1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động tài trợ thương mại quốc tế theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại VPBank - thực trạng và giải pháp

96 742 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt động tài trợ thương mại quốc tế theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại VPBank - thực trạng và giải pháp
Tác giả Thân Thị Kim Chi
Người hướng dẫn TS. Từ Thúy Anh
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh tế và Kinh doanh quốc tế
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động tài trợ thương mại quốc tế theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại VPBank - thực trạng và giải pháp

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI 0NGOẠI

Sinh viên thực hiện : Thân Thị Kim Chi

Giáo viên hướng dẫn : TS Từ Thúy Anh

HÀ NỘI - 11/ 2007

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4

I Khái quát về hoạt động tài trợ thương mại quốc tế 4

1 Khái niệm tài trợ thương mại quốc tế 4

2 Vai trò của tài trợ thương mại quốc tế 6

2.1 Đối với nền kinh tế 6

2.2 Đối với ngân hàng thương mại 6

2.3 Đối với doanh nghiệp 8

2.4 Vai trò của NHTM trong hoạt động tài trợ TMQT 8

3 Phân loại tài trợ thương mại quốc tế 9

3.1 Căn cứ vào thời hạn tài trợ 9

3.2 Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng 10

3.3 Căn cứ vào phương tiện thanh toán 10

3.4 Căn cứ vào phương thức thanh toán 13

II Các hình thức tài trợ TMQT theo phương thức thanh toán TDCT 15

1 Khái quát về phương thức thanh toán TDCT 15

1.1 Khái niệm 15

1.2 Các chủ thể tham gia trong phương thức thanh toán TDCT 16

2 Các hình thức tài trợ TMQT theo phương thức thanh toán TDCT 16

2.1 Tài trợ nhập khẩu 16

2.2 Tài trợ xuất khẩu 22

III Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tài trợ TMQT theo phương thức thanh toán TDCT 28

1 Cơ chế chính sách của Nhà nước 28

2 Ngân hàng 29

Trang 3

3 Doanh nghiệp xuất nhập khẩu 29

4 Biến động tỷ giá 30

Kết luận chương I 31

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ TMQT THEO PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TDCT TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 32

I Giới thiệu chung về Ngân hàng TMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (VPBank) 32

1 Quá trình hình thành và phát triển của VPBank 32

2 Hoạt động kinh doanh của VPBank trong những năm gần đây 34

2.1 Hoạt động huy động vốn 34

2.2 Hoạt động tín dụng 36

2.3 Hoạt động thanh toán quốc tế 37

2.4 Về doanh thu và lợi nhuận 39

II Thực trạng hoạt động tài trợ TMQT theo phương thức thanh toán TDCT tại VPBank 40

1 Tài trợ nhập khẩu 41

1.1 Bảo lãnh phát hành L/C 41

1.2 Tài trợ thanh toán L/C nhập khẩu 44

1.3 Bảo lãnh nhận hàng 45

2 Tài trợ xuất khẩu 46

2.1 Tài trợ vốn cho doanh nghiệp xuất khẩu 46

2.2 Bảo lãnh thực hiện hợp đồng 48

2.3 Chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất theo L/C 49

III Đánh giá kết quả hoạt động tài trợ TMQT theo phương thức thanh toán TDCT tại VPBank 51

1 Thành tựu 51

2 Hạn chế 53

Trang 4

3 Nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động tài trợ TMQT tại

VPBank 55

Kết luận chương II 59

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ TMQT THEO PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TDCT TẠI VPBANK 60

I Định hướng hoạt động tài trợ TMQT theo phương thức thanh toán TDCT tại VPBank 60

1 Định hướng chung của Nhà nước về hoạt động XNK trong giai đoạn 2006 – 2010 60

2 Định hướng của VPBank về hoạt động tài trợ TMQT theo phương thức thanh toán TDCT 61

II Một số giải pháp mở rộng hoạt động tài trợ TMQT theo phương thức thanh toán TDCT tại VPBank 63

1 Nhóm giải pháp trực tiếp 63

1.1 Tăng cường huy động mọi nguồn vốn phục vụ cho hoạt động tài trợ TMQT 63

1.2 Hoàn thiện và đa dạng hoá các hình thức tài trợ TMQT theo phương thức thanh toán TDCT 64

2 Nhóm giải pháp hỗ trợ 68

2.1 Nâng cao trình độ nghiệp vụ cho đội ngũ nhân viên 68

2.2 Đẩy mạnh ứng dụng kỹ thuật công nghệ nhằm nâng cao chất lượng nghiệp vụ thanh toán quốc tế 70

2.3 Tăng cường công tác marketing nhằm thúc đẩy hoạt động thanh toán quốc tế 71

III Một số kiến nghị 72

1 Kiến nghị đối với Chính phủ và các Bộ, ngành có liên quan 72

1.1 Hoàn thiện môi trường pháp lý 72

1.2 Hoàn thiện chính sách khuyến khích hoạt động XNK 73

Trang 5

2 Kiến nghị đối với NHNN 75

2.1 Hoàn thiện cơ chế điều hành tỷ giá 75

2.2 Hoàn thiện Luật NHNN Việt Nam và Luật các Tổ chức Tín dụng 76

2.3 Hoàn thiện và phát triển thị trường ngoại tệ liên ngân hàng 76

3 Kiến nghị đối với VPBank 77

4 Kiến nghị đối với doanh nghiệp XNK 78

Kết luận chương III 80

KẾT LUẬN 81

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Ngày nay, toàn cầu hoá đang trở thành xu thế khách quan, lôi cuốn các nước và bao trùm hầu hết các lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế Xu thế này vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh và tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia Trong bối cảnh hiện tại, không một quốc gia nào trên thế giới có thể phát triển nếu thiếu các hoạt động giao lưu kinh tế quốc tế Một trong những chiếc cầu nối quan trọng đưa mỗi nước tham gia vào đời sống kinh tế chung toàn cầu chính là hoạt động xuất nhập khẩu

Với mong muốn phát triển và hoà nhập vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam coi xuất nhập khẩu là một trong những công cụ hữu hiệu Bởi vậy, trong suốt thời kỳ đổi mới, đặc biệt trong những năm gần đây, Việt Nam luôn nỗ lực đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu của quốc gia Tuy nhiên khi thị trường quốc tế ngày càng mở rộng thì khó khăn, thách thức đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu của Việt Nam càng lớn Sự thiếu hụt về vốn, sự hạn chế về trình độ và kinh nghiệm kinh doanh trong thương mại quốc tế chính là những khó khăn lớn nhất của các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào thị trường toàn cầu WTO - một thị trường cạnh tranh không khoan nhượng và được điều chỉnh bởi nhiều nguồn luật, thông lệ, tập quán quốc tế phức tạp Chính vì những lẽ đó, các doanh nghiệp rất cần tới sự giúp đỡ, hợp tác từ phía các Ngân hàng thương mại thông qua nghiệp vụ tài trợ thương mại quốc tế Hoạt động này mang ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp, ngân hàng cũng như toàn bộ nền kinh tế Hoạt động tài trợ có hiệu quả sẽ đẩy mạnh xuất nhập khẩu, góp phần cải thiện đời sống kinh tế quốc dân cũng như hoàn thành các mục tiêu vĩ mô khác của Nhà nước

Cùng với sự phát triển không ngừng của thương mại quốc tế, hoạt động tài trợ thương mại quốc tế của các ngân hàng thương mại trên thế giới cũng

Trang 7

ngày càng đa dạng, phong phú với nhiều hình thức khác nhau Tuy nhiên ở Việt Nam, các hình thức tài trợ chủ yếu vẫn là những hình thức truyền thống, đơn giản, trong đó tài trợ theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là hình thức chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế của các ngân hàng

Xuất phát từ mong muốn nghiên cứu giải pháp mở rộng hoạt động tài trợ thương mại quốc tế theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ trên cơ sở đánh giá thực tiễn hoạt động này tại Ngân hàng TMCP các doanh nghiệp

ngoài quốc doanh Việt Nam (VPBank) em xin đưa ra đề tài:”Hoạt động tài trợ thương mại quốc tế theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng TMCP các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam (VPBank) – thực trạng và giải pháp” làm nội dung nghiên cứu của khoá luận

tốt nghiệp

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Hệ thống hoá kiến thức lý luận về hoạt động tài trợ thương mại quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ Dựa trên nền tảng cơ bản đó để nghiên cứu thực trạng hoạt động tài trợ thương mại quốc tế theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng TMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam (VPBank), đánh giá những thành công cũng như những mặt còn tồn tại của ngân hàng trong quá trình thực hiện nghiệp vụ này Từ đó đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng hoạt động tài trợ thương mại quốc tế theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại VPBank

III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: Khoá luận tập trung tìm hiểu cơ sở lý luận về

hoạt động tài trợ thương mại quốc tế theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ của ngân hàng thương mại

Phạm vi nghiên cứu: tình hình thực tế hoạt động tài trợ thương mại

quốc tế theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng TMCP

Trang 8

các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam (VPBank) Các số liệu được thu thập qua các năm 2003, 2004, 2005, 2006 và sáu tháng đầu năm 2007 theo báo cáo của các phòng ban thực hiện nghiệp vụ tài trợ thương mại quốc

tế

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Khoá luận sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời kết hợp các phương pháp thống kê kinh tế, phân tích kinh

tế, so sánh, tổng hợp … để nghiên cứu

V KẾT CẤU CỦA KHOÁ LUẬN

Ngoài Lời nói đầu, Kết luận và Phụ lục, Khoá luận được kết cấu thành

ba chương:

Chương I: Những vấn đề cơ bản về hoạt động tài trợ thương mại quốc

tế của ngân hàng thương mại

Chương II: Thực trạng hoạt động tài trợ thương mại quốc tế theo

phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng TMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (VPBank)

Chương III: Giải pháp mở rộng hoạt động tài trợ thương mại quốc tế

theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại VPBank

Trong quá trình nghiên cứu, do sự hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được

ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn để nâng cao hiểu biết của mình

Sinh viên thực hiện Thân Thị Kim Chi

Hà Nội, ngày 08 tháng 11 năm 2007

Trang 9

Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ

THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

I KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

1 Khái niệm tài trợ thương mại quốc tế

Như chúng ta đã biết, mỗi quốc gia trên thế giới đều sở hữu những nét đặc trưng riêng biệt về điều kiện tự nhiên, khí hậu, nguồn nhân lực…, chính điều này đã tạo cho mỗi nước một nền sản xuất khác nhau Nếu một nước chỉ dựa vào nguồn tài nguyên sẵn có và nền sản xuất nội địa thì không những không cung cấp đủ hàng hoá, dịch vụ cho nhu cầu sản xuất tiêu dùng vô cùng

phong phú và ngày càng cao của người dân, mà còn tự đặt mình vào thế “bế quan toả cảng”, đi ngược lại xu hướng toàn cầu hoá của thế giới Ngược lại,

với việc khai thác tiềm năng và lợi thế kinh tế vốn có, một quốc gia có thể sản xuất ra các loại sản phẩm - dịch vụ không những đáp ứng nhu cầu trong nước

mà thậm chí còn dư thừa để xuất khẩu (XK), thu về nguồn ngoại tệ để nhập khẩu (NK) những mặt hàng mà nước đó không sản xuất được, hoặc sản xuất được nhưng giá cả cao hơn Quan hệ trao đổi này không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà còn có thể góp phần tăng ngoại tệ cho đất nước để chi dùng vào nhiều mục đích có ích khác Hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) ra đời từ

đó và trở thành một yêu cầu khách quan của nền kinh tế

Đặc điểm nổi bật trong hoạt động XNK là chủ thể mua bán có quốc tịch khác nhau, hàng hoá được vận chuyển từ nước này qua nước khác, đồng tiền thanh toán có thể là ngoại tệ Quan hệ mua bán này được thể hiện dưới hình thức một hợp đồng ngoại thương, trong đó chứa đựng các điều kiện thanh toán quốc tế về tiền tệ, địa điểm, thời gian, phương thức thanh toán Do đặc trưng của hoạt động XNK, các chủ thể mua bán sẽ rất cần tới sự tham gia hỗ trợ của các NH ở những nước khác nhau Như vậy, cơ sở để hình thành

Trang 10

nghiệp vụ kinh doanh đối ngoại của Ngân hàng thương mại (NHTM) là hoạt động ngoại thương Nói đến ngoại thương là nói đến thanh toán quốc tế (TTQT) Nếu TTQT thực hiện tốt thì giá trị của hàng hoá XNK mới được thực hiện tốt, từ đó thúc đẩy ngoại thương phát triển

Tuy nhiên TMQT là một hoạt động phức tạp, do các chủ thể tham gia đều thuộc các quốc gia khác nhau nên có sự khác biệt về mặt ngôn ngữ, phong tục, tập quán, luật pháp cũng như về khoảng cách địa lý… Đó là những rào cản khiến cho hoạt động ngoại thương giữa các bên trở nên khó khăn hơn Mặt khác, hoạt động XNK thường được thực hiện với giá trị lớn và tiềm ẩn nhiều rủi ro do đối tác không thực hiện nghĩa vụ của mình đã được quy định trong hợp đồng Thêm vào đó, trong quá trình thực hiện hợp đồng ngoại thương, nhà sản xuất hay các thương nhân không phải lúc nào cũng có đủ vốn

và uy tín để hoàn thành nghĩa vụ của mình hoặc để tạo niềm tin cho phía đối tác Từ những lý do đó, trong TMQT, các doanh nghiệp (DN) luôn cần có sự tham gia của các NHTM, nhằm hỗ trợ (DN) gia tăng hiệu quả kinh doanh và thực hiện thương vụ thành công Chính vì vậy, hoạt động tài trợ TMQT của NHTM ra đời được xem như một đòi hỏi tất yếu của nền kinh tế toàn cầu

Tài trợ TMQT của NHTM xét về bản chất cũng giống các loại hình tín

dụng NH khác, nghĩa là dựa trên “uy tín” và “niềm tin” Về mặt ngữ nghĩa,

thuật ngữ “tín dụng” thường được hiểu là cho vay bằng tiền, nghĩa là NH giao vốn trong một thời hạn xác định cho khách hàng, đổi lại, khách hàng cam kết

sẽ hoàn trả gốc và lãi đầy đủ cho NH khi đáo hạn Tuy nhiên, trong lĩnh vực tài trợ TMQT của NH, thuật ngữ “tài trợ” hoặc “tín dụng” phải được hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa tín nhiệm, chứ không chỉ là khoản tiền cho vay như cách hiểu thông thường, cụ thể là hoạt động tài trợ TMQT của NHTM còn bao gồm cả hình thức bảo lãnh và chiết khấu Uy tín được NH bảo lãnh có thể

là uy tín thanh toán, uy tín giao hàng, uy tín thực hiện hợp đồng… tuỳ theo vị thế và yêu cầu của khách hàng cũng như bối cảnh thương vụ giao dịch

Trang 11

Từ những phân tích trên, ta có thể đưa ra khái niệm tài trợ TMQT như sau:

Tài trợ TMQT là việc NH, bằng các biện pháp và hình thức khác nhau,

hỗ trợ về mặt tài chính hoặc uy tín hoặc cả hai một cách trực tiếp hay gián tiếp cho các DN tham gia hoạt động TMQT trong một số hoặc tất cả các giai đoạn của một thương vụ XNK nhằm mục đích sinh lợi Tài trợ TMQT thể hiện mối quan hệ kinh tế giữa một bên là NH - bên đưa ra trợ giúp và một bên

là các DN XNK - bên cần trợ giúp

2 Vai trò của tài trợ thương mại quốc tế

2.1 Đối với nền kinh tế

Thông qua các hình thức tài trợ TMQT của các NHTM, việc mua bán hàng hoá XNK theo yêu cầu của thị trường được thực hiện thường xuyên hơn, các sản phẩm trong nước có thể thâm nhập thị trường quốc tế dễ dàng hơn Nói một cách khác, hoạt động tài trợ TMQT góp phần nâng cao tính năng động của nền kinh tế và giúp ổn định thị trường

Bên cạnh đó, hoạt động tài trợ TMQT của NH còn giúp các DN nói chung và các DN XNK nói riêng đứng vững trong cơ chế thị trường và có thể tồn tại trong thời kỳ hội nhập Nhờ có tài trợ, mà các DN có vốn để thay đổi dây chuyền công nghệ, hiện đại hoá máy móc nhằm tăng năng suất lao động,

hạ giá thành sản phẩm, tạo ra các sản phẩm phong phú, đa dạng hơn Các DN cũng có thể NK các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu phục vụ nhu cầu của người dân Có thể nói, chính sự phát triển của các DN nói riêng đã tác động đến sự tiến bộ chung của nền kinh tế

2.2 Đối với Ngân hàng thương mại

Tài trợ TMQT đối với NHTM là một trong những nghiệp vụ NH quốc

tế quan trọng, mang lại cho NH những lợi ích sau:

Trang 12

Thứ nhất, khi thực hiện nghiệp vụ này NH ít gặp phải những rủi ro về

thanh khoản, bởi vì thời hạn của tài trợ TMQT thường gắn liền với thời gian thực hiện thương vụ hay chu kỳ sản xuất kinh doanh của nhà XNK Đối với nhà XK, thời gian tài trợ thường được bắt đầu kể từ khi chuẩn bị hàng xuất cho đến lúc nhận được tiền thanh toán của người mua Đối với nhà NK, thời gian tài trợ lại kéo dài từ lúc nhận hàng cho đến lúc bán hết hàng và thu tiền

về Khoảng thời gian này nhìn chung là không dài, phù hợp với kì hạn huy động vốn của NH

Thứ hai, tài trợ TMQT đảm bảo việc sử dụng vốn đúng mục đích vì

việc tài trợ gắn liền với thương vụ ngoại thương Trong nhiều trường hợp, vốn tài trợ được thanh toán thẳng cho bên thứ ba, mà không qua bên xin tài trợ như thanh toán tiền hàng nhập khẩu, thanh toán tiền nguyên vật liệu cho các đại lý gom hàng cho người XK… Rõ ràng việc làm này tránh được tình trạng người xin tài trợ sử dụng vốn sai mục đích, hạn chế được rủi ro tín dụng

Thứ ba, tài trợ TMQT nâng cao tính an toàn cho NH thông qua việc

quản lý thu các nguồn thanh toán Bởi vì khi thực hiện tài trợ các NH thường yêu cầu mọi giao dịch thanh toán giữa người XK, NK và NH đều phải thực hiện thông qua tài khoản của họ mở tại NH Do vậy, nguồn thu để trả các khoản tài trợ được NH quản lý hết sức chặt chẽ, tránh tình trạng quay vòng vốn của DN trong thời gian vốn tạm thời nhàn rỗi, dễ xảy ra rủi ro

Thứ tư, nghiệp vụ tài trợ TMQT là mảng dịch vụ đem lại nguồn thu

đáng kể từ các khoản phí và lãi cho NH Tại nhiều quốc gia, mảng dịch vụ này đóng góp tới hơn 70% tổng doanh thu từ các nghiệp vụ NH quốc tế của

NH Các khoản thu từ phí và lãi bao gồm: phí phát hành L/C, phí thông báo, phí xác nhận, phí nhờ thu, lãi chiết khấu chứng từ, lãi cho vay thanh toán, lãi vay bắt buộc…

Thứ năm, một lợi ích khác hết sức quan trọng là thông qua tài trợ

TMQT, NH mở rộng được quan hệ với các DN trong nước, mở rộng mối quan hệ với các NH nước ngoài (do xác lập và phát triển mạng lưới NH chi

Trang 13

nhánh, NH đại lý), từ đó gián tiếp gia tăng cơ hội kinh doanh sinh lợi cho NH, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp Mặt khác, việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng DN về tài chính và uy tín trong kinh doanh ngoại thương khiến cho NH nâng cao vị thế cạnh tranh và khả năng phát triển của mình

2.3 Đối với Doanh nghiệp

Vai trò đầu tiên của tài trợ TMQT đối với DN là cung ứng vốn giúp họ thực hiện thành công thương vụ mua bán của mình Hoạt động của tất cả các

DN nói chung và DN XNK nói riêng luôn cần đến sự hỗ trợ về mặt tài chính của NH Đặc biệt trong lĩnh vực hoạt động ngoại thương thì sự hỗ trợ đó lại càng cần thiết bởi đặc điểm nổi bật của các thương vụ XNK là thường có giá trị lớn Trong trường hợp vốn lưu động của DN không đủ để chuẩn bị hàng xuất hoặc thanh toán tiền hàng, tài trợ NH cho XNK là giải pháp giúp DN thực hiện được những thương vụ này Ngoài ra, tài trợ TMQT của NH còn bao hàm các tiện ích khác như DN được NH cung cấp thông tin về bên đối tác hay tư vấn về bộ chứng từ hoàn hảo

Bên cạnh đó, NH còn tham gia tài trợ các dự án như thay đổi dây chuyền công nghệ, máy móc thiết bị…, chính quá trình này đã tạo điều kiện cho DN phát triển quy mô sản xuất, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm

2.4 Vai trò của NHTM trong hoạt động tài trợ TMQT

Hoạt động TMQT đã được chứng minh là không thể thiếu đối với nền kinh tế của mọi quốc gia Nó có đặc trưng là việc mua bán diễn ra giữa các đối tác cách xa nhau bởi những đường biên giới, hàng rào ngôn ngữ, phong tục tập quán… làm cho các bên đối tác khó có thể giao dịch trực tiếp Chính

vì vậy, để đảm bảo cho hoạt động XNK thông suốt, phục vụ quyền lợi của các bên có liên quan, thì không thể không nói tới vai trò của các NHTM gắn liền với hoạt động tài trợ TMQT của các NH đó

Trang 14

Với nguồn vốn dồi dào và kinh nghiệm lâu năm trong hoạt động tài trợ TMQT, NH có thể cung cấp các khoản tài trợ về tài chính cho khách hàng với thủ tục đơn giản, nhanh chóng Nếu DN là khách hàng truyền thống, khách hàng đã tạo được uy tín với NH thì việc xin được tài trợ càng dễ dàng hơn

Dựa vào mạng lưới chi nhánh rộng khắp, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại và kinh nghiệm dồi dào trong lĩnh vực kinh doanh đối ngoại, NH có thể dễ dàng thu thập, nắm bắt thông tin, từ đó đưa ra những lời khuyên hữu ích cho khách hàng ngay từ khi ký kết hợp đồng ngoại thương, phát hành L/C hay tư vấn về bộ chứng từ hoàn hảo giúp khách hàng giảm thiểu được rủi ro trong các thương vụ XNK

Ngoài ra, NH còn cung cấp các công cụ phái sinh như: Swap, Forward, Option, Future để giúp khách hàng xử lí các khoản ngoại tệ cần thiết trong quá trình thực hiện thương vụ, đồng thời hạn chế được rủi ro tỷ giá cho khách hàng, giúp khách hàng bảo toàn lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình

Hơn nữa, NH lại là một đầu mối quan trọng tiếp nhận các nguồn tài trợ của nước ngoài cho hoạt động XNK Bởi vì hiện nay phần lớn các nguồn tài trợ của các tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế cho một quốc gia nào đó đều được thực hiện qua các NH của nước sở tại Cũng cần nói thêm rằng, khi NH thực hiện các chính sách của Nhà nước như chính sách hướng về XK và thay thế NK, NH sẽ cung cấp cho các nhà XNK những khoản tín dụng lớn với lãi suất ưu đãi mà nhờ đó họ có thể giải quyết được các vấn đề về vốn trong hoạt động kinh doanh của mình

Qua những phân tích ở trên có thể thấy vai trò của các NHTM trong hoạt động tài trợ XNK là khó có thể thay thế bởi một tổ chức nào khác Những dịch vụ tiện ích mà NH cung cấp không chỉ giúp DN thực hiện thành công thương vụ của mình mà còn giúp nâng cao uy tín, nâng cao khả năng

Trang 15

cạnh tranh của DN nói riêng và nền kinh tế nói chung khi tham gia vào TMQT

3 Phân loại tài trợ thương mại quốc tế

3.1 Căn cứ vào thời hạn tài trợ

3.1.1 Tài trợ ngắn hạn

Đây là loại tài trợ có thời hạn dưới một năm, thường được sử dụng cho vay bổ sung vốn lưu động, NK nguyên vật liệu, vật tư máy móc, thiết bị để thu mua, chế biến hàng XK Loại tài trợ này chiếm tỷ trọng lớn tại NH

3.1.2 Tài trợ trung và dài hạn

Thời hạn của tài trợ trung và dài hạn tuỳ theo quy định của mỗi nước Tại Việt Nam, tài trợ trung hạn có thời hạn từ 1-5 năm, tài trợ dài hạn từ 5 năm trở lên Hình thức tài trợ này nhằm giúp DN mua sắm tài sản cố định, xây dựng mới, cải tạo, cải tiến kỹ thuật, hiện đại hoá công nghệ…

3.2 Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng

3.2.1 Tài trợ có bảo đảm

Đây là hình thức tài trợ nhằm đảm bảo an toàn vốn cho vay của NH Các DN muốn được tài trợ phải có vật tư, tài sản cầm cố, thế chấp, bảo lãnh của người thứ ba đối với khoản cho vay Những tài sản này là cơ sở đảm bảo cho NH có khả năng thu hồi vốn cho vay trong trường hợp DN không trả được nợ Có nhiều loại đảm bảo cho một khoản vay NH, tuy nhiên có 3 yêu cầu đối với bất cứ loại bảo đảm nào để được NH chấp nhận: dễ được định giá;

dễ cho NH quyền được sở hữu hợp pháp; và dễ tiêu thụ

3.2.2 Tài trợ không có bảo đảm

Đây là hình thức NH tài trợ mà không cần có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một người thứ ba Cơ sở để cho vay chỉ dựa vào uy tín, quy

Trang 16

mô, hiệu quả kinh doanh, hiệu quả của phương án và có quan hệ truyền thống với NH

3.3 Căn cứ vào phương tiện thanh toán

Để tiến hành các nghiệp vụ TTQT được thuận tiện, có hiệu quả, trong TMQT thường sử dụng các phương tiện thanh toán thích hợp Tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mối quan hệ thương mại, quan hệ thanh toán, người ta có thể lựa chọn và sử dụng một trong những phương tiện thanh toán như: hối phiếu, lệnh phiếu, séc, thẻ Tuy nhiên, trong phần này, chúng ta chỉ tập trung nghiên cứu về Hối phiếu

Hối phiếu là một phương tiện thanh toán được sử dụng hết sức phổ biến trong các giao dịch ngoại thương và thường xuất hiện trong các phương thức thanh toán thông dụng hiện nay Hối phiếu là một tờ lệnh trả tiền vô điều kiện

do người bán (người XK) kí phát đòi tiền người mua (người NK) yêu cầu người này trả một số tiền nhất định trên tờ phiếu tại một địa điểm nhất định, trong một thời gian nhất định

Có nhiều loại hình tài trợ TMQT của NH được thực hiện dựa trên cơ sở hối phiếu, dưới đây là một số dạng cơ bản:

3.3.1 Tài trợ chiết khấu hối phiếu

Chiết khấu hối phiếu là một dạng tài trợ ngắn hạn của NH dành cho người thụ hưởng hối phiếu Nó được thực hiện dưới hình thức NH mua lại quyền thụ hưởng giá trị hối phiếu khi đến hạn thanh toán từ người thụ hưởng hợp pháp thể hiện trên bề mặt hối phiếu Số tiền mua lại quyền thụ hưởng này chính là mức tài trợ chiết khấu hối phiếu, và được tính bằng phần còn lại của giá trị hối phiếu sau khi trừ đi lãi chiết khấu cùng lệ phí Nét đặc trưng nhất của nghiệp vụ chiết khấu hối phiếu là NH sẽ khấu trừ tiền lãi ngay khi chiết khấu và chỉ chuyển cho khách hàng số tiền còn lại Công thức tính số tiền này như sau:

Trang 17

TCK = M(1 – LCK x t/360) – P Trong đó:

TCK là giá trị chiết khấu

M là mệnh giá (giá trị) hối phiếu

LCK là lãi suất chiết khấu mà ngân hàng áp dụng (%/năm)

t là thời hạn còn lại của hối phiếu (ngày)

P là phí chiết khấu Nghiệp vụ tài trợ chiết khấu hối phiếu của ngân hàng giúp cho nhà XK

có điều kiện thu hồi vốn nhanh để đưa vào hoạt động kinh doanh, thay vì phải chờ hối phiếu đến hạn mới được thanh toán Đối với NH tài trợ, việc chiết khấu hối phiếu tuy đơn giản nhưng lại chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro như người có nghĩa vụ trả tiền hối phiếu từ chối việc trả tiền hoặc không có khả năng thanh toán kịp thời khi hối phiếu đến hạn; hay một rủi ro khác là NH chiết khấu phải những hối phiếu không hợp lệ (được thiết lập không trên cơ

sở hành vi thương mại) Chính vì vậy mà NH thường áp dụng lãi suất chiết khấu ở mức cao và luôn phòng chống rủi ro không thu hồi được tiền khi đáo hạn bằng cách bảo lưu quyền truy đòi đối với nhà XK đã chuyển nhượng quyền thụ hưởng giá trị hối phiếu

3.3.2 Tài trợ ứng trước giá trị hối phiếu (trong phương thức thanh toán nhờ thu)

NH ứng trước giá trị hối phiếu cho nhà XK khi anh ta giao hối phiếu chưa được chấp nhận cho NH trong phương thức thanh toán nhờ thu Mức tài trợ ứng trước này không cố định mà tuỳ thuộc vào mức độ an toàn trong giao dịch và thoả thuận giữa hai bên, thường là 80-90% mệnh giá hối phiếu NH xem xét thận trọng khả năng tài trợ ứng trước giá trị hối phiếu bởi dạng thức này có tính rủi ro cao vì quyền quyết định thanh toán hoàn toàn phụ thuộc vào

uy tín và khả năng thanh toán của nhà NK Để tránh rủi ro cho mình, NH tài

Trang 18

trợ thường thoả thuận với nhà XK áp dụng điều kiện “có truy đòi”, nghĩa là sau đó nếu nhà NK từ chối thanh toán hối phiếu thì nhà XK phải bồi hoàn lại giá trị tài trợ cho NH

Khi nhận được tiền thanh toán của nhà NK từ NH thu hộ, NH tài trợ sẽ tính lãi cho vay theo thời hạn từ lúc mua hối phiếu đến khi nhận được tiền thanh toán Toàn bộ số tiền tài trợ và lãi được khấu trừ ngay vào số tiền thu được, số còn lại NH trả cho nhà XK

3.3.3 Bảo lãnh thanh toán hối phiếu

Bảo lãnh thanh toán hối phiếu là một hình thức tài trợ NH nhằm bảo lãnh uy tín cho người NK Nếu người NK không thanh toán hối phiếu khi đến hạn thì NH bảo lãnh hối phiếu có nghĩa vụ phải thanh toán thay NH bảo lãnh

có thể là NH ở nước XK, hoặc NK nhưng phải là NH có tín nhiệm Do trách nhiệm thanh toán gắn liền với khả năng thanh toán và năng lực kinh doanh của người mua, cũng như rủi ro quốc gia nên NH bảo lãnh thanh toán hối phiếu thường đặt ra những tiêu chuẩn khắt khe đối với các đề nghị tài trợ dạng này Các tiêu chuẩn thường căn cứ vào:

Đánh giá uy tín và năng lực kinh doanh của nhà NK

Tính hiệu quả và khả thi của thương vụ ngoại thương, đặc biệt là khả năng sinh lời từ việc nhập hàng của người mua

Hạn mức tín dụng cấp cho nước NK và mức độ rủi ro quốc gia của nhà NK có thể có (nếu NH tài trợ là NH ở nước XK)

Hạn mức tín dụng cấp cho nhà NK

Các đảm bảo tín dụng cần thiết

Một tờ hối phiếu thương mại đã được NH bảo lãnh thì có thể dễ dàng được chiết khấu trên thị trường tài chính với lãi suất thấp, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn trong kinh doanh của người XK

3.3.4 Tài trợ bằng chấp nhận hối phiếu

Trang 19

Hối phiếu có sự chấp nhận thanh toán của NH thể hiện sự đảm bảo chắc chắn về khả năng thanh toán, bởi vì khả năng thanh toán của nhà NK được thay bởi khả năng thanh toán của NH, từ đó làm tăng uy tín của hối phiếu trong lưu thông, và được hưởng các điều kiện tài trợ đặc biệt ưu đãi của

NH chiết khấu Đối với NH, kể từ khi ký chấp nhận trả tiền hối phiếu, cũng chính là thời điểm bắt đầu gánh chịu rủi ro, nếu như bên mua không có tiền thanh toán cho bên bán khi hối phiếu đến hạn Về bản chất thì đây là một hình thức tài trợ bảo lãnh uy tín thanh toán của NH cấp cho khách hàng

3.4 Căn cứ vào phương thức thanh toán

Hiểu một cách đơn giản, phương thức thanh toán là một cách thức nhất định thông qua đó người mua trả tiền, nhận hàng và người bán giao hàng, nhận tiền Trong TMQT hiện nay có những phương thức thanh toán chủ yếu là: Chuyển tiền, Nhờ thu và Tín dụng chứng từ (TDCT) Nghiệp vụ tài trợ XNK của NH thường thực hiện trên cơ sở hai phương thức Nhờ thu và TDCT

3.4.1 Tài trợ theo phương thức thanh toán Nhờ thu

Tài trợ của NH trong phương thức nhờ thu kèm chứng từ thể hiện như sau:

Nhờ thu đến trong thanh toán hàng NK: NH tiếp nhận chứng từ từ

NH nước ngoài, xuất trình hối phiếu đòi tiền nhà NK Nếu nhà NK không

đủ khả năng thanh toán, thì cần phải có sự tài trợ của NH cho vay thanh toán hàng NK

Nhờ thu đi trong thanh toán hàng XK: trên cơ sở phương thức thanh

toán Nhờ thu, NH có thể tài trợ cho nhà XK thông qua hình thức chiết khấu

bộ chứng từ Nhờ thu Ở đây, nhà XK xuất trình bộ chứng từ nhờ thu cho

NH của mình, nhưng thay vì lập một chỉ thị nhờ thu, anh ta sẽ lập một yêu cầu tài trợ chiết khấu Nội dung văn bản yêu cầu trợ chiết khấu là trao quyền để NH của nhà XK xử lí bộ chứng từ nhờ thu theo bất kì cách thức

Trang 20

nào thích hợp nhằm đảm bảo được thanh toán Về thực chất, khi thực hiện chiết khấu, NH đã mua lại hối phiếu và bộ chứng từ nhờ thu của nhà XK và

do đó sẽ tiến hành thu tiền hàng theo danh tính của NH Thông thường, NH tài trợ sẽ thanh toán cho nhà XK toàn bộ giá trị của bộ chứng từ nhờ thu với điều kiện có truy đòi Tiếp theo, NH sẽ gửi bộ chứng từ này để thu nợ tiền hàng từ nhà NK thông qua NH thu hộ

3.4.2 Tài trợ theo phương thức thanh toán Tín dụng chứng từ

Hiện nay, phương thức TDCT không chỉ được xem là một dạng thức thanh toán quốc tế an toàn chặt chẽ nhất, mà còn là một phương thức tài trợ đảm bảo uy tín của NH dành cho các DN XNK Chính vì vậy mà hình thức tài trợ trên cơ sở phương thức thanh toán TDCT ngày càng trở nên phổ biến Phần sau đây sẽ trình bày cụ thể về phương thức này

II CÁC HÌNH THỨC TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

1 Khái quát về phương thức thanh toán Tín dụng chứng từ

1.1 Khái niệm

Theo điều 2 của bản “Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ”, ấn phẩm số 600 của Phòng Thương mại quốc tế (The Uniform customs and practice for documentary credit - UCP No.600 - ICC - 2007), định nghĩa:

“Tín dụng là một thoả thuận, dù cho được mô tả hoặc đặt tên như thế

nào, nhưng không thể hủy bỏ và do đó là một cam kết chắc chắn của ngân hàng phát hành về việc thanh toán cho một xuất trình phù hợp

Thanh toán có nghĩa là :

a Trả ngay khi xuất trình, nếu tín dụng có giá trị thanh toán ngay

b Cam kết trả tiền sau và trả tiền khi đáo hạn, nếu tín dụng có giá trị thanh toán về sau

Trang 21

c Chấp nhận hối phiếu đòi nợ (“draft”) do người thụ hưởng ký phát và trả tiền khi đáo hạn, nếu tín dụng có giá trị thanh toán bằng chấp nhận

Ngân hàng phát hành là NH, theo yêu cầu của người yêu cầu hoặc

nhân danh chính mình, phát hành một tín dụng

Xuất trình nghĩa là việc chuyển giao chứng từ theo một tín dụng cho

ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng chỉ định hoặc các chứng từ được chuyển giao như thế

Xuất trình phù hợp nghĩa là một xuất trình phù hợp với các điều kiện

và điều khoản của tín dụng…”

Từ định nghĩa đầy đủ mang tính pháp lí về TDCT nêu trên, có thể khái

quát như sau: Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một sự thoả

thuận, trong đó một NH (NH mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở thư tín dụng), sẽ tự mình hoặc chỉ thị cho một NH khác (NH ở nước người XK) chi trả một số tiền nhất định cho người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó với điều kiện người này xuất trình cho NH bộ chứng thanh toán từ phù hợp với những quy định đề ra trong tư tín dụng

1.2 Các chủ thể tham gia trong phương thức tín dụng chứng từ

Trong quá trình thực hiện phương thức thanh toán TDCT, thông thường

có các bên tham gia như sau:

- Người làm đơn yêu cầu mở L/C (Applicant): thông thường là người

NK, có nghĩa vụ làm đơn yêu cầu mở L/C gửi NH phát hành và có nghĩa vụ pháp lí về việc hoàn trả NH phát hành số tiền mà NH đã thanh toán cho người

XK với điều kiện họ nhận được bộ chứng từ hoàn hảo

- Ngân hàng phát hành (Issuing Bank): là ngân hàng phục vụ người

NK, có nghĩa vụ phát hành L/C theo yêu cầu của người NK và có trách nhiệm trả tiền cho người hưởng khi họ xuất trình bộ chứng từ hoàn hảo

Trang 22

- Người hưởng lợi (Beneficiary): là người bán, người XK hàng hoá,

người cung ứng dịch vụ, người kí phát hối phiếu… Họ sẽ nhận về số tiền được cam kết nếu xuất trình bộ chứng từ hoàn hảo tới NH được chỉ định đúng hạn

- Ngân hàng thông báo (Advising Bank): là NH phục vụ người XK, có

thể là NH đại lí hoặc chi nhánh của NH phát hành ở nước của người XK Ngân hàng thông báo có nhiệm vụ nhận L/C gốc từ NH phát hành để thông báo cho người hưởng (hoặc NH) sau khi đã xác minh tính chân thực bề ngoài của L/C

Ngoài các thành phần nêu trên, trong thực tế, tuỳ thuộc vào từng loại thư tín dụng có thể xuất hiện thêm một số NH khác: NH xác nhận, NH được chỉ định, NH bồi hoàn

2 Các hình thức tài trợ thương mại quốc tế theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ

2.1 Tài trợ Nhập khẩu

2.1.1 Tài trợ phát hành L/C

Để hạn chế rủi ro, trước khi tiến hành thanh toán, nhà NK muốn biết chắc chắn là hàng hoá đã được giao phù hợp với các điều kiện của hợp đồng Tương tự, nhà XK cũng không muốn giao hàng trước khi biết chắc chắn là sẽ được thanh toán tốt đẹp Vì thế, để thuyết phục nhà XK tin tưởng thực hiện giao hàng, nhà NK phải tìm kiếm giải pháp nâng cao uy tín và khả năng thanh toán của mình trước đòi hỏi chính đáng của nhà XK Trong trường hợp này thư tín dụng (L/C) sẽ đáp ứng nhu cầu của cả hai bên với tư cách là một phương tiện thanh toán quốc tế an toàn và chặt chẽ nhất

Thư tín dụng L/C là một chứng thư (điện hoặc ấn chỉ), trong đó NH mở L/C cam kết trả tiền cho người XK nếu họ xuất trình được một bộ chứng từ phù hợp với nội dung của L/C Đối với nhà NK, mở L/C được xem là hình thức tài trợ đặc trưng nhất của NH trong phương thức thanh toán TDCT, bởi

vì bất kỳ thương vụ nào có sử dụng phương thức thanh toán TDCT thì đều

Trang 23

cần đến hình thức tài trợ phát hành L/C của NH Trách nhiệm của NH phát hành L/C là rất lớn, vì vậy NH luôn yêu cầu khách hàng có một tỷ lệ ký quỹ nhất định được xác định trên cơ sở uy tín của khách hàng, loại L/C, loại hàng hoá nhập… Tỷ lệ ký quỹ có thể từ 0-100% Khi NH yêu cầu khách hàng ký quỹ 100% nghĩa là NH chỉ đồng ý tài trợ cho khách hàng về mặt uy tín Ngược lại, khi tỷ lệ ký quỹ là nhỏ hơn 100% thì nghĩa là NH đã tài trợ cho khách hàng cả về uy tín lẫn tài chính

Bên cạnh việc cho phép tỷ lệ kỹ quỹ dưới 100%, NH còn có các biện pháp tài trợ về mặt tài chính khác cho người NK trong nghiệp vụ mở L/C:

a) Tài trợ theo hạn mức TDCT:

NH căn cứ vào kế hoạch NK của khách hàng để cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng và cho phép khách hàng được mở L/C (thường là L/C trả ngay) trong khuôn khổ hạn mức đó Loại hình đảm bảo tín dụng thường áp dụng là chính lô hàng NK hoặc một tỷ lệ ký quỹ nhất định theo hạn mức được duyệt hoặc theo giá trị L/C phát hành

b) Cho vay ký quỹ:

Trong trường hợp nhà NK đủ điều kiện phát hành L/C nhưng không có

đủ vốn để thực hiện ký quỹ thì có thể yêu cầu NH cho vay ký quỹ L/C NH sẽ căn cứ vào uy tín của khách hàng, hiệu quả của thương vụ và tài sản đảm bảo

để quyết định có cho vay ký quỹ hay không Hình thức này không những giúp giải quyết khó khăn về vốn lưu động cho nhà NK, mà còn tăng tính an toàn và mang lại hiệu quả cho NH, đồng thời đảm bảo tuân thủ những quy định pháp

lý của NH về ký quỹ

c) Tài trợ bằng các L/C đặc biệt

Tài trợ bằng L/C tuần hoàn (Revolving L/C)

L/C tuần hoàn là loại L/C mà sau khi đã sử dụng hết giá trị của nó hoặc

đã hết thời hạn hiệu lực thì nó (tự động) có giá trị lại như cũ và tiếp tục được

Trang 24

sử dụng một cách tuần hoàn trong một thời gian nhất định cho đến khi hoàn tất giá trị hợp đồng

Thư tín dụng tuần hoàn theo ba cách:

- Tuần hoàn tự động: L/C sẽ tự động có giá trị như cũ mà không cần có

sự thông báo của ngân hàng mở L/C cho người XK biết

- Tuần hoàn bán tự động: sau khi L/C trước sử dụng xong hoặc hết hiệu lực, nếu sau một vài ngày mà ngân hàng mở L/C không có ý kiến gì về L/C kế tiếp và thông báo cho người hưởng lợi L/C thì nó lại tự động có giá trị như cũ

- Tuần hoàn hạn chế: trong trường hợp này, chỉ khi nào ngân hàng mở L/C thông báo cho người XK biết thì L/C kế tiếp mới có giá trị hiệu lực

L/C tuần hoàn được áp dụng trong trường hợp hai bên mua bán những mặt hàng có giá trị lớn, có quan hệ cung cấp hàng hoá hay dịch vụ thường xuyên, giao nhiều lần trong năm với số lượng đều đặn L/C tuần hoàn được

mở ra để tạo thuận lợi cho nhà NK trong khâu thanh toán, tránh được tình trạng ứ đọng vốn và giúp cho nhà NK không bị tính phí mở L/C nhiều lần

đó, việc đảm bảo hoàn lại số tiền đó cho người đặt hàng khi người sản xuất không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng có ý nghĩa rất quan trọng trong TMQT

2.1.2 Tài trợ xác nhận L/C

Trang 25

Trong thực tế cũng có những trường hợp người XK không tin tưởng về

uy tín thanh toán của NH phát hành, hoặc lo ngại về rủi ro quốc gia của nhà

NK và NH phát hành, khi ấy, họ có thể yêu cầu có thêm một cam kết thanh toán của một NH khác (thường là một NH có uy tín cao ở nước của nhà XK),

có hiệu lực pháp lý tương đương với cam kết thanh toán của NH phát hành L/C Cam kết thanh toán thứ hai này được biểu hiện qua nghiệp vụ tài trợ xác nhận L/C của NH ở nước người XK

Thực chất tài trợ xác nhận L/C là một nghiệp vụ bảo lãnh cho uy tín thanh toán của NH phát hành, hay sâu xa hơn là uy tín của nhà NK Theo đó,

NH xác nhận đã đảm nhận trước nhà XK tất cả các rủi ro liên quan đến uy tín

và khả năng thanh toán của nhà NK, của NH phát hành và cả rủi ro quốc gia

NK Nhờ vậy, nhà XK có thể tin tưởng về tính an toàn trong thanh toán tiền hàng khi thực hiện đúng các quy định của L/C và việc mua hàng của nhà NK cũng sẽ trở nên thuận lợi hơn

2.1.3 Tài trợ thanh toán bằng L/C

a) Cho vay thanh toán bộ chứng từ hàng nhập

Theo hình thức này, để được tài trợ thì nhà NK phải có kế hoạch kinh doanh khả thi, xác định rõ tại thời điểm thanh toán dự kiến số tiền thiếu hụt cần tài trợ là bao nhiêu vì thông thường NH không bao giờ cho vay toàn bộ giá trị của L/C để trả nợ Trên cơ sở xem xét, phân tích kế hoạch và phương

án của khách hàng, NH sẽ quyết định tài trợ và xác định mức NH chấp nhận tài trợ Tất cả các công đoạn này phải thực hiện trước khi bộ chứng từ giao hàng của người XK về đến NH đứng ra tài trợ Nếu bộ chứng từ đã về rồi nhà

NK mới xin tài trợ thanh toán thì khả năng bị NH từ chối tài trợ là rất lớn, vì

NH có rất ít thời gian xem xét bộ chứng từ cũng như đánh giá khả năng thu hồi vốn của khách hàng cho khoản tiền mà NH tài trợ

b) Cho vay bắt buộc

Trang 26

Về nội dung hình thức này cũng giống như cho vay thanh toán bộ chứng từ hàng nhập Tuy nhiên, tình trạng cho vay bắt buộc phát sinh khi người NK không thanh toán hoặc không đủ tiền để thanh toán bộ chứng từ giao hàng NH khi đó sẽ cho vay trên giá trị tiền hàng còn thiếu để thanh toán đúng hạn cho NH nước ngoài Nhà NK nên tránh tình trạng phát sinh nợ vay bắt buộc do họ sẽ phải chịu lãi suất vay cho khoản tiền này tương ứng lãi suất vay quá hạn Hơn nữa, thời gian vay bắt buộc thường không quá 30 ngày kể

từ ngày NH trả thay, áp lực thanh toán nợ vay cho NH vì vậy sẽ rất lớn

2.1.4 Bảo lãnh cho hoạt động nhập khẩu sử dụng phương thức thanh toán TDCT

a) Bảo lãnh bằng cách phát hành L/C trả chậm

Đây là hình thức được áp dụng phổ biến nhất ở nước ta trong thời gian vừa qua, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong dư nợ bảo lãnh tại các NHTM Đối với các DN Việt Nam, đây là hình thức vay vốn, tranh thủ vốn nước ngoài đơn giản và dễ được chấp thuận bằng cách mua chịu hàng hoá, phù hợp trong hoàn cảnh DN đang thiếu vốn

Việc NH mở L/C trả chậm NK phải tuân theo một số quy định như: hàng hoá phải phù hợp với chính sách XNK hàng năm của Nhà nước liên quan đến vay và trả nợ nước ngoài, số dư L/C trả chậm ngắn hạn (dưới 1 năm

và phải nằm trong hạn mức), ngân hàng phải duy trì tỷ lệ tối đa là ba lần giữa

số dư cho vay và bảo lãnh vay ngắn hạn nước ngoài trên vốn tự có của NH và

NH không có nợ quá hạn phát sinh từ nghiệp vụ mở L/C trả chậm, việc trích lập quỹ bảo lãnh theo quy định hiện hành về bảo lãnh và tái bảo lãnh trong đó:

Quỹ bảo lãnh = 5% giá trị thực tế bảo lãnh

Giá trị thực tế bảo lãnh = giá trị ngân hàng bảo lãnh – giá trị mà bên xin bảo lãnh ký quỹ tại ngân hàng

b) Bảo lãnh bằng cách chấp nhận hối phiếu theo L/C

Trang 27

Chấp nhận hối phiếu là hành vi cam kết trả tiền của người có nghĩa vụ trả tiền khi hối phiếu đến thời hạn thanh toán Hành vi pháp lý này được thể hiện bằng chữ ký của người đó ở mặt trước, góc trái của hối phiếu

Hình thức tài trợ này thực chất chỉ là một sự đảm bảo về mặt tài chính của NH chứ NH chưa phải xuất tiền ngay cho người thụ hưởng Chỉ trong trường hợp hối phiếu đến hạn mà người NK không thực hiện nghĩa vụ của mình thì NH - người chấp nhận hối phiếu mới phải trả tiền thay cho người

NK Trong phương thức thanh toán TDCT, nếu L/C quy định hối phiếu loại trả chậm thì nó phải được ký chấp nhận bởi NH phát hành

Tài trợ chấp nhận hối phiếu xảy ra trong trường hợp bên XK thiếu tin tưởng vào khả năng thanh toán của bên NK nên có thể đề nghị bên NK yêu cầu một NH đứng ra chấp nhận trả tiền hối phiếu do bên XK ký phát Việc

NH ký chấp nhận vào hối phiếu là một dạng thoả thuận tài trợ bảo lãnh uy tín thanh toán cho nhà NK Nhờ vậy, nhà NK sẽ nhận được bộ chứng từ để có cơ

sở tiếp nhận hàng hoá

c) Bảo lãnh nhận hàng

Bảo lãnh nhận hàng là một hình thức tài trợ của NH nhằm giúp người

NK có thể lấy được hàng Bảo lãnh nhận hàng áp dụng trong trường hợp hàng hoá đến trước bộ chứng từ, đặc biệt là khi chưa có vận đơn gốc Khi đó, nếu không có sự can thiệp của NH, người NK chắc chắn sẽ không có quyền nhận hàng hoá Hàng hoá sẽ phải để ở cảng trong một thời gian nhất định, có thể bị giảm phẩm chất hoặc ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của nhà

NK, hơn nữa lại phải chịu chi phí lưu kho, lưu bãi rất lớn Để tránh tình trạng này, nhà NK sẽ yêu cầu NH phát hành một cam kết (thay cho vận đơn) gọi là bảo lãnh nhận hàng Người NK sẽ xuất trình bảo lãnh nhận hàng cho công ty vận tải để tới cảng nhận hàng

Trang 28

Bảo lãnh nhận hàng được NH phát hành khi người NK chưa có vận đơn, do vậy khi nhận được vận đơn thì sẽ tiến hành giao vận đơn đó cho hàng tàu để giải phóng bảo lãnh nhận hàng Thực hiện bảo lãnh nhận hàng có thể mang lại rủi ro cho NH, vì vậy, trong bảo lãnh nhận hàng, NH sẽ quy định bảo lãnh đó hết hạn sau bao nhiêu ngày kể từ ngày nhận hàng hoặc kể từ ngày nhà NK có bộ chứng từ trong tay

2.2 Tài trợ xuất khẩu

2.2.1 Tài trợ trước khi giao hàng

a) Cho vay sản xuất hàng xuất khẩu

Giai đoạn chuẩn bị hàng xuất bao gồm: thu mua nguyên vật liệu, gia công, chế biến nguyên vật liệu thành sản phẩm Với những giá trị hợp đồng lớn, thời gian tạo thành sản phẩm dài, người XK thường không đủ vốn lưu động để chuẩn bị trọn gọi lô hàng XK vì vốn nằm gọn trong cả ba khâu Do vậy, người XK phải nhờ vào sự tài trợ của NH Hình thức này thường được áp dụng trong trường hợp NH tài trợ vừa là NH thanh toán cho L/C xuất, nhà XK xuất trình bộ chứng từ và được thanh toán tại NH Để giám sát và kiểm soát chặt chẽ tình hình sử dụng vốn vay đúng mục đích, thông thường NH thực hiện tài trợ như sau:

Khi cho vay NH thường yêu cầu nhà XK phải có một số vốn nhất định cộng thêm với số tiền vay NH để thu mua hàng hoá, chế biến, sản xuất hàng XK Hàng hoá sẽ làm tài sản đảm bảo để tiếp tục vay và được nhập tại kho NH, hoặc nhập kho mà trước đó NH và nhà XK thoả thuận và đồng ý trước sự giám sát của NH, muốn xuất hàng ra khỏi kho phải có sự đồng ý của

NH NH tiếp tục cho vay, khách hàng sẽ dùng số tiền NH tài trợ để đi mua hàng, chế biến sản xuất hàng hoá, cứ tiếp tục như vậy cho đến khi bằng 100% giá trị lô hàng xuất Thông thường NH chỉ tài trợ khoảng 70% giá trị lô hàng

XK

Trang 29

Sau khi giao hàng xong nhà XK lập bộ chứng từ phù hợp với những quy định trong L/C nộp vào NH để xin thanh toán tiền Trên hối phiếu đòi tiền nợ thì NH sẽ là người hưởng lợi trực tiếp trên hối phiếu NH kiểm tra bộ chứng từ nếu phù hợp sẽ chuyển ra nước ngoài đòi tiền NH mở L/C Khi nhận được điện chuyển tiền từ NH nước ngoài, NH thông báo ghi có trên tài khoản cho vay để thu nợ Trường hợp giữa NH mở và thông báo L/C là đại lý có mở tài khoản tiền gửi cho nhau, việc thực hiện thanh toán bộ chứng từ để thu nợ được tiến hành nhanh chóng thuận tiện dễ dàng nên NH có thể tài trợ mức lãi suất ưu đãi thấp hơn mức lãi suất bình thường

Khi NH tài trợ không phải là NH thông báo cũng không phải là NH thanh toán, rủi ro có thể xảy ra nếu như sau khi tài trợ DN không xuất được hàng hoặc xuất được hàng nhưng gặp rủi ro trong giao nhận hàng hay thanh toán, hoặc khách hàng không dùng số tiền trên vào mục đích xuất hàng như đã cam kết

b) Bảo lãnh thực hiện hợp đồng

Do trong TMQT rủi ro ngày càng lớn cho nên bảo lãnh ngày càng có vai trò quan trọng Nhà NK không tin cậy hoàn toàn vào khả năng thực hiện hợp đồng của người XK, họ sẽ nhờ vào bảo lãnh của NH Hình thức này trong

NH gọi là bảo lãnh thực hiện hợp đồng Loại bảo lãnh này nhằm phòng chống rủi ro cho người NK trong trường hợp người XK không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng, chẳng hạn như giao hàng chậm trễ, không đúng chất lượng, số lượng… Bảo lãnh thực hiện hợp đồng được sử dụng thay thế cho yêu cầu ký quỹ mà người NK đề nghị đối với người XK để đảm bảo bồi thường vi phạm hợp đồng Do đó giá trị tối đa của bảo lãnh là tương đương với bồi thường (tính tỷ lệ % trên giá trị hợp đồng, dao động ở mức 10%-15%) Thông thường hiệu lực của loại bảo lãnh này chấm dứt khi người được bảo lãnh hoàn thành nghĩa vụ cung ứng của họ

c) Tài trợ bằng các L/C đặc biệt

Trang 30

Tài trợ bằng L/C giáp lưng (Back - to - back L/C)

Sau khi nhận được L/C do người NK mở cho mình hưởng, người XK dùng L/C này để thế chấp mở một L/C khác cho người hưởng lợi khác với nội dung gần giống như L/C ban đầu, L/C mở sau được gọi là L/C giáp lưng L/C giáp lưng thuộc loại không thể huỷ ngang, được sử dụng phổ biến trong các thương vụ tay ba, trong đó người hưởng L/C gốc đóng vai trò trung gian thương mại giữa nhà cung ứng thực sự và người mua có nhu cầu NK mặt hàng đó

Nhìn chung, L/C gốc và L/C giáp lưng giống nhau, tuy nhiên cũng có một số điểm khác nhau như:

- Số tiền và đơn giá ghi trong L/C giáp lưng thấp hơn so với L/C gốc, phần chênh lệch chính là lãi gộp của nhà trung gian

- Số chứng từ của L/C giáp lưng phải nhiều hơn L/C gốc

- Thời hạn hiệu lực của L/C giáp lưng thường ngắn hơn L/C gốc

- Ngày chậm nhất phải xuất trình chứng từ của L/C giáp lưng thường sớm hơn so với L/C gốc

- Tỷ lệ bảo hiểm của L/C giáp lưng thường cao hơn để có thể đạt được

số tiền phải mua bảo hiểm ghi trong L/C gốc

Có thể nói, đây là một hình thức tài trợ đặc biệt mà NH dành cho nhà

XK trung gian- những người do khả năng tài chính hạn hẹp nên phải sử dụng L/C gốc làm điểm tựa để nhờ NH phát hành L/C thứ hai cho nhà cung ứng hàng thực sự Nhờ sự tài trợ này, người XK trung gian có thể tiến hành kinh doanh chênh lệch giá mà không cần bỏ ra đồng vốn nào Nhưng nghiệp vụ tài trợ này rất phức tạp, nó đòi hỏi NH phát hành L/C giáp lưng phải có sự kết hợp khéo léo và chính xác các điều kiện của L/C gốc và L/C giáp lưng, nếu không bộ chứng từ NH chuyển giao sẽ bị người mua gốc từ chối Nhìn chung,

NH phát hành L/C giáp lưng sẽ phải đương đầu với rủi ro liên quan đến sự phức tạp của chứng từ xuất trình, cũng như với uy tín thanh toán và chức năng kinh doanh của nhà XK

Trang 31

Tài trợ bằng L/C chuyển nhượng (Transferable L/C)

L/C chuyển nhượng thuộc loại không thể huỷ ngang, nó cho phép người XK (người thụ hưởng thứ nhất) được quyền yêu cầu chuyển quyển thụ hưởng một phần hoặc toàn bộ cho một hay nhiều bên khác (những người thụ hưởng thứ hai) Người thụ hưởng thứ nhất thưởng yêu cầu mở L/C chuyển nhượng trong những trường hợp sau:

- Khi người hưởng lợi thứ nhất không đủ khả năng cung ứng một phần hoặc toàn hộ hàng hoá trong L/C, nên phải chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ quyền lợi và nghĩa vụ của L/C cho một hoặc nhiều người cung cấp hàng hoá khác (những người hưởng lợi thứ hai) ở trong cùng một nước hay ở nước ngoài

- Khi người xuất khẩu trung gian không được NH phục vụ đồng ý mở

một L/C giáp lưng, sẽ tiến hành kinh doanh XK ăn chênh lệch giá thông qua giao dịch L/C chuyển nhượng

- Khi người thụ hưởng ban đầu hoạt động với tư cách là đại lý hoặc

người cung cấp hàng hoá chính cho người NK và chịu trách nhiệm phân bổ giá trị L/C cho các nhà cung cấp khác qua NH thông báo

Sự chuyển nhượng phải được thực hiện theo các điều khoản của L/C Một số điều kiện của L/C gốc như cảng xếp, cảng dỡ hàng, kho chuyển nhượng không được phép thay đổi, nhưng những yếu tố như đơn giá, tổng kim ngạch, thời hạn giai đoạn giao hàng và thời hạn hiệu lực của L/C chuyển nhượng thì có thể được giảm xuống hoặc rút ngắn Việc chuyển nhượng L/C không có nghĩa là hợp đồng mua bán cũng được chuyển nhượng Người hưởng lợi ban đầu vẫn là người chịu trách nhiệm chính với người NK, đồng thời chịu các khoản thủ tục phí và lệ phí chuyển nhượng

L/C chuyển nhượng là một biện pháp hỗ trợ cho những nhà NK thiếu vốn hoặc khả năng tài chính hạn hẹp vì ở đây anh ta không cần phải đi vay

Trang 32

hoặc dùng vốn của mình mua hàng từ nhà cung ứng Anh ta không cần phải yêu cầu NH cho vay bảo đảm thanh toán số tiền chuyển nhượng vì việc chuyển nhượng được cho phép chính thức trong nội dung L/C và không cần một cam kết nào của NH thực hiện chuyển nhượng, nhưng cần lưu ý rằng một L/C chuyển nhượng chỉ được phép chuyển nhượng một lần

Như vậy, L/C chuyển nhượng và L/C giáp lưng đều là công cụ tài trợ của

NH trong các thương vụ buôn bán qua trung gian nhưng hai hình thức tài trợ này

có điểm khác nhau cơ bản đó là: NH phát hành L/C giáp lưng phải hoàn toàn chịu trách nhiệm thanh toán bộ chứng từ hợp lệ cho người XK thực sự còn NH được yêu cầu chuyển nhượng không bị ràng buộc về việc thanh toán, chấp nhận hoặc chiết khấu bộ chứng từ của người thụ hưởng thứ hai xuất trình

Tài trợ ứng trước bằng L/C điều khoản đỏ (Red Clause L/C)

L/C điều khoản đỏ là một loại L/C đặc biệt thuộc loại không thể huỷ ngang, được phát hành với một điều khoản có nội dung cho phép NH thông báo ứng trước cho nhà XK một khoản tiền để mua hàng hoá, nguyên liệu phục vụ sản xuất hàng hoá theo L/C đã mở L/C điều khoản đỏ được gọi tên theo lịch sử hình thành bởi vì ban đầu điều khoản nói trên viết bằng mực đỏ

để lưu ý tính chất riêng của loại tín dụng này

Về bản chất thì L/C điều khoản đỏ là một dạng tài trợ trước khi giao hàng của nhà NK cấp cho nhà XK để đổi lấy một cam kết rằng người XK sẽ

sử dụng khoản ứng trước vào việc thu gom hoặc sản xuất hàng hoá để xuất giao và trình bộ chứng từ phù hợp với quy định của L/C Điều cần hiểu là tiền ứng trước được lấy từ tài khoản của nhà NK, tức là nhà NK đã cấp một khoản cho vay không đảm bảo cho nhà XK và hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc bồi hoàn khoản tài trợ nếu như việc giao hàng không được thực hiện theo quy định của L/C, hoặc nếu nhà XK không hoàn trả khoản tài trợ đó Như vậy, L/C điều khoản đỏ sẽ chỉ được sử dụng trong trường hợp bên mua tin tưởng chắc chắn vào uy tín và năng lực kinh doanh của bên bán

Trang 33

Ngân hàng thông báo (hoặc NH xác nhận) khi nhận được L/C có điều khoản đỏ cùng với sự ủy quyền của NH phát hành sẽ tiền trước khi giao hàng cho người XK Cần lưu ý rằng, ở đây, trách nhiệm tài trợ là thuộc về NH phát hành, do đó bất kể kết quả thực hiện hợp đồng của nhà XK như thế nào, NH phát hành cũng phải có trách nhiệm hoàn trả cho NH thông báo (hoặc NH xác nhận) cả gốc và lãi khoản nợ vay ứng trước tiền hàng Sau đó, NH hàng phát hành L/C điều khoản đỏ mới thực hiện việc thu hồi từ nhà NK khoản tài trợ

đã ứng ra ở trên

2.2.2 Tài trợ sau khi giao hàng

a) Tài trợ chiết khấu bộ chứng từ theo L/C

Để đáp ứng nhu cầu vốn, nhà XK sau khi giao hàng xong có thể thương lượng với NH thực hiện chiết khấu bộ chứng từ Chiết khấu bộ chứng từ XK

là hình thức NH tài trợ nhà XK thông qua việc mua lại hoặc cho vay căn cứ vào bộ chứng từ hàng xuất Hoạt động này của NH nhằm tài trợ vốn lưu động cho người XK để đảm bảo sản xuất kinh doanh liên tục, không bị gián đoạn trong thời gian chờ người NK nước ngoài thanh toán tiền hàng

Khi chiết khấu bộ chứng từ phải hoàn hảo và xuất trình đúng thời gian quy định Ngân hàng mở L/C phải là NH có uy tín trên thị trường quốc tế và

có quan hệ giao dịch thường xuyên với NH chiết khấu Tình hình sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp ổn định và đảm bảo khả năng thanh toán, có uy tín với NH Số tiền chiết khấu tuỳ thuộc mỗi NH nhưng thường không quá 90% giá trị L/C xuất và phải nằm trong hạn mức tín dụng Có hai hình thức chiết khấu:

Chiết khấu miễn truy đòi (chiết khấu đóng): Là việc NH trên cơ sở

giá trị bộ chứng từ hàng xuất, sau đi đã trừ đi lãi suất phát sinh và các chi phí liên quan đến nghiệp vụ thu tiền từ NH mở L/C sẽ thanh toán số tiền còn lại cho nhà XK với điều kiện là miễn truy đòi nhà XK nếu bộ chứng từ không được thanh toán Thực chất hình thức chiết khấu này là việc NH mua đứt bộ

Trang 34

chứng từ hoặc hối phiếu của người XK Rủi ro cho NH trong hình thức chiết khấu này là lớn hơn, nên số tiền chiết khấu thường nhỏ hơn trong hình thức chiết khấu có truy đòi được trình bày dưới đây

Chiết khấu có truy đòi (chiết khấu mở): Là việc NH trên cơ sở giá

trị bộ chứng từ hàng xuất, sau khi đã trừ đi lãi suất phát sinh và các chi phí liên quan đến nghiệp vụ thu tiền từ NH mở L/C sẽ thanh toán số tiền còn lại cho nhà XK với điều kiện là có truy đòi nhà XK, nếu NH không thu được tiền hàng từ NH mở L/C Như vậy, trách nhiệm của người XK vẫn còn cho đến khi NH đòi được tiền từ người NK Phí chiết khấu được tính dưới hình thức lãi chiết khấu, tính theo ngày và mức phí dĩ nhiên thấp hơn so với trường hợp chiết khấu miễn truy đòi vì rủi ro NH phải chịu thấp hơn

Hiện nay đa số các NH thực hiện chiết khấu có truy đòi

b) Ứng trước tiền hàng cho nhà XK

Trường hợp bộ chứng từ không đủ điều kiện chiết khấu, có những sai sót mà NH không đồng ý chiết khấu thì nhà XK có thể yêu cầu ngân hàng ứng trước tiền hàng, thông thường tỷ lệ khoảng 50%-60% giá trị hàng xuất

NH tiến hành thu nợ bằng cách gửi bộ chứng từ ra nước ngoài để đòi

nợ, trong vòng 60 ngày kể từ ngày gửi chứng từ đòi tiền mà không nhận được báo Có của NH nước ngoài, NH sẽ tự động ghi Nợ vào tài khoản tiền gửi của khách hàng Nếu tài khoản của khách hàng không đủ số dư thì NH sẽ chuyển

số tiền chiết khấu hoặc ứng trước sang nợ quá hạn trong vòng 7 ngày làm việc Khi được thanh toán từ phía NH nước ngoài, sẽ khấu trừ trực tiệp khoản vay cùng với các chi phí khác có liên quan

III NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1 Cơ chế chính sách của Nhà nước

Trang 35

Hoạt động kinh doanh của các thành phần kinh tế nói chung cũng như các DN nói riêng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi chính sách chủ trương đường lối phát triển kinh tế của Nhà nước Khi có bất kỳ sự thay đổi nào về khung pháp

lý, về chính sách tiền tệ, chính sách tài khoá, về hoạt động XNK,…sẽ ảnh hưởng đến thủ tục yêu cầu tài trợ, quy trình thực hiện nghiệp vụ tài trợ của

NH, tác động tới lãi suất và giá cả hàng hoá

2 Ngân hàng

NH chỉ có thể tài trợ cho DN khi bản thân họ có nguồn vốn dồi dào đủ để thực hiện nghiệp vụ này trong khi vẫn đảm bảo các hoạt động kinh doanh khác Nguồn vốn cũng tạo điều kiện cho NH nâng cao cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật, ứng dụng các thành tựu khoa học hiện đại…từ đó mở rộng nghiệp vụ tài trợ

Bên cạnh đó, yếu tố con người cũng rất quan trọng đối với việc mở rộng hoạt động tài trợ TMQT Với một đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm, có trình độ chuyên môn cao, am hiểu về thị trường, đạo đức tốt, tinh thần trách nhiệm cao thì nghiệp vụ tài trợ TMQT theo phương thức TDCT mới thực sự phát huy tác dụng, mang lại lợi ích cho cả NH và khách hàng

Ngoài ra, uy tín và mối quan hệ của NH đối với mạng lưới NH đại lý cũng là nhân tố quan trọng quyết định việc mở rộng hoạt động tài trợ ngoại thương Bởi vì NH có mạng lưới hoạt động rộng khắp cho phép đáp ứng tốt hơn nhu cầu TTQT và tài trợ XNK của khách hàng Đó chính là lý do vì sao các DN XNK luôn muốn chọn cho mình các NH có khả năng tài chính, có uy tín, có quan hệ đại lý rộng khắp và có kinh nghiệm kinh doanh để được hỗ trợ khi tham gia vào thị trường quốc tế

3 Doanh nghiệp xuất nhập khẩu

Phương thức thanh toán TDCT có xuất phát điểm từ nhà NK khi họ nộp đơn yêu cầu mở L/C cho NH phục vụ mình Vì vậy, yêu cầu đối với người NK đó là phải có trình độ, am hiểu thị trường, am hiểu về các thương

Trang 36

vụ ngoại thương… Bởi vì chỉ khi các điều khoản của L/C hoàn toàn phù hợp với hợp đồng thương mại hoặc được người XK chấp nhận thì nó mới có hiệu lực và việc tài trợ bằng cách phát hành L/C của NH mới có hiệu quả

Tương tự đối với người XK, để được thanh toán thì người XK phải xuất trình được bộ chứng từ hoàn hảo mà việc lập chứng từ phải trải qua nhiều giai đoạn rất phức tạp, trong khi đó, bất cứ một lỗi nào trong bộ chứng từ cũng có thể là căn cứ để người NK từ chối trả tiền, do đó, đòi hỏi người XK phải

là người có trình độ, có kinh nghiệm và thông thạo về các thương vụ ngoại thương

Bên cạnh đó, đạo đức kinh doanh của nhà XK cũng ảnh hưởng đến kết quả hoạt động ngoại thương Nếu nhà XK có hành vi lừa đảo, giả mạo chứng

từ thì sẽ gây rủi ro trực tiếp cho nhà NK từ đó ảnh hưởng tới hoạt động tài trợ TMQT của NH Ngoài ra, nếu như cả người XK và người NK đều có hành vi lừa đảo và thông đồng với nhau để lừa NH thì rủi ro cho NH từ hoạt động tài trợ của mình là rất lớn

4 Biến động tỷ giá

Do bản chất của hoạt động TMQT là hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa các quốc gia khác nhau, vì vậy, việc thanh toán phải được thực hiện trên thị trường ngoại hối Do đó, hoạt động này sẽ chịu tác động của

tỷ giá hối đoái

Tỷ giá là một nhân tố nhạy cảm, nó luôn luôn biến động Khi đồng nội tệ mất giá so với đồng ngoại tệ thì người NK sẽ không muốn nhận hàng về do sợ bị

lỗ Ngược lại, người XK sẽ bị lỗ Trong trường hợp tỷ giá được quy định rõ trong hợp đồng để đảm bảo quyền lợi cho cả người XK và NK thì sẽ gây rủi ro cho NH Như vậy, cả ba trường hợp trên đều có ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của DN

và NH, do đó, tác động gián tiếp đến hoạt động tài trợ TMQT của NH

Trang 37

Kết luận chương I

Chương I là những giới thiệu về hoạt động tài trợ TMQT nói chung và tài trợ TMQT theo phương thức thanh toán TDCT nói riêng của NHTM Cùng với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, nghiệp vụ tài trợ TMQT của NH ngày càng trở nên phong phú, đa dạng, không chỉ có ý nghĩa đối với tất cả các bên tham gia mà còn đem lại hiệu quả cao cho nền kinh tế

Trong đó, tài trợ theo phương thức thanh toán TDCT đóng một vai trò quan trọng và đem lại lợi ích nhiều nhất cho các bên tham gia Các NH trên thế giới cũng như tại Việt Nam rất chú trọng phát triển mảng hoạt động tài trợ này chính là vì tính an toàn, thông dụng và hiệu quả cao của nó Có thể nói, đây là một trong những nghiệp vụ NH hiện đại và sẽ ngày càng được nâng cao để phù hợp với sự phát triển của hoạt động giao thương quốc tế

Với mục đích minh hoạ cụ thể hơn cho hoạt động tài trợ TMQT theo phương thức thanh toán TDCT của NHTM Việt Nam, chương tiếp theo sẽ dành để giới thiệu về hoạt động này tại Ngân hàng TMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam (VPBank) Trên cơ sở thực tiễn tiến hành nghiệp

vụ tại Ngân hàng, khoá luận sẽ phân tích những thành tựu cũng như tồn tại, tìm hiểu nguyên nhân dẫn tới các thành tựu và tồn tại này, từ đó đưa ra một số giải pháp, kiến nghị với mong muốn góp phần nhỏ bé vào sự phát triển của hoạt động tài trợ TMQT theo phương thức thanh toán TDCT tại Ngân hàng

Trang 38

Chương II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NHTM CỔ PHẦN CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI

QUỐC DOANH VIỆT NAM (VPBANK)

I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG TMCP CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH VIỆT NAM (VPBANK)

1 Quá trình hình thành và phát triển của VPBank

Ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam (VPBank) được thành lập theo Giấy phép hoạt động số 0042/NH-

GP của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp ngày 12 tháng 08 năm

1993 với thời gian hoạt động là 99 năm Ngân hàng bắt đầu hoạt động từ ngày

04 tháng 09 năm 1993 theo Giấy phép thành lập số 1535/QĐ-UB ngày 04 tháng 09 năm 1993

Các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của VPBank bao gồm:

Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn của các tổ chức và cá nhân Tiếp nhận vốn uỷ thác đầu tư và phát triển của các tổ chức trong nước Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng khác Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đối với các tổ chức và cá nhân

Chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá

Hùn vốn, liên doanh và mua cổ phần theo pháp luật hiện hành

Thực hiện dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng

Thực hiện kinh doanh ngoại tệ

Huy động nguồn vốn từ nước ngoài

Thanh toán quốc tế và thực hiện các dịch vụ khác liên quan đến thanh

toán quốc tế

Trang 39

Thực hiện các dịch vụ chuyển tiền trong và ngoài nước dưới nhiều

hình thức, đặc biệt chuyển tiền nhanh Western Union

Vốn điều lệ ban đầu của VPBank khi mới thành lập là 20 tỷ VND Sau

đó, do nhu cầu phát triển, theo thời gian VPBank đã nhiều lần tăng vốn điều

lệ Đến tháng 08 năm 2006, vốn điều lệ của VPBank đã đạt 500 tỷ đồng Ngày 27/09/2006, Thống đốc NHNN Việt Nam đã ký quyết định cho phép VPBank được bán 10% cổ phần cho Ngân hàng OCBC (Singapore) sau một thời gian xem xét các điều kiện và hoàn thiện các thủ tục từ phía Ngân hàng OCBC Theo đó, OCBC đã hoàn tất thủ tục chuyển tiền mua cổ phần, tương đương với 250 tỷ VND, và toàn bộ số tiền này đã được sử dụng để tăng vốn điều lệ của VPBank từ 500 tỷ đồng lên 750 tỷ đồng Tiếp sau đó, Ban lãnh đạo VPBank đã có kế hoạch tăng vốn điều lệ từ 750 tỷ đồng lên 1500 tỷ đồng trong năm 2007, và kế hoạch tăng vốn đợt I/2007 của VPBank đã được hoàn tất trong tháng 05/2007

Hiện nay, cổ đông của VPBank bao gồm hơn 100 thể nhân và pháp nhân, trong đó có hai cổ đông nước ngoài là Dragon Capital (nắm giữ 10,9% vốn điều lệ) và Ngân hàng OCBC nắm giữ 10%

Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, VPBank luôn chú ý đến việc mở rộng quy mô, tăng cường hoạt động tại các thành phố lớn Tính đến tháng 04/2007, hệ thống VPBank có tổng cộng 61 điểm giao dịch gồm có: Hội sở chính tại Hà Nội, 20 chi nhánh cấp I tại các tỉnh, thành phố lớn là Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Đà Nẵng, Huế, Nha Trang, Cần Thơ,…, 41 chi nhánh cấp II và phòng giao dịch tại các tỉnh, thành phố trọng điểm kinh tế của đất nước Bên cạnh việc mở rộng mạng lưới giao dịch, trong năm 2006, VPBank cũng đã mở thêm hai Công ty trực thuộc đó là Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản và Công ty Chứng khoán

Trang 40

Số lượng nhân viên của VPBank trên toàn hệ thống tính đến nay có trên

1000 người, trong đó phần lớn là cán bộ, nhân viên có trình độ đại học và trên đại học (chiếm 87%) Nhận thức được độ ngũ nhân viên chính là sức mạnh giúp VPBank sẵn sàng đương đầu với mọi cạnh tranh, nhất là trong giai đoạn đầy thách thức sắp tới khi Việt Nam thực sự bước vào hội nhập kinh tế quốc

tế, những năm vừa qua, VPBank luôn quan tâm nâng cao chất lượng công tác quản trị nhân sự

Kể từ khi thành lập và phát triển cho đến nay, VPBank đã gặp không ít những khó khăn vì kinh doanh NH vốn rất phức tạp và chứa đựng nhiều rủi

ro Tuy nhiên, với sự điều hành đầy sáng suốt của Ban lãnh đạo và sự năng động, sáng tạo, nhiệt tình của đội ngũ cán bộ, nhân viên trẻ, VPBank đã tự đổi mới mình, đi lên từng bước vững chắc Đặc biệt trong những năm gần đây,

NH đã tìm được cho mình chỗ đứng trên thị trường và có được niềm tin từ phía khách hàng, nhất là nhóm khách hàng mục tiêu của NH – những doanh nghiệp vừa và nhỏ và đối tượng khách hàng cá nhân thuộc tầng lớp trung lưu

Về tầm nhìn chiến lược, VPBank tiếp tục khẳng định và kiên trì chiến lược ngân hàng bán lẻ, phấn đấu đạt mức tăng trưởng về mọi mặt năm sau cao hơn năm trước để đến năm 2010 trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu khu vực phía Bắc và nằm trong nhóm 5 ngân hàng dẫn đầu các Ngân hàng TMCP trong cả nước đồng thời là một ngân hàng có tầm cỡ của khu vực Đông Nam

Á về chất lượng, hiệu quả và độ tin cậy

2 Hoạt động kinh doanh của VPBank trong những năm gần đây

2.1 Hoạt động huy động vốn

Với mục tiêu phát triển VPBank thành một trong những NH bán lẻ hàng đầu tại Việt Nam, trong thời gian qua, hoạt động huy động vốn của NH tập trung vào việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ NH bán lẻ, hướng tới đối tượng khách hàng mục tiêu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các thể nhân

Ngày đăng: 24/05/2014, 09:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tình hình huy động vốn tại VPBank các năm 2003 – 2006 - Hoạt động tài trợ thương mại quốc tế theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại VPBank - thực trạng và giải pháp
Bảng 1 Tình hình huy động vốn tại VPBank các năm 2003 – 2006 (Trang 41)
Bảng 2: Tình hình cho vay vốn tại VPBank các năm 2003 – 2006 - Hoạt động tài trợ thương mại quốc tế theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại VPBank - thực trạng và giải pháp
Bảng 2 Tình hình cho vay vốn tại VPBank các năm 2003 – 2006 (Trang 42)
Bảng 3: Hoạt động thanh toán quốc tế của VPBank các năm 2004 – 2006 - Hoạt động tài trợ thương mại quốc tế theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại VPBank - thực trạng và giải pháp
Bảng 3 Hoạt động thanh toán quốc tế của VPBank các năm 2004 – 2006 (Trang 43)
Bảng số liệu trên cho thấy tại VPBank, TDCT luôn chiếm tỷ trọng cao  trong thanh toán hàng nhập và tăng nhanh qua các năm - Hoạt động tài trợ thương mại quốc tế theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại VPBank - thực trạng và giải pháp
Bảng s ố liệu trên cho thấy tại VPBank, TDCT luôn chiếm tỷ trọng cao trong thanh toán hàng nhập và tăng nhanh qua các năm (Trang 44)
Hình thức này chiếm ty trọng lớn nhất trong thanh toán hàng xuất. Doanh số  chuyển tiền TTR 06 tháng đầu năm 2007 đạt gần 75 triệu USD, tăng hơn 48  triệu USD so với 6 tháng đầu năm 2006, đạt mức tăng trưởng 177,8% - Hoạt động tài trợ thương mại quốc tế theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại VPBank - thực trạng và giải pháp
Hình th ức này chiếm ty trọng lớn nhất trong thanh toán hàng xuất. Doanh số chuyển tiền TTR 06 tháng đầu năm 2007 đạt gần 75 triệu USD, tăng hơn 48 triệu USD so với 6 tháng đầu năm 2006, đạt mức tăng trưởng 177,8% (Trang 45)
Bảng 5: Doanh thu và lợi nhuận của VPBank các năm 2003 – 2006 - Hoạt động tài trợ thương mại quốc tế theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại VPBank - thực trạng và giải pháp
Bảng 5 Doanh thu và lợi nhuận của VPBank các năm 2003 – 2006 (Trang 46)
Bảng 6: Kết quả bảo lãnh phát hành L/C tại VPBank các năm 2004 – 2006 - Hoạt động tài trợ thương mại quốc tế theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại VPBank - thực trạng và giải pháp
Bảng 6 Kết quả bảo lãnh phát hành L/C tại VPBank các năm 2004 – 2006 (Trang 49)
Bảng 7: Tài trợ thanh toán L/C tại VPBank các năm 2004 – 2006 - Hoạt động tài trợ thương mại quốc tế theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại VPBank - thực trạng và giải pháp
Bảng 7 Tài trợ thanh toán L/C tại VPBank các năm 2004 – 2006 (Trang 51)
Bảng 8: So sánh doanh số tài trợ vốn XK với doanh số cho vay tương ứng - Hoạt động tài trợ thương mại quốc tế theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại VPBank - thực trạng và giải pháp
Bảng 8 So sánh doanh số tài trợ vốn XK với doanh số cho vay tương ứng (Trang 54)
Bảng 9: So sánh tài trợ vốn XK theo phương thức thanh toán - Hoạt động tài trợ thương mại quốc tế theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại VPBank - thực trạng và giải pháp
Bảng 9 So sánh tài trợ vốn XK theo phương thức thanh toán (Trang 55)
Bảng số liệu trên cho thấy hoạt động chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất  theo  phương  thức  thanh  toán  TDCT  của  VPBank  là  không  ổn  định - Hoạt động tài trợ thương mại quốc tế theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại VPBank - thực trạng và giải pháp
Bảng s ố liệu trên cho thấy hoạt động chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất theo phương thức thanh toán TDCT của VPBank là không ổn định (Trang 58)
Bảng số  Nội dung  Trang - Hoạt động tài trợ thương mại quốc tế theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại VPBank - thực trạng và giải pháp
Bảng s ố Nội dung Trang (Trang 94)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w