Giới thiệu về rơm, rạ Rơm là phụ phẩm của các cây lương thực như lúa nước, lúa cạn, lúa mì, lúa mạch là nguồn thức ăn dự trữ chủ yếu và phổ biến nhất của gia súc, làm phân bón hữu cơ cun
Trang 1Sử dụng phụ phẩm từ sản xuất và chế biến lúa ở Đồng bằng
Sông Cửu Long
I Giới thiệu chung
Ở Việt Nam, ba khu vực sản xuất lúa gạo chính là Đồng bằng Sông Cửu Long, khu vực Trung Du và Đồng bằng Sông Hồng Với sản lượng hơn 7 triệu tấn/năm, là quốc gia đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo Mỗi năm Việt Nam có thể sản xuất ra khoảng 40 triệu tấn năng lượng sinh khối với 32 triệu tấn rơm, rạ và 8 triệu tấn trấu Thay vì đốt bỏ ngoài đồng, nếu Việt Nam tận dụng được nguồn phụ phẩm từ lúa gạo này cho sản xuất năng lượng sinh khối sẽ mang lại những lợi ích đáng kể, vừa khai thác được nguồn năng lượng tái tạo khổng lồ vừa giảm đáng kể ô nhiễm môi trường Bên cạnh đó việc tận dụng các phụ phẩm như rơm rạ, cám gạo, trấu… vừa giúp giảm thất thoát sau thu hoạch vừa tăng giá trị cho cây lúa
II Một số phụ phẩm
2.1 Rơm, rạ
2.1.1 Giới thiệu về rơm, rạ
Rơm là phụ phẩm của các cây lương thực như lúa nước, lúa cạn, lúa mì, lúa mạch là nguồn thức ăn dự trữ chủ yếu và phổ biến nhất của gia súc, làm phân bón hữu cơ cung cấp lại cho đồng ruộng, làm cho đất tơi xốp và duy trì được độ màu mỡ, một lượng nhỏ được sử dụng làm nấm rơm (ở miền Nam)
Rơm có giá trị năng lượng và tỷ lệ chất xơ cao (31-33%), ít protein (2,2-3,3%) và rất ít chất béo (1-2%), chứa khoảng 0,6% N, 0,1% P cũng như S, 1,5% K, 5% Si và 40%C Rơm rạ là nguồn tài nguyên rất quý giá trong cả sản xuất nông nghiệp cũng như trong công nghiệp, có nhiều gia trị và đem lại lợi nhuận kinh tế cao
2.1.2 Các sản phẩm của rơm
2.1.2.1 Nấm rơm
Nấm rơm là một loài nấm trong họ nấm lớn, sinh trưởng và phát triển từ các loại rơm rạ Nấm gồm nhiều loài khác nhau, có đặc điểm hình dạng khác nhau như có loại màu xám trắng, xám, xám đen… kích thước đường kính “cây nấm” lớn, nhỏ tùy thuộc từng loại
Cấu tạo:
- Bao gốc (volva): Dài và cao lúc nhỏ, bao lấy tai nấm Khi tai nấm trưởng thành, nó
chỉ còn lại phần trùm lấy phần gốc chân cuống nấm, bao nấm là hệ sợi tơ nấm chứa sắc tố melanin tạo ra màu đen ở bao gốc Độ đậm nhạt tùy thuộc vào ánh sáng Ánh sáng càng nhiều thì bao gốc càng đen
- Cuốn nấm: Là bó hệ sợi xốp, xếp theo kiểu vòng tròn đồng tâm Khi còn non thì
mềm và giòn Nhưng khi già xơ cứng và khó bẻ gãy
- Mũ nấm: Hình nón, cũng có melanin, nhưng nhạt dần từ trung tâm ra rìa mép.
Nấm rơm là một trong những loại thực phẩm giàu dinh dưỡng, trong 100g nấm khô có tới 21% protein (đạm), 20,1mg vitamin C, 1,2mg thiamin (vitamin B), 17,2mg Sắt,
Trang 271mg Canxi, và 677mg Phốt pho cao hơn cả trứng Ngoài ra, nấm rơm còn chứa nhiều loại vitamin khác như A, D, E, đặc biệt có đến 7 loại a-xít amin thiết yếu mà cơ thể không tổng hợp được
Do quả thể nấm rơm mềm, xốp, chứa nhiều axit amin và vitamin nên nấm rơm có nhiều giá trị trong dinh dưỡng và dược liệu, là loại quen thuộc nhất là các làng quê vì thường được sử dụng làm thực phẩm, nấm rơm còn là món ăn trị nhiều bệnh
Nấm rơm có thể chế biến thành nhiều món ăn khoái khẩu như xào với thịt lợn, thịt bò, nấu canh, nấu lẩu, kho với thịt lợn, hầm với thịt gà, kho chay, nướng với lươn…
Theo Đông y, nấm rơm có vị ngọt, tính hàn có công năng bổ tỳ, ích khí, tiêu thực, khử nhiệt, tăng sức đề kháng, có khả năng kháng ung thư và làm hạ cholesterol máu, trị liệu hiệu quả nhiều bệnh chứng.
Nấm rơm là loại nấm dễ trồng, có giá trị dinh dưỡng và dược liệu cao nên ngày càng được nhiều nông dân tham gia sản xuất, nghề trồng nấm rơm còn mang lại ý nghĩa xã hội to lớn tạo nhiều công ăn việc làm cho lao động nông thôn, tăng nguồn thu nhập cho nông dân, Ngoài ra, việc tận dụng rơm rạ nguyên liệu để làm nấm còn có ý nghĩa
xã hội lớn khi giải quyết được tình trạng vứt, đốt rơm bừa bãi
Thị trường tiêu thụ nấm rơm còn nhiều khó khăn do thời gian bảo quản nấm rơm tương đối ngắn, chỉ 24 giờ sau khi thu hoạch hoặc sau 7-10 ngày nếu dùng các biện pháp xử lý bảo quản Vì vậy, bên cạnh việc hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân, ngành nông nghiệp cần có biện pháp định hướng đầu ra sản phẩm để việc nhân rộng mô hình trồng nấm rơm trái vụ trên ruộng phát huy hiệu quả cả về mặt kinh tế và xã hội
2.1.2.2 Thức ăn cho chăn nuôi gia súc
Tỷ lệ nguyên liệu: Rơm khô (ẩm độ 12-14%) 100 kg; Urê 4 kg; Muối ăn 0,5 kg; Nước
lã sạch 70-80 lít
Cách tiến hành:
- Hoà tan urê, muối vào nước theo công thức đã ghi ở mục tỷ lệ nguyên liệu ở trên.
- Khối lượng rơm ủ mỗi lần tuỳ thuộc vào nhu cầu sử dụng của gia súc và dụng cụ
chứa đựng
- Lần lượt rải rơm theo từng lớp 20cm vào hố ủ, khuấy đều dung dịch urê - muối, sau
đó dùng vòi nước tưới đều lên rơm, lần lượt tiến hành như vậy tới khi hết lượng rơm cần ủ
- Dùng vật liệu đệm lót phủ kín lại, có thể dùng gạch, ngói, củi khô chặn lên để đống
rơm ủ luôn kín trong suốt thời gian ủ
Phương pháp này đơn giản dễ áp dụng và đã làm tăng tỉ lệ tiêu hoá thêm 10-15%, tăng gần gấp đôi hàm lượng ni-tơ trong rơm, gia súc thích ăn và đã ăn được lượng chất khô tăng thêm 50% so với rơm không chế biến, cho tăng trọng hàng ngày cao hơn 30%, tiêu tốn thức ăn lại giảm 6% so với rơm chưa chế biến Bên đó làm tăng tính chủ động nguồn thức ăn cho đàn gia súc, giảm giá thành chăn nuôi, tăng tính cạnh tranh và hướng tới nền sản xuất nông nghiệp hiệu quả và bền vững
2.1.2.3 Chế biến rơm rạ thành phân bón hữu cơ
Chế biến rơm rạ thành phân bón hữu cơ là sử dụng chế phẩm vi sinh Biomix-RR để xử
Trang 3Chế phẩm bao gồm hỗn hợp các chủng vi sinh vật phân giải hữu cơ, vi sinh vật kháng bệnh cho cây trồng, các nguyên tố khoáng, vi lượng có tác dụng bổ sung các chủng giống vi sinh vật phân giải hữu cơ, có khả năng phân giải nhanh và triệt để rơm rạ thành phân bón hữu cơ vi sinh giàu dinh dưỡng phục vụ sản xuất nông nghiệp Đây sẽ
là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây, cải tạo độ màu mỡ và bổ sung cho đất một lượng lớn vi sinh vật, góp phần nâng cao năng suất, tạo ra sản phẩm sạch không ảnh hưởng tới sức khoẻ người sử dụng, không ảnh hưởng tới môi trường sinh thái xung quanh
Quy trình chế biến rơm rạ thành phân bón hữu cơ được thực hiện thông qua các bước: Rơm rạ tươi sau thu hoạch được chất đống với chiều rộng 2m, cứ mỗi lớp 30cm tưới một lượt dung dịch chế phẩm Biomix-RR, bổ sung thêm NPK và phân chuồng nếu có Sau đó, tiến hành ủ rơm rạ bằng cách sử dụng nilon, bạt, tải rách, bùn che đậy kín bảo đảm nhiệt độ ủ từ 45-500C Sau 10-15 ngày tiến hành kiểm tra và đảo trộn để bảo đảm
độ ẩm cũng như nhiệt độ của đống ủ luôn trong mức tối ưu, tạo điều kiện cho quá trình phân hủy rơm rạ diễn ra nhanh chóng và triệt để
Chất lượng rơm rạ sau 30 ngày ủ với chế phẩm Biomix-RR phân hủy tốt chuyển sang màu nâu, vi khuẩn, nấm mốc phát triển tốt, rơm rạ phân hủy được khoảng 80-85% bổ sung men vi sinh vật và dinh dưỡng, sau 30 ngày, hàm lượng cacbon tổng số giảm, hàm lượng đạm, lân hữu hiệu, mật độ các vi sinh vật đều tăng
Ứng dụng chế phẩm vi sinh BIOMIX-RR chế biến rơm rạ thành phân hữu đã đáp ứng được nhiều mục tiêu như:
- Nâng cao nhận thức của người dân về tác hại của việc đốt hoặc thải bừa bãi rơm, rạ
sau thu hoạch dẫn đến lãng phí tài nguyên, ô nhiễm môi trường
- Đồng thời giúp các hộ dân tiếp cận với công nghệ mới trong việc xử lý rơm, rạ thành
phân bón hữu cơ vi sinh phục vụ sản xuất nông nghiệp, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tránh thoái hóa và tăng độ phì nhiêu của đất
- Đặc biệt, khi ứng dụng loại phân hữu cơ này bón cho cây lúa, ngô, lượng phân hóa
học giảm từ 20-30%, năng suất cây trồng tăng từ 10-15%, góp phần tiết kiệm chi phí sản xuất và tăng giá trị kinh tế cho bà con nông dân
- Bên cạnh lợi ích kinh tế đem lại, việc sử dụng các chế phẩm sinh học như
Biomix-RR để xử lý rơm rạ thành phân ủ hữu cơ bón cho cây trồng sẽ tận dụng sản phẩm dư thừa sau thu hoạch nhằm bổ sung phân hữu cơ tại chỗ, tiết kiệm chi phí và tạo thói quen cho người dân không đốt rơm rạ sau thu hoạch, bảo vệ môi trường, tăng độ phì cho đất và nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng
Để mô hình xử lý rơm rạ bằng chế phẩm sinh học được nhân rộng, thời gian tới rất cần
sự quan tâm của các cấp, các ngành trong việc đẩy mạnh tuyên truyền để người dân nhận thức được tầm quan trọng của việc thu gom, xử lý rơm rạ sau thu hoạch làm phân
ủ hữu cơ Thực hiện chính sách khuyến khích hỗ trợ nông dân xử lý rơm rạ như đầu tư
hỗ trợ tiền mua chế phẩm, đầu tư kinh phí cho công tác đào tạo, tập huấn, Nếu làm được như vậy chắc chắn sẽ góp phần phát triển một nền nông nghiệp sạch, bền vững, tránh lãng phí, giảm ô nhiễm môi trường
Trang 42.2 Trấu
2.2.1 Giới thiệu
Trấu là lớp vỏ ngoài cùng của hạt lúa và được tách ra trong quá trình xay xát Trong vỏ trấu chứa khoảng 75% chất hữu cơ dễ bay hơi sẽ cháy trong quá trình đốt và khoảng 25% còn lại chuyển thành tro (Theo Energy Efficiency Guide for Industry in Asia– www.energyefficiencyasia.org ) Chất hữu cơ chứa chủ yếu cellulose, lignin và Hemi -cellulose (90%), ngoài ra có thêm thành phần khác như hợp chất nitơ và vô cơ Lignin
chiếm khoảng 25-30% và cellulose chiếm khoảng 35-40%.
Trấu là nguồn nguyên liệu rất dồi dào và lại rẻ tiền: Sản lượng lúa năm 2007 cả nước đạt 37 triệu tấn, trong đó lúa đông xuân 17,7 triệu tấn, lúa hè thu 10,6 triệu tấn, lúa mùa 8,7 triệu tấn (Nguồn: Bộ Nông Nghiệp và phát triển Nông Thôn) Như vậy lượng
vỏ trấu thu được sau xay xát tương đương 7,4 triệu tấn
Bảng 1: Thành phần hóa học của vỏ trấu
Thành phần SiO 2 Al 2 O 3 Fe 2 O 3 CaO MgO K 2 O Na 2 O SO 3 MKN
Hàm lượng,
% 90,21 0,68 0,74 1,41 0,59 2,38 0,25 0 3,12
Nguồn: “Bộ Nông Nghiệp và phát triển Nông Thôn”
Các chất hữu cơ của trấu là các mạch polycarbohydrat rất dài nên hầu hết các loài sinh vật không thể sử dụng trực tiếp được, nhưng các thành phần này lại rất dễ cháy nên có thể dùng làm chất đốt Sau khi đốt, tro trấu có chứa trên 80% là silic oxyt, đây là thành phần được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực
Hiện trạng trấu ở Việt Nam
Vỏ trấu tại Đồng bằng sông Cửu Long, chúng thường không được sử dụng hết nên phải đem đốt hoặc đổ xuống sông suối để tiêu hủy Theo khảo sát, lượng vỏ trấu thải
ra tại Đồng bằng sông Cửu Long khoảng hơn 3 triệu tấn/năm, nhưng chỉ khoảng 10% trong số đó được sử dụng
Các nhà máy xay xát của tỉnh Hậu Giang thải ra khoảng 220.000 tấn trấu, trung bình mỗi ngày, mỗi nhà máy xay xát thải ra 24,5 tấn trấu Lượng trấu thải ra không được tiêu thụ ngay, ứ đóng lại Các nhà máy thường ung trấu thành phân trấu, đổ thành đống
Hình 1: Trấu
Trang 5cao Lượng vỏ trấu quá nhiều, không còn chỗ để chứa thì cách duy nhất là tuôn xuống sông để nước sông cuốn trôi
Hình 2: Vỏ trấu được thải bỏ
2.2.2 Các sản phẩm của trấu
2.2.2.1 Làm chất đốt
Từ lâu, vỏ trấu đã là một loại chất đốt rất quen thuộc với bà con nông dân, đặc biệt là
ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Chất đốt từ vỏ trấu được sử dụng rất nhiều trong cả sinh hoạt (nấu ăn, nấu thức ăn gia súc) và sản xuất (làm gạch, sấy lúa)
Nguyên liệu trấu có các ưu điểm nổi bật khi sử dụng làm chất đốt: Vỏ trấu sau khi xay xát ở dạng khô, có hình dáng nhỏ và rời, tơi xốp, nhẹ, vận chuyển dễ dàng Thành phần là chất xơ cao phân tử rất khó cho vi sinh vật sử dụng nên việc bảo quản, tồn trữ rất đơn giản, chi phí đầu tư ít
Đối với sản xuất tiểu thủ công nghiệp và chăn nuôi, trấu cũng được sử dụng rất thường xuyên Thông thường trấu là chất đốt dùng cho việc nấu thức ăn nuôi cá hoặc lợn, nấu rượu và một lượng lớn trấu được dùng nung gạch trong nghề sản xuất gạch tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long
Hình 3: Lò đốt trấu
2.2.2.2 Củi trấu và trấu viên nén
Củi trấu
Củi trấu là thanh củi có màu nâu, hình vành khuyên với lỗ tròn ở giữa để dễ cháy Dạng ống dài khoảng 10-40cm, đường kính 40-80mm, dày khoảng 20cm, nặng 1kg Củi trấu duy trì sự cháy lâu hơn nấu trực tiếp bằng trấu và than đá Cũng như các loại chất đốt khác, củi trấu có thể sử dụng cho lò truyền thống, cà ràng, bếp than, bếp than,
…rất dễ dàng vì bắt lửa than, không có khói và khi cháy thì có mùi rất dễ chịu
Trang 6Hình 4: Củi trấu
Quy trình sản xuất củi trấu
Trấu nguyên liệu đưa vào máy ép, bộ phận sấy tự động của máy sẽ làm giảm độ ẩm xuống còn dưới 12%, sau đó ép thành thanh củi cứng, dạng ống dài từ 10-40cm, đường kính từ 40-80mm Cứ 1,05 kg trấu, sẽ cho ra 1kg củi trấu thành phẩm Năng suất của loại máy ép mỗi máy ép có thể đạt được 150-200kg/giờ Do trong bản thân phế phẩm nông nghiệp này đã có chứa sẵn chất kết dính (gọi là lignin) nên khi ép, tác dụng của nhiệt ma sát và nhiệt từ khuôn ép đã giúp tạo nên một chất kết dính chắc chắn Do vậy, củi trấu này còn chắc hơn cả gỗ củi dùng thông thường khác
Thông số kỹ thuật củi trấu
Đường kính củi :40 - 80cm
Chiều dài củi: 10 - 40cm
Độ ẩm toàn phần : <10%
Hàm lượng tro : 12,8 %
Giá trị năng lượng : 3800- 4200 kcal/kg
Tỷ trọng : 1350 ~ 1400 kg/m3
Đóng gói : 40 ~ 50 kg/ Bao PP
Ưu điểm của củi trấu
Củi trấu dễ bén lửa, mùi tỏa ra rất dễ chịu
Khả năng duy trì sự cháy của củi trấu lâu hơn so với các nhiên liệu đốt khác như than
đá, củi, và các loại chất đốt khác
Giá thành rẻ nên sản phẩm củi trấu dùng để đốt lò hơi công nghiệp phục vụ cho lò sấy,
lò nhuộm vải, dệt sợi, giấy, may mặc, chế biến thủy sản, chế biến nông sản Dùng củi trấu thay thế cho than đá và dầu DO,FO,than củi
Trấu viên nén
Trấu viên dạng nén có thể tích nhỏ nên dễ cháy, đường kính 8mm và có màu vàng nâu
Dễ thu được nhiệt lượng cao có mùi thơm dễ chịu nên được người tiêu dùng ưa chuộng trong khi giá thành lại rẻ
Trang 7Hình 5: Trấu viên
Quy trình sản xuất trấu viên
Vỏ trấu => Nghiền => Ép viên => Sàng bụi, làm nguội => Đóng gói
Viên trấu được nén dùng nguyên liệu chính là vỏ trấu, sau khi đưa vào bồn chứa được xay nhuyễn, sấy qua hệ thống lọc bụi được chuyển đến máy nén áp suất cao. Trấu được nén thành viên tiếp tục được cho vào hệ thống làm lạnh để tạo thành các viên nén rắn chắc và được đóng gói đưa vào sử dụng
Thông số kỹ thuật của trấu viên
- Màu: vàng nâu
- Độ ẩm toàn phần: <12%
- Hàm lượng tro: <15%
- Nhiệt lượng: 3800-4200 Kcail/kg
- Tỷ trọng: 630-680 kg/m3
- Không lẫn tạp chất
- Đường kính: 8mm
Ưu điểm của trấu viên
Nguồn năng lượng tái tạo bền vững, sạch, không gây ô nhiễm môi trường
Có thể vận chuyển rất thuận tiện do kích thước sản phẩm nhỏ
Cách sử dụng đơn giản, dễ dàng vệ sinh thiết bị sau khi sử dụng
Lượng tro thải ra sau khi đốt rất mịn, có thể tận dụng dùng phân bón sạch
Đồng thời, sử dụng trấu viên sẽ giúp các doanh nghiệp sản xuất tiết kiệm được chi phí nhiên liệu rất lớn và đem lại lợi nhuận tối ưu
2.2.2.3 Dùng vỏ trấu để lọc nước
Tại thành phố Hải Dương đã có người phát minh ra cách chế tạo thiết bị lọc nước từ vỏ trấu, có khả năng lọc thẳng nước ao, hồ thành nước uống sạch Cốt lõi của thiết bị là một cụm sứ xốp trắng, hình trụ nằm trong chiếc bình lọc Điều đặc biệt là loại sứ này được tạo ra bằng cách tách oxit silic từ trấu, có đặc tính lọc cực tốt, với lỗ lọc siêu nhỏ, nhỏ hơn lỗ lọc của thiết bị của Mỹ tới 10 lần, của Nhật 4 lần, ngoài ra nó cũng có độ bền cao (có thể sử dụng 10 đến 20 năm)
Trang 8Thiết bị còn có khả năng khử được mùi ở nguồn nước ô nhiễm, khử chất dioxin khi mắc nối tiếp một bình lọc có ống lọc bằng than hoạt tính
2.2.2.4 Vỏ trấu làm sản phẩm mỹ nghệ
Huyện Gia Viễn, Ninh Bình người ta đã tạo ra các sản phẩm mỹ nghệ nội thất từ vỏ hạt thóc Vỏ hạt thóc (trấu) được nghiền nhỏ tạo thành bột dưới dạng mịn và bột sợi Sau khi kết hợp với keo, trấu được cho vào máy ép định hình sản phẩm và sấy khô, hoàn thiện để trở thành một sản phẩm mỹ nghệ hoàn chỉnh, có khả năng xuất khẩu
Hình 6: Bình hoa, tượng từ trấu
2.2.2.5 Aerogel vỏ trấu – Mặt hàng công nghệ cao làm từ vỏ trấu
Hình 7: Vật liệu Aerogel cách âm và nhiệt
Aerogel vỏ trấu được sản xuất từ loại tro trắng tinh sạch, có dạng hạt rời cứng giòn, trong suốt, cực mịn đến cấp hạt nano, được đóng gói để bán hoặc ép thành cấu kiện cung cấp cho nhà máy
Trong kỹ thuật sản xuất aerogel, vỏ trấu được rửa sạch, khử tạp chất bằng acid sulfuric, phơi khô, rồi đem đốt trong buồng gió ở nhiệt độ 650-7000C Ở nhiệt độ kiểm soát này tro trấu tạo thành là loại tro trắng 92-97%, silic không kết tinh, cấp hạt nano,
có hoạt tính rất cao Hàm lượng tro đem gồm nhóm SiOH và SiO2 kết tinhhình thành trong đó rất thấp Tro trắng 98% cũng là nguyên liệu thương phẩm cung cấp cho nhiều ngành công nghiệp khác nhau, trong đó có ngành sản xuất tấm pin mặt trời và làm con chip điện tử
Tro đốt sau đó được cho hòa tan trong dung dịch hydroxid sodium và khuấy đều ở
900C để tạo thành silicar sodium Dùng acid sulfuric để chuyển toàn bộ dung dịch silicat sodium sang thể hydrogel Cũng có nơi dùng dấm chua tức acid acetic thay thế acid sulfuric để hạ giá thành Để hydrogel ổn định trong khoảng 5 ngày rồi dùng nước
Trang 9rửa mạnh để loại bỏ sulfat sodium sinh ra từ quá trình phản ứng Cuối cùng chuyển hydrogel thành alcogel bằng cách đưa rượu ethanol vào đầy nước ra ngoài
Sau đó đưa alcogel vào các nồi áp suất, bổ sung vào đó một ít rượu, rồi nâng nhiệt từ
từ trong khoảng 7 giờ: 500C/giờ cho đến 2000C, rồi 250C/giờ cho đến 2750C và giữ mức nhiệt này trong khoảng 1 giờ để toàn bộ alcol bay ra thành hơi Cho hơi rượu thoát từ từ ra khỏi nồi trong vòng 1 giờ rưỡi để hạ áp suất bên trong đến mức bình thường Từ đó bắt đầu hạ nhiệt xuống, cũng từ từ để có mẻ sản phẩm aerogel tốt
2.2.2.6 Làm nguyên liệu xây dựng sạch
Trong trấu có chứa hàm lượng SiO2 rất nhiều, đây lại là thành phần chính trong xi măng phục vụ cho việc xây dựng Vỏ trấu nghiền mịn và có thể được trộn với các thành phần khác như mụn dừa, hạt xốp, xi măng, phụ gia và lưới sợi thuỷ tinh Trọng lượng của vật liệu nhẹ hơn gạch xây thông thường khoảng 50% và có tính cách âm, cách nhiệt và không thấm nước cao Đây là vật liệu thích hợp với các vùng như miền Tây, miền Trung bị ngập úng, lũ lụt và nền đất yếu Sau khi sử dụng có thể nghiền nát
để tái chế lại Hiện nay đã có công ty sản xuất thương mại loại vật liệu này ứng dụng vào thực tế (theo: http://wedo.com.vn/Ky-Thuat-bai765.htm , Sài gòn tiếp thị)
2.2.2.7 Các ứng dụng khác của vỏ trấu
Một số ứng dụng khác của vỏ trấu: Vỏ trấu còn có thể dùng làm thiết bị cách nhiệt, làm chất độn, giá thể trong công sản xuất meo giống để trồng nấm, dùng đánh bóng các vật thể bằng kim loại, tro trấu có thể dùng làm phân bón
Trấu có thể được ứng dụng rất đa dạng trong đời sống của con người Việt Nam Trấu
có ưu thế rất lớn về nguồn nguyên liệu và giá thành nên việc nghiên cứu sử dụng trấu vào sản xuất luôn mang lại hiệu quả kinh tế cao và tiết kiệm chi phí Thực tế hiện nay một số tỉnh nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long lượng trấu vẫn còn rất dồi dào nên cần lưu ý tăng cường việc nghiên cứu ứng dụng nguồn nguyên liệu này nhằm mở rộng khả năng sử dụng trấu vừa tiết kiệm chi phí sản xuất, vừa có lợi cho môi trường
Thị trường xuất khẩu
Củi trấu và trấu viên là 1 dạng năng lượng tái sinh, chi phí thấp và thay thế được than
đá trong các lò hơi, dùng củi trấu sẽ giảm chi phí xử lý môi trường và tăng tuổi thọ của thiết bị lò hơi Bên cạnh đó củi trấu có mùi thơm của hương lúa, ít khói và lâu tàn hơn
so với các loại củi bình thường Sản phẩm vừa an toàn cho môi trường, không ảnh hưởng đến sức khỏe người dùng như các loại củi gỗ, và than đá Nên có tiền năng xuất khẩu rất cao, hiện đang được ưa chuộng trên thị trường nước ngoài: Pháp, Anh, Hàn Quốc,…
2.3 Cám
2.3.1 Giới thiệu
Trong quy trình xay xát và chế biến gạo, sau khi thu được sản phẩm chính là gạo thì còn một sản phẩm phụ có giá trị sử dụng khá cao và có giá thành rất thấp - đó chính là cám gạo Từ lâu cám gạo được các nhà máy xay xát thu hồi và bán như một sản phẩm thứ chính sau gạo
Cám gạo được hình thành từ lớp vỏ nội nhũ, mầm phôi của hạt, cũng như một phần từ tấm Cám gạo có màu vàng sáng và mùi thơm đặc trưng Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cám gạo biến động rất lớn, phụ thuộc vào kỹ thuật xay xát gạo
Trang 10Phân loại
Cám gạo có 2 loại là: Cám gạo nguyên chất và tinh bột cám gạo
Cám gạo nguyên chất (cám lần 1)
Cám thô được thu hồi dưới 2 dạng là cám khô và cám ướt Cám khô sẽ được sấy thêm lần nữa để bảo quản được lâu hơn, còn cám ướt thường được bán cho các cơ sở nuôi
cá da trơn sử dụng ngay Cám khô chưa qua sàng lọc tách tạp chất bao gồm cám và rất nhiều vỏ trấu, cám sau khi được làm sạch là dạng bột mềm và mịn được gọi là “Cám gạo nguyên chất”
Màu sắc và mùi thơm của cám gạo nguyên chất, tùy thuộc vào giống lúa sẽ cho ra những loại gạo khác nhau, và những loại gạo khác nhau sẽ cho ra những loại cám có màu và mùi thơm khác nhau
Ví dụ
- Cám của gạo Thơm có màu vàng tươi, mùi thơm nức
- Cám của gạo Tài Nguyên có màu vàng nhạt, mùi thơm thoang thoảng
- Cám của gạo bụi sữa, 64, có màu nâu nhạt và gần như là không mùi
Tinh bột cám gạo (cám lần 2)
Sau quy trình tách vỏ trấu, hạt gạo được mài dũa một lần nữa tại nhà máy đánh bóng, trong lần đánh bóng này người ta thu được một loại bột màu trắng, gọi là “Tinh bột cám gạo” Quy trình đánh bóng chỉ thực hiện tại các nhà máy xay xát lớn chuyên xuất khẩu gạo đi nước ngoài Vì thế, tinh bột cám gạo không được phổ biến và khó có thể thu mua với số lượng nhỏ như cám gạo nguyên chất
Thành phần dinh dưỡng
So với các sản phẩm phụ khác từ quá trình xay xát thì cám gạo chứa hàm lượng protein, chất béo và vitamin rất cao vì trong quá trình xay xát lượng một phần vitamin của gạo có thể mất đi từ 60-81% tùy theo từng loại
Hình 8: Cám gạo