Tuy thời gian gia nhập WTO của nước ta tính đến nay chưa đầy một năm - khoảng thời gian quá ngắn để đánh giá một cách toàn diện những tác động của việc gia nhập WTO đối với nền kinh tế V
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU 7
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XUẤT NHẬP KHẨU 7
1.1 Khái niệm xuất nhập khẩu 7
1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của hoạt động xuất nhập khẩu 8
1.2.1 Mục tiêu nhiệm vụ của xuất khẩu 8
1.2.2 Mục tiêu nhiệm vụ của nhập khẩu 9
1.3.Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu 10
1.3.1 Nhập khẩu 10
1.3.2 Xuất khẩu 12
II CAM KẾT CỦA VIỆT NAM KHI GIA NHẬP WTO 15
2.1 Cam kết về thuế nhập khẩu 15
2.1.1 Mức cam kết chung 15
2.1.2 Mức cam kết cụ thể 15
2.2 Cam kết về các biện pháp phi thuế quan 20
III KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC TRONG VIỆC XỬ LÝ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU SAU KHI GIA NHẬP WTO 22
3.1 Trung Quốc sau khi gia nhập WTO 22
3.1.1 Những tác động tích cực của việc gia nhập WTO đến kinh tế Trung Quốc 22
3.1.2 Những khó khăn và thách thức kinh tế Trung Quốc phải đối mặt khi gia nhập WTO 26
3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 29
3.2.1 Điều chỉnh chính sách kinh tế nhằm nâng cao sức cạnh tranh, tận dụng các lợi thế so sánh 29
3.2.2 Hoàn thiện hệ thống pháp luật cho phù hợp với điều cầu của WTO 29
3.2.3 Vận dụng quy tắc và cơ chế của WTO để ứng phó có hiệu quả với các tranh chấp thương mại 30
3.2.4 Nắm vững và linh hoạt trong việc thực hiện các cam kết và quy định của WTO 31
3.2.5 Đổi mới tư duy kinh tế 31
CHƯƠNG II: TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM 33
I TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TRƯỚC KHI GIA NHẬP WTO 33
1.1 Xuất khẩu 33
1.1.1 Quy mô, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu 33
1.1.2 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu 34
1.1.3 Cơ cấu thị trường xuất khẩu 35
1.1.4.Cơ cấu thành phần kinh tế tham gia xuất khẩu 37
1.2 Nhập khẩu 38
1.2.1 Quy mô, tốc độ tăng trưởng nhập khẩu 38
1.2.2 Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu 40
1.2.3 Cơ cấu thị trường nhập khẩu 41
1.2.4 Cơ cấu thành phần kinh tế tham gia nhập khẩu 42
1.3 Đánh giá 43
Trang 3II TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM SAU
KHI GIA NHẬP WTO 45
2.1 Xuất khẩu 45
2.1.1 Quy mô, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu 45
2.1.2 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu 47
2.1.3 Cơ cấu thị trường xuất khẩu 48
2.1.4 Cơ cấu thành phần kinh tế tham gia xuất khẩu 50
2.2 Nhập khẩu 50
2.2.1 Quy mô, tốc độ tăng trưởng nhập khẩu 50
2.2.2 Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu 51
2.2.3 Cơ cấu thị trường nhập khẩu 52
2.2.4 Cơ cấu thành phần kinh tế tham gia nhập khẩu 53
2.3 Đánh giá 54
III TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC VIỆT NAM GIA NHẬP WTO ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM 56
3.1 Tác động tích cực đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam 56
3.1.1 Mở rộng thị trường xuất nhập khẩu 56
3.1.2 Thúc đẩy cải cách trong nước 57
3.1.3 Tạo điều kiện thuận lợi tiếp cận tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ vào sản xuất và sự lựa chọn nguyên vật liệu đầu vào 58
3.1.4 Thúc đẩy sự phát triển của thương mại dịch vụ 58
3.1.5 Thu hút vốn đầu tư nước ngoài 59
3.1.6 Nâng cao thế và lực của Việt Nam trong đàm phán và giải quyết tranh chấp 60 3.1.7 Phát huy được lợi thế so sánh quốc gia, đưa hoạt động xuất nhập khẩu phát triển cả vể bề rộng lẫn bề sâu 62
3.2 Tác động không thuận lợi đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam 62
3.2.1 Sửa đổi và hoàn thiện hệ thống pháp luật phủ hợp với tiêu chuẩn quốc tế 62
3.2.2 Nguy cơ mất thị phần, thị trường và sức cạnh tranh của hàng hoá xuất nhập khẩu của Việt Nam 63
3.2.3 Thực hiện bảo hộ sở hữu trí tuệ (SHTT) 65
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU THỰC HIỆN NHỮNG CAM KẾT KHI GIA NHẬP WTO 67
I QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 67
1.1 Quan điểm 67
1.1.1 Phát triển xuất nhập khẩu phải gắn với phát triển sản xuất, đảm bảo hiệu quả kinh tế xã hội, phát triển bền vững: 67
1.1.2 Phát triển xuất - nhập khẩu phải dựa trên sự phối hợp chặt chẽ giữa các thành phần kinh tế, các ngành kinh tế và vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN 67
1.1.3.Thực hiện tự do hoá, gắn thị trường trong nước và nước ngoài: 68
1.2 Mục tiêu và định hướng 68
1.2.1 Xuất khẩu 68
1.2.2 Nhập khẩu 71
Trang 4II MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY NHỮNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC
VÀ HẠN CHẾ NHỮNG TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO
ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU 72
2.1 Các giải pháp vĩ mô 72
2.1.1Cải cách hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách quản lý nền kinh tế 72
2.1.2 Đẩy mạnh hoạt đông xúc tiến thương mại (XTTM) 74
2.1.3 Xây dựng nền kinh tế thị trường và đổi mới cơ cấu nền kinh tế 75
2.1.4Nhận thức vai trò của khu vực kinh tế tư nhân (KTTN)và tạo điều kiện cho khu vực KTTN 77
2.1.5 Nâng cao vai trò của các hiệp hội các ngành hàng 79
2.1.6 Tích cực tham gia hơn nữa vào chuỗi giá trị toàn cầu 80
2.2 Các giải pháp vi mô 81
2.2.1 Đổi mới tư duy kinh tế của doanh nghiệp 82
2.2.2 Nắm vững các cam kết cụ thể của Việt Nam khi gia nhập WTO 83
2.2.3 Đổi mới công nghệ và dây chuyền sản xuất 84
2.2.4 Xây dựng và quảng bá thương hiệu sản phẩm 85
2.2.5 Ứng dụng thướng mại điện tử vào hoạt động kinh doanh 86
KẾT LUẬN 88
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Là thành viên chính thức của WTO - tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh với 150 quốc gia, chiếm tới 85% tổng giá trị thương mại hàng hoá và 90% thương mại dịch vụ toàn cầu, Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội nhưng cũng
sẽ phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức
Cơ hội lớn nhất mà WTO đem lại cho Việt Nam, đó là nền kinh tế có động lực đẩy mạnh cải cách và phát huy lợi thế cạnh tranh để tăng trưởng với chất lượng cao, phát triển với tốc độ nhanh Tuy nhiên, thách thức cũng không phải là nhỏ, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với các đối thủ mạnh hơn ngay trên “sân nhà”, đồng thời phải tuân thủ những cam kết, quy định khắt khe của WTO Những cơ hội và thách thức đó chia đều cho tất cả các ngành, các địa phương và tác động đến toàn bộ nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là hoạt động kinh tế đối ngoại, trong đó quan trọng nhất là khu vực “đầu vào” và “đầu ra”
Tuy thời gian gia nhập WTO của nước ta tính đến nay chưa đầy một năm - khoảng thời gian quá ngắn để đánh giá một cách toàn diện những tác động của việc gia nhập WTO đối với nền kinh tế Việt Nam, và càng không đủ
để nói về một xu thế phát triển mới trong lĩnh vực xuất nhập khẩu; nhưng chí
ít qua đó ta có thể nhận thấy một dấu hiệu nào đó của một thời kỳ mới
Chính vì vậy, việc nghiên cứu kịp thời những biến động trong hoạt động xuất nhập khẩu và những tác động của việc gia nhập đối với hoạt động này là một việc vô cùng quan trọng và cần thiết trong thời điểm hiện nay, từ
đó có thể chuẩn bị tốt hơn cho những bước đi tiếp theo Việc này sẽ góp phần đánh giá những tác động ban đầu, từ đó kịp thời điều chỉnh những điểm bất cập, hạn chế những tiêu cực và phát huy các yếu tố tích cực, nhằm khai thác
Trang 6và tận dụng hiệu quả nhất mọi cơ hội mà hội nhập kinh tế quốc tế mang lại cho Việt Nam
Chính vì tính cấp thiết và tầm quan trọng này mà tôi đã chọn đề tài:
“Tác động của việc gia nhập WTO đối với hoạt động xuất nhập khẩu của Việt
Nam” làm đề tài cho khoá luận tốt nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích chính của khoá luận này là nghiên cứu hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam, so sánh hoạt động xuất nhập khẩu giữa giai đoạn trước và sau khi gia nhập WTO, từ đó đánh giá những tác động của việc trở thành thành viên WTO đối với hoạt động xuất nhập khẩu Tiếp đó, kiến nghị một số giải pháp nhằm phát huy hơn nữa những tác động tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực do việc gia nhập WTO đem đến cho hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Với mục đích trên, phạm vi nghiên cứu của đề tài không chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu thực trạng hoạt động xuất nhập khẩu mà còn đi sâu vào phân tích, đánh giá những tác động của việc gia nhập WTO đối với hoạt động này Đối tượng nghiên cứu tập trung chủ yếu vào hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam, và thời gian nghiên cứu là từ năm 2001 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Khoá luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh - đối chiếu, phương pháp diễn giải – quy nạp…Bên cạnh đó, khoá luận còn sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu thư viện và trên internet
5 Nội dung đề tài
Khoá luận được chia thành 3 phần chính:
- Chương I: Những lý luận cơ bản về hoạt động xuất nhập khẩu
Trang 7- Chương II: Những tác động của việc gia nhập WTO đến hoạt động xuất
nhập khẩu của Việt Nam
- Chương III: Một số giải pháp nhằm phát huy những tác động tích cực
và hạn chế những tác động tiêu cực của việc Việt Nam gia nhập WTO đến hoạt động xuất nhập khẩu
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo, PGS.TS Nguyễn Hữu Khải, người đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận này Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng mình, với sự tìm tòi phân tích cá nhân Do những hạn chế về kiến thức, chắc chắn tôi sẽ không tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình nghiên cứu và trình bày Kính mong quý thầy cô và độc giả góp ý để tôi tiến bộ hơn trong những nghiên cứu tiếp sau
Trang 8CHƯƠNG I:
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU
I Khái quát chung về xuất nhập khẩu
1.1 Khái niệm xuất nhập khẩu
Theo Từ điển bách khoa toàn thư, xuất khẩu là việc bán hàng hoặc dịch
vụ ra thị trường nước ngoài; gồm hai loại hình: xuất khẩu hàng hoá hay còn gọi là xuất khẩu hữu hình và xuất khẩu dịch vụ (cho thuê tàu, bảo hiểm, ngân hàng, du lịch, chuyển giao công nghệ…) hay còn gọi là xuất khẩu vô hình Còn nhập khẩu là việc đưa hàng hoá từ nước ngoài vào nước mình; cùng với xuất khẩu, tạo thành cán cân thương mại của một quốc gia Nhập khẩu có thể được chia thành hai loại: nhập khẩu hàng hoá hay còn gọi là nhập khẩu hữu hình và nhập khẩu dịch vụ (thuê tàu, bảo hiểm, ngân hàng, tài chính, du lịch quốc tế, mua quyền sở hữu công nghiệp của nước ngoài) hay còn gọi là nhập khẩu vô hình
Theo Luật Thương mại Việt Nam 2005 (điều 28), xuất khẩu hàng hoá là
việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ của Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật Nhập khẩu hàng hoá là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật
Theo Giáo trình kinh tế ngoại thương (Trường đại học ngoại thương
-2006), xuất khẩu là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho nước ngoài, và nhập khẩu là việc mua hàng hoá và dịch vụ của nước ngoài
Tóm lại, nói một cách khái quát, xuất nhập khẩu là việc đưa hàng hoá hoặc dịch vụ ra hoặc vào Việt Nam, và được chia làm hai loại cơ bản là xuất nhập khẩu hữu hình và xuất nhập khẩu vô hình Như vậy, xuất nhập khẩu chỉ
là một bộ phận trong hoạt động thương mại vì “thương mại”, theo định nghĩa
Trang 9của Luật Thương mại Việt Nam 2005, là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác
1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của hoạt động xuất nhập khẩu
1.2.1 Mục tiêu, nhiệm vụ của xuất khẩu
Mục tiêu của xuất khẩu
Một doanh nghiệp có thể kinh doanh xuất nhập khẩu đơn giản chỉ vì lợi nhuận nhờ lợi thế trao đổi giữa các quốc gia Một quốc gia, trong một giai đoạn nào đó, có thể thông qua xuất khẩu để trả nợ, để mua vũ khí hoặc để thực hiện các mục đích ngoại giao
Tuy nhiên, đối với một nền kinh tế, đó là mục tiêu dài hạn, nó không phải là mục tiêu trước mắt và cũng không đơn thuần chỉ là thu lợi nhuận Mục tiêu quan trọng nhất của xuất khẩu đối với một nền kinh tế là đáp ứng được các nhu cầu của nền kinh tế đó, chẳng hạn như tạo công ăn việc làm, tăng dự trữ ngoại tệ, thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế…
Nhiệm vụ của xuất khẩu
Để thực hiện tốt các mục tiêu trên thì hoạt động xuất khẩu phải hướng vào thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tận dụng, khai thác triệt để và hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước như tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực…
- Nâng cao năng lực sản xuất hàng xuất khẩu bằng cách tăng cường đầu
tư chiều sâu để tăng nhanh khối lượng và kim ngạch xuất khẩu, đồng thời nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh hàng hoá trên thị trường thế giới
- Tạo ra những mặt hàng, nhóm hàng xuất khẩu chủ lực đáp ứng những đòi hỏi của thị trường thế giới về chất lượng và số lượng, có sức hấp dẫn và
có khả năng cạnh tranh cao
Trang 10- Mở rộng thị trường, đa dạng hoá mặt hàng xuất khẩu đồng thời tăng cường công tác xúc tiến thương mại, tiếp cận và thâm nhập thị trường mới tại khu vực và trên thế giới
1.2.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của nhập khẩu Mục tiêu nhập khẩu
Nhập khẩu đồng nghĩa với việc hàng hoá nước ngoài sẽ thâm nhập vào thị trường nội địa và cạnh tranh với hàng hoá trong nước Do đó, với việc hạn chế nhập khẩu hoặc nhập khẩu có chọn lọc, một quốc gia có thể giảm bớt sự cạnh tranh của hàng hoá nhập khẩu với hàng hoá nội địa, từ đó bảo hộ một số ngành sản xuất trong nước Tuy nhiên, đối với một số mặt hàng, nhập khẩu sẽ thuận tiện và rẻ hơn so với tự sản xuất trong nước Nhưng không thể vì thế mà
ỷ lại vào nhập khẩu, vì như vậy chính là đã gián tiếp bóp chết nền sản xuất trong nước Chính vì thế, mục tiêu quan trọng của nhập khẩu là vừa phải bảo
vệ có mức độ những ngành sản xuất nội địa còn non kém, vừa phải đảm bảo nhập khẩu ở một mức độ hợp lý để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực sản xuất của mình để cạnh tranh với hàng nhập khẩu, đồng thời để đẩy mạnh xuất khẩu
Đối với Việt Nam, việc nhập khẩu đóng vai trò quan trọng, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi Việt Nam đang thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá Mục tiêu của nhập khẩu lúc này là phải ưu tiên nhập khẩu thiết
bị kỹ thuật tiên tiến hiện đại, phù hợp với điều kiện và trình độ của Việt Nam Đồng thời, nhập khẩu cũng phải hết sức chọn lọc, tiếp thu những công nghệ tiên tiến hiện đại, tránh trường hợp chỉ vì chi phí thấp mà nhập khẩu những công nghệ đã quá cũ và lạc hậu, bởi những công nghệ như vậy sẽ không sử dụng được bao lâu thì đã phải thay thế
Nhiệm vụ nhập khẩu
- Sử dụng nguồn vốn dành cho nhập khẩu phải hết sức tiết kiệm và hiệu quả, ưu tiên dành ngoại tệ cho nhập vật tư và nguyên liệu để sản xuất hàng
Trang 11xuất khẩu và hàng tiêu dùng, từ đó giảm thiểu nhu cầu nhập khẩu, phát triển sản xuất trong nước thay thế hàng nhập khẩu
- Ưu tiên nhập khẩu máy móc thiết bị, công nghệ tiên tiến, hiện đại phục
vụ cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, cho tăng trưởng xuất khẩu
- Nhập khẩu phải bảo bảo hộ chính đáng cho sản xuất nội địa, đồng thời tạo tạo điều kiện để sản xuất trong nước nâng cao năng lực cạnh tranh đối với hàng nhập khẩu
1.3 Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu
1.3.1 Nhập khẩu
Nhập khẩu là một trong những hoạt động quan trọng của thương mại quốc tế, tác động trực tiếp và quyết định đến sản xuất và đời sống trong nước Mục đích của nhập khẩu có thể là để bổ sung các hàng hoá trong nước không sản xuất được, hoặc sản xuất không đáp ứng được nhu cầu; cũng có thể
là để thay thế - nhập khẩu những mặt hàng trong nước sản xuất sẽ không có lợi bằng nhập khẩu Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay, nhập khẩu đảm nhiệm một số vai trò sau đây:
a Nhập khẩu tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Công nghiệp hoá là quá trình chuyển đổi cơ bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý kinh tế, xã hội từ dựa vào lao động thủ công là chính sang dựa vào lao động kết hợp cùng với phương tiện, phương pháp công nghệ, kỹ thuật, tiên tiến hiện đại để tạo ra năng suất lao động cao Mục tiêu của chúng ta là đến năm 2020 sẽ trở thành một nước công nghiệp hiện đại, và trước mắt là điều chỉnh tỉ trọng trong GDP của nông nghiệp xuống 16-17%, tỉ trọng của công nghiệp lên khoảng 40-41%, dịch vụ lên 42-43% vào năm 2010
Trang 12Trong khi đó, khoa học công nghệ đã được xác định là động lực của tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Do vậy, nhập khẩu đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc góp phần thực hiện những mục tiêu này, đặc biệt là khi Việt Nam có xuất phát điểm là một nước có nền sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ Nhập khẩu sẽ giúp trang bị, đổi mới máy móc thiết bị và công nghệ cho các ngành kinh tế chủ chốt, từ đó góp phần hướng cho các ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
b Nhập khẩu giúp bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh
tế đảm bảo phát triển kinh tế cân đối và ổn định
Một nền kinh tế ổn định và tăng trưởng là một nền kinh tế đảm bảo cân đối giữa các thành phần như: sản xuất tư liệu sản xuất và sản xuất tư liệu tiêu dùng, tiêu dùng và tích luỹ, giữa xuất khẩu với nhập khẩu và cán cân thanh toán quốc tế…
Nhập khẩu sẽ cung cấp các điều kiện đầu vào như vật tư, nguyên liệu mà trong nước không có cho các ngành sản xuất trong nước, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển Ngoài ra, nhập khẩu chính là điều kiện để một quốc gia chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tận dụng những lợi thế từ thị trường thế giới như công nghệ, vốn…; từ đó kịp thời giải quyết những mặt mất cân đối của nền kinh tế, đảm bảo cho cơ cấu kinh tế trong nước có một tỷ lệ hợp
Nhập khẩu còn có tác dụng bảo vệ những ngành sản xuất trong nước chưa phát triển, tránh được sự cạnh tranh quá mức của những sản phẩm nước ngoài, đồng thời vẫn đảm bảo đầu vào cho sản xuất, khôi phục lại những
Trang 13ngành nghề cũ, mở ra những ngành nghề mới, tạo việc làm ổn định cho người lao động, từ đó nâng cao khả năng thanh toán
Hơn thế nữa, hàng hoá nhập khẩu còn buộc các doanh nghiệp trong nước cải tiến sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh, do đó nhập khẩu đã gián tiếp góp phần phát triển những ngành sản xuất nội địa Kết quả là chủng loại hàng hoá sẽ đa dạng hơn, chất lượng sẽ tốt hơn, điều đó đồng nghĩa với việc người dân có nhiều cơ hội lựa chọn hơn, đời sống được nâng cao hơn
d Nhập khẩu có vai trò tích cực đến thúc đẩy xuất khẩu
Đối với một số nước đang và kém phát triển, do khả năng về công nghệ, trình độ sản xuất còn thấp cho nên thường phải nhập khẩu để tạo đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu Chẳng hạn như hình thức gia công, với hình thức này, người sản xuất sẽ nhập toàn bộ hoặc một phần nguyên vật liệu của bên đặt gia công để thực hiện sản xuất ra hàng hoá xuất khẩu trở lại cho bên đặt gia công
1.3.2 Xuất khẩu
Xuất khẩu là một hoạt động cơ bản của hoạt động kinh tế đối ngoại và được coi là phương tiện để thúc đẩy nền kinh tế phát triển Với định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng về xuất khẩu, nước ta đã sử dụng nhiều biện pháp khuyến khích phát triển các ngành sản xuất phục vụ xuất khẩu, vừa tạo công ăn việc làm cho người dân vừa tăng thu ngoại tệ cho đất nước Xuất khẩu ngày càng tỏ rõ vai trò quan trọng của nó trong nền kinh tế quốc dân, và điều đó được thể hiện cụ thể qua các mặt sau:
a Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước
Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất- kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp
lý Đây là bước đi tất yếu nếu muốn phát triển kinh tế, khắc phục tình trạng nghèo nàn và chậm phát triển của nước ta Muốn thực hiện quá trình chuyển
Trang 14đổi từ lao động thủ công lạc hậu sang lao động với công nghệ hiện đại thì phải
có một số vốn lớn để nhập khẩu máy móc thiết bị, công nghệ tiên tiến
Vốn dành cho nhập khẩu có thể bao gồm các nguồn như: vốn đầu tư nước ngoài, vốn vay, vốn từ viện trợ, vốn từ xuất khẩu hàng hoá, vốn thu được từ các hoạt động du lịch, dịch vụ…Trong số đó, nguồn vốn từ xuất khẩu được coi là nguồn vốn quan trọng nhất phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, bởi vốn từ viện trợ hay vốn vay thì không sớm thì muộn và bằng cách này hay cách khác cũng sẽ phải trả lại
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mạnh mẽ như hiện nay, nguồn vốn từ bên ngoài sẽ chảy vào Việt Nam ngày càng nhiều, nhưng nguồn vốn từ xuất khẩu vẫn giữ vai trò vô cùng quan trọng, vì xuất khẩu phải phát triển mạnh mẽ thì cơ hội vay vốn hay xin viện trợ từ các tổ chức nước ngoài hoặc các nhà đầu tư mới có thể được hiện thực hóa
b Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đấy sản xuất phát triển
Những thành tựu của cách mạng khoa học, kỹ thuật, đặc biệt sự bùng nổ của công nghệ thông tin đã và đang làm thay đổi nhanh chóng cơ cấu sản xuất
và tiêu dùng trên thế giới Do vậy, muốn đẩy mạnh xuất khẩu thì tất yếu phải đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước sao cho phù hợp hơn với xu hướng phát triển của thị trường thế giới cũng như lợi ích của bản thân nước đó
Như vậy, việc xuất khẩu dựa trên cơ sở thị trường, đặc biệt là thị trường thế giới sẽ tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách nhanh nhạy và hợp lý, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế Cụ thể, vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với sản xuất biểu hiện qua các một số mặt như sau:
- Xuất khẩu sẽ kéo theo việc phát triển một số ngành khác có liên quan Chẳng hạn như khi ngành dệt may xuất khẩu phát triển sẽ tạo điều kiện cho các ngành công nghiệp phụ trợ khác phát triển như các ngành sản xuất nguyên
Trang 15liệu khuy, chỉ, thuốc nhuộm… hoặc ngành công nghiệp thiết kế Hoặc sự phát triển của ngành công nghiệp sản xuất và lắp ráp ô tô sẽ tạo cơ hội để phát triển các ngành công nghiệp sản xuất linh kiện như săm, lốp, dây điện…
- Xuất khẩu luôn đòi hỏi các doanh nghiệp phải duy trì, củng cố các thị trường hiện tại đồng thời mở rộng ra các thị trường mới, từ đó góp phần ổn định và mở rộng sản xuất
- Xuất khẩu tạo điều kiện về vật chất - kỹ thuật để cải tạo và nâng cao năng lực sản xuất trong nước Thông qua xuất khẩu, những công nghệ mới, vốn, kỹ thuật hiện đại từ thế giới sẽ được đưa vào Việt Nam, từ đó góp phần hiện đại hoá nền sản xuất trong nước, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Hơn thế nữa, xuất khẩu hàng hoá cho phép chúng ta tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường quốc tế Đó chính là cơ hội để đổi mới nền sản xuất và hình thành nên một cơ cấu sản xuất thích nghi với thị trường thế giới
c Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm
và cải thiện đời sống nhân dân
Những tác động của xuất khẩu đối với đời sống của người dân được thể hiện trên nhiều mặt Trước nhất phải kể đến, đó là ngành sản xuất để xuất khẩu như: dệt may, da giầy, thuỷ sản…đã thu hút được hàng triệu lao động Xuất khẩu tác động trực tiếp đến sản xuất làm tăng quy mô và tốc độ sản xuất,
do đó đòi hỏi nhiều lao động hơn, năng suất lao động cao hơn; điều đó đồng nghĩa với việc sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động, góp phần
ổn định thu nhập và cải thiện đời sống
Mặt khác, chính xuất khẩu đã tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu những vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống nhân dân, đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú của nhân dân
d Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế của nước ta
Trang 16Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có mối quan hệ mật thiết tác động qua lại với nhau Xuất khẩu chính là việc di chuyển hàng hoá từ thị trường nội địa ra thị trường nước ngoài, điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp cũng như các quốc gia phải mở rộng giao dịch với nhiều đối tác khác nhau, đó lại là cơ sở quan trọng để mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại với các nước khác Chẳng hạn như hoạt động xuất khẩu có thể có trước và tạo điều kiện cho các quan hệ tín dụng, đầu tư, phát triển vận tải quốc tế…phát triển Ngược lại, chính các quan hệ kinh tế này lại tạo điều kiện thuận lợi và mở rộng hơn nữa hoạt động xuất khẩu
II Cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO
2.1 Cam kết về thuế nhập khẩu
2.1.1 Mức cam kết chung
Việt Nam đồng ý ràng buộc mức trần cho toàn bộ biểu thuế nhập khẩu hiện hành với 10.600 dòng thuế Thuế suất cam kết cuối cùng có mức bình quân giảm đi 23% (từ 17,4% xuống còn 13,4%) so với mức thuế bình quân hiện hành (thuế suất MFN) của biểu thuế Tuy nhiên, chúng ta sẽ có một thời gian để thực hiện lộ trình này từ 5 đến 7 năm
Trong toàn bộ Biểu cam kết, Việt Nam sẽ cắt giảm thuế với khoảng 3.800 dòng thuế (chiếm 35,5% số dòng của Biểu thuế); ràng buộc ở mức thuế hiện hành với khoảng 3.700 dòng (chiếm 34,5% số dòng của Biểu thuế); ràng buộc theo mức thuế trần - cao hơn mức thuế suất hiện hành với 3.170 dòng
thuế (chiếm 30% số dòng của Biểu thuế)
2.1.2 Mức cam kết cụ thể
Một số mặt hàng đang có thuế suất cao từ trên 20%, 30% sẽ được cắt giảm thuế ngay khi gia nhập Các mặt hàng trọng yếu, nhạy cảm đối với nền kinh tế như nông sản, xi măng, sắt thép, vật liệu xây dựng, ôtô - xe máy vẫn được duy trì mức bảo hộ nhất định Những nhóm mặt hàng có cắt giảm thuế nhiều nhất là: dệt may (63%), cá và sản phẩm cá (38%), gỗ giấy (33%), máy
Trang 17móc thiết bị điện, điện tử (24%) Ta đạt được mức thuế trần cao hơn mức đang áp dụng đối với nhóm hàng xăng dầu, kim loại, hóa chất là phương tiện vận tải
Trong lĩnh vực nông nghiệp, mức cam kết bình quân là 25,2% vào thời điểm gia nhập và 21,0% sẽ là mức cắt giảm cuối cùng So sánh với mức thuế MFN bình quân đối với lĩnh vực nông nghiệp hiện nay là 23,5% thì mức cắt giảm đi sẽ là 10% Việt Nam sẽ được áp dụng cơ chế hạn ngạch thuế quan đối với 4 mặt hàng gồm: trứng, đường, lá thuốc lá, muối (muối trong WTO không được coi là mặt hàng nông sản) Đối với 4 mặt hàng này, mức thuế trong hạn ngạch tương đương mức thuế MFN hiện hành (trứng 40%, đường thô 25%, đường tinh 50-60%, thuốc lá lá: 30%, muối ăn 30%), thấp hơn nhiều so với mức thuế ngoài hạn ngạch
Đối với lĩnh vực công nghiệp, mức cam kết bình quân vào thời điểm gia nhập là 16,1%, và mức cắt giảm cuối cùng sẽ là 12,6% So sánh với mức thuế MFN bình quân của hàng công nghiệp hiện nay là 16,6% thì mức cắt giảm đi
sẽ là 23,9%
Các mức cắt giảm này có thể so sánh tương ứng với các mức cắt giảm trung bình của các nước đang và đã phát triển trong vòng đàm phán Uruguay (1994), chẳng hạn như đối với hàng nông sản, các nước đang và đã phát triển cam kết cắt giảm 30% và 40%; với hàng công nghiệp tương ứng là 24% và 37% Trung Quốc trong vòng đàm phán của mình đã cam kết cắt giảm khoảng
45% thuế nhập khẩu, từ 17% xuống 10% (Bảng 1-1)
Mức độ cam kết cắt giảm thuế của Việt Nam tổng hợp theo một số nhóm ngành hàng và nhóm mặt hàng chính với thời gian thực hiện được cụ thể hoá trong bảng 1-2 dưới đây
Trang 18Bảng 1-1: Diễn giải mức thuế bình quân cam kết
Thuế suất cam kết khi gia nhập WTO (%)
Thuế suất cam kết vào cuối
lộ trình (%)
Mức giảm so với thuế MFN hiện hành (%)
Cam kết WTO của Trung Quốc
Mức cắt giảm thuế chung tại Vòng Uruguay
Nước phát triển
Nước đang phát triển Nông sản 23,5 25,2 21,0 10,6 16,7 giảm 40% giảm
Nguồn: Bộ Tài chính
Trang 19Bảng 1-3: Tổng hợp cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu trong đàm phán
gia nhập WTO đối với một số nhóm hàng quan trọng
STT Ngành hàng/Mức thuế suất
Thuế suất MFN (%)
Thuế suất khi gia nhập (%)
Thuế suất cuối cùng (%)
Thời gian thực hiện
- Dệt may (thuế suất bình quân)
Ngay khi gia nhập (thực tế
đã thực hiện theo hiệp định dệt may với
Mỹ và
EU
Trang 20- Xe ôtô con + Xe từ 2.500 cc trở lên, chạy
+ Loại thuế suất khác hiện
Trong số các Hiệp định trên, tham gia ITA là quan trọng nhất, theo đó khoảng 330 dòng thuế thuộc diện công nghệ thông tin sẽ phải có thuế suất 0% sau 3 đến 5 năm Như vậy, các sản phẩm điện tử như: máy tính, điện thoại di động; máy ghi hình, máy - ảnh kỹ thuật số… sẽ đều có thuế suất 0%, thực hiện sau 3-5 năm, tối đa là sau 7 năm
Việc tham gia Hiệp định dệt may (thực hiện đa phương hoá mức thuế đã cam kết theo các Hiệp định dệt may với EU, Hoa kỳ) cũng dẫn đến giảm thuế đáng kể đối với các mặt hàng này: vải từ 40% xuống 12%, quần áo từ 50%
xuống 20%, sợi từ 20% xuống 5% (Bảng 1-4 sẽ đề cập cụ thể tình hình cam
kết theo Hiệp định tự do hoá theo ngành của Việt Nam trong WTO)
Trang 21Bảng1- 4: Các cam kết thực hiện Hiệp định tự do hoá theo ngành
Hiệp định tự do hoá theo ngành Số dòng
thuế T/s MFN (%)
T/s cam kết cuối cùng (%)
1 HĐ công nghệ thông tin ITA- tham gia
2 HĐ hài hoà hoá chất CH- tham gia 81% 1.300/1.600 6,8% 4,4%
3 HĐ thiết bị máy bay dân dụng CA- tham
Ngoài ra, tham gia không đầy đủ một số HĐ khác như thiết bị khoa học, thiết bị xây dựng…
Nguồn: Bộ Tài chính
2.2 Cam kết về các biện pháp phi thuế quan
Về hạn ngạch thuế quan, Việt Nam vẫn được bảo lưu quyền áp dụng với
đường, trứng gia cầm, lá thuốc lá và muối
Đối với một số biện pháp hạn chế nhập khẩu: Việt Nam đồng ý cho nhập
khẩu xe máy phân phối lớn không muộn hơn ngày 31/5/2007 Với thuốc lá điếu và xì gà, ta đồng ý bỏ biện pháp cấm nhập khẩu từ thời điểm gia nhập Tuy nhiên sẽ chỉ có một doanh nghiệp Nhà nước được quyền nhập khẩu toàn
bộ thuốc lá điếu và xì gà Mức thuế nhập khẩu mà ta đàm phán được cho hai mặt hàng này là rất cao Với ô tô cũ ta cho phép nhập khẩu các loại xe đã qua
sử dụng không quá 5 năm
Về trợ cấp nông nghiệp, Việt Nam cam kết bỏ toàn bộ trợ cấp xuất khẩu
hàng nông sản ngay khi gia nhập WTO, các khoản hỗ trợ trong nước được phép duy trì trong phạm vi 10% giá trị sản lượng như mức cam kết của các nước đang phát triển khác trong WTO Các loại trợ cấp mang tính chất khuyến nông hay trợ cấp phục vụ phát triển nông nghiệp được WTO cho phép nên ta được áp dụng không hạn chế
Trang 22Về trợ cấp phi nông nghiệp: Việt Nam cam kết xóa bỏ từ thời điểm gia
nhập các khoản trợ cấp bị cấm như trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp thay thế hàng nhập khẩu; những khoản trợ cấp chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước Các khoản trợ cấp bị cấm dưới hình thức ưu đãi đầu tư cho xuất khẩu và thay thế hàng nhập khẩu sẽ phải bỏ sau 5 năm từ thời điểm gia nhập đối với các dự án
đã đi vào hoạt động Tuy nhiên các ưu đãi này không được áp dụng với các
dự án mới thành lập từ sau khi gia nhập Riêng các khoản trợ cấp bị cấm đang
áp dụng với ngành dệt may sẽ phải bỏ ngay từ thời điểm gia nhập
Đối với doanh nghiệp Nhà nước/doanh nghiệp thương mại Nhà nước:
Việt Nam cam kết rằng Nhà nước sẽ không can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào hoạt động doanh nghiệp Nhà nước Tuy nhiên, Nhà nước với tư cách là một cổ đông được can thiệp bình đẳng vào hoạt động của doanh nghiệp như các cổ đông khác Ta cũng đồng ý cách hiểu mua sắm của doanh nghiệp Nhà nước không phải là mua sắm Chính phủ
Về quyền kinh doanh (quyền xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa): Việt Nam
đồng ý cho doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài được quyền xuất nhập khẩu hàng hóa như người Việt Nam kể từ khi gia nhập; trừ đối với các mặt hàng thuộc danh mục thương mại nhà nước như: xăng dầu, thuốc lá điếu, xì gà, băng đĩa hình, báo chí và một số mặt hàng nhạy cảm khác mà ta chỉ cho phép sau một thời gian chuyển đổi như gạo và dược phẩm
Việt Nam đồng ý cho phép doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài không hiện diện tại Việt Nam được đăng ký quyền xuất nhập khẩu tại Việt Nam Quyền xuất khẩu chỉ là quyền đứng tên trên tờ khai hải quan để làm thủ tục xuất nhập khẩu
Trong mọi trường hợp, doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài sẽ không được tự động tham gia vào hệ thống phân phối trong nước Các cam kết về quyền kinh doanh sẽ không ảnh hưởng đến quyền của Việt Nam trong việc
Trang 23đưa ra các quy định để quản lý dịch vụ phân phối, đặc biệt đối với sản phẩm nhạy cảm như dược phẩm, xăng dầu, báo - tạp chí
Về định giá tính thuế xuất nhập khẩu, các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại, các biện pháp hàng rào kỹ thuật trong thương mại…Việt Nam cam kết tuân thủ các quy định của WTO kể từ khi gia nhập
Như vậy, những cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO góp phần đưa Việt Nam tham gia sâu rộng hơn vào phân công lao động quốc tế cũng như hội nhập vào nền kinh tế thế giới, tăng cường sức cạnh tranh của các doanh nghiệp cũng như của toàn bộ nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
III Kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc xử lý các tác động liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu sau khi gia nhập WTO
3.1 Trung Quốc sau khi gia nhập WTO
3.1.1 Những tác động tích cực của việc gia nhập WTO đến kinh tế Trung Quốc
a Tăng trưởng kinh tế cao
Cuối năm 2001, khi Trung Quốc gia nhập WTO là lúc nền kinh tế thế giới phổ biến đang tăng trưởng thấp Còn trong những năm gần đây, trong khi nền kinh tế thế giới đang phục hồi một cách yếu ớt thì kinh tế Trung Quốc lại giữ được mức tăng trưởng nhanh Có nhiều nguyên nhân, song quan trọng nhất là do Trung Quốc đã biết tận dụng cơ hội và phát huy tích cực những lợi thế do việc trở thành thành viên WTO đem lại
Về hoạt động ngoại thương
Sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc đã đạt được tốc độ tăng kim ngạch xuất nhập khẩu rất đáng nể: 21% năm 2002; 37,1% năm 2003; 35,7% năm 2004; và 23,2% 6 tháng đầu năm 2005 Mức tăng chỉ riêng xuất khẩu các năm như sau: 2,3% năm 2002; 32% năm 2003; 36% năm 2004 và 28,4% năm
2005 Trung Quốc tiếp tục đạt thặng dư thương mại khoảng 70 tỷ USD (2005), gấp 2 lần con số 32 tỷ năm 2002 Trung Quốc cũng đã đạt kim ngạch
Trang 24thương mại trên 100 tỷ năm 2005 với các đối tác thương mại như: EU (217,31
tỷ USD), Mỹ (211,63 tỷ USD), Nhật (184,45 tỷ USD), sau đó là Hồng Kông (136,7 tỷ USD), ASEAN (lần đầu tiên vượt mức 100 tỷ USD, đạt 130,4 tỷ USD) và Hàn Quốc (111,9 tỷ USD)
Gia nhập WTO đã tạo ra không gian phát triển rộng lớn cho kinh tế Trung Quốc Nếu năm 1978, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc chỉ đạt 20,6 tỷ USD, đứng thứ 32 thế giới, thì đến cuối năm 2005, tổng kim ngạch thương mại của Trung Quốc đạt 1420 tỷ USD, đưa Trung Quốc lên đứng thứ 3 thế giới về kim ngạch thương mại, vượt qua Nhật Bản và chỉ đứng sau Mỹ và Đức Như vậy, sau hơn 20 năm Trung Quốc đã đưa thứ hạng của mình từ vị trí thứ 32 lên thứ 3 - quả là một kết quả rất ấn tượng
Bảng 1-5 : Kim ngạch xuất nhập khẩu Trung Quốc
Trang 25Hàng hóa của ASEAN nhập khẩu vào Trung Quốc đã tăng 4 lần trong vòng hai thập kỷ trở lại đây, làm tăng tỷ lệ nhập khẩu từ các nước này trong tổng nhập khẩu của Trung Quốc lên 10% Tổng lượng hàng hoá mà các nền kinh tế công nghiệp mới (NIEs) (Singapore, Hàn Quốc, Hông Kông, Đài Loan) xuất khẩu sang Trung Quốc vượt lượng hàng hoá mà các nước này xuất khẩu sang Mỹ Việc nhập khẩu của Trung Quốc tăng lên tất yếu đã thúc đẩy
xu hướng thương mại nội bộ trong khu vực Đông Á, từ đó thay đổi quan điểm cho rằng sự nổi lên của Trung Quốc là một “thách thức” hơn là một “cơ hội”
Sở dĩ nhập khẩu của Trung Quốc tăng nhanh như vậy là do: thứ nhất, nhu cầu của bản thân nền kinh tế tăng do tiêu thụ nội địa tăng; thứ hai, xuất khẩu tăng lên, tức là tăng nhập khẩu để tăng xuất khẩu
Thực sự WTO đã và đang làm thay đổi sâu sắc mô hình tăng trưởng ngoại thương của Trung Quốc Phó cục trưởng Cục Thống kê Nhà nước Khâu Hiểu Hoa cho rằng, nguyên nhân khiến cho tình hình ngoại thương của Trung Quốc phát triển tốt là do Chính phủ đã hoàn thiện một bước và thực hiện chế
độ hoàn thuế xuất khẩu, cải thiện môi trường sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, và quan trọng hơn là yếu tố linh hoạt của thị trường cũng như sức bật mới của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO Sau khi gia nhập WTO,
cơ cấu xuất nhập khẩu ngoại thương đã được cải cách sâu rộng Một loạt các
xí nghiệp tư nhân, xí nghiệp cổ phần không có quota xuất khẩu đã được quyền xuất khẩu Hơn nữa, cùng với quá trình chuyển dịch ngành nghề theo mang tính toàn cầu và cải thiện môi trường đầu tư trong nước, Trung Quốc ngày càng được các công ty xuyên quốc gia chọn làm điểm đến, chủ yếu là cho ngành chế tạo Số lượng các doanh nghiệp nước ngoài chen chân vào thị trường Trung Quốc đã đóng góp vào 1/2 khối lượng hàng hoá xuất khẩu của nước này
Về đầu tư nước ngoài
Trang 26Cùng với những thành tựu đạt được trong lĩnh vực ngoại thương, thu hút vốn đầu tư nước ngoài của Trung Quốc cũng có những bước tiến nổi bật Khối lượng thu hút vốn đầu tư nước ngoài của Trung Quốc liên tục đứng đầu trong số các nước đang phát triển Nhờ những chính sách đầu tư thông thoáng
và cởi mở, cùng với việc gia nhập WTO, sức hấp dẫn đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc đã tăng mạnh Trong năm 2005, Trung Quốc thu hút vốn đầu tư nước ngoài chỉ sau Mỹ (96 tỷ USD) và Anh (78 tỷ USD), đứng đầu các nước phát triền
Hiện đang có khoảng trên 190 nước và khu vực tham gia đầu tư vào Trung Quốc, hơn 1800 công ty châu Âu có mặt và tiến hành đầu tư, xây dựng nhà xưởng ở Trung Quốc; các công ty châu Á như của Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc… cũng đã đầu tư hàng chục tỷ USD vào nước này Trong hơn 500 công ty xuyên quốc gia lớn nhất trên thế giới thì đã có hơn 400 công ty đầu tư vào Trung Quốc
Trong đầu tư nước ngoài đã xuất hiện một xu hướng mới, đó là sự gia tăng các liên kết, sáp nhập giữa các công ty lớn của Trung Quốc với các công
ty nổi tiếng của nước ngoài Với hình thức này, các công ty Trung Quốc đã ngay lập tức sở hữu tất cả các tài sản hữu hình và vô hình với các thương hiệu
đã được thế giới công nhận, qua đó vai trò của Trung Quốc trong hệ thống sản xuất và phân phối toàn cầu đã được nâng cao Hơn thế nữa, xu hướng này còn góp phần giúp đẩy mạnh quá trình sắp xếp, tổ chức lại một số ngành công nghiệp của Trung Quốc; từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của các ngành này Việc mua lại hay sáp nhập này chính là một biện pháp mà qua đó Trung Quốc chủ động đón nhận thách thức
b Hiện đại hoá cơ cấu ngành nghề
Tỉ lệ tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến từ năm 2002 bắt đầu vượt qua công nghiệp nguyên liệu, năm 2002 tỉ lệ tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến là 20,3% cao hơn nhiều so với mức 15,6% của ngành công
Trang 27nghiệp nguyên liệu Điều đó chứng tỏ Trung Quốc đã thực sự bước vào giai đoạn công nghiệp hoá toàn diện
Các ngành nghề kỹ thuật cao, mà tiêu biểu là công nghệ thông tin cũng
đã chuyển dịch đến Trung Quốc Trong số 100 công ty hàng đầu của thế giới
về công nghệ thông tin thì có đến 90 công ty đã có mặt tại Trung Quốc, trong
đó có các tên tuổi lớn như Intel, Compak…Năm 2004, tồng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm kỹ thuật cao của Trung Quốc đạt 165,5 tỷ USD, chiếm 27% tổng kim ngạch xuất khẩu, và tăng 50,2% so với năm 2003; trong đó tăng trưởng nhanh nhất là các sản phẩm máy tính xách tay, điện thoại di động, màn hình tinh thể lỏng… Các ngành công nghiệp chế tạo cũng tăng trưởng với tốc
độ cao Năm 2004, tốc độ tăng trưởng của ngành chế tạo thiết bị thông dụng tăng 22,2%, thiết bị phát điện tăng 92,9%
Trung Quốc sau 5 năm gia nhập WTO đã thực sự trở thành công xưởng của thế giới, làm thay đổi rõ rệt cơ cấu ngành nghề theo hướng phát triển mạnh các ngành công nghiệp chế biến và nổi bật là có một số ngành công nghiệp hiện đại Một trong những yếu tố quyết định đến việc hiện đại hoá cơ cấu ngành nghề là sự tham gia của các công ty nước ngoài mà đặc biệt là các
công ty đến từ các nền kinh tế phát triển nhất của châu Âu, Nhật Bản và Mỹ
3.1.2 Những khó khăn và thách thức kinh tế Trung Quốc phải đối mặt khi gia nhập WTO
a Xung đột thương mại gia tăng
Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản để trở thành nước buôn bán lớn thứ 3 thế giới, chiếm 6,5% tổng kim ngạch xuất khẩu thế giới, sau Mỹ và Đức Chính việc kinh tế Trung Quốc ngày càng phát triển mạnh mẽ đã khiến cho nhiều đối tác lớn như Mỹ và EU phải dè chừng Sau khi gia nhập WTO, quan
hệ kinh tế quốc tế của Trung Quốc đã bước vào một thời kỳ mới, cùng với sự
mở rộng quy mô thương mại, những xung đột về thương mại mà Trung Quốc gặp phải cũng ngày một tăng lên
Trang 28Ngay trong năm đầu tiên sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc đã vấp phải nhiều hàng rào mậu dịch quốc tế, từ các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển Bằng chứng là các vụ kiện chống bán phá giá đối với Trung Quốc ngày một tăng Trong vòng 2 năm sau khi gia nhập WTO, số lượng các vụ kiện chống bán phá giá mà Trung Quốc gặp phải chiếm tới gần 1/2 tổng số vụ kiện chống bán phá giá toàn thế giới Trong số 275 vụ kiện chống bán phá giá của các thành viên WTO trong năm 2002, có tới 47 vụ là liên quan đến Trung Quốc với số tiền phạt lên tới 450 triệu USD Trước khi gia nhập WTO, không phải là không xảy ra những vụ xung đột thương mại với các đối tác, nhưng kể từ khi gia nhập WTO thì số lượng các vụ tranh chấp thương mại gia tăng mạnh, đặc biệt là đối với Mỹ và châu Âu Từ khi nước này gia nhập WTO tới nay, Mỹ đã kiện chống bán phá giá Trung Quốc bình quân mỗi năm 7,2 vụ, EU bình quân kiện 2,4 vụ
Theo số liệu của Tổng cục Hải quan Trung Quốc, nước này đã đạt thặng
dư thương mại là 101,9 tỷ năm 2005 – năm thứ 12 liên tiếp xuất siêu (năm
2004 giá trị thặng dư là 32 tỷ USD) Tháng 8/2006, kim ngạch xuất khẩu nước này đạt tới 90,77 tỷ USD, kim ngạch nhập khẩu là 71,97 tỷ USD; thặng
dư thương mại do đó đạt mức cao kỷ lục tháng là 18,8 tỷ, đưa thặng dư 8 tháng đầu năm lên 95,6 tỷ USD Chính mức thặng dư khổng lồ và ngày càng tăng này đã làm bùng nổ những cuộc tranh cãi mậu dịch giữa Trung Quốc với các đối tác thương mại
Tuy nhiên, cũng không thể không kể dến những vi phạm từ phía Trung Quốc, đặc biệt là trong vân đề sở hữu trí tuệ - đây có thể coi là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự thiếu tin cậy trong quan hệ giữa Trung Quốc với các đối tác thương mại
b Tăng trưởng quá nóng
Nếu tính bình quân tử năm 2001 đến năm 2005 thì GDP của Trung Quốc
đã tăng 8,76%, cao hơn nhiều so với mục tiêu là 7% đề ra trong kế hoạch 5
Trang 29năm 2001-2005 Hai lĩnh vực có mức tăng trưởng nổi bật là ngoài thương và đầu tư nước ngoài Mức tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu từ năm 2002 luôn đạt trên dưới 30%, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc năm
2003 đã vượt Mỹ - nước luôn đứng ở vị trí thứ nhất thế giới
Mức độ tăng trưởng như vậy của Trung Quốc được xem là tăng trường nóng bởi nó đã gây ra một số vấn đề như sau:
Thứ nhất, Trung Quốc đã thâm nhập vào thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản
quá mạnh, xuất siêu quá nhiều, gây ra những xung đột thương mại gay gắt
Thứ hai, tăng đầu tư quá lớn vào lĩnh vực bất động sản có nhiều rủi ro,
làm phức tạp thêm các vấn đề xã hội vốn đã bức xúc
Thứ ba, tiêu hao năng lượng quá lớn, chẳng hạn như năm 2004, GDP
Trung Quốc vào khoảng 4% GDP toàn thế giới nhưng nước này lại tiêu thụ đến 12% năng lượng, 40% xi măng , 30% quặng sắt…của toàn thế giới
Từ năm 2004, Trung Quốc đã tiến hành nhiều biện pháp như thắt chặt chính sách tiền tệ, tăng lãi suất, giảm mức cung tiền, hạn chế tín dụng và đầu tư…do đó đã có một số dấu hiệu dịu xuống của nền kinh tế đang nóng của nước này
c Sức ép nâng giá đồng nhân dân tệ (NDT)
Cùng với những tranh chấp thương mại, sức ép nâng giá đồng nhân dân
tệ cũng là một vấn đề nóng bỏng khác Các nước, nhất là Mỹ, EU, và Nhật Bản căn cứ vào mức thặng dư thương mại lớn và kéo dài của Trung Quốc, những lợi thế do năng suất lao động của nước này, dự trữ ngoại tệ ngày một tăng, mức lạm phát thấp và đóng góp ngày càng tăng của nước này vào tốc độ tăng trưởng toàn cầu, để rút ra kết luận là đồng NDT hiện đang được định giá quá thấp và đòi Trung Quốc phải nâng giá đồng NDT
Chính phủ Trung Quốc đã kiên quyết không tăng giá đồng NDT cho tới khi Mỹ dự định áp đặt mức thuế 27,5% đánh vào hàng hoá nhập khẩu của Trung Quốc vào tháng 5/2005 Ngày 21/7/2005, Trung Quốc đã nâng giá
Trang 30đồng NDT lên 2,1% và tỷ giá mới của đồng NDT lúc 19h ngày 21/7 được ấn định là 8,11 NDT/USD
Trước mắt, việc nâng giá đồng NDT có thể làm giảm bớt đầu tư nước ngoài, xuất khẩu chậm lại, tốc độ tăng trưởng kinh tế hạ thấp, tỷ lệ thất nghiệp tăng…Nhưng xét về tổng thể, nó sẽ góp phần thúc đẩy cân bằng thu chi quốc
tế, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và thị trường tài chính, có lợi cho việc xây dựng chính sách tiền tệ độc lập, tự chủ, phù hợp với điều kiện của Trung
Quốc
3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
3.2.1 Điều chỉnh chính sách kinh tế nhằm nâng cao sức cạnh tranh, tận dụng các lợi thế so sánh
Đẩy mạnh cải cách cơ cấu là giải pháp quan trọng nhất để có thể thực hiện một cách hiệu quả các cam kết với WTO Trung Quốc cũng như Việt Nam đều có những vấn đề cơ bản giống nhau, đó là hệ thống tài chính, ngân hàng yếu kém, các doanh nghiệp nhà nước chiếm một tỷ trọng tương đối lớn nhưng lại hoạt động kém hiệu quả…Và Trung Quốc đã và đang tiến hành một cuộc điều chỉnh cơ cấu mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực như hệ thống ngân hàng chuyển dần sang hoạt động theo cơ chế thị trường, cải cách các doanh nghiệp nhà nước… Với những tương đồng về cơ cấu, đây chính là những kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam
Sau khi gia nhập WTO, cơ cấu các ngành kinh tế cũng cần phải dựa trên
cơ sở lợi thế so sánh của đất nước, cũng như cung -cầu thị trường để cân nhắc trong quá trình phát triển kinh tế theo định hướng đã chọn, phải luôn theo dõi diễn biến của thị trường thế giới để có hướng bổ sung, điều chỉnh chính sách kinh tế nhằm tối ưu hoá các lợi ích kinh tế của đất nước
3.2.2 Hoàn thiện hệ thống pháp luật cho phù hợp với điều cầu của WTO
Trang 31WTO có hệ thống các hiệp định, quy định… liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau như thương mại hàng hoá, dịch vụ, kỹ thuật, thuế quan…và yêu cầu tất cả các thành viên phải tuân thủ triệt để Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy cần phải tập huấn nâng cao trình độ, trang bị kiến thức cần thiết về WTO, về các quy định, thể chế của tổ chức này cho các cán bộ làm luật và thi hành luật từ trung ương đến địa phương
Bên cạnh đó, cần nghiên cứu và xác định những quy định nào cần ban hành mới, quy định nào cần sửa đổi hoặc bãi bỏ Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy phải sớm ban hành các quy định về chống bán phá giá, chống trợ cấp, về quản lý xuất nhập khẩu hàng hoá dịch vụ…Đối với các quy định mới mẻ, có thể thuê các công ty tư vấn nước ngoài giúp soạn thảo, còn các cơ quan của ta sẽ thẩm định và phê duyệt
3.2.3 Vận dụng quy tắc và cơ chế của WTO để ứng phó có hiệu quả với các tranh chấp thương mại
Trong hoàn cảnh hiện nay, Việt Nam cũng giống như Trung Quốc, sẽ không thể tránh khỏi các tranh chấp thương mại Do đó Việt Nam sẽ cần phải vận dụng linh hoạt các quy tắc của WTO để xử lý tốt các tranh chấp thương mại phát sinh, tránh rơi vào tình trạng tranh chấp thương mại triền miên như Trung Quốc Muốn vậy, Việt Nam cần phải từng bước xây dựng và kiện toàn
cơ chế ứng phó với tranh chấp thương mại, định ra chiến lược ứng phó thống nhất đối với các biện pháp như chống bán phá giá, chống trợ cấp hay các biện pháp đặc biệt mà các thành viên WTO áp đặt cho Việt Nam Để làm được điều đó, chúng ta cần tăng cường công tác nghiên cứu các quy tắc của WTO, đồng thời đào tạo đội ngũ chuyên viên giải quyết các tranh chấp thương mại một cách hiệu quả Bên cạnh việc ứng phó với các biện pháp bảo vệ từ bên ngoài, chúng ta cũng cần làm tốt công tác chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu, chống trợ cấp và tiến hành các biện pháp bảo hộ hợp lý cho các doanh nghiệp trong nước Cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống dự báo xuất
Trang 32nhập khẩu và cơ chế dự báo tổn thất ngành nghề, cung cấp căn cứ khoa học và các biện pháp hữu hiệu bảo vệ thị trường trong nước và an ninh kinh tế quốc
xử ưu đãi với các nước đang và chậm phát triển để giúp các nước này cải cách
và phát triển kinh tế - thương mại Quy định trong các hiệp định cho phép các nước này có thời gian chuyển đổi để phù hợp với các quy định của WTO, và
để thực hiện các cam kết của WTO Thực tế cho thấy Trung Quốc đã áp dụng rất linh hoạt các biện pháp thay thế mà không vi phạm các quy định của WTO
và các cam kết Do đó, chúng ta nên nắm vững các quy định của WTO, đặc biệt là các ngoại lệ đó để từ đó có những biện pháp thích hợp bảo vệ những ngành sản xuất non trẻ trong nước
3.2.5 Đổi mới tư duy kinh tế
Đổi mới tư duy kinh tế phải được tiến hành từ cấp nhà nước đến các doanh nghiệp Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy nước này đã nhanh chóng thay đổi tư duy kinh tế để phù hợp với tình hình mới Nước này thừa nhận mọi thành phần kinh tế đều là các bộ phận cấu thành của nền kinh tế XHCN, xem chế độ cổ phần là hình thức thực hiện chủ yếu của chế độ công hữu, thay thế cho quan điểm truyền thống xem hình thức thực hiện chủ yếu của chế độ công hữu là kinh tế quốc hữu và tập thể…Và kết quả là việc tạo điều kiện cho kinh tế phi công hữu và kinh tế có cổ phần đã tạo ra điểm tựa quan trọng cho vị thế cạnh tranh của Trung Quốc trên trường quốc tế như hiện nay Do vậy, điều cần thiết đối với Việt Nam hiện nay là phải thay đổi ngay tư duy kinh tế nhất là đối với nền kinh tế thị trường nếu muốn thực hiện tốt các cam kết với WTO và tiến nhanh tới một nền kinh tế thị trường
Trang 33Không chỉ nhà nước phải đổi mới tư duy kinh tế mà chính các doanh nghiệp cũng phải thay đổi cách nghĩ của mình nếu muốn tồn tại trong cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt Điều đó có nghĩa là phải xác định sự sống còn của doanh nghiệp là ở uy tín, năng lực cạnh tranh của chính doanh nghiệp, chứ không phải những ưu đãi của Nhà nước đối với các doanh nghiệp Nhà nước và kiểu làm ăn chụp giật đối với các doanh nghiệp tư nhân
Trang 34CHƯƠNG II:
TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT
NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM
I Tổng quan về hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn trước khi gia nhập WTO
1.1 Xuất khẩu
1.1.1 Quy mô, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu
Xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001 - 2006 đã có những bứt phá rất mạnh mẽ Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tăng trưởng khá chậm vào những năm 2001 - 2002, nhưng đã vươn lên đạt mức trên 20%/ năm từ 2003 tới nay Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá đã tăng gấp 2,64 lần trong thời gian 5 năm, từ 15 tỷ USD năm 2001 lên 39,6 tỷ USD năm 2006
Bảng 2-1: Tổng mức lưu chuyển hàng hoá xuất khẩu
Kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người cũng tăng từ 186,8 USD năm
2000 lên 391 USD năm 2005, và lên 473,2 USD năm 2006, khả năng năm
2007 sẽ đạt 557 USD Tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu so với GDP tăng nhanh từ 46,5% năm 2000, lên 61,3% năm 2005, lên 65% năm 2006 và 67% năm 2007
- thuộc loại cao so với các nước khác (đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN, đứng thứ 5 ở châu Á và thứ 8 trên thế giới)
Trang 35Với tốc độ tăng trưởng nhanh trong những năm qua, xuất khẩu của Việt Nam ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới, từ 0,2% năm 1999 lên đến gần 0,3% năm 2004
1.1.2 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu
Với chính sách ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu nguyên liệu thô và sơ chế, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu đã có những chuyển biến tích cực trong những năm gần đây Tỷ trọng hàng chế biến sâu và nhóm hàng công nghiệp trong cơ cấu xuất khẩu liên tục tăng : từ 8% (1991) lên 44,2% (2000) và 50,5% (2003) Tỷ trọng xuất khẩu hàng thô và sơ chế tương ứng giảm từ 55,8% (2000) xuống còn 49,5%(2003), nhưng vẫn ở mức cao so với mức trung bình của thế giới (22,4%) Dưới đây
là tình hình xuất khẩu một số nhóm hàng giai đoạn 2001-2006
Bảng2-2: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu giai đoạn 2001-2006
Đơn vị: triệu USD, %
Trang 36Nếu năm 1997 ta chỉ có 6 mặt hàng xuất khẩu chủ lực đạt kim ngạch trên
100 triệu USD thì đến năm 2005 đã tăng lên 17 mặt hàng Đặc biệt, năm 2006 được xem là năm ghi nhận nhiều kỷ lục của các sản phẩm nằm trong nhóm các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, dù cho có khá nhiều biến động về thị trường
và các rào cản thương mại Kết thúc năm 2006, đã có 9 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, đó là thủy sản, cao su, gạo, dầu thô, dệt may, giày dép, hàng điện tử và linh kiện máy tính, sản phẩm gỗ, cà phê
1.1.3 Cơ cấu thị trường xuất khẩu
Việt Nam đã mở rộng thị trường xuất khẩu sang hầu hết các quốc gia ở khắp châu lục trên thế giới Tính đến năm 2005, hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam đã mặt tại hơn 220 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó bao gồm nhiều trung tâm kinh tế lớn của thế giới Đây là một yếu tố có vai trò quan trọng trong việc duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao và ổn định trong những năm gần đây
Những năm gần đây, thị trường xuất khẩu của Việt Nam đang phát triển theo hướng mở rộng sang các thị trường Mỹ, các nước thuộc EU, thị trường Liên bang Nga và các nước Đông Âu đang dần được khôi phục Tuy nhiên, châu Á vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất, trung bình chiếm tới 49,9% tổng kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2001-2006
Về thị trường châu Mỹ, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu tăng đều trong giai đoạn vừa qua, từ 8,9% (2001) lên tới 23,1% (2006) Tại khu vực này, Mỹ vẫn
là đối tác chính của Việt Nam về xuất khẩu với kim ngạch 8 tỷ USD (2006), chiếm 86,8% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá sang thị trường châu
Mỹ Nếu năm 1995 là năm hai nước bình thường hoá quan hệ ngoại giao, xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ mới chỉ đạt 200 triệu USD (3,6% tổng kim ngạch xuất khẩu), thì năm 2002 – năm đầu tiên Hiệp định thương mại Việt-
Mỹ có hiệu lực – con số này đã lên tới 2,4 tỷ USD (14,5 % tổng kim ngạch
Trang 37xuất khẩu) Mỹ đã trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam năm
2005 với tỷ trọng gần 20,2% (tương đương 6,5 tỷ USD)
Trong khi đó, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường châu Âu lại giảm dần, từ 23,4% năm 2001 xuống còn 19,2% năm 2006 Tại khu vực này,
EU vẫn luôn là đối tác lớn của hàng xuất khẩu Việt Nam; chiếm 89,2% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá sang thị trường châu Âu (tương đương 6,77 tỷ USD) năm 2006
Đây là những kết quả tích cực của chính sách đa phương hoá thị trường,
mở cửa thị trường và hội nhập mà Việt Nam đã kiên trì thực hiện trong thời gian qua
Bảng 2-3: Cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001 - 2006
Đơn vị: Triệu USD, %
43,5( 1)
Trang 381.1.4 Cơ cấu thành phần kinh tế tham gia xuất khẩu
Các thành phần kinh tế tham gia xuất khẩu không ngừng được mở rộng,
đa dạng hoá và hoạt động ngày càng hiệu quả, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân và khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và kinh tế tư nhân tuy mới tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu nhưng đã có những đóng góp ngày càng quan trọng Năm 2001, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mới xuất khẩu được 3,6 tỷ USD, thì đã tăng lên tới 18,5 tỷ USD (chiếm 57% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước) vào năm 2005 Khu vực này đang xuất siêu với mức độ ngày càng tăng Năm 2006 xuất siêu tới 5,55 tỉ USD, trong khi đó khu vực trong nước nhập siêu tới 10,3 tỉ USD Trong giai đoạn gần đây, khoảng 75% kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài là hàng chế biến, trong đó chủ yếu là giầy dép và hàng may mặc; ngoài ra còn có một số mặt hàng có hàm lượng kỹ thuật cao như hàng
điện tử, máy tính, cáp điện Bảng 2-4 dưới đây cho ta thấy rõ mức tăng trưởng
này trong những năm qua
Bảng2-4: Xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thời
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư, http://.mpi.gov.com
Năm 2006, mặc dù tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước tăng; nhưng có thể nhận thấy một điểm tích cực, đó là trước đây tốc độ tăng
Trang 39kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI thường cao hơn so với khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước 1,5-2 lần, thì nay, tốc độ tăng của hai khu vực này đã gần xấp xỉ nhau (20,5% và 23,2%) Đây chính là kết quả của quá trình đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ của khu vực doanh nghiệp trong nước nhằm nâng cao kim ngạch xuất khẩu
Như vậy, qua đây ta có thể thấy chủ trương thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành sản xuất phục vụ xuất khẩu đã phát huy hiệu quả, đồng thời thể hiện khả năng cạnh tranh xuất khẩu của khu vực này hơn hẳn so với khu vực trong nước do có lợi thế về công nghệ, định hướng mặt hàng và thị trường
Bảng 2-5: Tỷ trọng KNXK của khu vực doanh nghiệp có vốn FDI và khu
vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước
KNXK năm 2004 KNXK năm 2005 KNXK năm 2006
Giá trị (triệu USD)
Tốc độ tăng 04/03
tỷ trọng (%)
Giá trị (triệu USD)
Tốc độ tăng 05/04
Tỷ trọng (%)
Giá trị (triệu USD)
Tốc độ tăng 06/05
Tỷ trọng (%)
1.2.1 Quy mô, tốc độ tăng trưởng nhập khẩu
Trong giai đoạn 2001-2005, tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt khoảng 129,6 tỷ USD, bình quân mỗi năm tăng khoảng 17,55%, vượt 2,55%
Trang 40so với mục tiêu đặt ra trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội thời kỳ
2001-2010 Nhập khẩu năm 2006 đạt 44,8 tỷ USD, tăng 22 % so với năm 2005 Hoạt động nhập khẩu đã đáp ứng nhu cầu về trang thiết bị, phụ tùng, nguyên liệu cho các ngành kinh tế và nhu cầu tiêu dùng của xã hội đối với một số mặt hàng trong nước chưa sản xuất được, cũng như nhằm bảo hộ một
số ngành trong nước và phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới
Biểu 1: Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2000-2006
Số liệu: Tổng cục thống kê & tính toán của tác giả
Điều đáng quan tâm là tình trạng nhập siêu gia tăng trở lại rất nhanh, từ năm 2001 đến năm 2003 lần lượt là 7,6%; 18,1%; 25,7%; năm 2004 dù đã giảm nhiều so với những năm trước nhưng vẫn đứng ở mức cao là 20,7% Nhập siêu trong cả giai đoạn 2001-2005 đạt 19,4 tỷ USD, bằng 17,6% kim ngạch xuất khẩu, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập siêu khoảng 10,9 tỷ USD/34,130 tỷ USD tỷ xuất khẩu (chiếm 45,2% tổng giá trị nhập siêu của cả nước); khu vực 100% vốn trong nước nhập siêu 8,990 USD/76,057 tỷ USD xuất khẩu (chiếm 54% tổng nhập siêu) Năm 2006,