1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp việt nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thủy sản sang thị trường nhật bản

107 763 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thủy sản sang thị trường Nhật Bản
Tác giả Phạm Thị Minh Khánh
Người hướng dẫn Ths. Nguyễn Thị Thu Hằng
Trường học Trường đại học ngoại thương hà nội
Chuyên ngành Kinh tế đối ngoại
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là một thị trường rộng lớn, tiềm năng đối với các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản, song cũng là thị trường nổi tiếng khắt khe đối với hàng nhập khẩu và c

Trang 1

Tr-ờng đại học ngoại th-ơng hà nội Khoa kinh tế và kinh doanh quốc tế Chuyên ngành kinh tế đối ngoại

Khóa : K42

GV h-ớng dẫn :tHs Nguyễn Thị Thu Hằng

hà nội, tháng 11 / 2007

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài

Sau hơn 20 năm thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa nền kinh tế, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc Tăng trưởng kinh tế trong những năm gần đây liên tục ở mức 7-8%/ năm, đời sống nhân dân được nâng lên rõ rệt Tất cả các lĩnh vực kinh tế đều có những bước phát triển vượt bậc, trong đó, xuất khẩu các sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản liên tục tăng trong những năm qua và được coi là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Những năm gần đây, xuất khẩu nông sản, lâm, thuỷ sản thường xuyên chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch xuất khẩu của đất nước, năm 2006 tổng kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản đạt 8,88 tỷ USD chiếm 22,2% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam

Nhật Bản là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và hiện là nước nhập khẩu hàng hoá lớn thứ hai của Việt Nam (sau Hoa Kỳ) Hàng năm Nhật Bản nhập khẩu khối lượng hàng hoá trị giá 300-450 tỷ USD (Năm 2006 trị giá nhập khẩu đạt 420,6 tỷ USD), trong đó nhập từ Việt Nam khoảng 5,121 tỷ USD, chiếm khoảng 13-16% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam Hơn nữa, Nhật Bản và Việt Nam lại gần gũi về mặt địa lý và có những

nét tương đồng về văn hoá, điều này càng tạo nhiều thuận lợi cho Việt Nam

có thể tăng cường xuất khẩu sang Nhật Bản, đáp ứng nhu cầu ngoại tệ mạnh cho nhập khẩu công nghệ và thu hút đầu tư trực tiếp từ Nhật Bản vào

nước ta Hiện nay, Nhật Bản là thị trường nhập khẩu lớn nhất đối với thuỷ sản và thứ hai đối với lâm sản (chủ yếu là đồ gỗ, hàng mây tre đan thủ công

mỹ nghệ) của Việt Nam với tỷ trọng tương ứng khoảng 25% và 13% Ngoài

ra, Nhật Bản còn nhập khẩu lớn các loại hàng nông sản của Việt Nam như cà phê, chè, gạo, cao su, rau quả Đây là một thị trường rộng lớn, tiềm năng đối với các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản, song cũng là thị trường nổi tiếng khắt khe đối với hàng nhập khẩu và các rào cản thương mại phức tạp vào bậc nhất thế giới Mặc dù kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản đều

Trang 3

tăng qua các năm, nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng nông nghiệp Việt Nam và nhu cầu nhập khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản hàng năm của Nhật Bản Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này như những yếu kém, hạn chế trong cạnh tranh, chưa đáp ứng được những yêu cầu của thị trường Nhật Bản, hệ thống chính sách xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản của chúng ta còn chưa hợp lý,… trong đó, năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản của Việt Nam còn yếu là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho hiệu quả hoạt động xuất khẩu các sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản của chúng ta còn nhiều hạn chế Việc nghiên cứu và tìm

ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản là hết sức cần thiết góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản của đất nước Với những lý do trên, dưới sự hướng dẫn của cô giáo,

Ths Nguyễn Thị Thu Hằng, tôi đã lựa chọn đề tài: “ Nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản” để làm khoá luận tốt nghiệp của mình

II Mục đích nghiên cứu

1 Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về doanh nghiệp và năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp

2 Đánh giá năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản thông qua thực trạng xuất khẩu các sản phẩm nông, lâm thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản

3 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản

III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1 Đối tượng nghiên cứu

- Nhật Bản và các vấn đề liên quan đến thị trường Nhật Bản: tổng quan

về thị trường Nhật Bản, đặc điểm thị trường, các yêu cầu và chính sách

và cơ chế nhập khẩu hàng hoá,…

Trang 4

- Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản, các yếu tố tác động và các giải pháp

2 Phạm vi nghiên cứu

Khoá luận nghiên cứu vấn đề năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu trong phạm vi một số sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản chính xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản: Nông sản (cà phê, cao su, rau quả), lâm sản (đồ gỗ, mây tre đan), thuỷ sản (tôm, mực, cá) Những phân tích đánh giá này chủ yếu lấy mốc từ năm 2001 đến năm 2006

IV Phương pháp nghiên cứu

Khoá luận sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích- tổng hợp, thống kê- đối chiếu, kết hợp lý luận với thực tiễn trong quá trình nghiên cứu

V Kết cấu của khoá luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận được chia thành 3 chương: Chương I: Một số vấn đề lý luận về năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp

Chương II: Thực trạng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản

Chương III: Các giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản

Do thời gian nghiên cứu có hạn và năng lực còn nhiều hạn chế, khoá luận chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót Tôi kính mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để khoá luận được hoàn thiện hơn Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáo

Nguyễn Thị Thu Hằng, giáo viên hướng dẫn của tôi đã giúp tôi hoàn

thành khoá luận này

Trang 5

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC XUẤT KHẨU

CỦA DOANH NGHIỆP

I DOANH NGHIỆP VÀ NĂNG LỰC XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP

1 Doanh nghiệp và các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam

1.1 Khái niệm doanh nghiệp và đặc điểm của doanh nghiệp

Hiện nay, có khá nhiều khái niệm doanh nghiệp được đưa ra Tuy nhiên, khái niệm doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2005 vẫn được thừa nhận phổ biến hơn cả

Theo Luật Doanh nghiệp 2005 thì "Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh" (Điều 4-khoản 1)

Từ định nghĩa trên có thể rút ra được một số đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp như sau:

- Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế độc lập

Doanh nghiệp hoạt động một cách độc lập, không phụ thuộc vào các chủ thể kinh tế khác Điều này thể hiện ở việc doanh nghiệp có tên riêng, trụ

sở giao dịch riêng, tài sản riêng, doanh nghiệp hoạt động một cách độc lập, nhân danh mình và tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình

- Mục đích hoạt động của doanh nghiệp là kinh doanh thu lợi nhuận

Các doanh nghiệp thành lập thường đều nhằm mục đích kinh doanh Mục tiêu của kinh doanh là thu được lợi nhuận Vì vậy, mục đích hoạt động của doanh nghiệp là kinh doanh thu lợi nhuận

- Doanh nghiệp hoạt động tuân thủ theo các quy định của pháp luật

Pháp luật chỉ thừa nhận và bảo vệ doanh nghiệp khi doanh nghiệp hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật Doanh nghiệp phải được thành lập hợp pháp, tiến hành đăng ký kinh doanh và hoạt động kinh doanh tuân theo các quy định của pháp luật

Trang 6

1.2 Các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam

Tuỳ theo các tiêu chí khác nhau mà có các cách phân loại doanh nghiệp khác nhau

Theo hình thức sở hữu vốn, có 2 loại chính là: doanh nghiệp quốc doanh hay doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là những doanh nghiệp do nhà nước

sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, (Điều 1- Luật Doanh nghiệp 2005)

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là những doanh nghiệp do các cá nhân,

tổ chức trong xã hội đầu tư vốn thành lập Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm các Hợp tác xã (hay còn gọi là doanh nghiệp tập thể) hoạt động dưới sự điều chỉnh của Luật Hợp tác xã năm 2003, các loại hình doanh nghiệp được quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2005 bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân (trong đó gồm cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) Đặc điểm của các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh là không có sự tham gia đóng góp vốn và sự chi phối của Nhà nước trong hoạt động tài chính

Theo hình thức pháp lý của doanh nghiệp, có các loại: công ty TNHH (công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty TNHH một thành viên), công

ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân

Công ty TNHH hai thành viên trở lên (thường được gọi tắt là công ty TNHH) là doanh nghiệp trong đó thành viên có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng thành viên không vượt quá năm mươi Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi vốn cam kết góp vào doanh nghiệp.(Điều 38-khoản 1 mục a, mục b, mục c- Luật Doanh nghiệp 2005)

Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty) Chủ sở hữu

Trang 7

công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công

ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty (Điều 63 khoản 1- Luật Doanh nghiệp 2005)

Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa (trích Điều 77 khoản 1 mục a, mục b- Luật Doanh nghiệp 2005)

Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (gọi là thành viên hợp danh), ngoài các thành viên hợp danh, có thể có thành viên góp vốn Thành viên hợp danh phải là cá nhân chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn

đã góp vào công ty

Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp

2 Vai trò của xuất khẩu đối với doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam

2.1 Vai trò của xuất khẩu đối với doanh nghiệp

2.1.1 Xuất khẩu nâng cao trình độ lao động, trình độ quản lý của doanh nghiệp

Các sản phẩm xuất khẩu phải đảm bảo đáp ứng được những yêu cầu chất lượng khắt khe của các tiêu chuẩn quốc tế và các tiêu chuẩn của nước nhập khẩu Do đó, để xuất khẩu được sản phẩm, doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một đội ngũ lao động có kỹ thuật, lành nghề, trình độ quản lý của đội ngũ lãnh đạo cũng phải được nâng cao hơn

2.1.2 Xuất khẩu nâng cao uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp

Thông qua xuất khẩu sản phẩm ra thị trường nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam được người tiêu dùng nước ngoài biết đến và ngày càng khẳng định được thương hiệu như cà phê Trung Nguyên, sản phẩm may mặc

Trang 8

Hanosimex, May 10,…Do đó, xuất khẩu góp phần nâng cao uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp

2.1.3 Xuất khẩu góp phần tạo mối liên kết giữa các doanh nghiệp và các bạn hàng nước ngoài

Để xuất khẩu được hàng hoá phải thông qua rất nhiều khâu như sản xuất, thu gom nguyên, vật liệu, hàng hoá, vận tải, bảo hiểm,… Trong hoạt động xuất khẩu, các doanh nghiệp trên sẽ liên kết theo một chuỗi để sản phẩm tới được tay người tiêu dùng, do đó xuất khẩu phát triển sẽ góp phần tạo mối liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước Đồng thời hoạt động xuất khẩu cũng giúp cho các doanh nghiệp tìm thấy các bạn hàng, nhà tiêu thụ, nhà cung cấp đầu vào ở nước ngoài, học hỏi thêm các kinh nghiệm quản lý, kỹ năng kinh doanh

2.2 Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế Việt Nam

2.2.1 Xuất khẩu tạo nguồn thu ngoại tệ cho nhu cầu nhập khẩu phục vụ quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước

Trước tiên phải khẳng định rằng xuất khẩu đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, kinh tế còn nhiều khó khăn thì nhu cầu vốn để nhập khẩu máy móc, trang thiết bị công nghiệp là rất lớn Xuất khẩu sẽ tạo nguồn thu ngoại tệ để giúp chúng ta thoát khỏi tình trạnh thiếu vốn đầu tư cho nhập khẩu máy móc, trang thiết bị hiện đại và đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá- hiện đại hoá

2.2.2 Xuất khẩu góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững

Xuất khẩu là một phần của GDP nên xuất khẩu góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng GDP của đất nước Năm 2002, xuất khẩu chiếm 47% tổng GDP,

so với năm 1998 tăng 62%, kéo theo sự tăng tương ứng của GDP là 55%.1

2.2.3 Xuất khẩu góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân

Xuất khẩu thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá- hiện đại hoá, từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang

Trang 9

kinh tế hàng hoá Phát triển xuất khẩu góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao chất lượng và trình độ của người lao động, cải thiện đời sống nhân dân, từ đó phát triển nền kinh tế theo chiều sâu

2.2.4 Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Việt Nam từ chỗ chủ yếu xuất khẩu các sản phẩm thô, chưa qua chế biến, giá trị gia tăng thấp, đến nay chúng ta đã chú ý đầu tư phát triển các ngành công nghiệp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến và các ngành công nghiệp chế tạo linh kiện điện tử và công nghiệp phần mềm Đồng thời, thực hiện chiến lược hướng ra xuất khẩu, cơ cấu lao động của Việt Nam đang chuyển dịch theo hướng giảm dần lao động nông nghiệp, tăng tỷ lệ lao động phi nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ

2.2.5 Xuất khẩu thúc đẩy các mối liên kết kinh tế

Xuất khẩu phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của hàng loạt các ngành

có liên quan như công nghệ chế biến, dịch vụ, vận tải,…Chẳng hạn, xuất khẩu nông sản thúc đẩy công nghiệp chế biến nông sản, cơ khí chế tạo máy nông nghiệp phát triển Việc phát triển các làng nghề sản xuất các sản phẩm xuất khẩu sẽ tạo hiệu ứng thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, phát triển ngành du lịch

Thông qua xuất khẩu, nền kinh tế quốc dân đang tham gia hoà nhập vào nền kinh tế thế giới, thúc đẩy các mối giao lưu về kinh tế- thương mại, văn hoá giữa các nước

3 Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp

3.1 Khái niệm năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp

3.1.1 Khái niệm

Những năm gần đây, thuật ngữ “năng lực xuất khẩu” (NLXK) thường xuyên được nhắc đến trên các phương tiện thông tin đại chúng Tuy nhiên câu hỏi “năng lực xuất khẩu là gì?” hiện nay vẫn chưa có một khái niệm chính xác

Một số quan điểm cho rằng khái niệm “năng lực xuất khẩu” và “khả năng xuất khẩu” là khái niệm đồng nhất và có thể thay thế cho nhau Tuy nhiên, theo từ điển tiếng Việt “khả năng” và “năng lực” là hai phạm trù khác

Trang 10

nhau “Khả năng là cái có thể xảy ra trong điều kiện nhất định”, còn "năng lực liên quan chặt chẽ đến hiện thực, nó là cặp phạm trù phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa cái hiện có, hiện đang tồn tại thực sự với những gì chưa có, nhưng sẽ có trong điều kiện tương ứng, sự vật nói tới trong khả năng chưa tồn tại” Như vậy, “năng lực là cái nội tại, cái yếu tố bên trong vốn có của đơn vị,

tổ chức hay cá nhân có thể đáp ứng một vấn đề, một nhu cầu nào đó của cuộc sống, của xã hội Năng lực chính là khả năng được hiện thực hoá Từ đó có thể thấy rằng khái niệm “năng lực xuất khẩu” khác với khái niệm “khả năng xuất khẩu”

Trước hết, nếu xuất phát từ nguyên nghĩa của từ “năng lực” là khả năng

tối đa có thể thực hiện được một việc gì đó, thì ta có thể hiểu: Năng lực xuất

khẩu của một doanh nghiệp là khả năng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đến mức cao nhất của doanh nghiệp trên thị trường nước ngoài.2

Thứ hai, có thể hiểu “ Năng lực xuất khẩu là khả năng một doanh nghiệp có thể bán được sản phẩm trên thị trường quốc tế và thu lợi trên cơ sở tạo dựng và khai thác một cách hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp và những cơ hội thị trường”.3

Cách tiếp cận về năng lực xuất khẩu này có một số hàm ‎ ý Thứ nhất, năng lực xuất khẩu là kết quả của chiến lược và các hoạt động hay nỗ lực có chủ định của một doanh nghiệp nhằm tạo dựng và khai thác một cách hiệu quả nhất các nguồn lực mà doanh nghiệp sở hữu hoặc có khả năng tiếp cận, tức là nó phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan của doanh nghiệp Thứ hai, doanh nghiệp có thể tạo dựng được năng lực xuất khẩu trên cơ sở tiếp cận và khai thác tốt các yếu tố về lợi thế so sánh, môi trường kinh doanh thuận lợi của quốc gia, như cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, vị trí địa lý, các ngành công nghiệp bổ trợ, điều kiện nhu cầu Định nghĩa cũng chỉ ra rằng, năng lực xuất khẩu thực sự của doanh nghiệp phải được xem xét trong điều kiện cạnh tranh

2

TS Bùi Ngọc Sơn, Tác động của môi trường kinh doanh đến năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam, Hội thảo khoa học: Những vấn đề lý luận về năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp và mô hình đánh giá năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp Hà Nội, 01/2004, tr75-76

3

CN Ngô Quý Nhâm, Các căn cứ để xây dựng mô hình đánh giá năng lực xuất khẩu của DN, Hội thảo khoa học: Những vấn đề lý luận về năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp và mô hình đánh giá năng lực xuất khẩu

Trang 11

tự do, tức là bất cứ sự bảo hộ hay trợ giá nào của chính phủ đều phải được loại bỏ khi xem xét năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp

Từ những phân tích trên, tổng hợp lại có thể hiểu “ Năng lực xuất khẩu doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp khai thác và tận dụng một cách hiệu quả các nguồn lực của mình kết hợp với những chiến lược, đối sách thích hợp trong môi trường kinh doanh của doanh nghiệp để thực hiện sản xuất và/ hoặc thu gom và cung ứng, trao đổi hàng hoá- dịch vụ với nước ngoài nhằm mục đích lợi nhuận cao và không ngừng mở rộng thị trường” 4

3.1.2 Phân biệt năng lực xuất khẩu và năng lực cạnh tranh

Khi phân tích năng lực xuất khẩu, chúng ta thường nhắc tới khái niệm năng lực cạnh tranh Đây là hai khái niệm rất dễ nhầm lẫn và cần phải phân biệt

Năng lực cạnh tranh là năng lực tồn tại, duy trì hay gia tăng lợi nhuận, thị

phần trên thị trường cạnh tranh của các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp Nói cách khác, đó là khả năng bù đắp chi phí, duy trì lợi nhuận

và được đo bằng thị phần hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp ở cả trong và ngoài nước 5 Các yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh bao gồm công nghệ-kỹ thuật, năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, trình độ chuyên môn nghiệp

vụ, trình độ quản lý và cuối cùng là thị trường đầu ra của sản phẩm Nói tới năng lực cạnh tranh là nói tới khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm cùng loại cả trong và ngoài nước để giành lấy thị phần lớn hơn

Việc phân biệt năng lực xuất khẩu và năng lực cạnh tranh chỉ mang tính chất tương đối Thực tế hai khái niệm này có sự đan xen lẫn nhau về nội hàm Thực chất năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp được thể hiện ở khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế, tức là doanh nghiệp có khả năng bán sản phẩm trên thị trường quốc tế và thu được lợi nhuận Để bán được sản phẩm trên thị trường quốc tế (có năng lực xuất khẩu) thì sản phẩm

đó phải được chấp nhận bởi các nhà nhập khẩu nước ngoài Sản phẩm của

4

Nhóm nghiên cứu trường ĐH Ngoại Thương đề tài “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp Hà Nội nhằm thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá thủ đô trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”- tr16

5

TS Bùi Ngọc Sơn, Tác động của môi trường kinh doanh đến năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam, Hội thảo khoa học: Những vấn đề lý luận về NLXK của doanh nghiệp và mô hình đánh giá năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp Hà Nội, 01/2004, tr76

Trang 12

doanh nghiệp có được chấp nhận hay không trên thị trường quốc tế sẽ phụ thuộc vào lợi thế (chí phí và/hoặc khác biệt hoá) mà doanh nghiệp tạo ra Điều đó có nghĩa là năng lực cạnh tranh là điều kiện cần của năng lực xuất khẩu Ngược lại, doanh nghiệp có năng lực xuất khẩu, nghĩa là có khả năng xuất khẩu thu lợi nhuận, thì chưa chắc doanh nghiệp đó đã có năng lực cạnh tranh quốc tế Hiện nay, cạnh tranh trên thương trường diễn ra vô cùng khốc liệt, năng lực cạnh tranh rất dễ bị triệt tiêu và năng lực xuất khẩu không thể trở thành năng lực cạnh tranh nếu doanh nghiệp không tích cực chủ động thường xuyên nâng cao chất lượng và cải tiến, đổi mới sản phẩm phù hợp với những biến động của thị trường

3.2 Các yếu tố cấu thành năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp

Tuỳ theo quan điểm tiếp cận mà có những cách hiểu khác nhau về yếu

tố cấu thành năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Tuy nhiên, ở đây, theo quan điểm của tác giả, các yếu tố cấu thành năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp như sau:

3.2.1 Năng lực nghiên cứu thị trường và tiếp thị, tìm kiếm khách hàng

Việc nghiên cứu và phân tích thị trường sẽ giúp doanh nghiệp tìm ra được những thị trường hay phân đoạn thị trường có tiềm năng với doanh nghiệp, đồng thời giúp doanh nghiệp có những điều chỉnh về sản xuất, chiến lược kinh doanh phù hợp với các thay đổi của người tiêu dùng

Về năng lực Marketing, tìm kiếm khách hàng: Phương thức Marketing

có ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động xuất khẩu của hàng hoá Các phương thức Marketing phổ biến là quảng cáo, tham gia hội chợ, triển lãm trong nước và quốc tế, quảng cáo, xúc tiến thông qua các Phòng thương mại

và công nghiệp và các tổ chức hỗ trợ các nhà xuất khẩu nước ngoài của nước

sở tại (như JETRO của Nhật Bản), tổ chức các hoạt động PR,…

Trang 13

để chế biến xuất khẩu, việc có đủ lượng nguyên liệu cho các đơn hàng đúng thời gian, tiến độ luôn là một bài toán hóc búa đòi hỏi doanh nghiệp phải có một chiến lược thu mua hợp lý

- Giá cả của sản phẩm: Giá cả của sản phẩm luôn là một trong những

điều khoản quan trọng nhất trong mọi hợp đồng Giá cả của sản phẩm phải đảm bảo đủ bù đắp chi phí bỏ ra và đảm bảo có lợi nhuận với nhà xuất khẩu đồng thời cũng chỉ được nhà nhập khẩu chấp nhận khi đảm bảo lợi nhuận của nhà nhập khẩu Giá cả sản phẩm phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, song cơ bản

do giá thành sản xuất quyết định Vì vậy, khi đánh giá năng lực tổ chức sản xuất của một doanh nghiệp, người ta thường xem xét khả năng tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, giảm chi phí trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp

- Chất lượng của sản phẩm: Hàng hoá chỉ có thể được người tiêu dùng

tin dùng khi có giá cả hợp lý và chất lượng đảm bảo Chất lượng cao, giá cả hợp lý là những tiêu chí tạo nên sức cạnh tranh của hàng hoá và doanh nghiệp trên thị trường trong nước và quốc tế Sức cạnh tranh của hàng hoá và doanh nghiệp tăng sẽ góp phần nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp

3.2.3 Năng lực tổ chức xuất khẩu

- Năng lực tổ chức xuất khẩu thể hiện khả năng thực hiện hợp đồng xuất khẩu, khả năng giao hàng đúng hạn và nghệ thuật bán hàng phù hợp, phương thức thanh toán thuận tiện, năng lực thực hiện những dịch vụ sau bán hàng của doanh nghiệp Năng lực tổ chức xuất khẩu của doanh nghiệp thưòng gồm một số mặt:

+ Năng lực đàm phán, ký kết các hợp đồng xuất khẩu;

+ Năng lực thực hiện các nghiệp vụ xuất khẩu (thu mua, vận chuyển hàng hoá xuất khẩu, mua bảo hiểm, thuê tàu,…);

+ Năng lực thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế;

+ Năng lực xử lý các tình huống khi các tranh chấp thương mại phát sinh

3.2.4 Khả năng chiếm lĩnh và mở rộng thị trường

Trang 14

Khả năng này phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp đối với thị trường Vấn đề chiếm lĩnh và mở rộng thị trường phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, song,

về cơ bản doanh nghiệp cần phải xây dựng được chiến lược kinh doanh và chiến lược thị trường dài hạn

3.3 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp

Muốn đánh giá năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp, ta cần xây dựng một hệ thống chỉ tiêu đánh giá Hệ thống chỉ tiêu đánh giá năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp có thể được xây dựng bao gồm hai nhóm chỉ tiêu cơ bản: Nhóm chỉ tiêu về điều kiện sản xuất kinh doanh và nhóm chỉ tiêu về hiệu quả sản xuất kinh doanh

3.3.1 Nhóm chỉ tiêu về điều kiện sản xuất kinh doanh

- Chiến lược xuất khẩu của doanh nghiệp

Chiến lược xuất khẩu của doanh nghiệp thể hiện tầm nhìn chiến lược của doanh nghiệp, hoạch định được mục tiêu cần đạt được, thể hiện khả năng phân tích, dự báo và có giải pháp đối với những thay đổi của thị trường trong tương lai: nhu cầu, thị hiếu, biến động cung cầu,…Đồng thời chiến lược xuất khẩu cũng thể hiện hiểu biết của doanh nghiệp về môi trường kinh doanh về môi trường ngành, về môi trường pháp lý, hệ thống chính sách pháp luật, về cung cầu thị trường, đầu vào, đầu ra của sản xuất

Chiến lược xuất khẩu của doanh nghiệp thường gồm: thời hạn của chiến lược, tầm nhìn, mục đích hướng tới như thị trường, dự báo nhu cầu và khả năng đầu vào, năng lực sản xuất của doanh nghiệp, phương thức tiến hành, phân tích cơ hội thách thức với doanh nghiệp, xem xét trên cơ sở tương quan với các doanh nghiệp, đối thủ cạnh tranh khác

- Hệ thống quản lý chất lượng của doanh nghiệp

Việc thực hiện và nhận được các chứng nhận quốc tế góp phần nâng cao vị thế của doanh nghiệp trong lòng người tiêu dùng, đẩy mạnh khả năng được người tiêu dùng chú ý Đồng thời việc duy trì thể hiện uy tín và cam kết của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng về việc đảm bảo chất lượng sản phẩm ổn định, đáng tin cậy

Trang 15

- Các chỉ tiêu thuộc về sản phẩm:

+Chất lượng sản phẩm

Mỗi loại sản phẩm có những yêu cầu khác nhau về chất lượng Tuy nhiên, sản phẩm đảm bảo chất lượng là sản phẩm phải được sản xuất đúng quy trình công nghệ từ khâu cung ứng nguyên liệu cho tới khi thành thành phẩm Quá trình sản xuất phải được kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ ở tất cả các khâu Sản phẩm làm ra phải được kiểm định bởi hệ thống kiểm tra chất lượng của công ty và/hoặc hệ thống kiểm tra chất lượng của khách hàng và/ hoặc hệ thống kiểm tra của tổ chức đo lường chất lượng có uy tín, được công nhận Sản phẩm còn phải đảm bảo thoả mãn các yêu cầu vệ sinh, môi trường, phải mang tính xã hội, không gây hại tới sức khoẻ người tiêu dùng Nâng cao chất lượng sản phẩm để nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp là vấn đề chung mà bất kì doanh nghiệp nào cũng phải quan tâm giải quyết trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt hiện nay

+ Giá cả của sản phẩm

Giá cả là một trong những tiêu chí quan trọng ảnh hưởng đến quyết định mua sắm của người tiêu dùng, do đó giá sản phẩm phải hợp lý, tương xứng với giá trị của sản phẩm Đối với doanh nghiệp, giá sản phẩm phải đảm bảo đủ bù đắp chi phí sản xuất đồng thời đảm bảo yêu cầu đem lại lợi nhuận Nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm luôn là yếu tố căn bản nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp

+ Bao bì, kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm

Ngày nay, bao bì sản phẩm không chỉ dừng lại ở việc là hình thức, vỏ bọc bên ngoài sản phẩm mà còn là biểu tượng của doanh nghiệp là sức hút của sản phẩm đối với người tiêu dùng Kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm phải phù hợp với thị trường, thu hút sự chú ý và kích thích nhu cầu mua hàng của người tiêu dùng Do đó , kiểu dáng sản phẩm phải tiện lợi, đa dạng và phù hợp với thẩm mỹ của người tiêu dùng Để nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp, doanh nghiệp cần hết sức chú ý đến khâu thiết kế bao bì, kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm

Trang 16

uy tín thương hiệu sản phẩm cũng là xây dựng hình ảnh của doanh nghiệp, khả năng tiếp cận của doanh nghiệp với người tiêu dùng càng tăng lên, năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp cũng được nâng cao

- Các yếu tố thuộc nguồn nhân lực và quản lý của doanh nghiệp

Đội ngũ nhân lực của doanh nghiệp là một nguồn lực quan trọng cốt yếu của doanh nghiệp Chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp thường được thể hiện ở các yếu tố: trình độ học vấn trung bình, năng suất lao động, tuổi đời trung bình, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo và có kinh nghiệm, tỷ lệ lao động có trình độ tay nghề cao, khả năng tin học và ngoại ngữ của người lao động, khả năng tác nghiệp theo nhóm và năng lực sáng tạo,… Về chất lượng của đội ngũ quản lý thường được thể hiện ở các yếu tố: khả năng tổ chức và phân công công việc, khả năng xây dựng chiến lược và khả năng kiểm tra, kiểm soát quá trình kinh doanh hoạt động của doanh nghiệp, trình độ học vấn, thâm niên,

- Trình độ ứng dụng khoa học công nghệ của doanh nghiệp

Hiện nay, khoa học công nghệ đã trở thành một phần vô cùng quan trọng trong việc tạo nên năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Doanh nghiệp nào nắm bắt được khoa học công nghệ coi như đã có được chìa khoá của sự thành công Trình độ khoa học công nghệ của doanh nghiệp được đánh giá thông qua: khả năng tự phát triển và ứng dụng những công nghệ mới, mức độ hiện đại của máy móc, chiến lược công nghệ của doanh nghiệp,…

- Hiệu quả của hoạt động quảng cáo, xúc tiến thương mại

Trang 17

Hoạt động quảng cáo, xúc tiến thương mại giúp mở rộng hình ảnh của doanh nghiệp trên thị trường và định vị hình ảnh trong lòng người tiêu dùng Hiệu quả của hoạt động quảng cáo, xúc tiến thương mại được đánh giá thông qua: trình độ học vấn và kinh nghiệm của đội ngũ quảng cáo, xúc tiến thương mại của doanh nghiệp, cơ hội và năng lực tiếp cận với các công nghệ truyền thông hiện đại, khả năng ghi nhớ của người tiêu dùng đối với sản phẩm và đối với doanh nghiệp, khả năng xây dựng các kế hoạch xúc tiến thương mại, mức

độ thành công của các chiến dịch quảng cáo,…

3.3.2 Nhóm chỉ tiêu về kết quả và hiệu quả kinh doanh

- Chỉ tiêu về lượng và trị giá xuất khẩu của doanh nghiệp

+ Lượng xuất khẩu: thể hiện trình độ lực lượng sản xuất của từng

doanh nghiệp, phản ánh quy mô, cũng như khả năng sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp Giá trị xuất khẩu là yếu tố đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp Chỉ tiêu này cũng phản ánh khả năng huy động nguồn lực cho sản xuất, khả năng thực hiện đơn hàng của doanh nghiệp Với một giá bán không đổi, khối lượng tiêu thụ tăng sẽ làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp

+ Giá xuất khẩu: Giá hàng hoá/ dịch vụ là một yếu tố khách quan

nhưng năng lực xuất khẩu có thể được đánh giá thông qua chính sách định giá của doanh nghiệp đối với hàng hoá/ dịch vụ xuất khẩu Chính sách giá hợp lý

sẽ giúp doanh nghiệp thu được lợi nhuận nhiều hơn Giá xuất khẩu sẽ được so sánh giữa nhiều kỳ với nhau, giữa nhiều thị trường với nhau, giữa giá doanh nghiệp định ra và giá thị trường trong tương quan với biến động lượng xuất khẩu…để đánh giá hiệu quả chính sách giá của doanh nghiệp trên thị trường

+ Trị giá xuất khẩu: được tính bằng công thức: q*p, trong đó q là

lượng xuất khẩu và p là đơn giá mặt hàng xuất khẩu, phản ánh trị giá thu về của doanh nghiệp sau một kỳ xuất khẩu Đây cũng là một chỉ tiêu để đánh giá năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp thông qua việc theo dõi sự biến động trị giá xuất khẩu qua các kỳ kinh doanh (tương đối và tuyệt đối), so sánh với đối thủ cạnh tranh (trong nước và nước ngoài) dựa trên thị phần, tốc độ tăng trưởng, so sánh với ngành,

Trang 18

- Chỉ tiêu về chi phí

Chi phí nói chung là sự hao phí thể hiện bằng tiền trong quá trình kinh doanh với mong muốn mang về một sản phẩm, dịch vụ hoàn thành hoặc một kết quả kinh doanh nhất định Chi phí phát sinh trong hoạt động sản xuất, thương mại, dịch vụ nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là doanh thu thu và lợi nhuận Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, quản lý tốt được chi phí sẽ góp phần thể hiện năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp

Theo cách phân loại chung hay phân loại theo hệ thống kế toán hiện hành, chi phí được phân loại thành chi phí sản xuất, chi phí ngoài sản xuất, chi phí thời kỳ và chi phí sản phẩm Chi phí sản xuất gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung (chi phí nhân viên, chi phí vật liệu, công cụ, dụng cụ; chi phí khấu hao tài sản cố định; chi phí điện nước, thuế sản xuất; chi phí bằng tiền khác) Chi phí ngoài sản xuất gồm chi phí bán hàng (chi phí nhân viên; chi phí vật liệ, công cụ dụng cụ; chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí vận chuyển, bốc xếp, chi phí quảng cáo, tiếp thị; chi phí bằng tiền khác) và chi phí quản lý doanh nghiệp (chi phí nhân viên văn phòng; chi phí vật liệu, công cụ, dụng cụ; chi phí khấu hoa tài sản cố định; thuế, lệ phí, lãi vay; chi phí hội nghị, tiếp khách, công tác; chi phí bằng tiền khác Chi phí thời kỳ là chi phí phát sinh chung trong một kỳ kinh doanh,

có thể liên quan đến nhiều đối tượng hay nhiều sản phẩm khác nhau Chi phí sản phẩm là chi phí gắn liền, làm nên giá trị sản phẩm, đang tồn kho hoặc đã được bán 6

Khi phân tích chi phí của doanh nghiệp, người ta thường dựa trên một

số chỉ tiêu chủ yếu có liên quan như:

+ Mức chênh lệch tuyệt đối của chi phí:( F): F=F1-Fo

+ Tỷ suất phí của từng kỳ kinh doanh: (F’): F’= [F/DT]*100%

+ Tỷ lệ chênh lệch tỷ suất phí ( F’): F’=F’1-F’o

+ Mức độ tăng, giảm tỷ suất phí ( tf): tf=[ F’/F’o]*100%

+ Mức bội chi (U): U= F’.DTkỳ nghiên cứu

Trang 19

(F: Chi phí (các loại), DT: Doanh thu trong hoạt động xuất khẩu)

- Chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động xuất khẩu

Hiệu quả là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh mối quan hệ tương đối giữa việc

sử dụng tổng các yếu tố đầu và và khả năng tạo ra toàn bộ các yếu tố đầu ra trong một điều kiện hoàn cảnh cụ thể Hiệu quả có ảnh hưởng quyết định đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung và năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp nói riêng Công thức chung của hiệu quả thường được áp dụng là:

vµo Çu

® tè yÕu c¸c Tæng

ra Çu

® tè yÕu c¸c Tæng

Các yếu tố đầu vào thường là: chi phí, nguồn vốn vay và đầu tư, nguồn nhân lực,… Các yếu tố đầu ra là: doanh thu, lợi nhuận, số lượng sản phẩm xuất khẩu,…

+ Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời của doanh nghiệp xuất khẩu: gồm

tỷ suất lợi nhuận xuất khẩu và hệ số sinh lời của vốn đầu tư cho hoạt động xuất khẩu Tỷ suất lợi nhuận xuất khẩu được tính theo công thức:

xuÊt khÈu hµng

thµnh Gi¸

xuÊt khÈu nhuËn

Lîi

phản ánh hiệu quả của giá thành sản xuất lô hàng xuất khẩu thông qua chỉ tiêu mức sinh lời Hệ số sinh lời của vốn đầu tư cho hoạt động xuất khẩu được tính theo công thức:

kú trong xuÊt khÈu n

© qu nh

× b Vèn

xuÊt khÈu nhuËn

Lîi

+ Nhóm chỉ tiêu phản ánh năng suất lao động bình quân

+ Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả từng hợp đồng, dự án

- Các chỉ tiêu tài chính tổng hợp của doanh nghiệp

Năng lực tài chính của doanh nghiệp mạnh thì khả năng đầu tư cho xuất khẩu tốt, qua đó năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp tăng lên Các chỉ tiêu

Trang 20

tài chính thường được sử dụng là chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán, chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn, chỉ tiêu lợi nhuận, chỉ tiêu cơ cấu tài chính

+Nhóm chỉ tiêu thanh toán: Hệ số khái quát:

tr¶

ph¶

n kho¶

c¸c Tæng

thu ph¶

n kho¶

c¸c Tæng

Các chỉ tiêu dùng để xem xét tình hình cụ thể gồm: các khoản phải thu

và các khoản phải trả

Hai chỉ tiêu dùng xem xét các khoản phải thu là:

thu ph¶

n kho¶

c¸c quay

vßng

n

© qu nh

× b thu ph¶

n kho¶

C¸c

thiÕu b¸n thu Doanh

x100%

Số vòng quay càng cao (tức số ngày thu tiền càng ngắn) chứng tỏ tình hình quản lý và thu công nợ tốt, doanh nghiệp có khách hàng quen thuộc, ổn định, thanh toán đúng hạn Mặt khác, số vòng quay quá cao thể hiện phương thức bán hàng cứng nhắc, gần như bán hàng thu tiền mặt, khó cạnh tranh và

mở rộng thị trường Tuỳ vào tình hình cụ thể, chỉ tiêu trên sẽ được vận dụng cho phù hợp

Các khoản phải trả: Tổng quát về tình hình khả năng thanh toán (trả nợ) thể hiện bằng hệ số thanh toán chung:

to¸n thanh cÇu Nhu

to¸n thanh Kh¶ n¨ng

= chung to¸n thanh sè HÖ

Khả năng thanh toán gồm tất cả các nguồn có thể huy động dùng để trả

nợ Nhu cầu thanh toán là các khoản nợ cần phải trả trước mắt hoặc trong một thời hạn ấn định Hệ số thanh toán chung là dạnh hệ số so sánh cân bằng vì vậy trường hợp tốt nhất là hệ số bằng một Nếu khác đi, dẫn đến hai cực: thiếu khả năng thanh toán hoặc thừa vốn, gây ứ đọng

+ Nhóm chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn: Thể hiện qua số vòng quay vốn chung, số vòng luân chuyển hàng hoá và thời hạn thanh toán

Số vòng quay vốn chung là hệ số tổng quát về số vòng quay tổng tài sản tức so sánh mối quan hệ giữa tổng tài sản và doanh thu hoạt động Hệ số này càng cao thị hiệu quả sử dụng tài sản càng cao

Trang 21

n s¶

tµi Tæng

chÝnh éng

® ho¹t tõ thu Doanh

= n s¶

tµi quay vßng Sè

Số vòng luân chuyển hàng hoá nói lên chất lượng và chủng loại hàng hoá phù hợp trên thị trường Hệ số này là một chỉ tiêu đặc trưng, thường được

sử dụng khi phân tích hiệu quả sử dụng vốn

hãa hµng chuyÓn n

× b kho tån ho¸

hµng gi¸

TrÞ

vèn gi¸

theo

ra b¸n ho¸

hµng gi¸

TrÞ

Sè ngµy cña mét vßng = x100%

vßng Sè 360

Thời hạn thanh toán gồm thời hạn thu tiền và thời hạn trả tiền

ngµy 1 n qu©

nh

× b thu Doanh

n qu©

nh

× b thu ph¶

n kho¶

C¸c

= tiÒn thu h¹n Thêi

ngµy 1 n qu©

nh

× b b¸n hµng vèn Gi¸

n qu©

nh

× b tr¶

ph¶

n kho¶

C¸c

= tiÓn tr¶

h¹n Thêi

+ Nhóm chỉ tiêu lợi nhuận: gồm hệ số lãi gộp, hệ số lãi ròng, suất sinh lời của tài sản, suất sinh lời của vốn chủ sở hữu và phương trình DuPont

Hệ số lãi gộp: Lãi gộp là khoản chênh lệch giữa giá bán và giá vốn Không tính đến chi phí kinh doanh, hệ số lãi gộp biến động sẽ là nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận Hệ số lãi gộp thể hiện khả năng trang trải chi phí đặc biệt là chi phí bất biến, để đạt lợi nhuận

thu Doanh

gép L·i

= gép l·i sè HÖ

Hệ số lãi ròng:

thu Doanh

rßng L·i

= rßng l·i sè HÖ

Lãi ròng ở đây được hiểu là lợi nhuận sau thuế Hệ số lãi ròng hay còn gọi là suất sinh lời của doanh thu, thể hiện một đồng doanh thu có khả năng tạo ra bao nhiêu lợi nhuận ròng

Suất sinh lời của tài sản ROA:

n s¶

tµi Tæng

rßng L·i

= ROA n s¶

tµi cña lêi sinh SuÊt

Trang 22

mang ‎ý nghĩa: một đòng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng Hệ số càng cao thể hiện sự sắp xếp, phân bổ và quản lý tài sản càng hợp lý và hiệu quả

Suất sinh lời của vốn chủ sở hữu ROE:

u

÷ h së chñ Vèn

rßng L·i

= u

÷ h së chñ cña vèn lêi

sinh SuÊt

mang ‎ý nghĩa một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu lợi nhuận ròng cho chủ sở hữu

+ Phương trình Dupont:

ROE=ROA*Đòn bẩy tài chính

Trong đó, đòn bẩy tài chính hay đòn cân tài chính hay đòn cân nợ FL (financial leverage) là chỉ tiêu thể hiện cơ cấu tài chính của doanh nghiệp:

u

÷ h së chñ Vèn

n s¶

tµi Tæng

= chÝnh tµi bÈy

tµi Tæng

nî sè Tæng

= nî sè HÖ

Hệ số nợ so với vốn:

Hệ số nợ so với vốn chủ sở hữu- một cách khác viết về đòn cân tài chính, là loại hệ số cân bằng dùng so sánh giữa nợ vay và vốn chủ hữu, cho biết cơ cấu tài chính của doanh nghiệp rõ ràng nhất

u

÷ h së chñ Vèn

nî Tæng

= u

÷ h së chñ vèn víi so nî sè HÖ

Hệ số càng cao hiệu quả mang lại cho chủ sở hữu càng cao trong trường hợp ổn định khối lượng hoạt động và kinh doanh có lãi Hệ số càng thấp, mức độ an toàn càng đảm bảo trong trường hợp khối lượng hoạt động bị giảm và kinh doanh thua lỗ

II CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NĂNG LỰC XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP

Trang 23

Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp chịu tác động của rất nhiều nhân

tố Ta có thể chia các nhân tố này thành hai nhóm chủ yếu: Nhóm các nhân tố thuộc môi trường nội tại của doanh nghiệp và nhóm các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài doanh nghiệp

1 Các nhân tố thuộc môi trường nội tại doanh nghiệp

1.1 Nguồn nhân lực

Yếu tố con người luôn đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất, kinh doanh của một doanh nghiệp Do đó, quy mô và chất lượng đội ngũ lao động sẽ quyết định thành công hay thất bại của doanh nghiệp

Quy mô nguồn nhân lực biểu hiện ở một số tiêu chí như sau: số lượng nhân viên trong doanh nghiệp, số lượng nhân viên mà doanh nghiệp có thể điều động trong một khoảng thời gian nhất định, tốc độ tăng trưởng hàng năm

về số lượng nhân viên, nhu cầu về nhân lực trong tương lai của doanh nghiệp…

Vì các sản phẩm của doanh nghiệp xuất khẩu là nhằm bán ra trên thị trường nước ngoài phải đảm bảo phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế cũng như các tiêu chuẩn của thị trường nước nhập khẩu, do đó, chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho xuất khẩu thường xuyên được yêu cầu cao hơn, khắt khe hơn

so với nhân lực sản xuất những sản phẩm bán cho thị trường nội địa Trước hết, chất lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua tỷ lệ lao động có trình độ học vấn, bằng cấp , đã qua đào tạo, tỷ lệ lao động có kinh nghiệm trong doanh nghiệp, số lượng chuyên gia, số lượng người được nhận được các chứng chỉ được quốc tế công nhận Bên cạnh đó, trình độ ngoại ngữ, tin học của nhân viên cũng là một đòi hỏi quan trọng đối với nhân viện của các doanh nghiệp xuất khẩu, đặc biệt là các doanh nghiệp có website thương mại điện tử mua bán trực tuyến

Các chính sách đãi ngộ đối với người lao động là liều thuốc tinh thần kích thích sự lao động hăng say, sáng tạo của đội ngũ nhân viên Các chính sách về lương, thưởng, chính sách hỗ trợ đào tạo, tập huấn, chuyển giao kỹ

Trang 24

thuật, bổ nhiệm…có vai trò to lớn duy trì và phát huy đối với nhân tố nguồn nhân lực của năng lực xuất khẩu

1.2 Năng lực tài chính

Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động tài chính luôn giữ vai trò quan trọng đối với sự sống còn của doanh nghiệp Năng lực tài chính của doanh nghiệp thường được thể hiện thông qua hai yếu tố chính là: Khả năng huy động vốn và hiệu quả của sử dụng vốn

Như ta đã biết, vốn là điều kiện không thể thiếu để thành lập doanh nghiệp và tiến hành sản xuất kinh doanh Quy mô vốn của doanh nghiệp sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp theo đuổi được các hợp đồng, dự án, chiến lược đòi hỏi đầu tư lớn và trong dài hạn Thông thường, người ta thường dựa vào chỉ tiêu quy mô vốn của doanh nghiệp để đánh giá quy mô của doanh nghiệp

Khả năng huy động vốn của doanh nghiệp biểu thị khả năng doanh nghiệp đáp ứng được các đòi hỏi về vốn để thực hiện các quyết định đầu tư Đứng trước một hợp đồng, dự án, chiến lược cần đầu tư, doanh nghiệp có khả năng huy động vốn từ nguồn vốn chủ sở hữu (vốn góp, các quỹ, tăng vốn thông qua phát hành cổ phiếu mới đối với công ty cổ phần) hay từ các nguồn khác bên ngoài doanh nghiệp (xin tài trợ, hỗ trợ của Nhà nước, vay các quỹ tín dụng, vay ngân hàng, phát hành trái phiếu,…) Khả năng huy động vốn của doanh nghiệp phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: Mức độ phát triển của thị trường tài chính, quy mô doanh nghiệp, uy tín và tình hình tăng trưởng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,…

Tuy nhiên không phải cứ có nhiều vốn, khả năng huy động vốn lớn là doanh nghiệp có khả năng sử dụng vốn một cách hiệu quả Hiệu quả của việc

sử dụng vốn của doanh nghiệp biểu hiện thông qua năng lực tài chính trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn, khả năng tài trợ cho các rủi ro

về tài chính, khả năng đảm bảo các cân đối về vốn Ngoài ra, một chỉ tiêu quan trọng đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đó là năng lực tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp và khả năng duy trì vị thế của doanh nghiệp trong điều kiện tăng trưởng kinh tế chung và kinh tế ngành Hiệu quả của việc sử dụng vốn

Trang 25

trong doanh nghiệp chủ yếu phụ thuộc vào chiến lược kinh doanh và tài năng kinh doanh của bộ máy quản lý, lãnh đạo

1.3 Tổ chức quản trị doanh nghiệp

Để việc sản xuất kinh doanh đi đúng hướng, việc tổ chức quản trị doanh nghiệp đóng một vai trò quyết định Khả năng quản trị doanh nghiệp bao gồm tổng thể các hoạt động từ việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, điều hành quản lý các nguồn lực đầu vào của doanh nghiệp để đạt được đầu ra hiệu quả theo đúng kế hoạch đã định, Hoạt động của doanh nghiệp bao gồm rất nhiều mảng từ tài chính, nhân sự, sản xuất, quản lý chất lượng,… do đó, năng lực quản trị của doanh nghiệp cũng phải bao quát, trải rộng trên tất cả các lĩnh vực đó Năng lực quản trị biểu hiện trước hết thông qua sự phân chia hợp lý các khâu, các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp, số lượng và trình độ các nhân viên chuyên trách công tác quản lý ở mỗi khâu, mỗi bộ phận, năng lực

và kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp của ban lãnh đạo doanh nghiệp, khả năng điều chỉnh bộ máy quản lý phù hợp khi doanh nghiệp trở nên lớn mạnh,… Bên cạnh đó, năng lực quản lý biểu hiện thông qua hiệu quả của từng mảng hoạt động Nhìn chung, doanh nghiệp thường được đánh giá là có năng lực quản trị tốt là doanh nghiệp mà: có định hướng, chiến lược phát triển

rõ ràng, các chính sách đãi ngộ đối với người lao động thực hiện nhất quán, hoạt động đào tạo, tập huấn, chuyển giao công nghệ đạt hiệu quả cao và đi vào thực chất Hoạt động tài chính doanh nghiệp hỗ trợ tích cực đối với việc thực hiện các kế hoạch kinh doanh Hệ thống giám sát chất lượng hiệu quả đảm bảo mỗi sản phẩm làm ra tuân thủ các yêu cầu nghiêm ngặt nhất về tiêu chuẩn chất lượng doanh nghiệp đặt ra và tiêu chuẩn chất lượng của thị trường nước nhập khẩu Đội ngũ lãnh đạo năng động, có khả năng nhìn xa trông rộng trước những biến động thay đổi của thị trường và có những quyết sách phù hợp

1.4 Năng lực công nghệ

Ngày nay khoa học công nghệ phát triển như vũ bão Năng lực công nghệ giữ vị trí quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp Năng lực

Trang 26

công nghệ của doanh nghiệp trước hết biểu hiện thông qua số lượng sản phẩm doanh nghiệp sản xuất ra, số lượng các bí quyết kỹ thuật, bằng phát minh, sáng chế, các chứng chỉ chất lượng quốc tế mà doanh nghiệp đạt được Ở một

số lĩnh vực, năng lực công nghệ còn được biểu hiện thông qua mức độ độc quyền mà doanh nghiệp đang nắm giữ

-Khả năng chiếm lĩnh thị trường và thương hiệu

Khả năng chiếm lĩnh thị trường khẳng định sức mạnh của doanh nghiệp trong việc sản xuất và cung cấp những sản phẩm phù hợp với thị trường của doanh nghiệp Khả năng này thường được biểu thị thông qua thị phần của doanh nghiệp, doanh nghiệp càng chiếm thị phần cao thì khả năng thâm nhập

và chi phối được thị trường lớn, do đó, năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp càng tăng

Thương hiệu là tài sản quý giá mà tất cả các doanh nghiệp cần phải có Thương hiệu không đơn thuần là phương tiện cạnh tranh mà còn có giá trị vật chất, tinh thần to lớn Uy tín thương hiệu của doanh nghiệp gắn liền với chất lượng sản phẩm, hệ thống phân phối sản phẩm, các dịch vụ bán hàng, uy tín kinh doanh của doanh nghiệp, và có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp

2 Các nhân tố thuộc môi trường kinh doanh

2.1 Các nhân tố thuộc môi trường kinh doanh quốc tế

Hoạt động xuất khẩu hàng hoá ngày nay diễn ra trong xu thế toàn cầu hoá

và bùng nổ của cách mạng khoa học kỹ thuật Môi trường kinh doanh quốc tế có những ảnh hưởng mạnh mẽ đến năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp

- Xu thế toàn cầu hoá và hợp tác liên kết giữa các quốc gia, khu vực

Đặc điểm nổi bật của xu thế này là sự liên kết ngày càng chặt chẽ giữa các quốc gia, thông qua việc xoá bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan giữa các nước, tiến tới tự do hoá thương mại Toàn cầu hoá và khu vực hoá đồng thời mang đến những cơ hội và thách thức cho tất cả các quốc gia Các rào cản thương mại bị dỡ bỏ giúp doanh nghiệp có cơ hội tham gia vào một thị trường rộng lớn , bình đẳng, tuân theo một luật chơi chung Tuy nhiên điều

Trang 27

đó cũng đồng nghĩa với cạnh tranh vô cùng khốc liệt Các sản phẩm của doanh nghiệp không có khả năng cạnh tranh, năng lực xuất khẩu cao sẽ khó

có thể tiếp cận với thị trường các nước Một yêu cầu bức thiết được đặt ra là doanh nghiệp cần nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp để có thể kinh doanh trong một môi trường luôn luôn biến động

- Sự bùng nổ của khoa học công nghệ

Sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật đã tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống con người Trong lĩnh vực thương mại, khoa học công nghệ cho phép nâng cao giá trị của sản phẩm, rút ngắn vòng đời của sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh, năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Khoa học công nghệ hiện nay là công cụ đắc lực giúp doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường Các doanh nghiệp phải liên tục áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao giá trị, khả năng cạnh tranh cho sản phẩm và nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp mình

- Những biến động về tình hình chính trị- an ninh trên thế giới

Tình hình an ninh chính trị có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Hiện nay, trên thế giới, xu thế phân cực, việc

mở rộng của các khối quân sự, sự tăng cường liên kết giữa các quốc gia, khu vực, nạn khủng bố,… đang hàng ngày hàng giờ diễn ra Do đó, khi xây dựng chiến lược kinh doanh, đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm xuất khẩu cần chú ‎ đến những biến động kể trên nhằm hạn chế tối đa những rủi ro trong kinh doanh

2.2 Các nhân tố thuộc môi trường kinh doanh trong nước

Môi trường kinh doanh trong nước với các nhân tố như sự phát triển của nền kinh tế, cơ sở hạ tầng, hệ thống chính sách pháp luật hiện hành,… cũng có những ảnh hưởng nhất định đến năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp

- Sự phát triển của nền kinh tế

Sự phát triển của nền kinh tế tạo thuận lợi cho môi trường kinh doanh trong nước, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Từ đó, năng lực

Trang 28

xuất khẩu của doanh nghiệp được nâng lên, doanh nghiệp có thể thâm nhập được vào thị trường các nước khác nhau

- Cơ sở hạ tầng

Các điều kiện như đường giao thông, điện, nước, hệ thống thông tin liên lạc, cầu cảng, sân bay,…có thể tạo thuận lợi hoặc gây khó khăn trong việc lưu thông, xuất khẩu hàng hoá của doanh nghiệp Do đó, việc cải thiện

cơ sở hạ tầng cũng giúp nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp

- Hệ thống chính sách pháp luật hiện hành

Hệ thống chính sách pháp luật hiện hành có liên quan đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp tạo nên môi trường pháp lý chi phối hiệu quả hoạt động xuất khẩu Sự hoàn thiện, ổn định và minh bạch của hệ thống chính sách pháp luật tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu và góp phần nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp

Trang 29

1 Khái quát về nền kinh tế Nhật Bản

Nhật Bản hiện nay là thị trường tiêu thụ hàng hoá đứng thứ hai thế giới, chỉ sau Hoa Kỳ với dân số 127,4 triệu người, GDP đạt 4,9 nghìn tỷ GDP, bình quân đầu người đạt 38.400 USD (năm 2006) Nhật Bản cũng là một thị trường quy mô lớn với các nhà đầu tư và hàng hoá nước ngoài với kim ngạch nhập khẩu hàng năm lên tới 400-450 tỷ USD (năm 2006 kim ngạch nhập khẩu đạt 420,6 tỷ USD) Về cơ cấu kinh tế, dịch vụ là ngành có vai trò quan trọng nhất

ở Nhật Bản chiếm tới hơn 60% GDP hàng năm, tiếp theo là công nghiệp, nông nghiệp chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ trong GDP Năm 2006, tỷ trọng các ngành kinh tế trong GDP của Nhật Bản như sau: Công nghiệp chiếm 30,78%, nông nghiệp chiếm 1,38%, dịch vụ chiếm 67,84%.7

Trong giai đoạn 1953-1973, thế giới đã chứng kiến sự phát triển kinh tế ngoạn mục của Nhật Bản tạo nên hiện tượng “thần kỳ Nhật Bản” với tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục cao trong hai thập kỷ, lên tới 8,5% (giai đoạn 1955-1960), 9,8% (giai đoạn 1960-1965), 11,2% (giai đoạn 1965-1971) Nền kinh tế Nhật Bản từ chỗ bị kiệt quệ sau chiến tranh đã phát triển nhảy vọt trở thành siêu cường về kinh tế của thế giới chỉ sau Hoa Kỳ Tốc độ tăng trưởng giảm mạnh chỉ khoảng 0,8%/ năm trong những năm 1990, thậm chí tăng trưởng âm vào năm 1998 (-1,1%) và năm 2001 (-0,2%) Hiện nay, nhờ sự cố gắng của chính phủ Nhật Bản, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này đã có dấu hiệu hồi phục song vẫn không đạt được mức tăng trưởng thần kì như giai đoạn trước Tốc độ tăng trưởng GDP của năm 2005 là 2,6% năm 2006 là 2,8%.8

Trang 30

Nhật Bản là một nước có ít tài nguyên thiên nhiên Ngành công nghiệp Nhật Bản phải nhập khẩu 90% nguyên liệu từ nước ngoài để phục vụ sản xuất công nghiệp, đặc biệt là dầu mỏ Tuy nhiên, Nhật Bản lại rất chú trọng đến việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến nhất, mua các bằng phát minh, sáng chế, công nghệ mới nhất của thế giới, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển thích đáng nên ngành công nghiệp, đặc biệt là ngành chế tạo của Nhật Bản luôn giữ vị trí hàng đầu thế giới Hiện nay, Nhật Bản được cả thế giới biết đến là nhà sản xuất ô tô, xe máy, đóng tàu, sản xuất thép, đồ điện và thiết bị điện tử hàng đầu với các thương hiệu nổi tiếng như Toyota, Honda, Canon, Sony, Toshiba,… Những tiến bộ vượt bậc trong nghiên cứu và công nghệ giúp Nhật Bản mở rộng nền kinh tế theo hướng xuất khẩu Nhờ đó, ngành tài chính ngân hàng có cơ hội phát triển mạnh mẽ Hiện nay, Nhật Bản

là trung tâm thương mại tài chính hàng đầu của thế giới Về nông nghiệp, tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong nền kinh tế và phải nhập khẩu các loại hạt và thức

ăn cho gia súc, gia cầm nhưng do áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ

và được bảo hộ chặt chẽ nên nền nông nghiệp Nhật Bản vẫn được xếp vào hàng cao nhất trên thế giới Về kim ngạch xuất nhập khẩu, trong giai đoạn 1992-1997, tăng trưởng xuất nhập khẩu của Nhật Bản tăng ổn định với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân 4,8%/ năm và nhập khẩu là 7,7%/ năm Từ năm 1998, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á (năm 1997) và sự suy thoái của kinh tế thế giới, tăng trưởng xuất nhập khẩu giảm Tuy nhiên, từ năm 2002, tình hình xuất nhập khẩu của Nhật Bản đang hồi phục và tăng trưởng cao trở lại với mức tăng trưởng xuất khẩu năm 2006 đạt 595,1 tỷ USD, nhập khẩu đạt 420,6

tỷ USD Cán cân thương mại của Nhật Bản thường xuyên xuất siêu Thời kỳ 1998-1999 và 2003-2006, mức xuất siêu của Nhật Bản đạt trên 100 tỷ USD, tập trung chủ yếu vào các sản phẩm bán dẫn, máy tính và các sản phẩm công nghệ cao Hoa Kỳ và EU là hai đối tác thường xuyên nhập siêu từ Nhật Bản, mức nhập siêu vào các năm 2005-2006 là khoảng 170 tỷ USD.9

9

Trang 31

Về cơ cấu xuất nhập khẩu: Nhật Bản chủ yếu xuất khẩu các loại thiết bị điện, điện tử, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, nhập khẩu nguyên, nhiên liệu và nông sản

Bảng 1: Tình hình xuất nhập khẩu của Nhật Bản một số năm

Xuất khẩu

Nhập khẩu

Nguồn:Japan Staticstical Association, Summary Report on Trade of Japan;

Cục Xúc tiến Ngoại thương Nhật Bản (JETRO)

Các đối tác thương mại lớn của Nhật Bản là các nước châu Á, Bắc Mỹ (chủ yếu là Hoa Kỳ) và EU Nhật Bản xuất khẩu chủ yếu sang châu Á (chiếm 45% - 50% kim ngạch xuất khẩu của nước này), nhất là sang các nước và vùng lãnh thổ Đông Á gồm các nền kinh tế công nghiệp mới (Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Singapore) và Trung Quốc, sang Hoa Kỳ và EU, trong khi cũng nhập khẩu chủ yếu từ các nguồn này (Hoa Kỳ, Trung Quốc, EU )

và từ Trung Đông, nguồn cung cấp năng lượng quan trọng cho Nhật Bản

2 Khái quát mối quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam- Nhật Bản

Trải qua gần 35 năm sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 21/09/1973, quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản không ngừng phát triển trên nhiều lĩnh vực bước sang giai đoạn mới về chất và đi vào chiều sâu, đặc biệt

là trên lĩnh vực kinh tế Năm 1992, Nhật Bản là một trong những nước đầu

Trang 32

tiên trên thế giới nối lại viện trợ cho Việt Nam, giúp Việt Nam xây dựng cơ

sở hạ tầng kinh tế- xã hội Trong chuyến thăm Nhật Bản của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hồi tháng 10/2006, hai bên đã ký Tuyên bố chung “ Hướng tới quan hệ đối tác chiến lược vì hoà bình và phồn vinh ở châu Á” và đạt được một loạt thoả thuận quan trọng trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là mở rộng hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư Bên cạnh đó, khởi động từ tháng 1/2007, đã trải qua hơn 3 phiên đàm phán, cả Việt Nam và Nhật Bản đang đi những bước cuối cùng để tiến tới kí kết hiệp định đối tác kinh tế Việt- Nhật (VJEPA) Hiệp định hứa hẹn sẽ mở ra cơ hội lớn cho hàng hoá Việt Nam xuất khẩu vào Nhật Bản

Nhật Bản hiện là đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam về ODA, thương mại và đầu tư Trong những năm gần đây, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Nhật Bản vào Việt Nam liên tục tăng và quy mô các dự án ngày càng lớn Mặc dù đứng thứ ba trong số các nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam nhưng Nhật Bản lại dẫn đầu về vốn thực hiện với 735 dự án còn hiệu lực có số vốn đăng kí đạt 7,4 tỷ USD (tính đến quý I/2007) Nhật Bản cũng là nước đứng đầu về cung cấp hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam với tổng vốn ODA mà Nhật Bản cung cấp từ năm 1996-2006 là 927.8 triệu USD.10

10

Bộ Kế hoạch và đầu tư, số liệu thống kê ODA năm 2006

Trang 33

Bảng 2: Quan hệ thương mại Việt Nam- Nhật Bản

Đơn vị: triệu USD

Kim ngạch xuất khẩu sang Nhật

tổng xuất khẩu

Nam

% trong tổng nhập khẩu của

Nhật

Kim ngạch nhập khẩu

từ Nhật

% trong tổng xuất khẩu của

Trang 34

lại hồi phục từ năm 2002 đạt 4.796 triệu, từ đó liên tục gia tăng và tăng mạnh năm 2006 để đạt mức kỷ lục 9.294 triệu USD Theo Cơ quan đại diện Thương mại Việt Nam tại Nhật Bản, kim ngạch thương mại giữa hai nước trong quý I/2007 đạt khoảng 2 tỷ USD, cao hơn so với cùng kỳ năm ngoái Trong giai đoạn 1991-2000, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật đã tăng từ

662 triệu USD lên 2.621 triệu USD , năm 2004 đạt 3.542 triệu USD, năm

2005 là 4.411 triệu USD và đến năm 2006 đạt 5.121 triệu USD, tăng 16% so với năm 2005 11Thị trường Nhật Bản ngày càng khẳng định là thị trường xuất khẩu trọng điểm của Việt Nam Tuy nhiên, xuất khẩu của Việt Nam mới chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ bé trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Nhật Bản Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản vẫn chủ yếu là nguyên liệu thô và sản phẩm

sơ chế, chiếm trên 50%, tập trung vào các mặt hàng: dầu thô, hàng nông sản (cà phê, cao su, rau quả, gạo, chè,…), hàng dệt may, giày dép, thuỷ hải sản, thực phẩm chế biến, hàng thủ công mỹ nghệ, gốm sứ và đồ gia dụng,…

Về nhập khẩu, Việt Nam nhập khẩu từ Nhật Bản các loại thiết bị điện, điện tử, máy móc thiết bị và phương tiện vận tải, những mặt hàng có giá trị công nghệ cao Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản cũng liên tục tăng trong hơn 10 năm qua (chi tiết ở bảng 2) Kim ngạch này còn tiếp tục tăng do Việt Nam vẫn đang đẩy nhanh việc thực hiện quá trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nước

Tóm lại, với những thuận lợi về vị trí địa lý, về truyền thống giao lưu

và về tính bổ sung lẫn nhau của cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu giữa hai nước thì những kết quả ngoại thương đã đạt được giữa Việt Nam và Nhật Bản còn khá khiêm tốn và chưa tương xứng với tiềm năng của mỗi nước

3 Thị trường và người tiêu dùng Nhật Bản

3.1 Đặc điểm của thị trường Nhật Bản

Hệ thống phân phối: Nhật Bản ít khi nhập khẩu hàng hoá có số lượng

lớn mà thường yêu cầu nhiều chủng loại hàng với số lượng nhỏ Hệ thống

11

Tổng cục thống kê, niên giám thống kê , thống kê xuất nhập khẩu qua các năm

Trang 35

phân phối về cơ bản gồm ba kênh chính: (1) Nhà nhập khẩu > nhà bán buôn

-> nhà bán lẻ > người tiêu dùng Giá bán lẻ thường cao gấp 3 hay 4 lần; (2)

Nhà nhập khẩu -> nhà bán lẻ (siêu thị, cửa hàng bách hoá ) -> người tiêu dùng Giá bán lẻ thường gấp 2- 2,5 lần giá FOB; (3) Nhà nhập khẩu -> người

tiêu dùng (đặt hàng qua thư) và giá bán lẻ có thể gấp đôi giá FOB

Hệ thống phân phối của Nhật Bản tương đối phức tạp, đòi hỏi nhiều nhân công, bộ máy cồng kềnh Chính sự phức tạp của hệ thống phân phối này làm cho chi phí phân phối tăng lên và làm cho giá hàng hoá tại Nhật cao hơn rất nhiều so với các nước khác trên thế giới Trong những năm 90, một số thay đổi đã diễn ra trong hệ thống phân phối trước những yêu cầu thay đổi bức thiết, tuy nhiên, hệ thống phân phối truyền thống vẫn còn tồn tại và tiếp tục là một rào cản đáng kể với các nhà xuất khẩu nước ngoài muốn thâm nhập vào thị trường Nhật Bản

Sự trì hoãn trong sự thay đổi của hệ thống phân phối của Nhật Bản phần nào chịu ảnh hưởng của yếu tố văn hoá Người Nhật rất ngại việc làm gián đoạn mối quan hệ truyền thống, làm ăn lâu dài với các nhà cung cấp trong nước, bạn hàng quen thuộc, ngay cả khi các nhà xuất khẩu nước ngoài có thể cung cấp các sản phẩm tốt hơn với giá thành cạnh tranh hơn Đồng thời, người Nhật luôn lo ngại liệu nhà cung cấp mới có thể giao hàng đúng tiến độ hay không, có khả năng cung cấp các dịch vụ hậu mãi tốt không bởi đây chính là điều mà người Nhật luôn chú trọng và là điểm mạnh của các nhà cung cấp Nhật Bản

Hệ thống bán lẻ: Ở Nhật, chuỗi các cửa hàng bán lẻ nhỏ “Mom and

Pop” và cửa hàng thực phẩm nhỏ chiếm vị trí thống trị trong hệ thống kinh doanh bán lẻ thực phẩm với khoảng một nửa lượng tiêu dùng được thực hiện tại đây Thông thường các cửa hàng này chỉ bán đồ Nhật, không bán hàng nhập ngoại Các cửa hàng này thường có sự liên hệ mật thiết với các nhà sản xuất trong nước để nhận được các ưu đãi về tài chính, sự hỗ trợ về Marketing, tuy nhiên, lại không đủ diện tích và tiềm lực tài chính để nhập khẩu các hàng hoá đắt tiền và nhập khẩu theo đơn đặt hàng lớn Trong những năm gần đây, chuỗi các cửa hàng này đang gặp phải sự cạnh tranh quyết liệt từ sự phát triển

Trang 36

nhanh chóng của các cửa hàng bách hoá, các quầy thực phẩm trong những cửa hàng lớn (DS- Department Stores), các siêu thị (SM Supermarket) và các chuỗi cửa hàng chuyên dụng (CVS- Convenient Stores), các cửa hàng giảm giá và các cửa hàng bán hàng chuyên biệt của các hãng nổi tiếng

3.2 Người tiêu dùng Nhật Bản

Người tiêu dùng Nhật Bản nhìn chung có độ thẩm mỹ cao, tinh tế Đặc tính của người tiêu dùng Nhật Bản là tính đồng nhất, 90% người tiêu dùng cho rằng họ thuộc tầng lớp trung lưu

Người Nhật là người tiêu dùng có yêu cầu khắt khe nhất: Sống trong môi trường có mức sống cao (GDP theo đầu người năm 2006 là 38.400 USD / người) nên người tiêu dùng Nhật Bản đặt ra những tiêu chuẩn đặc biệt chính

xác về chất lượng, độ bền, độ tin cậy, sự tiện dụng của sản phẩm và đảm bảo thời gian giao hàng Yêu cầu này còn bao gồm dịch vụ hậu mãi như sự phân

phối kịp thời của nhà sản xuất khi một sản phẩm bị trục trặc, khả năng sửa chữa những sản phẩm đó Những vết xước nhỏ, mẫu chỉ cắt còn sót lại trên mặt sản phẩm, bao bì xô lệch,…những lỗi nhỏ do sơ suất trong quá trình vận chuyển hay khâu hoàn thiện sản phẩm có thể dẫn đến tác hại lớn là làm lô hàng khó bán, ảnh hưởng đến quá trình sản xuất lâu dài Bởi vậy cần có sự quan tâm đúng mức đến khâu hoàn thiện, vệ sinh sản phẩm, bao gói và vận chuyển hàng Các gia đình Nhật Bản thường có ít người, ít phương tiện dự trữ,

vì vậy hàng hoá được bao gói với số lượng lớn `thường không tiện dụng Đảm

bảo thời hạn giao hàng cũng là yếu tố rất quan trọng: Việc giao hàng đúng hẹn được đảm bảo một cách nghiêm ngặt, nếu chậm hợp đồng có thể bị huỷ

bỏ hay bị phạt

Người Nhật cũng tương đối nhạy cảm với giá cả: nhu cầu sản phẩm rẻ

có xu hướng tăng lên trong giai đoạn kinh tế trì trệ nhưng cũng có ngoại lệ, chấp nhận giá cao cho những sản phẩm mới, chất lượng cao.Các bà nội trợ đi chợ hàng ngày và là lực lượng quan trọng ảnh hưởng đến thị hiếu tiêu dùng,

họ hay để ý đến biến động giá và các mẫu mã mới

Trang 37

Người Nhật Bản rất quan tâm đến an toàn vệ sinh thực phẩm, xuất xứ thực phẩm và đặc biệt quan tâm đến chất lượng sản phẩm Họ nhạy cảm với hương vị và độ tươi mới của thực phẩm, sẵn sàng trả giá cao cho các sản

phẩm có thể tin cậy được về độ tươi mới và các sản phẩm có lợi cho sức khoẻ (các sản phẩm được quảng cáo trên truyền hình là tốt cho sức khoẻ đều được

tiêu thụ rất nhanh trên thị trường Nhật Bản)

Một đặc điểm nổi bật của người tiêu dùng Nhật Bản là họ coi trọng các tiêu chuẩn của Nhật Bản: Tiêu chuẩn nông sản Nhật Bản (JAS), Tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản (JIS) được coi trọng hơn các tiêu chuẩn quốc tế Hàng

hoá đáp ứng được tiêu chuẩn JIS, JAS sẽ dễ tiêu thụ hơn trên thị trường Nhật bởi người tiêu dùng rất tin tưởng chất lượng của những sản phẩm được đóng dấu JIS hoặc JAS Nếu thực phẩm được cấp xác nhận này thì việc tiêu thụ trên thị trường Nhật Bản sẽ trở nên dễ dàng hơn, thủ tục nhập khẩu cũng được giải quyết nhanh hơn (trong vòng 1 ngày thay vì 7 ngày) Ngoài ra trên thị trường Nhật Bản còn có các dấu chất lượng và độ an toàn sản phẩm khác như dấu Q là chất lượng và độ đồng nhất của sản phẩm, dấu G về thiết kế, dịch vụ sau bán hàng và chất lượng, dấu S về độ an toàn, dấu S.G về độ an toàn (bắt buộc) Ecomark là dấu chứng nhận sản phẩm không làm hại sinh thái, ra đời

từ năm 1989 và ngày càng được quan tâm hơn trên thị trường Nhật Bản

Tiêu dùng của người Nhật Bản mang tính "mùa vụ" rất rõ rệt: Quần áo,

đồ dùng trong nhà, thực phẩm là những mặt hàng có ảnh hưởng theo mùa Có những sản phẩm và màu sắc chỉ dùng trong dịp này mà không hề dùng cho dịp khác Ngoài ra, người Nhật cũng rất thích các sản phẩm thủ công tinh xảo, làm bằng tay, thể hiện văn hoá châu Á tinh tế, đặc thù

Người tiêu dùng Nhật Bản ưa chuộng sự đa dạng của sản phẩm: Hàng hoá phải đa dạng, phong phú mới thu hút được người tiêu dùng Nhật Bản Chỉ một loại dầu gội trong siêu thị của Nhật Bản thôi cũng đã có vô số chủng loại khác nhau về màu sắc, thành phần, hương thơm,…Một yêu cầu cũng rất đáng lưu ‎ý là nhãn hàng phải đính kèm những thông tin hướng dẫn tiêu dùng là rất cần thiết

4 Chính sách và cơ chế nhập khẩu hàng hoá của Nhật Bản

Trang 38

4.1 Chính sách nhập khẩu hàng hoá của Nhật Bản:

Trong những năm 80, chính phủ Nhật Bản đã thực hiện cắt giảm và bãi

bỏ thuế nhập khẩu, chấm dứt và nới lỏng các biện pháp hạn chế số lượng, cấp tín dụng nhập khẩu và cải thiện hệ thống cấp chứng nhận Mục đích của những biện pháp này là nhằm giảm những rào cản nhập khẩu, tạo điều kiện cho các nhà xuất khẩu nước ngoài xuất khẩu hàng hoá vào Nhật Hiện nay, Nhật Bản vẫn đang nỗ lực thực hiện các cam kết hướng tới tự do hoá thương mại trong khuôn khổ WTO

Tuy nhiên, Nhật Bản vẫn duy trì nhiều chính sách và biện pháp nhằm bảo hộ sản xuất trong nước, hạn chế hàng hoá nước ngoài nhập khẩu vào Nhật dưới các hình thức chính thức và không chính thức như:

- Thiết lập các tiêu chuẩn riêng của Nhật Bản (cả chính thức và không chính thức)

- Việc đòi hỏi hỏi phải chứng minh kinh nghiệm trong thị trường Nhật Bản thực tế đã cản trở các nhà xuất khẩu mới muốn thâm nhập thị trường này

- Các quy định chính thức nhằm bảo trợ sản xuất trong nước và phân biệt đối xử đối với hàng ngoại nhập

- Quyền cấp phép nằm trong tay các hiệp hội sản xuất với số lượng thành viên hạn chế nhưng có sự ảnh hưởng rất lớn trên thị trường, có khả năng kiểm soát thông tin và hoạt động một cách hoàn hảo

- Các hiệp hội doanh nghiệp (cartel) hoạt động chính thức và không chính thức Việc nắm giữ cổ phiếu của nhau cũng như việc liên kết chặt chẽ các lợi ích thương mại trong nước của các doanh nghiệp Nhật Bản tạo ra những bất lợi đối với các công ty bên ngoài những hiệp hội này

- Tầm quan trọng của các mối quan hệ cá nhân ở Nhật Bản và việc miễn cưỡng phá bỏ hoặc thay đổi quan hệ kinh doanh Để có thể vượt qua các rào cản này, yếu tố thành công phụ thuộc vào lĩnh vực sản xuất, ngành hàng, vào tính cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ, cũng như là sự sáng tạo và các quyết định sáng suốt của ban lãnh đạo doanh nghiệp

Trang 39

Trong lĩnh vực nông nghiệp, Nhật Bản vẫn duy trì bảo hộ, trợ giá nông nghiệp cho nông dân Theo tính toán của tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế OECD, chính phủ Nhật Bản trợ giá đến 60% giá trị sản lượng nông nghiệp, trong khi tỷ lệ này ở Mỹ là 23%, EU là 34% 12Các chính sách bảo hộ, hạn chế nhập khẩu của Nhật có thể kể tới như: Hạn ngạch sản xuất (PQ) đối với ngành sữa; Chính sách ổn định thu nhập (ISP) đối với ngành rau quả; Hỗ trợ giá (DP); chương trình trợ cấp bảo hiểm rủi ro (GSIP), đặc biệt tiêu chuẩn Chất lượng và an toàn thực phẩm (FSAQ) ngày càng trở nên quan trọng ở Nhật Bản

do tình trạng dịch bệnh gia tăng và những báo động về nạn hàng giả, hàng kém chất lượng xảy ra thời gian những năm 1990 Năm 2003 một Uỷ ban an toàn thực phẩm cấp Văn phòng Chính phủ đã được thành lập nhằm đánh giá và xác định mức độ rủi ro an toàn đối với các sản phẩm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi

và hoá chất nông nghiệp Đây thực sự là một rào cản kỹ thuật phức tạp mà các doanh nghiệp nước ngoài xuất khẩu thực phẩm vào Nhật Bản phải vượt qua

4.2 Các công cụ, biện pháp điều tiết nhập khẩu

4.2.1 Thuế quan

Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) của Nhật Bản bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/ 8/1971, dựa trên hiệp ước của Hội nghị Liên Hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) năm 1970 Nhật Bản sử dụng Hệ thống phân loại HS với 4 mức thuế như sau:

- Thuế suất chung: mức thuế cơ bản căn cứ vào Luật thuế quan hải quan, áp dụng trong một thời gian dài

- Thuế suất tạm thời: là mức thuế được áp dụng trong thời gian ngắn, thay cho mức thuế chung

- Thuế suất ưu đãi phổ cập (GSP): là mức thuế áp dụng cho việc nhập khẩu hàng hoá từ các nước đang phát triển hay các khu vực lãnh thổ Mức thuế áp dụng có thể thấp hơn những mức thuế được áp dụng cho hàng hoá của những nước phát triển

12

OECD,Summary report on world agriculture policies 2006

Trang 40

- Thuế suất WTO: là mức thuế căn cứ vào cam kết WTO và các hiệp định quốc tế khác

Về nguyên tắc, mức thuế áp dụng sắp xếp theo thứ tự mức thuế GSP, mức thuế WTO, mức thuế tạm thời và mức thuế chung Tuy nhiên, mức thuế GSP chỉ được áp dụng khi thoả mãn các điều kiện trong Chương 8 của Luật

áp dụng thuế suất ưu đãi Mức thuế WTO chỉ áp dụng khi nó thấp hơn cả mức thuế tạm thời và mức thuế chung Như vậy mức thuế chung áp dụng cho những nước không phải là thành viên của WTO, mức thuế WTO áp dụng cho những nước công nghiệp phát triển là thành viên của WTO và mức thuế GSP

áp dụng cho các nước đang phát triển Nếu mức thuế tạm thời thấp hơn những mức thuế trên, nó sẽ được áp dụng

Ngoài thuế nhập khẩu, hàng nhập khẩu phải chịu 5% thuế tiêu thụ thông thường, được áp dụng đối với tất cả mặt hàng bán tại Nhật Bản Loại thuế này phải được thanh toán ngay khi khai báo hải quan hàng nhập khẩu Thuế tiêu thụ được tính trên trị giá CIF của hàng nhập khẩu cộng với thuế nhập khẩu

Đối với các sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản chỉ được công nhận hưởng tiêu chuẩn GSP sau khi đã được cân nhắc các ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp của Nhật khi chúng được hưởng qui chế ưu đãi Thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng này thấp hơn từ 10% - 100% so với biểu thuế chung Thuế quan ưu đãi không áp dụng đối với các sản phẩm không có tên trong danh sách tích cực Thông thường, nông, lâm, thuỷ sản đủ chuẩn qui chế ưu đãi thuế thì không chịu giới hạn của hạn ngạch Nói chung, biểu thuế ưu đãi được

áp dụng không giới hạn Tuy vậy, nếu việc công nhận qui chế ưu đãi đối với hàng nhập khẩu có thể gây ảnh hưởng xấu tới ngành nông, lâm, ngư nghiệp trong nước thì một qui định về các trường hợp ngoại lệ sẽ được đưa ra để tạm hoãn qui chế ưu đãi của sản phẩm này

4.2.2 Các công cụ phi thuế quan

Hàng hoá nhập khẩu vào thị trường Nhật Bản được điều chỉnh và bị chi phối bởi một hệ thống các luật sau đây:

Ngày đăng: 24/05/2014, 09:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. CN. Ngô Quý Nhâm (2003), Các căn cứ để xây dựng mô hình đánh giá năng lực xuất khẩu của DN, Hội thảo khoa học: Những vấn đề lý luận về năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp và mô hình đánh giá năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp Hà Nội, 01/2004, Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các căn cứ để xây dựng mô hình đánh giá năng lực xuất khẩu của DN
Tác giả: CN. Ngô Quý Nhâm
Nhà XB: Hội thảo khoa học: Những vấn đề lý luận về năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp và mô hình đánh giá năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp Hà Nội
Năm: 2003
2. T.S. Nguyễn Thị Nhiễu (2004), “Giải pháp chủ yếu nhằm phát triển xuất khẩu nông, thuỷ sản và hàng thủ công mỹ nghệ sang thị trường Nhật Bản”, Đề tài, Mã số: 2003-78-013, Bộ Thương mại, Viện nghiên cứu thương mại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp chủ yếu nhằm phát triển xuất khẩu nông, thuỷ sản và hàng thủ công mỹ nghệ sang thị trường Nhật Bản
Tác giả: T.S. Nguyễn Thị Nhiễu
Nhà XB: Bộ Thương mại
Năm: 2004
3. TS. Bùi Ngọc Sơn (2003), Tác động của môi trường kinh doanh đến năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam, Hội thảo khoa học: Những vấn đề lý luận về năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp và mô hình đánh giá năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp Hà Nội, 01/2004, Trường Đại học Ngoại thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của môi trường kinh doanh đến năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam
Tác giả: TS. Bùi Ngọc Sơn
Nhà XB: Trường Đại học Ngoại thương
Năm: 2003
4. Nhóm nghiên cứu trường ĐH Ngoại Thương, CN đề tài- T.S Bùi Ngọc Sơn, “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp Hà Nội nhằm thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá thủ đô trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”, Đề tài nghiên cứu cấp bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp Hà Nội nhằm thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá thủ đô trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Nhóm nghiên cứu trường ĐH Ngoại Thương, T.S Bùi Ngọc Sơn
Nhà XB: Đề tài nghiên cứu cấp bộ
5. Hoàng Thị Thanh Tâm (2004), "Các giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu của hàng nông sản Việt Nam vào thị trường EU", Mã số: 60.31.07, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu của hàng nông sản Việt Nam vào thị trường EU
Tác giả: Hoàng Thị Thanh Tâm
Năm: 2004
6. GS. TS. Nguyễn Kế Tuấn (2003), Nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế, Kỷ yếu Hội thảo " Thương mại Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế", Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế
Tác giả: GS. TS. Nguyễn Kế Tuấn
Nhà XB: Kỷ yếu Hội thảo " Thương mại Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế"
Năm: 2003
10. Japan Staticstical Association, Summary Report on Trade of Japan, Cục xúc tiến Ngoại thương Nhật Bản (JETRO) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Summary Report on Trade of Japan
Tác giả: Japan Statistical Association
Nhà XB: Cục xúc tiến Ngoại thương Nhật Bản (JETRO)
12. www.agroviet.gov.vn 13. www.customs.gov.vn 14. www.gso.gov.vn 15. www.mofa.gov.vn 16. www.mot.gov.vn 17. www.mpi.gov.vn 18.www.vasep.com.vn Link
7. Niên giám thống kê (2001,2002,2003,2004,2005,2006), NXB Thống kê, Hà Nội Khác
8. Viện nghiên cứu cơ khí, Khảo sát thực trạng công nghệ chế biến nông, lâm, thuỷ sản xuất khẩu năm 2006 Khác
9. Tổng cục Hải Quan, thống kê hải quan năm 2001,2002,2003,2004,2005,2006 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tình hình xuất nhập khẩu của Nhật Bản một số năm - Nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp việt nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thủy sản sang thị trường nhật bản
Bảng 1 Tình hình xuất nhập khẩu của Nhật Bản một số năm (Trang 31)
Bảng 2: Quan hệ thương mại Việt Nam- Nhật Bản - Nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp việt nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thủy sản sang thị trường nhật bản
Bảng 2 Quan hệ thương mại Việt Nam- Nhật Bản (Trang 33)
Bảng 3: Kim ngạch xuất khẩu nông sản Việt Nam sang thị trường - Nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp việt nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thủy sản sang thị trường nhật bản
Bảng 3 Kim ngạch xuất khẩu nông sản Việt Nam sang thị trường (Trang 46)
Bảng 6: Kim ngạch xuất khẩu mây, tre đan Việt Nam sang thị trường - Nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp việt nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thủy sản sang thị trường nhật bản
Bảng 6 Kim ngạch xuất khẩu mây, tre đan Việt Nam sang thị trường (Trang 48)
Bảng 7: Các mặt hàng nông sản của Việt Nam xuất khẩu sang Nhật giai - Nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp việt nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thủy sản sang thị trường nhật bản
Bảng 7 Các mặt hàng nông sản của Việt Nam xuất khẩu sang Nhật giai (Trang 49)
Bảng 8: Các mặt hàng thuỷ sản của Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản, - Nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp việt nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thủy sản sang thị trường nhật bản
Bảng 8 Các mặt hàng thuỷ sản của Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản, (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w