mặc dù làm tư vấn và bảo vệ quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm, nhưng môi giới bảo hiểm lại nhận hoa hồng bảo hiểm từ doanh nghiệp bảo hiểm Tập quán bảo hiểm và Luật bảo hiểm của các nước trên thế giới, khi đề cập đến hoạt động môi giới đều qui định vấn đề này Khoản 1 Điều 91 Luật Kinh doanh Bảo hiểm Việt Nam

qui định: “Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm được hưởng hoa hồng môi giới bảo hiểm

Hoa hồng môi giới bảo hiểm được tính trong phí bảo hiểm”

Để tránh việc môi giới sử dụng sức ép buộc các doanh nghiệp bảo hiểm phải chấp nhận dịch vụ xấu, phạm vi bảo hiểm rộng và phí bảo hiểm thấp, Nghị định

42/2001/NĐ-CP ngày 1/8/2001 của Chính Phủ qui định: “Doanh nghiệp môi giới bảo

hiểm chỉ được tư vấn, giới thiệu cho bên mua bảo hiểm các quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm đã được Bộ Tài chính ban hành, phê chuẩn hoặc doanh nghiệp bảo hiểm

đã đăng ký với Bộ Tài chính”

Điều 92 Luật Kinh doanh Bảo hiểm qui định: “Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm

phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho hoạt động môi giới bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động ở Việt Nam” Ở Việt Nam hiện nay đang còn nhiều

cách hiểu về môi giới tuỳ theo ngành nghề và điều đó cũng có thể dẫn đến việc vận dụng giải thích về cùng một vấn đề chung trong hoạt động thương mại sẽ có khác nhau

Vì vậy, trong Điều 4 Luật Thương mại Việt Nam 2005 qui định:

“- Hoạt động thương mại phải tuân thủ Luật Thương mại và pháp luật có liên quan

- Hoạt động thương mại đặc thù được qui định trong luật khác thì áp dụng qui định của luật đó”

Trang 20

Như vậy, có thể thấy khái niệm được đưa ra trong Luật Thương mại Việt Nam

2005 là tiêu biểu hơn cả

* Môi giới thương mại có một số đặc điểm cơ bản sau:

- Quan hệ giữa người uỷ thác và môi giới là quan hệ hợp đồng từng lần, ngắn

hạn Đặc điểm này là do tính chất công việc của người môi giới Họ chỉ là cầu nối giữa

hai bên mua và bán hàng hoá hay cung ứng dịch vụ Mỗi một người môi giới chủ yếu

hoạt động trong một lĩnh vực chuyên môn nhất định, nay họ làm với người này mai với

người khác và cũng chỉ trong những trường hợp, hoàn cảnh nhất định mà thôi Ví dụ,

do không có thời gian hoặc do khan hiếm tàu, người xuất nhập khẩu có thể nhờ người

môi giới chỉ dẫn thuê phương tiện chuyên chở hàng hoá, nhưng trong lúc khác dịch vụ

đó lại không cần thiết, họ có thể tự mình lo liệu được

- Người môi giới không đại diện cho quyền lợi của một bên nào

Người môi giới là một trung gian đơn thuần giữa hai bên mua và bán, cho nên

họ không đại diện cho quyền lợi của ai Người môi giới không chịu trách nhiệm về khả

năng thanh toán của người được môi giới, nhưng người môi giới phải chịu trách nhiệm

về tư cách pháp lý của các bên được môi giới

- Người môi giới không tham gia việc thực hiện hợp đồng giữa các bên trừ khi

được bên môi giới cho phép bằng giấy uỷ quyền

Người môi giới trong lĩnh vực hàng hải có thể tham gia vào việc giao nhận

hàng, làm thủ tục hải quan Người môi giới trong lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hoá

cũng có thể thay mặt chủ hàng thu tiền hàng… nhưng nói chung những công việc như

trên là không nhiều

1.1.3 Uỷ thác mua bán hàng hoá

Theo Điều 155, Luật Thương mại Việt Nam 2005: “Uỷ thác mua bán hàng hoá

là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận uỷ thác thực hiện việc mua bán hàng hoá

với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác và được

nhận thù lao uỷ thác”

Trang 21

Người nhận uỷ thác có thể được nhận uỷ thác của nhiều bên, nhưng chỉ được nhận các công việc mua bán các loại hàng hoá phù hợp với ngành nghề kinh doanh của

mình Tất cả các hàng hoá lưu thông được đều được uỷ thác mua bán

Trong uỷ thác mua bán chúng ta có thể chia thành:

- Uỷ thác mua

- Uỷ thác bán hay còn gọi là ký gửi hàng hoá

Nếu chia theo phạm vi uỷ thác chúng ta còn gặp:

- Uỷ thác đóng, tức chỉ dẫn mua bán trên một thị trường nhất định, theo giá hay với số tiền qui định…

- Uỷ thác mở, cho phép người nhận uỷ thác được thực hiện công việc không bị các ràng buộc hạn chế

Bên nhận uỷ thác có các quyền và nghĩa vụ: yêu cầu cung cấp thông tin, nhận thù lao, mua bán hàng hoá theo thoả thuận, bảo quản hàng hoá, tài liệu, thông báo các thông tin liên quan đến thực hiện hợp đồng, giữ bí mật, không chịu trách nhiệm về hàng hoá sau khi đã bàn giao cho bên uỷ thác…

1.1.4 Đại lý (Agent)

a Trong lĩnh vực kinh doanh thương mại không phải lúc nào người mua, người

bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ cũng có đủ điều kiện để tham gia thực hiện hợp đồng

Họ có thể gặp khó khăn về thời gian hay thị trường, hoặc nếu có tham gia cũng không

có lợi, vì vậy những người mua, người bán rất cần đến một loại hình dịch vụ khác đó là đại lý

Điều 166 Luật Thương mại Việt Nam 2005 qui định: “Đại lý thương mại là

hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao” Như vậy đại lý không chỉ liên

quan đến hoạt động mua bán đơn thuần mà còn bao gồm cả hoạt động cung ứng các

Trang 22

dịch vụ kèm theo (như dịch vụ trong các lĩnh vực vận tải, bảo hiểm, giao nhận hàng hoá, làm thủ tục hải quan, giám định…)

b Đặc điểm của đại lý

Đại lý khác với môi giới vì chúng có những đặc điểm sau:

- Người đại lý được đứng tên trên hợp đồng

Như vậy người đại lý đã trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ Họ thay mặt người giao đại lý xử lý tất cả những vấn đề có liên quan đến mua bán với khách hàng Điều này cũng sẽ giúp cho người giao đại lý giải quyết được các bế tắc trong kinh doanh như: không được phép xuất nhập khẩu trực tiếp, sử dụng các dịch vụ của người đại lý, tránh các rắc rối do không hiểu biết luật pháp của nước sở tại

- Quan hệ giữa người đại lý và người uỷ thác là quan hệ hợp đồng dài hạn

Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà quan hệ giữa đại lý và người uỷ thác là mối quan hệ lâu dài, nó chỉ được chấm dứt khi có thoả thuận trong hợp đồng, hay được một hoặc cả hai bên có ý muốn chấm dứt bằng việc thông báo cho phía bên kia bằng văn bản Điều này khác hẳn với quan hệ giữa người uỷ thác và người môi giới

- Bên uỷ thác là người chủ sở hữu về hàng hoá hay tiền tệ đã được giao cho

người đại lý

c Trình tự mua bán qua đại lý

Đại lý hoạt động nhân danh chính mình với chi phí của người uỷ thác để mua bán hàng hoá hay cung ứng dịch vụ theo giá do người uỷ thác quyết định cho khách hàng và được hưởng tiền thù lao Theo qui định của nhà nước Việt Nam, đại lý sẽ thay mặt người uỷ thác giao dịch ký kết hợp đồng với khách hàng và là người đứng tên trên hợp đồng với khách hàng, thực hiện hợp đồng vì lợi ích của người uỷ thác và được hưởng tiền hoa hồng Mức hoa hồng được tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá mua, giá bán hàng hoá hay cung ứng dịch vụ Thông thường mức thù lao của người đại lý hoa

Trang 23

hồng sẽ được các bên qui định trong hợp đồng tuỳ theo loại hàng hoá, dịch vụ, phương thức cung cấp, thị trường Tiền hoa hồng sẽ được thanh toán vào lúc thanh toán tiền hàng, điều này cũng có nghĩa tiền hàng bị đọng, vốn của người uỷ thác không thể quay vòng, cho nên trong hợp đồng cần hết sức chú ý đến thời gian, tốc độ thực hiện công việc uỷ thác

Mô hình 1 Mua bán qua đại lý

Điều 169 Luật Thương mại Việt Nam 2005 đã phân chia đại lý thành các loại:

 Đại lý bao tiêu (Merchant Agent)

Là loại đại lý hoạt động mua bán trọn vẹn một khối lượng hàng hoá hoặc cung ứng đầy đủ một dịch vụ Mức thù lao mà người đại lý bao tiêu được hưởng là mức chênh lệch giá giữa giá mua, giá bán, giá cung ứng dịch vụ cho khách hàng so với giá

do bên uỷ thác ấn định cho bên đại lý Như vậy, lợi nhuận của nhà đại lý phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của họ Sử dụng loại đại lý này, người uỷ thác sẽ tránh bị đọng vốn hàng và vẫn khống chế được người đại lý Về phía người đại lý bao tiêu mặc dù phải chi trước tiền để thanh toán nhưng cũng sẽ nhận được khoản lợi nhuận lớn hơn nếu họ biết tổ chức nghiệp vụ một cách hợp lý Quyền chủ động trong việc tổ chức tiêu thụ hàng hoá thuộc về phía người đại lý cho nên loại đại lý này cũng hay gặp trong thương mại quốc tế

Người

uỷ

thác

Đại lý hoa hồng

Khách hàng

T.T tiền hoa hồng

HĐ uỷ thác

HĐ mua bán

Trang 24

Mô hình 2 Sơ đồ mua bán qua đại lý bao tiêu

1 Người uỷ thác cung cấp hàng hoá, dịch vụ

2 Người đại lý thanh toán tiền hàng theo giá nhận đại lý

3 Đại lý giao hàng cho khách

4 Khách hàng thanh toán tiền hàng theo đơn giá bán

 Đại lý độc quyền (Sole Agent)

Nếu như tại một khu vực địa lý không chỉ có một người đại lý mà có hai, ba hoặc nhiều hơn nữa thì quyền lợi của người đại lý sẽ bị ảnh hưởng, chính vì vậy họ chỉ muốn làm người đại lý duy nhất Người uỷ thác khi đó sẽ không giao quyền đại lý cho những người khác, thậm chí cũng không được trực tiếp mua bán hàng hoá hay dịch vụ trong khu vực địa lý do người đại lý quản lý Nếu như người uỷ thác trực tiếp tiến hành các nghiệp vụ liên quan đến mua bán hay qua những người khác thì người đại lý vẫn được nhận tiền thù lao từ khối lượng công việc nói trên

Về bản chất, loại đại lý này có thể là đại lý hoa hồng hoặc đại lý bao tiêu Việc phân loại như trên là xuất phát từ quyền lợi của người đại lý

 Tổng đại lý (General Agent)

Khách hàng

Đại lý bao tiêu

Trang 25

Mô hình 3 Sơ đồ mua bán qua tổng đại lý

1 Người uỷ thác cung cấp hàng hoá

2 Tổng đại lý giao hàng và quản lý các đại lý trực thuộc

3 Đại lý trực thuộc giao hàng cho khách

4 Khách hàng thanh toán tiền hàng theo đơn giá bán

Tổng đại lý mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ là hình thức đại lý, theo đó bên đại lý tổ chức một hệ thống đại lý trực thuộc để thực hiện việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ cho bên uỷ thác Tổng đại lý thường được sử dụng tại những thị trường lớn, nhu cầu phân tán hay người uỷ thác muốn quản lý tập trung Tổng đại lý sẽ đại diện cho hệ thống đại lý trực thuộc, những đại lý trực thuộc sẽ hoạt động dưới sự quản

lý của tổng đại lý và với danh nghĩa của tổng đại lý

Với cách tổ chức này người uỷ thác sẽ tiết kiệm được công sức và chi phí do phải quản lý người đại lý của mình Việc bố trí nhiều đại lý trực thuộc sẽ giúp cho tổng đại lý khống chế được thị trường, tăng sức cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu thị trường nhanh chóng hơn

 Các loại đại lý khác (tuỳ theo sự thoả thuận của các bên)

Tuỳ theo quyền của đại lý, tính chất hàng hoá… chúng ta còn có thể gặp các loại đại lý sau:

+ Đại lý gửi bán (Cosignee)

Người

uỷ thác

Tổng đại lý

Đại lý trực thuộc

Đại lý trực thuộc

Khách hàng

Khách hàng

Trang 26

Đại lý gửi bán thực chất là một loại đặc biệt của đại lý hoa hồng Việc gửi bán hàng hoá hiện nay rất thông dụng trong thương mại nội địa cũng như trong thương mại quốc tế Người đại lý sẽ được uỷ thác bán hàng từ kho của mình ra thị trường Để làm được việc đó người uỷ thác phải vận chuyển hàng hoá đến kho của người đại lý Loại đại lý này ra đời là do các nguyên nhân sau đây:

- Hàng hoá có tính chất đặc biệt (đồ tươi sống, hàng cần có mặt trên thị trường để người mua lựa chọn…)

- Giá cả thị trường, tiền tệ biến động mạnh, không có lợi cho người đại lý

về nghĩa vụ, trách nhiệm và chi phí các bên phải gánh vác

+ Đại lý giao nhận vận tải (Forwarding Agent)

Theo định nghĩa của Liên đoàn quốc tế các Hiệp hội giao nhận (FIATA), người giao nhận vận tải quốc tế là người lo toan để hàng hoá được chuyên chở theo hợp đồng

uỷ thác mà bản thân anh ta không phải là người vận tải Người giao nhận cũng đảm nhận thực hiện mọi công việc liên quan đến giao nhận như bảo quản, lưu kho, làm thủ tục hải quan, kiểm tra hàng hoá…

Trang 27

Mô hình 4 Sơ đồ quan hệ giữa các bên trong giao nhận

Chú thích: HĐ - hợp đồng

Cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế và sự tiến bộ kỹ thuật của ngành vận tải mà dịch vụ giao nhận cũng được mở rộng hơn Ngày nay, người giao nhận đóng vai trò quan trọng trong thương mại quốc tế và vận tải quốc tế Người giao nhận không chỉ làm các thủ tục hải quan, hoặc thuê tàu mà còn cung cấp dịch vụ trọn gói về toàn bộ quá trình vận tải và phân phối hàng hoá Ở các nước khác nhau, người kinh doanh dịch

vụ giao nhận được gọi với các tên gọi khác nhau: Đại lý hải quan, môi giới hải quan, đại lý thanh toán, đại lý gửi hàng và giao nhận, người chuyên chở chính…

Tham gia trong quan hệ giữa người mua, người bán không chỉ có người kinh doanh phương tiện vận chuyển mà còn có những người kinh doanh các dịch vụ giao nhận vận chuyển hàng hoá Những người này sẽ thay mặt người mua, người bán lo việc giao nhận, vận chuyển hàng hoá với một phạm vi rất rộng

+ Đại lý làm thủ tục hải quan (Customs Agent)

HĐ dịch vụ

Chính Phủ

Bộ Thương mại Hải quan

Người gửi

hàng

Người nhận hàng

Người giao nhận

Ngân

hàng

Người chuyên chở

Bảo hiểm

Giám định

HĐ uỷ thác

HĐ uỷ thác

Trang 28

Loại hình tổ chức kinh doanh dịch vụ này được hình thành vào đầu thế kỷ 19 ở Hoa Kỳ và một số quốc gia Châu Âu Nguyên nhân ban đầu là do khó khăn trong khâu

tổ chức sắp xếp hàng hoá qua biên giới với sự rườm rà, khắt khe của quy tắc làm thủ tục hải quan, sau đó do chuyên môn hoá nên việc kinh doanh dịch vụ thủ tục hải quan

đã tách thành một nghề độc lập Ngày nay kinh doanh dịch vụ thủ tục hải quan đã phát triển trên phạm vi toàn thế giới

Hoa Kỳ là quốc gia có nghề kinh doanh dịch vụ hải quan phát triển nhất Hiệp hội các nhà kinh doanh dịch vụ thủ tục hải quan được thành lập ngày 22/3/1897 tại cảng New York và sau đó được đổi tên thành Hiệp hội dịch vụ thủ tục hải quan và giao

nhận Hoa Kỳ (NCBFA - National Customs Brokers and Forwarders Association)

Người kinh doanh dịch vụ hải quan tại Hoa Kỳ sẽ được Hải quan Hoa Kỳ cấp phép và quản lý Ngày nay hoạt động của Hiệp hội này đã rộng khắp nước Hoa Kỳ thông qua mạng lưới thông tin hiện đại Hiệp hội này cũng có tiếng nói quyết định trong Liên

đoàn quốc tế các hiệp hội những người kinh doanh dịch vụ thủ tục hải quan (IFCBA –

International Federation of Customs Brokers Associations)

Điều 21, Luật Hải quan Việt Nam năm 2005 qui định: “Đại lý làm thủ tục hải

quan là người khai hải quan theo sự uỷ quyền của người có quyền và nghĩa vụ trong việc làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất nhập khẩu” Quan hệ giữa người uỷ

thác và người đại lý làm thủ tục hải quan là quan hệ hợp đồng

+ Đại lý đặc biệt (Special Agent): Đây là người đại lý chỉ làm một công việc cụ

thể, nhất định

+ Đại lý toàn quyền (Universal Agent): Là người đại lý thay mặt người uỷ thác

làm mọi việc có liên quan đến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, giao dịch ký kết hợp đồng, giao hàng, thanh toán tiền hàng, giải quyết tranh chấp, nộp thuế, đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá… Đây là loại đại lý nếu như người uỷ thác không biết, giao quyền rộng, có thể gặp nhiều tai họa, ví dụ như việc vi phạm bản quyền…

1.2 Theo Bộ Luật Thương mại Hoa Kỳ

Trang 29

Bộ Luật Thương mại Hoa Kỳ là một bộ luật thương mại thống nhất gắn liền với những giao dịch thương mại đối với sở hữu cá nhân, hợp đồng và những việc khác có liên quan như: mua bán giấy tờ thương mại, tiền gửi ngân hàng, thư tín dụng, vận chuyển hàng hoá, kho hàng, hoá đơn vận chuyển, đầu tư chứng khoán, kế toán thương mại… nhằm thiết lập thống nhất luật pháp với những khía cạnh của nó, và huỷ bỏ

những pháp luật mâu thuẫn

Điều 2 - 210 của Bộ Luật trên đã trực tiếp qui định về trung gian thương mại với

tiêu đề: Uỷ thác và giao quyền Theo đó:

Một bên có thể thực hiện bổn phận của mình thông qua một sự uỷ thác trừ khi

có thoả thuận khác hoặc bên khác có những quyền ưu tiên trong việc giữ nguyên bản việc thi hành bổn phận, thực hiện những hành vi trong hợp đồng Không sự uỷ thác nào giúp đỡ được bên uỷ thác trong bất cứ nghĩa vụ nào của việc thi hành nếu có vi phạm

Trừ khi có những thoả thuận khác, tất cả các quyền của người bán, người mua

có thể được chuyển giao ngoại trừ trường hợp sự chuyển giao đó thực sự làm thay đổi những nghĩa vụ của bên khác, hoặc gia tăng những rủi ro mà anh ta phải cáng đáng trong hợp đồng, hoặc làm hư hại đến những cơ hội đạt được Quyền làm phá vỡ hợp đồng hoặc một quyền phát sinh ngoài quyền lực của người uỷ thác có thể được chuyển

giao bất chấp các thoả thuận khác

Trừ khi hoàn cảnh đòi hỏi sự trái lại, một sự ngăn cấm uỷ thác sẽ chỉ được hiểu như một sự loại trừ việc uỷ thác nhằm chuyển giao lại công việc của người chuyển

giao

Một sự chuyển giao hợp đồng, những quyền theo hợp đồng hoặc một sự chuyển giao tương tự được coi là sự chuyển quyền Trừ khi ngôn ngữ hoặc hoàn cảnh đòi hỏi trái lại, nó là sự uỷ thác việc thi hành những nghĩa vụ của người chuyển quyền và nó được chấp nhận bởi người được uỷ nhiệm thông qua lời cam đoan thực hiện đúng những nghĩa vụ đó Sự cam đoan này có hiệu lực tương tự bên uỷ quyền hoặc bên khác

đối với hợp đồng gốc

Trang 30

Bên khác có thể coi bất kỳ sự chuyển giao quyền thực hiện nào như một căn cứ hợp lý đối với việc không an toàn, không hợp pháp đối với những quyền của mình và

đòi hỏi một sự bảo đảm từ người được uỷ quyền (theo Điều 2 - 609)

Điều 2 - 609 với tiêu đề: Quyền bảo đảm thoả đáng trong công việc chỉ ra

nghĩa vụ cho các bên trong một hợp đồng mua bán Sự mong chờ của bên kia là những kết quả công việc mà họ được hưởng không thể bị làm sai hỏng Trong việc thực hiện công việc có thể có những lý do làm phát sinh những bất ổn, một bên có thể đình chỉ hợp lý bất kỳ công việc nào cho đến khi anh ta có những văn bản yêu cầu và văn bản

trả lời về những quyền bảo đảm trong thương mại

Trong việc buôn bán, những lý do làm phát sinh những bất bảo đảm hoặc những

lý do của bất kỳ sự bảo đảm nào sẽ được xác định theo những tiêu chuẩn thương mại

Việc chấp nhận bất kỳ sự giao hàng hoá, sự thanh toán sai lệch nào sẽ không làm tổn hại đến quyền của bên thua kiện trong việc anh ta đòi hỏi những bảo đảm thoả

đáng đối với những công việc trong tương lai

Sau khi có yêu cầu, trong vòng 3 ngày mà không có những bảo đảm thoả đáng đối với công việc, tuỳ theo từng hoàn cảnh và trường hợp cụ thể, điều đó có nghĩa hợp đồng bị khước từ

2 Điều kiện để trở thành trung gian thương mại

Theo pháp luật Việt Nam, muốn trở thành trung gian thương mại phải hội tụ được các điều kiện:

- Phải là thương nhân theo luật định, có đủ năng lực pháp lý và năng lực hành

vi

- Hoạt động trong phạm vi ngành nghề đăng ký

- Có trụ sở

- Có vốn và tự chịu trách nhiệm về nguồn vốn của mình

- Được dùng danh nghĩa của mình trong hoạt động kinh doanh

Trong các lĩnh vực khác nhau, điều kiện để trở thành trung gian cũng khác nhau

Ví dụ, trong lĩnh vực hải quan, muốn trở thành đại lý làm thủ tục hải quan phải thỏa

Trang 31

mãn các điều kiện qui định tại Điều 2 Nghị định 79/2005/NĐ-CP ngày 16 tháng 6 năm

2005 và Mục II khoản 1 Thông tư 73/2005/TT-BTC ngày 5 tháng 9 năm 2005 Các điều kiện đó là:

- Đăng kí kinh doanh theo luật định

- Có ngành nghề kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu hoặc dịch vụ khai thuê hải quan ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

- Có ít nhất (01) nhân viên đại lý hải quan

- Đáp ứng điều kiện nối mạng máy tính với cơ quan Hải quan để thực hiện thủ tục hải quan điện tử tại các Cục Hải quan tỉnh, thành phố đã thực hiện thủ tục hải quan điện tử

Nhân viên đại lý hải quan phải thỏa mãn các điều kiện qui định tại Điều 3 Nghị định 79/2005/NĐ-CP:

- Là công dân Việt Nam

- Có bằng từ trung cấp trở lên thuộc các ngành kinh tế, luật

- Có chứng chỉ về nghiệp vụ khai hải quan

Mục II khoản 3 Thông tư 73/2005/TT-BTC có hướng dẫn chi tiết thêm:

- Bằng trung cấp phải là bằng chính quy thuộc các chuyên ngành kinh tế hoặc pháp luật

- Các nhân viên của các doanh nghiệp chuyên kinh doanh dịch vụ giao nhận, vận tải và đã trực tiếp làm thủ tục hải quan từ 01 năm trở lên nếu có bằng chính quy của các trường từ trung cấp trở lên, cho dù không phải là trường kinh tế và pháp luật thì vẫn coi là đủ điều kiện

Nghị định số 115/2007/NĐ-CP ngày 5-7-2007 của Chính phủ qui định về điều kiện kinh doanh dịch vụ vận tải biển, trong đó bao gồm dịch vụ đại lý tàu biển Điều 3

Nghị định này qui định: “Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ đại lý tàu biển phải

thành lập doanh nghiệp theo qui định của pháp luật Trường hợp doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì tỷ lệ phần vốn góp của các bên nước ngoài không vượt quá 49% tổng số vốn điều lệ của doanh nghiệp”

Trang 32

IV CÁC HÌNH THỨC TRUNG GIAN THƯƠNG MẠI TRÊN THẾ GIỚI

Trên thế giới, trung gian thương mại thường được chia thành: Môi giới, đại lý,

nhà phân phối

1 Môi giới (Broker)

Các quan niệm về môi giới thương mại trên thế giới cũng giống như của Việt

Nam Người trung gian chỉ đơn thuần chịu trách nhiệm giao dịch giữa người mua và

người bán, họ không đứng tên trên hợp đồng và không chịu trách nhiệm về việc thực

hiện hợp đồng của người mua, người bán

2 Đại lý (Agent)

Đại lý hoạt động với danh nghĩa và chi phí của người uỷ thác để thực hiện công

việc được uỷ thác Trong thương mại quốc tế, hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ

được thiết lập giữa bên mua và bên bán thông qua một đại lý ở nước ngoài được xem

như một phần trong chiến lược marketing của họ Trong thực tiễn xuất khẩu, người sản

xuất, xuất khẩu tìm đại lý nước ngoài thông dụng hơn người nhập khẩu Người xuất

khẩu có thể không tự lựa chọn được khách hàng nước ngoài nên đã sử dụng đại lý để

đánh giá khách hàng và khả năng thanh toán của họ Nếu khả năng thanh toán của

khách hàng không đảm bảo, người uỷ thác có thể yêu cầu đại lý đứng ra đảm bảo thanh

toán Khi đó đại lý được gọi là đại lý đảm bảo thanh toán Ở Châu Âu, đại lý thương

mại được qui định trong Chỉ thị số 86/653/EEC của Cộng đồng Châu Âu về điều hoà

luật các nước thành viên có liên quan đến đại lý thương mại tự doanh Tại điều 1 mục 2

của Chỉ thị này qui định: “Đại lý thương mại là một người trung gian tự doanh, có

quyền thoả thuận mua hay bán hàng hoá thay mặt cho người uỷ thác hoặc thoả thuận

và ký kết những giao dịch này thay mặt hoặc nhân danh người uỷ thác”

Trên thế giới, người ta phân chia đại lý thành các loại sau:

2.1 Phân theo quyền của người đại lý

a Đại lý thường

Trang 33

Là người đại lý được người uỷ thác giao quyền mua bán hàng hoá hay cung ứng dich vụ, nhưng người uỷ thác cũng có thể giao một quyền tương tự cho bên thứ ba hoặc

tự mình thực hiện công việc Việc làm này của người uỷ thác sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của người đại lý, nên hình thức này ít được ưa dùng

b Đại lý độc quyền

c Đại lý toàn quyền

d Đại lý đặc biệt

c Tổng đại lý

2.2 Phân theo nghiệp vụ

a Đại lý xuất khẩu

2.3 Phân theo tính chất của mối quan hệ

a Đại lý thụ uỷ (Mandatory)

Là người hoạt động nhân danh người uỷ thác với chi phí của người uỷ thác Qui định với loại đại lý này giống với các qui định về đại diện cho thương nhân trong Luật Thương mại của Việt Nam

b Đại lý hoa hồng (Commision Agent)

c Đại lý bao tiêu (Merchant Agent)

Là người kinh doanh tiêu thụ, hoạt động nhân danh mình với chi phí của người đại lý nhận tiêu thụ một loại hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó và được nhận một khoản thù lao là mức chênh lệch giá giữa giá nhận của người uỷ thác và giá bán cho khách hàng

d Đại lý gửi bán (Consignee)

Trang 34

Là người đại lý nhận bán hàng từ kho của mình ra thị trường Đây là một hình thức đặc biệt của đại lý hoa hồng và cách quan niệm cũng giống như quan niệm trong Luật Thương mại Việt Nam về uỷ thác bán hàng

Trên thế giới, quan niệm về đại lý còn được thể hiện trong các khái niệm về nhà phân phối hay nhượng quyền thương mại

2.4 Nhà phân phối (Distributor)

Không như đại lý, nhà phân phối mua bán hàng hoá hoàn toàn theo quyền tự chủ của mình Người xuất khẩu thoả thuận cung cấp hàng hoá cho một nhà phân phối trong thời hạn nhất định, nhà phân phối sẽ bán hàng cho người tiêu dùng ở nước sở tại Điều này có nghĩa người xuất khẩu không phải ký nhiều hợp đồng bán hàng cho khách

mà họ chỉ cần ký một hợp đồng với nhà phân phối trên nước nhập khẩu mà thôi Trong thương mại quốc tế các thoả thuận phân phối thường mang tính chất độc quyền Chúng

ta có thể gặp các nhà phân phối hàng hoá nước ngoài ở Việt Nam đối với các sản phẩm như: xe máy, nước hoa, linh kiện máy tính…

Các thoả thuận phân phối độc quyền có tác động rất lớn đến cạnh tranh Do nhà phân phối là người bán hàng duy nhất, nên anh ta đã định ra một mức giá thị trường cho sản phẩm mà không phải cạnh tranh với các nhà cung cấp khác Mặt khác do chỉ phải quan hệ với một nhà phân phối độc quyền nên chi phí đã giảm thiểu, điều đó sẽ thúc đẩy khả năng cạnh tranh của sản phẩm cùng loại Ở Châu Âu, để điều chỉnh hoạt động của loại hình kinh doanh này Liên minh Châu Âu đưa ra quy chế số 1983/ 83 về việc áp dụng điều 85(3) của Hiệp ước đối với loại thoả thuận phân phối độc quyền

Như vậy nhà phân phối theo quan niệm ở đây sẽ mang đặc tính của một nhà đại

lý bao tiêu, đại lý độc quyền và lại có cả đặc tính của người nhận uỷ thác bán hàng

2.5 Nhượng quyền thương mại (Franchising)

Trong thương mại quốc tế, vấn đề nhượng quyền thương mại đã được nói đến từ

lâu với khái niệm Franchising từ thế kỷ 19 Franchising là một hình thức bán hàng

hoá, dịch vụ phổ biến hiện nay Ở Việt Nam nhượng quyền thương mại lần đầu tiên đã xuất hiện trong Luật Thương mại 2005 và được qui định từ Điều 284 - 291

Trang 35

Trên thế giới, Franchise xuất hiện ở nhiều ngành nghề: sản phẩm và dịch vụ

công nghiệp, bán buôn và bán lẻ hàng hoá, bảo hiểm, du lịch, sản phẩm và dịch vụ ô tô,

sản phẩm và dịch vụ xây dựng… Sự phát triển của Franchise rất mau lẹ nhờ những lợi ích to lớn mà Franchise đem lại cho cả người giao và người nhận Trong thương mại quốc tế, Franchise đã được sử dụng để tăng cường xuất khẩu

Người nhận quyền thương mại có thể là một đại lý bao tiêu, nhưng họ bán hàng hoá hay dịch vụ gắn liền với thương hiệu, sự hỗ trợ của người giao quyền Giữa đại lý bao tiêu, nhà phân phối và nhượng quyền thương mại có sự giống và khác nhau

Sự giống nhau

- Nhận uỷ thác bán các hàng hoá, dịch vụ cho bên uỷ thác và được hưởng thù lao

- Phải chịu sự kiểm soát của bên uỷ thác

Khác nhau

- Nhượng quyền thương mại gắn liền với quyền sở hữu trí tuệ

Vì vậy ở Việt Nam, ngoài sự chi phối của pháp luật Việt Nam, nhượng quyền thương mại còn bị điều chỉnh bởi các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết

như: Công ước Paris năm 1883, Công ước Maldrit 1891, Hiệp định TRIPS…

- Quyền và nghĩa vụ của các bên:

Trong hợp đồng nhượng quyền thương mại nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên

có liên quan sẽ rộng hơn so với trong hợp đồng đại lý bao tiêu

Nếu như trong hợp đồng đại lý bao tiêu, quyền sở hữu hàng hóa, dịch vụ vẫn thuộc người ủy thác thì trong hợp đồng nhượng quyền bên giao sẽ nhượng quyền sử dụng đối tượng trong một khoảng thời gian và tại một khu vực địa lý nhất định

Trong hợp đồng đại lý, bên ủy thác hướng dẫn cung cấp thông tin, chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa và dịch vụ, trả thù lao, liên đới chịu trách nhiệm trong trường hợp đại lý vi phạm pháp luật mà nguyên nhân là do bên ủy thác gây ra Đồng thời người ủy thác được quyền ấn định giá hàng hóa, dịch vụ, kiểm tra giám sát người đại lý, yêu cầu đại lý thanh toán tiền hàng và thực hiện các biện pháp đảm bảo theo yêu cầu của pháp luật Trong hợp đồng nhượng quyền, người nhượng quyền có quyền và

Trang 36

nghĩa vụ: được nhận tiền nhượng quyền, đào tạo, cung cấp trợ giúp kỹ thuật, tổ chức quảng cáo, thiết kế, sắp xếp địa điểm bán hàng với chi phí của người nhận quyền, kiểm tra định kỳ hay đột xuất

Đối với bên nhận đại lý bao tiêu có quyền yêu cầu bên giao hướng dẫn, cung cấp thông tin để thực hiện hợp đồng, quyết định giá bán cho khách hàng, được hưởng thù lao theo qui định, có nghĩa vụ bán hàng hóa, dịch vụ theo giá qui định, thực hiện các biện pháp đảm bảo theo qui định của pháp luật, thanh toán tiền cho bên ủy thác, chịu sự kiểm tra giám sát của bên ủy thác Trong khi đó người nhận quyền thương mại ngoài việc trả tiền nhượng quyền còn phải: đầu tư cơ sở vật chất, nguồn tài chính và nhân lực để tiếp nhận các quyền và bí quyết nghề nghiệp…, tuân thủ các yêu cầu thiết

kế, sắp xếp địa điểm bán hàng, cung ứng dịch vụ, giữ bí mật về bí quyết nghề nghiệp

đã được chuyển giao, được quyền yêu cầu bên giao cung cấp, hỗ trợ đầy đủ kỹ thuật, chuyển giao toàn bộ bí quyết nghề nghiệp đã được thỏa thuận

- Đối tượng của hợp đồng

Khách thể trong hợp đồng đại lý là hàng hóa hay dịch vụ, còn trong hợp đồng nhượng quyền đó lại là quyền sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu trí tụê có hay không gắn liền với hàng hóa hoặc dịch vụ

Trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhượng quyền thương mại trên thực tế đã đem lại cho các bên có liên quan nhiều lợi ích thiết thực

+ Đối với người giao quyền:

- Người giao quyền thương mại sẽ cung cấp ra thị trường các hàng hóa, dịch vụ có chất lượng cao và ổn định thông qua các doanh nghiệp nhận quyền

- Có khả năng thâm nhập và mở rộng thị trường tiêu thụ nhanh hơn vì có hệ thống kinh doanh rộng lớn, đủ sức đáp ứng nhu cầu thị trường

- Phân tán được rủi ro trong kinh doanh

- Giảm chi phí quản lý

- Danh tiếng và uy tín ngày một tăng do có một kênh phân phối mới

+ Đối với người nhận quyền:

Trang 37

- Hạ thấp khả năng bị thất bại trong kinh doanh vì đã được nhà cung cấp hỗ trợ các dịch vụ kỹ thuật cần thiết…

- Nâng cao kinh nghiệm trong việc tổ chức, quản lý, kinh doanh…

- Sẽ có một ngành nghề kinh doanh mới

- Làm sức mua trên thị trường về một loại hàng hóa, dịch vụ nào đó tăng lên

- Lợi nhuận trong kinh doanh được đảm bảo

Khi sử dụng hợp đồng nhượng quyền thương mại, thành công sẽ rất lớn nhưng cũng tiềm ẩn nhiều nguyên nhân thất bại mà các bên phải hết sức lưu ý Những nguyên nhân đó là:

- Khả năng kinh tế yếu kém của người giao quyền nên đã không đủ năng lực phát triển hệ thống kinh doanh sau khi giao quyền

- Lựa chọn người nhận quyền không hợp lý dẫn đến không thể phát triển được hệ thống kinh doanh

Trang 38

V CÁC LOẠI HỢP ĐỒNG TRUNG GIAN THƯƠNG MẠI CHÍNH

1 Hợp đồng môi giới

Trong thương mại, quan hệ giữa người ủy thác - người được môi giới và người môi giới có thể được thiết lập bằng hình thức văn bản hay bằng bất kỳ một hình thức nào theo qui định của luật pháp từng nước Trong thương mại quốc tế quan hệ giữa hai bên - người ủy thác và người môi giới ít khi được thể hiện bằng văn bản vì nhiều nguyên nhân tế nhị khác nhau

Dù vì nguyên nhân nào đi nữa thì thỏa thuận giữa hai bên cần tuân thủ các qui định của pháp luật, như về phạm vi trách nhiệm, nghĩa vụ của các bên… Riêng tiền thù lao cho người môi giới thường được qui định theo một trong hai cách sau đây:

- Tiền thù lao là một số tiền cụ thể Cách qui định này được người ủy thác chọn khi không muốn người môi giới thật tích cực trong việc mua bán hàng hóa nhằm

để giảm giá mua, tăng giá bán

- Tiền thù lao là số lượng phần trăm theo giá mua hay giá bán Cách này sẽ kích thích sự tích cực của người môi giới trong việc tìm kiếm một khách hàng tốt, một mặt hàng hoặc dịch vụ có giá thấp, chất lượng tốt khi đi mua hàng hay bán một mặt hnàg hoặc dịch vụ có giá cao, với số lượng lớn

Trong trường hợp các bên không thể qui định được tiền thù lao thì theo Điều 86

Luật Thương mại Việt Nam 2005: “Tiền thù lao được xác định căn cứ vào giá dịch vụ,

nếu vào thời điểm giao kết hợp đồng, giá dịch vụ không được thỏa thuận về phương pháp xác định cũng như chỉ dẫn, thì theo giá dịch vụ đó trong các điều kiện thương mại thông thường tại thời điểm giao kết hợp đồng về phương thức cung ứng dịch vụ, thời điểm cung ứng, thị trường đại lý, phương thức thanh toán và các điều kiện khác có liên quan”

Theo qui định của Luật Thương mại Việt Nam, hợp đồng môi giới ngoài các điều khoản thông thường, trừ khi có thỏa thuận khác, các bên còn phải tuân thủ các điều kiện khác sau đây:

- Nghĩa vụ của bên môi giới thương mại: Bảo quản mẫu hàng, tài liệu và phải hoàn trả sau khi đã hoàn thành; không được tiết lộ thông tin, cung cấp thông tin

Trang 39

có hại đến bên được môi giới; chịu trách nhiệm về tư cách pháp lý của các bên được môi giới; không tham gia vào việc thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp được yêu cầu

- Bên ủy thác - người được môi giới có nghĩa vụ cung cấp thông tin, tài liệu, phương tiện cần thiết đến hàng hóa hay dịch vụ, trả thù lao cho người môi giới theo thỏa thuận

- Thanh toán tiền thù lao được thực hiện khi bên được môi giới đã giao kết hợp đồng

- Các chi phí phát sinh có liên quan đến môi giới sẽ được bên ủy thác thanh toán ngay cả khi việc môi giới không mang lại kết quả cho người ủy thác

2 Hợp đồng đại lý

Quan hệ giữa người ủy thác và người đại lý thường được thể hiện bằng một hợp đồng chặt chẽ hơn so với môi giới thương mại Nếu như quan hệ giữa người ủy thác và người môi giới là quan hệ từng vụ việc, thì quan hệ với đại lý có tính chất dài hạn hơn

a Bố cục của hợp đồng đại lý

Một hợp đồng đại lý thường có các nội dung chủ yếu sau:

- Phần mở đầu của hợp đồng tức là phần giới thiệu, bao gồm: cơ sở ký kết hợp đồng, các bên trong hợp đồng, người đại diện, địa chỉ giao dịch, điện thoại, điện tín, tên ngân hàng, số tài khoản (nếu có)

- Ngày hiệu lực của hợp đồng và ngày hết hạn

- Sản phẩm

- Khu vực lãnh thổ

- Khách hàng trong hợp đồng

- Quyền và nghĩa vụ của bên ủy thác

- Quyền và nghĩa vụ của bên đại lý

- Giá cả

- Thù lao và chi phí

- Thanh toán

- Thanh lý hợp đồng

Trang 40

- Chữ ký của các bên

b Một số điểm cần lưu ý trong nội dung hợp đồng đại lý

Trong số các điều kiện thỏa thuận ngoài việc tuân thủ các qui định của luật pháp các nước có liên quan, các bên trong hợp đồng phải hết sức lưu ý các loại điều khoản sau:

- Quyền của các bên có liên quan Người đại lý có thể là đại lý thường, đại lý độc quyền, đại lý toàn quyền, đại lý đặc biệt hay tổng đại lý mà quyền hạn của họ có thể rộng hẹp khác nhau và đương nhiên quyền nhận thù lao cũng không giống nhau

- Quyền và nghĩa vụ các bên

+ Bên ủy thác: quyền chấp nhận các đơn đặt hàng, cung cấp thông tin, quyền cấp giấy phép sản xuất ở khu vực đại lý, bảo vệ quyền của đại lý độc quyền, ngăn chặn sự cạnh tranh không lành mạnh, vi phạm quyền sở hữu công nghiệp + Bên đại lý: Bảo vệ lợi ích của bên ủy thác, tuân thủ các điều kiện giao và bán hàng, thông báo cho bên ủy thác, trách nhiệm về quyền sở hữu công nghiệp của người ủy thác, trách nhiệm về doanh thu tối thiểu, quyền được đảm bảo doanh thu tối thiểu

- Hàng hóa, dịch vụ: Ngoài việc qui định tên, số lượng, chất lượng các bên cần qui định thời hạn mua bán, khối lượng mua bán vì vấn đề này có liên quan chặt chẽ đến tính tiền thù lao

- Giá cả hàng hóa, dịch vụ cần qui định chặt chẽ và hợp lý vừa để đảm bảo quyền lợi của các bên và tạo thuận lợi cho quá trình xâm nhập, khống chế thị trường và thuận lợi trong khâu tiêu thụ mua bán hàng hóa, dịch vụ Trong hợp đồng đại lý thường có 3 cách qui định giá cả:

+ Giá sàn được dùng khi thị trường đã xâm nhập cần được khống chế Người ủy thác chỉ cho phép người đại lý bán hàng hóa, dịch vụ trên giá qui định, càng cao

có thể càng tốt, để giúp cho người ủy thác nhanh chóng thu hồi vốn đã bỏ ra trước đây

Ngày đăng: 24/05/2014, 10:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Mô hình 2. Sơ đồ mua bán qua đại lý bao tiêu - Trung gian thương mại trong hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ vào hoa kỳ
h ình 2. Sơ đồ mua bán qua đại lý bao tiêu (Trang 24)
Mô hình 3. Sơ đồ mua bán qua tổng đại lý - Trung gian thương mại trong hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ vào hoa kỳ
h ình 3. Sơ đồ mua bán qua tổng đại lý (Trang 25)
Mô hình 4. Sơ đồ quan hệ giữa các bên trong giao nhận - Trung gian thương mại trong hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ vào hoa kỳ
h ình 4. Sơ đồ quan hệ giữa các bên trong giao nhận (Trang 27)
Hình thức uỷ thác xuất khẩu đƣợc sử dụng rất rộng rãi trong xuất khẩu hàng thủ  công mỹ nghệ nói chung và trong xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ nói riêng - Trung gian thương mại trong hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ vào hoa kỳ
Hình th ức uỷ thác xuất khẩu đƣợc sử dụng rất rộng rãi trong xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ nói chung và trong xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ nói riêng (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w