1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một Số Ý Kiến Hoàn Thiện Chính Sách Đền Bù Và Giải Phóng Mặt Bằng Trên Địa Bàn Hà Nội Những Năm Tới.docx

56 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Ý Kiến Hoàn Thiện Chính Sách Đền Bù Và Giải Phóng Mặt Bằng Trên Địa Bàn Hà Nội Những Năm Tới
Tác giả Trương Thị Thanh Hoà
Người hướng dẫn Hà Nội, 2010
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kế hoạch và Phát triển
Thể loại Chuyên đề thực tập
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 112,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tr­êng ®¹i häc kinh tÕ quèc d©n Chuyên đề thực tập K48 1 Khoa Kế Hoạch – Phát Triển trêng ®¹i häc kinh tÕ quèc d©n KHOA kÕ ho¹ch vµ ph¸t triÓn o0o CHUY£N §Ò THùC TËP CHUY£N NGµNH §Ò tµi MỘT SỐ[.]

Trang 1

trờng đại học kinh tế quốc dânKHOA kế hoạch và phát triển

o0o

-CHUYÊN Đề THựC TậP CHUYÊN NGàNH

Đề tài:

MỘT SỐ í KIẾN HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH ĐỀN

BÙ VÀ GIẢI PHểNG MẶT BẰNG TRấN ĐỊA BÀN HÀ

NỘI NHỮNG NĂM TỚI

Lớp : KINH Tế PHáT TRIểN 48A

MSSV : cq480991

Hà Nội, 2010

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG I: SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH ĐỀN BÙ-GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG 6

I/ SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐỀN BÙ VÀ GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG 6

1/ Khái niệm giải phóng và đền bù mặt bằng 6

1.1/ Khái niệm giải phóng mặt bằng 6

1.2/ Khái niệm đền bù mặt bằng 6

2/ Sự cần thiết phải đền bù- giải phóng mặt bằng 6

3/ Yêu cầu đối với công tác đền bù- giải phóng mặt bằng 8

II/ HỆ THỐNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT LIÊN QUAN TỚI ĐỀN BÙ- GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG CỦA NHÀ NƯỚC VÀ CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI 9

1/ Hệ thống văn bản pháp luật liên quan tới giải phóng mặt bằng của Nhà Nước 9

1.1/ Hệ thống văn bản pháp luật liên quan tới GPMB trước khi có luật đất đai năm 2003 9

1.2/ Hệ thống văn bản pháp luật liên quan tới GPMB sau khi có luật đất đai năm 2003 10

2/ Các chính sách và nghị định về đất đai liên quan tới việc giải phóng mặt bằng trên địa bàn Hà Nội 12

2.1/ Trước khi có luật đất đai 2003 12

2.2/ Sau khi có luật đất đai năm 2003 12

3/ Đối tượng được đền bù trong vấn đề giải phóng mặt bằng 13

4/ Vai trò của các bên tham gia trong việc đền bù và giải phóng mặt bằng 13

4.1/ Nhà nước và trách nhiệm của nhà nước trong vấn đề thực thi việc giải quyết đền bù và giải phóng mặt bằng 13

4.2/ Chủ dự án và trách nhiệm của chủ dự án trong vấn đề thực hiện giải phóng và đền bù mặt bằng 14

4.3/ Người dân và trách nhiệm của người dân trong vấn đề đền bù và giải phóng mặt bằng 14

Trang 3

CHƯƠNG II/ CHÍNH SÁCH VÀ THỰC HIỆN ĐỀN BÙ- GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG NHỮNG NĂM GẦN

ĐÂY 18

I/ CHÍNH SÁCH GIÁ CẢ LIÊN QUAN TỚI VIỆC ĐỀN BÙ VÀ GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG 18

1.1/ Một số nét liên quan tới chính sách giá đất hiện nay 18

1.2/ Chính sách giá cả theo loại đất và theo vùng 19

1.2 1/ Đất nông nghiệp 19

1.2.1.1/Đất trồng cây hàng năm: 19

1.2.1.2 / Đất trồng cây lâu năm: 20

1.2.1.3/ Các loại đất nông nghiệp khác còn lại: 20

1.2.2/ Đất phi nông nghiệp 20

1.2.2.1/ Đất ở tại nông thôn: 20

1.2.2.3/ Đất ở tại đô thị: 21

1.2.2.4/ Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp: 22

1.3/ Chính sách về việc giải phóng và đền bù mặt bằng của Nhà Nước 22

1.3.1/ Chính sách sử dụng lao động 23

1.3.2/ Chính sách hỗ trợ và tái định cư cho người dân bị mất đất 24

II/ THỰC TRẠNG VIỆC GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 25

1/ Thực trạng về việc thực hiện chính sách giá đền bù của thành phố Hà Nội trong những năm gần đây 25

1.1/ Dự án ô chợ dừa 28

1.1.1/ Thực trạng việc giải phóng mặt bằng dự án ô chợ dừa 28

1.1.1.1/ Quá trình thực hiện được diễn ra như sau 28

1.1.1.2/ Nguyên nhân gây ra dự án bị “treo” và những vướng mắc trong vấn đề GPMB 29

1.2/ Dự án đường vành đai ba 32

1.2.1/ Thực trạng dự án đường vành đai ba 32

1.2.2/ Nguyên nhân gây ra xung đột lợi ích giữa các bên và vì sao dự án bị “treo” 33

Trang 4

1.3/ Dự án tuyến đường vành đai 2,5 (đoạn khu vực Đền Lừ II- Gíap Bát) 35

1.3.1/ Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng tại quận Hoàng Mai 35

1.3.2/ Các văn bản pháp lý liên quan tới dự án 35

1.3.3/ Quy mô của dự án: 35

1.1.4/ Nguyên nhân gây ra sự khiếu nại trong nhân dân 36

III/ ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA CHÍNH SÁCH 38

IV/ KINH NGHIỆM GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC 40

5.1/ Trung Quốc : 40

5.2/ Thái Lan 41

CHƯƠNG III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ CHÍNH SÁCH GIẢI PHÓNG - ĐỀN BÙ MẶT BẰNG 42

3.1/ Xây dựng kế hoạch, định hướng phát triển kinh tế- xã hội và kế hoạch sử dụng đất đai- phát triển cơ sở hạ tầng 42

3.2/ Ban hành, hoàn thiện chính sách pháp luật về đền bù giải phóng mặt bằng và chính sách liên quan hỗ trợ giải phóng mặt bằng 43

3.3/ Có chính sách giá đất phù hợp, đồng bộ khi đền bù, xây dựng khung giá đất xát với giá đất trên thị trường 43

3.4/ Đẩy mạnh công tác kiểm tra đối với công tác thực hiện giải phóng mặt bằng 45

3.5/ Thực hiện công tác tuyên truyền,vận động người dân để họ hiểu về việc giải phóng và đền bù mặt bằng và thực hiện theo chính sách của Nhà Nước và thành phố 45

3.6/ Các biện pháp hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất cho người bị thu hồi đất và những người được xét tái định cư 47

3.7/ Cải cách thủ tục hành chính liên quan đến việc đền bù và giải phóng mặt bằng 48

KẾT LUẬN 51

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 6

Bảng 3: Gía đất ở khu vực nông thôn thuộc trục đường chính, khu du lịch

-Nguồn: Sở Tài Nguyên Môi Trường TP Hà Nội-22

Bảng 4: Gía đất ở khu vực nông thôn thuộc các vùng còn lại- Nguồn: Sở Tài

Nguyên Môi Trường TP Hà Nội-22

Bảng 5: Gía đất ở đô thị - Nguồn: Sở Tài Nguyên Môi Trường TP Hà Nội-23

Bảng 6: Tỷ lệ lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo - Nguồn: Phòng thanh tra sở Tài

Nguyên- Môi Trường, thành phố Hà Nội- 27

Bảng 7: Bảng giá đất bồi thường xung quanh dự án- Ban quản lý dự án Ô Chợ

Dừa- Ban quản lý dự án- 31

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

Cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội, cơ sở hạ tầng cũng ngày càng pháttriển và được coi trọng Như chúng ta thấy, một đất nước được coi là phát triểnđược đánh giá trên rất nhiều tiêu chí khác nhau, ví dụ: tốc độ phát triển và tăngtrưởng kinh tế, các chỉ số phát triển về con người và môi trường…cũng như sự pháttriển của cơ sở hạ tầng

Ngày nay việc xây dựng cơ sở hạ tầng của Việt Nam nói chung và của HàNội nói riêng còn gặp rất nhiều khó khăn trong vấn đề bồi thường và giải phóng mặtbằng, những khó khăn đó một phần xuất phát từ chính sách của Nhà Nước cũng nhưcủa thành phố Hà Nội, một phần trách nhiệm thuộc về chủ dự án thi công côngtrình, và một phần do ý thức- sự hiểu biết của người dân Nhìn chung những khókhăn trên đều xuất phát từ “lỗ hổng “ và sự chậm trễ trong việc thực thi chính sáccủa các cơ quan chức năng có thẩm quyền và ý thức của người dân Sự chậm trễtrong việc đền bù và giải phóng mặt bằng là một trong những yếu tố gây ra sự yếukém trong xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng, cũng như sự lãng phí về nguồn tàinguyên đất hiện nay của Việt Nam nói chung và của thành phố Hà Nội nói riêng

Thực tế cho thấy công tác giải phóng và đèn bù mặt bằng hết sức nhạy cảm

và phức tạp, nó tác động trực tiếp tới đời sống kinh tế- xã hội, tới mỗi người dân vàcộng đồng dân cư Gỉai quyết không tốt sẽ dẫn tới những phản ứng gay gắt từ phíangười dân, gây ra bất ổn về chính trị cũng như về kinh tế Bởi vậy có rất nhiều dự

án đã tồn tại rất nhiều năm nhưng chưa được thực hiện do sự vướng mắc trong việcđèn bù giữa chủ dự án và người dân trong diện giải tỏa Cùng với tiêu cực nảy sinh

là chất lượng công trình giảm sút, giá thành đội lên rất nhiều, điều này ảnh hưởngtới lợi ích của người dân và các cấp quản lý

Vậy tại sao lại có sự “xung đột” lợi ích giữa chính quyền- chủ dự án vàngười dân như vậy? Nhận thấy sự vướng mắc trong khâu đền bù và giải phóng mặtbằng, em mạnh giạn nghiên cứu vấn đề về chính sách giải phóng và đền bù mặtbằng trên địa bàn Hà Nội trong những năm qua Do sự hiểu biết và thời gian có hạn,

em xin nghiên cứu một cách khái quát ba dự án sau: dự án Ô Chợ Dừa, dự án đườngvành đai ba nút Thanh Xuân và dự án đường vành đai 2.5 HH đoạn Đền Lừ II- GiápBát, để xem xét đánh giá một cách khách quan về việc thực thi chinh sách trong các

dự án trên

Được sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Phạm Văn Vận, tập thể cán bộphong Đất Đai thuộc Sở Tài Nguyên Môi Trường thành phố Hà Nộivaf tập thể cán

bộ nhân viên trung tâm giao dịch và phát triển quỹ đất thành phố Hà Nội, em xin

được nghiên cứu đề tài “Một số ý kiến hoàn thiện chính sách đền bù và giải

phóng mặt bằng trên địa bàn Hà Nội những năm tới”.

Trang 8

Đề tài của em được chia thành ba chương như sau:

Chương I: Sự cần thiết phải hoàn thiện chinh sách đèn bù và giải phóng mặtbằng

Chương II: Chính sách và thực hiện chinh sách đền bù và giải phóng mặtbằng trên địa bàn thành phố Hà Nội trong những năm gần đây

Chương III: Một số kiến nghị nhằm nâng cao công tác đền bù và giải phóngmặt bằng

Trong quá trình nghiên cứu, em còn rất nhiều thiếu xót về mặt nội dung cũngnhư hình thức, em mong được sự góp ý của PGS.TS Phạm Văn Vận- khao KếHoạch phát triển- trường ĐHKTQD để đề tài của em hoàn thiện hơn

Trong quá trình làm bài, em xin chịu toàn bộ trách nhiệm về bài làm củamình, nếu bài làm của em có dấu hiệu sao chép bài, em xin chịu mọi hình thức kỷluật của nhà trường

Em xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ của PGS.TS Phạm Văn Vận, tập thểcán bộ phòng đất đai thuộc Sở Tài Nguyên Môi Trường thành phố Hà Nội,cũng nhưsưk giúp đỡ của trung tâm giao dịch và phát triển quỹ đất thành phố Hà Nội

Hà Nội, ngày 06/05/2010

Sinh viên

Trương Thị Thanh Hòa

Trang 9

NỘI DUNG

CHƯƠNG I: SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH ĐỀN

BÙ-GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG

I/ SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐỀN BÙ VÀ GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG

1/ Khái niệm giải phóng và đền bù mặt bằng

1.1/ Khái niệm giải phóng mặt bằng

Có thể hiểu cụm từ “giải phóng mặt bằng” theo nhiều cách khác nhau, nhưng

dù hiểu như thế nào thì cụm từ “giải phóng mặt bằng” cũng được hiểu là việc di dờicon người, tài sản sang một nơi khác để sử dụng mặt bằng đó làm các mục đíchkhác nhau đã được hoạch định từ trước, và được sự đồng thuận từ cấp chính quyềnđịa phương tới người dân trong khu vực bị giải tỏa Cũng có thể hiểu: giải phóngmặt bằng là sự giải tỏa để lấy không gian thực hiện dự án

Còn hiểu theo từ điển Tiếng Việt, cụm từ “giải phóng mặt bằng” được hiểu

là sự di dời, dọn dân đi nơi khác để lấy mặt bằng xây dựng công trình

Như vậy dù hiểu như thế nào thì cụm từ” giải phóng mặt bằng” được hiểu là

sự di dời vật chất, người dân đi nơi khác để lấy mặt bằng thực hiện dự án đã được

sự thông qua của các cấp và các hộ dân cư sống trong khu vực đó

1.2/ Khái niệm đền bù mặt bằng

Tương xứng với việc “lấy đi “cái gì của người khác là việc phải trả lại cho họmột cái gì đó tương xứng với giá trị cái mà họ mất Tương tự như định nghĩa giảiphóng mặt bằng thì cụm từ đền bù được định nghĩa như sau: Đền bù có nghĩa là trảlại lượng tương xứng giá trị hoặc công lao cho người nào đó bị thiệt hại vì hành vicủa chủ thể Như vậy chúng ta thấy ngay trong định nghĩa của thuật ngữ“ đền bù”

đã nói rằng: Sự thiệt hại có thể là vật chất hoặc tinh thân, vậy không phải mọi thứđều có thể quy ra tiền để trả cho người bị thiệt hại Việc đền bù là rất đa dạng, cóthể là đền bù bằng tiền, các dạng vật chất khác nhau…,điều đó phụ thuộc vào sựthỏa thuận giữa các bên với nhau

Trong thực tế ngoài đền bù còn có một hinh thức khác bồi thường lại tổn thấtcho người bị thiệt hại đó là hỗ trợ Việc đền bù hay hỗ trợ cho người bị thiệt hại là

do sự xem xét của các cấp quản lý và các nhà hoạch định chính sách, được nêu rarất rõ trong các văn bản pháp luật của Chính Phủ

2/ Sự cần thiết phải đền bù- giải phóng mặt bằng

Ngày nay hai thuật ngữ đền bù- giải phóng mặt bằng luôn luôn sử dụng songhành cùng nhau, khi nói tới giải phóng mặt bằng là nói tới việc đền bù Như chúng

ta biết, sự phát triển của kinh tế- xã hội được đánh giá trên rất nhiều phương diệnkhác nhau, ví dụ như sự phát triển về: kinh tế, y tế, giáo dục, cũng như sự phát triển

Trang 10

trên Thế Giới coi trọng, Việt Nam cũng nằm trong xu hướng phát triển như vậy Để

cơ sở hạ tầng được nâng cấp và xây mới ngoài việc nâng cấp các dự án cũ còn phảixây dựng các dự án mới, thì khâu quan trọng ban đầu chính là công tác đền bù- giảiphóng mặt bằng Có giải phóng được mặt bằng thì mới có quỹ đất để thực thi các dự

án, để quy hoạch được đô thị

Vậy tại sao giải phóng mặt bằng lại cần thiết như vậy? Sau đây em xin nêu ra một

số lý do về tính cấp thiết của việc giải phóng mặt bằngvà đền bù

Thứ nhất: Giải phóng mặt bằng là yêu cầu tất yếu đối với các dự án đầu

tư xây dựng.

Ngày nay theo đà phát triển chung của kinh tế- xã hội thì các dự án đầu tưxây dựng cũng ngày càng phát triển, mà quỹ đất thì luôn luôn có giới hạn, đất đaikhông thể tự sinh ra và cũng không thể tự thu hẹp được, như vậy không thể xâydựng không có quy hoạch hay không có khuôn khổ Mặt khác có giải phóng mặtbằng thì các dự án mới có không gian để thực hiện Hơn thế nữa, nếu không giải tỏađược mặt bằng thì các dự án không có chỗ để đo đạc, vận chuyển nguyên vật liệu vànhư vậy sẽ làm chậm quy trình và thời gian thực hiện dự án, một phần ảnh hưởngtới kinh tế, đời sống của cụm dân cư sống trong khu vực đấy nói chung và ảnhhưởng tới sự phát triển kinh tế khu vực đó nói riêng Bởi vậy, việc giải phóng mặtbằng là điều tất yếu quan trọng trong vấn đề thực thi dự án

Thứ hai: Công tác giải phóng mặt bằng giúp quy hoạch đô thị, sử dụng đất hiệu quả và hợp lý, tạo được khuân viên đô thị.

Quy hoạch là một trong những khâu quan trọng trong việc cải thiện và xâymới khuân viên đô thị Việc quy hoạch đô thị luôn luôn được thực hiện trước mộtbước trong kế hoạch phát triển đo thị Nhờ có quy hoạch, Nhà Nước nắm được quỹđất của từng loại đất, quỹ đất nào còn nhiều, quỹ đất nào thiếu để điều chỉnh chohợp lý với sự phát triển kinh tế Nhờ có quy hoạch đúng hướng mà bộ mặt đô thịđược thay đổi, từ những khu công nghiệp cạnh khu dân dư, công viên cho trẻ nhỏ vàngười già, khu vui chơi giả trí cho người dân… đến các cây cầu đường phục vụ cho

sự lưu thông kinh tế…đều được sắp xếp một cách hợp lý phù hợp với từng vùng,từng khu vực Tuy nhiên để quy hoạch đô thị hay đầu tư dự án thì khâu đầu tiên vẫnphải là giải phóng mặt bằng, có mặt bằng thì các công trình phục vụ đời sống nhândân mới có chỗ để triển khai, khi các dự án đó được hoàn tất sẽ làm đô thị được đẹphơn và có quy củ hơn rất nhiều

Mặt khác giải phóng mặt bằng cho phép sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai

và là công cụ điều tiết các hoạt động liên quan đến đất đai của các tổ chức và cánhân

Như vậy, công tác giải phóng mặt bằng là cơ sơ để đảm bảo thực hiện chiếnlược phát triển kinh tế và quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội đúng định hướng củaĐảng và Nhà Nước

Trang 11

Thứ ba: Công tác giải phóng mặt bằng là yêu cầu khách quan trong quá trính đổi mới.

Cơ sở hạ tầng là một trong những yếu tố đánh giá sự phát triển kinh tế- xãhội Cùng với quá trình đô thị hóa nhanh chóng như ngày này, và sự gia tăng chóngmặt về dân số ở các khu vực thành thị, do việc di dân từ vùng có mức sống thấpsang vùng có mức sống cao, kèm theo đó là các nhu cầu về ăn, học, vui chơi, giảitrí…để phục vụ cuộc sống của dân cư gia tăng theo, điều này đã tạo ra gánh nặngcho đô thị, có thể nói đô thị ngày nay đang rơi vào tình trạng quá tải Khi bộ mặt đôthị được thay đổi theo chiều hướng tốt, tức là mức sống của dân cư cao, sự chênhlệch về thu nhập giảm, cũng như cơ sở hạ tầng được nâng cấp Bởi vậy, việc thựchiện giải phóng mặt bằng để lấy quỹ đất xây dựng các dự án phục vụ cho nhu cầudân sinh nói chung và phục vụ cho sự phát triển kinh tế nói riêng là rất cần thiết, làđiều tất yếu để đổi mới bộ mặt đô thị, phát triển đất nước

Thứ tư: Đền bù thiệt hại giúp người dân ổn định cuộc sống và làm quy trình giải phóng mặt bằng được diễn ra nhanh hơn.

Khi người dân bị mất đất đồng nghiã với việc họ phải bắt đầu cuộc sống từđầu, có những hộ gia đình mà mảnh đất bị thu hồi lại là mảnh đất nuôi sống cả giađình họ, bởi vậy khi thu hồi đất của họ chúng ta cần phải có chính sách bồi thường

và đền bù một cách thích hợp để giúp họ cải tạo cuộc sống và ổn định Tuy nhiênvấn đề bồi thường lại là một trong những vấn đề vướng mắc mất trong khâu giải tỏamặt bằng Có rất nhiều lý do khiến người dân không chịu di dời, một trong những lý

do đó là họ cảm thấy việc đền bù chưa hợp lý, chính vì điều này đã làm ảnh hưởngtới tiến độ thực thi dự án

Như vậy, chính sách đền bù cũng là một trong những chính sách tác độngtrực tiếp tới quá trình di dân và việc thực hiện dự án

3/ Yêu cầu đối với công tác đền bù- giải phóng mặt bằng

Công tác giải phóng mặt bằng là một trong những quy trình tác động trựctiếp tới tiến độ thực hiện dự án, như vậy nó cần phải đảm bảo yêu cầu sau:

Thứ nhất: Nhanh chóng, kịp thời và chính xác

Việc tiến hành giải phóng mặt bằng nhanh chóng, kịp thời chính xác sẽ giúptiết khiệm chi phí, đẩy nhanh quá trình thực hiện dự án, tác động trực tiếp tới sựphát triển kinh tế - văn hóa của địa phương Hơn thế nữa công tác giải tỏa mặt bằng

là một trong những công tác đầu tiên ảnh hưởng tới việc thực thi dự án

Thứ hai: Hài hòa lợi ích giữa các bên

Trong công tác giải tỏa mặt bằng luôn luôn có sự xung đột lợi ích giữa chủ

dự án và người dân Nếu chúng ta giải quyết nhanh chóng và hài hòa lợi ích giữacác bên sẽ thúc đẩy nhanh công tác giải tỏa mặt bằng, giảm chi phí, tăng tiến độ xâydựng dự án

Trang 12

Thứ ba: Công bằng, công khai, dân chủ

Công bằng, công khai và dân chủ là một trong những yếu tố không thể thiếuđược trong các dự án công cộng hay các dự án phục vụ lợi ích của người dân Côngkhai trong các văn bản pháp luật, công khai trong các thong tin xây dựng dự án,công bằng trong việc giải quyết đền bù đối với các hộ gia đình với nhau Có nhưvậy mới tạo được niềm tin trong nhân dân và khiến người dân tự giác thực hiện việc

di dời Mặt khác thực hiện như vậy sẽ làm giảm sự tiêu cực của một số cán bộ thựchiện công tác đền bù và giải phóng mặt bằng

II/ HỆ THỐNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT LIÊN QUAN TỚI ĐỀN BÙ- GIẢI

PHÓNG MẶT BẰNG CỦA NHÀ NƯỚC VÀ CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI

1/ Hệ thống văn bản pháp luật liên quan tới giải phóng mặt bằng của Nhà

về một mối đó là Sơ Tài Nguyên Môi Trường( hiện nay)

Hiến pháp 1992 đặt nền móng cho việc xây dựng chính sách bồi thường,GPMB qua những điều, khoản quy định cụ thể điều 17 và điều 23 Trên cơ sở Hiếnpháp 1992, Luật Đất đai năm 1993 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày

15 tháng 10 năm 1993 Với quy định “đất có giá” và người sử dụng đất có cácquyền và nghĩa vụ, đây là sự đổi mới có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác bồithường, GPMB của Luật Đất đai năm 1993

Những quy định về bồi thường, GPMB của Luật Đất đai năm 1993 thu đượcnhững thành tựu quan trọng trong giai đoạn đầu thực hiện, nhưng càng về sau, do sựchuyển biến mau lẹ của tình hình kinh tế xã hội, nó đần dần không phù hợp với nhucầu phát triển Để tạo điều kiện đẩy nhanh tốc độ GPMB, đẩy nhanh tiến độ thicông công trình, đồng thời bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất, luậtsửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai được thông qua ngày 29 tháng 6 năm

2001 Để cụ thể hóa các quy định của luật Đất đai năm 1993 và Luật sửa đổi, bổsung một số điều của Luật Đất đai năm 2001, nhiều văn bản quy định về chính sáchbồi thường, GPMB đã được Nhà Nước ban hành, bao gồm:

- Nghị định số 90/CP ngày 17 tháng 9 năm 1994 của Chính phủ quy định về việcbồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh,quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng

- Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về việcbồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng,

Trang 13

- Thông tư 145/1998/TT- BTC ngày 4 tháng 11 năm 1998 của Bộ Tài chính hướngdẫn thi hành Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2004 của Chínhphủ.

- Nghị định số 22/1998/NĐ-CP và Thông tư số 145/1998/TT-BTC: quy định rõphạm vi áp dụng và đôid tượng được bồi thường thiệt hại khi Nhà Nước thu hồiđất Về phạm vi áp dụng: chính sách bồi thường, GPMB theo quy định của Nghịđịnh số 22/1998/NĐ-CP và Thông tư số 145/1998/TT-BTC áp dụng chung cho mọitrường hợp bị Nhà nước thu hồi đất Đây là một điểm khác so với Nghị định số90/CP

Nếu như các văn bản trước đây mới chỉ quan tâm đến nội dung bồi thườngcho đất bị thu hồi và các tài sản gắn liền với đất bị thu hồi, thì Nghị định số22/1998/NĐ-CP đã có các quy định cụ thể về công tác tổ chức thực hiện, tráchnhiệm của UBND các cấp và Hội đồng bồi thường, GPMB cấp huyện trong việc chỉđạo thực hiện công tác bồi thường, GPMB và TĐC của các dự án như lập phương

án bồi thường, xác định mức bồi thường hoặc trợ cấp cho từng tổ chức hộ gia đình,

cá nhân và tổ chức thực hiện bồi thường theo phương án được phê duyệt Các quyđịnh này đã giúp cho các địa phương có sự chủ động trong việc lựa chọn phương ánbồi thường phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội,

Nhìn chung, trong thời kỳ 1993 – 2003, chính sách thu hồi đất và bồi thường,GPMB đã có những tiến bộ nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước ta.Tuy nhiên, cơ chế bồi thường, GPMB khi Nhà nước thu hồi đất trong thời kỳ nàyvẫn còn có một số nhược điểm như sau:

Vấn đề xác định giá đất để tính bồi thường cho người bị thu hồi đất tronggiai đoạn này chưa theo một quy định hay chuẩn mực nhất quán, các quyết định vềbồi thường còn thiếu nhiều cơ sở, đặc biệt trong giai đoạn này người bị thu đất nôngnghiệp bị thiệt thòi, người bị thu đất phi nông nghiệp được hưởng lợi Thu hồi đấtnhưng không ưu tiên trả bằng đất mà chủ yếu là trả bằng tiền; nhiều trường hợpphải TĐC cho người bị thu hồi đất nhưng chưa được giải quyết thỏa đáng, điều kiệncủa các khu TĐC không bằng khu dân cư đã thu hồi

1.2/ Hệ thống văn bản pháp luật liên quan tới GPMB sau khi có luật đất đai

năm 2003

Hệ thống văn bản luật đất đai được ban hành từ năm 1993, do tình hình thực

tế thay đổi nên đến đầu năm 2003, luật đất đai sưa đổi đã được chính thức ra đờithay thế cho bộ luật năm 1998 và được lưu hành tới ngày nay Dưới đây em xin liệt

kê một số văn bản pháp luật liên quan tới việc thu hồi và đền bù đất đai:

- Luật đất đai 2003: Ngày 26/11/2003 Quốc Hội nước CHXHCN Việt Namkhóa XI kỳ họp thứ tư đã thông qua Luật Đất Đai 2003 và ngày 10/12/2003 lệnhcủa Chủ Tịch Nước đã công bố luật đất đai quy định việc quản lý và sử dụng đất.Luật đất đai năm 2003 được ban hành đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trìnhhoàn thiện dần từng bước chính sách, pháp luật về đất đai của Việt Nam, đáp ứngđược những yêu cầu mới của tiến trình đổi mới đất nước trong giai đoạn hiện nay.Luật đã quy định đầy đủ hơn các nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi

Trang 14

Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốcgia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế; việc thu hồi đất để sử dụng vào mụcđích phát triển kinh tế của đất nước và quản lý quỹ đất thu hồi; chính sách bồithường, hỗ trợ và tái định cư cho người có đất bị thu hồi để sử dụng vào mục đíchquốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế vànhững trường hợp thu hồi đất mà không bồi thường hoặc chỉ xử lý tiền sử dụng đấtcòn lại và giá trị tài sản trên đất.v.v Điều 39 luật đất đai 2003 quy định về thu hồiđất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích Quốc Gia, lợi ích côngcộng Trích dẫn luật” Nhà Nước thược hiện việc thu hồi đất, đền bù, giải phóng mặtbằng sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được công bố hoặc sau khi dự án đầu

tư có nhu cầu sử dụng đất phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơquan Nhà Nước có thẩm quyền xét duyệt…”

Để hướng dẫn cụ thể quy định của Luật đất đai năm 2003 và chính sách bồithường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốcphòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế, Chính phủban hành các nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2003 nhằm đảm bảothống nhất quản lý đất đai trên toàn quốc, đảm bảo lợi ích chính đáng cho người sửdụng đất và thay thế các văn bản pháp luật về đất đai không còn phù hợp thực tiễn

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 181/2004/NĐ-CP; Nghị định số

197/2004/NĐ-CP Triển khai thực hiện chủ trương của Đảng và chỉ đạo của Chính

phủ về đổi mới hoàn thiện chính sách bồi thường, Chính phủ đã ban hành Nghị

định số 17/2006/NĐ-CP và tiếp theo là Nghị định số 84/2007/NĐ-CP nhằm nâng

cao và hoàn thiện hơn nữa chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà

nước thu hồi đất bảo đảm phục vụ ngày càng tốt hơn yêu cầu xây dựng an ninh,

củng cố quốc phòng và tiến trình phát triển nền kinh tế của đất nước trong thời

gian tới theo mục tiêu của Đảng và Chính phủ đã xác định Tại Nghị quyết số

31-NQ/TW ngày 02 tháng 02 năm 2009 của Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung

ương khóa X, về một số mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp từ nay đến Đại hội XI của

Đảng, đã nêu rõ: “Ban hành chính sách phù hợp để giải quyết vướng mắc kéo dài

trong thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư Có chính sách

để các vùng của đất nước đều phát huy tốt nhất lợi thế của mỗi vùng” và để triển

khai thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ đã và đang chỉ đạo các Bộ, ngành

và địa phương tiếp tục nghiên cứu xây dựng hoàn thiện chính sách bồi thường khi

Nhà nước thu hồi đất trong thời gian tới, để giải quyết cơ bản những vướng mắc

trong thực hiện thu hồi đất, tăng cường cơ chế hỗ trợ bảo đảm ổn định, nâng cao

đời sống, sản xuất đối với người bị thu hồi đất, từng bước cải cách công tác tổ

chức thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng góp phần thúc đẩy tiến độ thực

hiện các dự án đầu tư và nâng cao hơn nữa nguồn lực của đất đai, hiệu quả sử

dụng đất phục vụ cho sự nghiệp xây dựng quốc phòng, củng cố an ninh và phát

triển kinh tế của đất nước Cụ thể một số văn bản pháp luật liên quan tới việc đền

bù, hỗ trợ và giải phóng mặt bằng như sau:

- Nghị định 197/2004/NĐ- CP: ban hành 03/12/2004 của Chính Phủ về bồithường, tái định cư khi Nhà Nước thu hồi đất vì mục đích an ninh, quốc phòng, lợi

Trang 15

ích Quốc Gia, lợi ích công cộng.Nghị định có một nội dung rất quan trọng là hoàncảnh sử dụng đất thế nào thì được bồi thường, hỗ trợ bao nhiêu.

- Thông tư 116/2004/TT- BTC: ban hành ngày 07/12/2004 của Bộ Tài Chínhhướng dẫn thực hiện nghị định số 197/2004/NĐ- CP.  Thông tư này hướng dẫn một

số nội dung về bồi thường đất, bồi thường tài sản, các chính sách hỗ trợ, bố trí táiđịnh cư, tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thuhồi đất đối với các trường hợp quy định tại Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhànước thu hồi đất

- Thông tư 69/2006/TT-BTC: của Bộ Tài Chính banh hành ngày 02/08/2006

về sửa đổi và bổ sung cho cho Thông Tư 116/2004/ TT- BTC hướng dẫn thực hiệnNghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗtrợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, cụ thể là sửa đổi một số điều khoảntrong đền bù và giải phóng mặt bằng

- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ Quy định

bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiệnquyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thuhồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai Nghị định này được coi là “ nhắt cát phápluật” từ khi nghị định này có hiệu lực thì tất cả các trường hợp còn tồn tại, chưa giảiquyết được trước đó thì sẽ được giải quyết theo Nghị Định 84/2007/ND- CP, còn từsau đó tất cả các trường hợp sẽ được thực hiện đúng theo Nghị Định quy định cụthể

- Nghị định 69/2009/NĐ-CP: Nghị định này bổ sung về quy hoạch, kế hoạch

sử dụng đất, thu hồi đất, giá đất, giao đất cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gấn với đất và giới hạn sử dụng đất.Trong nghị định này nêu rõ nội dung quy hoạch và sử dụng đất quốc gia, cấp tỉnh,cấp huyện, cấp xã, quy hoạch- kế hoạch sử dụng đất cho khu cộng nghệ cao, thựchiện quy hoạch- kế hoạch sử dụng đất và xác định giá đất và tiềm thuê đất trongmột số trường hợp cụ thể, hỗ trợ tái định cư và hỗ trợ đối với các lại đất cụ thể đượcquy định rấ rõ ràng trong nghị định 69/2009/NĐ-CP

Trang 16

2/ Các chính sách và nghị định về đất đai liên quan tới việc giải phóng mặt

bằng trên địa bàn Hà Nội

2.1/ Trước khi có luật đất đai 2003

Về vấn đề GPMB, ban chấp hành Đảng bộ thành phố khóa XII đã có nghịđịnh số 20/NQ-TU ngày 13/7/2000 và hội đồng nhân dân thành phố khóa XII cónghị quyết số 09/2000/NQ-H ĐND ngày 21/7/2000 về công tác GPMB trên địa bànthành phố Ngày 17/9/2001 theo quyết định số 72/2001/QĐ-UB thành phố Hà Nội

đã ủy quyền cho các quận huyện được phép phê duyệt phương án bồi thường thiệthại, hỗ trợ tái định cư cho người bị thu hồi đất

2.2/ Sau khi có luật đất đai năm 2003.

Nhìn chung thành phố thực hiện đúng các nghị định, quyết định của NhàNước về nghuyên tắc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư như đã nêu tóm tắt ở chương I.Ngoài ra thành phố còn có thêm một số quyết định để cụ thể hóa quy định về bồithường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất, từ Luật, Nghị định của Chính phủ,Thông tư của các Bộ, ngành, UBND thành phố Hà Nội đ• ban hành các văn bảnpháp quy bao gồm:

- Quyết định số 26/2005/QĐ-UB ngày 18 tháng 02 năm 2005 của UBND thành phố

Hà Nội về việc ban hành "Quy định về bồi thường, hỗ trợ, TĐC, thực hiện Nghịđịnh số 197/2004/NĐ-CP ra ngày 3 tháng 12 năm 2004 của Chính về bồi thường, hỗtrợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội”

- Quyết định số 242/2006/QĐ-UBND ngày 29 tháng 12 năm 2006 của UBND thànhphố Hà Nội về việc ban hành quy định về giá các loại đất trên địa bàn thành phố HàNội năm 2007

- Quyết định số 81/2005/QĐ-UBND ngày 3/6/2005 của UBND thành phố Hà Nội

về việc ban hành giá chuẩn xây dựng mới nhà ở, nhà tạm, vật kiến trúc trên trên địabàn thành phố Hà Nội để xác định giá trị đền bù

- Quyết định số 18/2008/QĐ-UBND ngày 29 tháng 9 năm 2008 của UBND thànhphố Hà Nội về việc ban hành "Quy định về bồi thường, hỗ trợ, TĐC trên địa bànthành phố Hà Nội”

- Quyết định số 40/2008/QĐ-UBND ngày 22 tháng 10 năm 2008 của UBND thànhphố Hà Nội về việc ban hành giá xây dựng mới nhà ở

- Quyết định 108/2009/QĐ-UBND ngày 29 tháng 9 năm 2009 Quyết định này cóhiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2009 và thay thế Quyết định số 18/2008/QĐ-UBND ngày 29/9/2008 của UBND thành phố Hà Nội về việc ban hành quy định vềbồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 17

3/ Đối tượng được đền bù trong vấn đề giải phóng mặt bằng

Đối tượng được bồi thường được quy định rất rõ ở điều 2 nghị định

4/ Vai trò của các bên tham gia trong việc đền bù và giải phóng mặt bằng

Như chúng ta biết: chủ thể tham gia vào quá trình giải phóng mặt bằng làNhà Nước, chủ dự án và người dân Chủ dự án thì luôn mong muốn dự án đượcthực thi một cách đúng tiến độ, nhanh nhất , Nhà Nước luôn cố gắng đảm bảo quyềnlợi cho người bị mất đất, người dân bị mất đất luôn mong muốn được đảm bảoquyền lợi và ổn định cuôc sống khi bị mất đất Nhưng một điều dễ hiểu rằng: khôngphải lúc nào người đân cũng được đẩm bảo quyền lợi một cách tốt nhất và cũngkhông phải bao giờ chủ dự án có thể thực hiện dự án theo đúng tiến độ Vậy quátrình giải phóng mặt bằng phụ thuộc rất lớn vào hai chủ thể đó là: chủ dự án vàngười dân Dưới đây em xin phép được phân tích một cách khái quát vai trò vàtrách nhiệm của các bên tham gia trong quá trình này:

4.1/ Nhà nước và trách nhiệm của nhà nước trong vấn đề thực thi việc giải

quyết đền bù và giải phóng mặt bằng

Một dự án dù cho Nhà Nước đầu tư hay do nhà tài trợ nước ngoài thì cũngphải theo đúng luật pháp và chính sách của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa ViệtNam Trong các văn bản pháp luật đã quy định và hướng dẫn rất rõ trách nhiệm vànhiệm vụ của cấp quản lý trong việc thực hiện công tác giải tỏa mặt bằng Các vấn

đề luôn luôn phát sinh trong thực tế, để giải quyết một cách ổn thỏa giữa các bên vàbảo vệ lợi ích cho người dân, nhà nước luôn luôn có những thay đổi và bổ sung kịpthời các chính sách Nhà Nước có trách nhiệm hướng dẫn và chỉ đạo cho các cấp,các ban ngành và các cán bộ trực tiếp thực hiện công tác giải phóng mặt bằng thựchiện đúng nhiệm vụ Nhà Nước luôn luôn đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầutrong mọi vấn đề, luôn luôn cố gắng bảo vệ lợi ích một cách tốt nhất cho người dân.Ngoài việc là một nguồn vốn quan trọng trong quá trình thực hiện dự án, Nhà Nướccòn là người dẫn dắt và ban các chính sách giúp đỡ người đân ổn định cuộc sốngkhi bị mất đất và giúp họ định hướng được nghề nghiệp Như vậy, có thể kết luậnrằng: trách nhiệm của Nhà Nước là: ổn định và bảo vệ lợi ích tốt nhất cho người dân

bị thu hồi đất, đứng trên phương diện là chủ dự án: Nhà Nước có trách nhiệm vềtiến độ thực hiện dự án

Trang 18

4.2/ Chủ dự án và trách nhiệm của chủ dự án trong vấn đề thực hiện giải

phóng và đền bù mặt bằng.

Chủ dự án có trách nhiệm thực hiện dự án sao cho dự án đúng tiến độ hoànthành, và đảm bảo được chất lượng của dự án Tuy nhiên, không phải dự án nàocũng có thể thực hiện đúng thời gian như đã quy định, có rất nhiều nguyên nhân gây

ra vấn đề dự án chậm tiến độ, tuy nhiên trong phạm vi em nghiên cứu, em xin nêu

ra nguyên nhân chính: đó là việc thỏa thuận đền bù giữa chủ dự án và người dân.Chủ dự án luôn muốn bồi thường cho người dân mức thấp nhất có thể để giảm chiphí thực hiện dự án Trong các dự án chúng ta luôn thấy hiện tượng: người dân chấpvấn chủ dự án có sự tham gia của cơ quan chức năng ở địa phương về vấn đề tiềnbồi thường Nếu chủ dự án và người dân trong cuộc họp, không đưa ra được sự thỏathuận nào thì người dân sẽ cương quyết không chịu di dời để chủ dự án lấy mặtbằng thực hiện dự án Như vậy, dự án chậm thi công do người dân không chịu didời, chủ dự án không chịu chấp nhận đề nghị của dân

4.3/ Người dân và trách nhiệm của người dân trong vấn đề đền bù và giải

phóng mặt bằng

Người dân là một yếu tố quan trọng trong khâu giải phóng mặt bằng, quátrình giải phóng nhanh hay chậm phụ thuộc rất nhiều vào ý thức và trách nhiệm củangười dân Như chúng ta biết, có rất nhiều dự án chậm thực thi do người dân khôngchịu di chuyển, có rất nhiều nguyên nhân gây ra hiện tượng đó, có thể là do sự đền

bù của chủ dự án quá thấp so với giá cả thị trường, hoặc người dân chuyển tới chỗmới không đủ điều kiện để đảm bảo được cuộc sống như trước, và cũng có thể dongười dân chưa thực sự hiểu hết các chính sách của Đảng và Nhà Nước Một khingười dân chậm trễ trong việc di dời, đồng nghĩa với quá trình thực hiện dự án bịchậm lại, nó ảnh hưởng trực tiếp tới dự án ví dụ như: làm tăng chi phí, chậm thờigian hoàn thành… Như vậy, người dân là một trong những nhân tố tác động và ảnhhưởng trực tiếp tới quá trình thực thi dự án, các cấp lãnh đạo của địa phương phảilàm thế nào để người dân thật sự hiểu và chấp nhận di dời để lấy mặt bằng thực thi

dự án

Trang 19

III/ SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH

Một chính sách dù hoàn thiện tới đâu cũng có ưu điểm và nhược điểm riêng,phù hợp với hoàn cảnh này nhưng chưa thực sự phù hợp trong hoàn cảnh khác Mặtkhác, cùng với sự tiến bộ của xã hội, nhu cầu về ăn ở, vui chơi- giải trí, và việc làmcũng ngày càng ra tăng đã tạo nên gánh nặng cho đô thị Cùng với sự phát triển củakinh tế- xã hội, cơ sở hạ tầng ngày nay cũng được quan tâm và là một trong nhữngyếu tố quan trọng để đánh giá sự phát triển của một đất nước Như vậy, để phù hợpvới sự phát triển đó, Đảng và Nhà Nước đã và đang rất quan tâm tới việc hoàn thiện

và sửa đổi các chính sách nói chung và các chính sách về đất đai nói riêng Vậy tạisao phải hoàn thiện chính sách, do sự hiểu biết có hạn, dưới đây em xin nêu ra mộtcách khái quát nhất những lý do sau:

Thứ nhất: Phù hợp với xu thế phát triển của xã hội

Như chúng ta biết: cơ sở hạ tầng là một trong những chỉ tiêu cơ bản để đánhgiá sự phát triển của một đất nước, cơ sở hạ tầng là một trong những cầu nối kinh tếgiữa các khu vực trong nước nói riêng cũng như với Thế giới bên ngoài nói chung

Cơ sở hạ tầng có phát triển, giao thông có thuận tiện…thì sự giao lưu kinh tế giữacác khu vực trong nước với nhau cũng như với nước ngoài mới trở lên đơn giản vàthuận tiện, điều này tác động trực tiếp tới tình hình kinh tế của đất nước, ảnh hưởngtrực tiếp hoặc gián tiếp tới đời sống nhân dân Một đất nước càng phát triển, cơ sở

hạ tầng càng được quan tâm

Mặt khác: Ngày nay, khi dân số ngày càng gia tăng, người dân luôn luôn có

xu hướng về các đô thị lớn để lập nghiệp thì nhu cầu về nhà ở, đất đai ngày càng giatằng Điều này tạo ra gánh nặng cho các đô thị lớn, nhưng nó phù hợp với xu thếcủa Thế Giới nói chung và của Việt Nam nói riêng

Như vậy, sự phát triển về cơ sở hạ tầng, một mặt thể hiện sự phát triển củamột đất nước, mặt khác nó phù hợp với nhu cầu phát triển chung của Thế giới hiệnnay Do đó chúng ta cần ban hành các chính sách sao cho phù hợp với tình hìnhkinh tế trong nước nhưng vẫn thúc đẩy được sự phát triển của cơ sở hạ tầng Khichúng ta nói tới một chính sách, chúng ta luôn nói tới hai mặt của chúng, không cómột chính sách nào hoàn thiện được mọi mặt Bởi vậy,việc phải thay đổi và bổ sungchính sách là một trong những vẫn đề cần thiêt và quan trọng Thay đổi chính sách

cũ, bổ sung chính sách mới sao cho phù hợp với tình hình thực tế trong nước, phùhợp với xu thế phát triển

Thứ hai: Đảm bảo và tôn trọng lợi ích của người dân và chủ dự án

Người dân và chủ dự án thường xuyên có sự xung đột về lợi ích Người dânluôn muốn có quyền lợi về bồi thường cao nhất, điều này đồng nghĩa với việc chủ

dự án phải chi thêm một khoản, điều này có nghĩa: chi phí đầu tư- xây dựng của chủ

dự án tăng lên, mà chủ dự án luôn luôn mong muốn chi phí nhỏ nhất Như vậy có sựxung đột lợi ích giữa hai bên Chúng ta thử tưởng tượng rằng: nếu không có sự quyđịnh của pháp luật về quyền lợi người dân và nghĩa vụ của chủ dự án trong việc thu

hồi đất để thực thi dự án thì dự án đó sẽ không bao giờ được xây dựng Mặt khác có

Trang 20

những trường hợp người dân trong diện giải tỏa nhưng chủ dự án không biết giảiquyết làm sao cho hợp lý và đảm bảo lợi ích hai bên

Như vậy, các chính sách hiện tại chưa giải quyết được trương hợp đó, điều

đó bắt buộc các nhà hoạch định chính sách phải nghiên cứu thực tế và đưa ra mộtgiải pháp rồi trình lên Chính Phủ, nếu giải pháp đó được thông qua thì sẽ có mộtchính sách mới ra đời hoặc bổ sung cho chính sách hiện thời để giải quyết vấn đềtrên Khi giải pháp đó được thực hiện, nó đồng nghĩa với việc lợi ích của người dân

và chủ dự án được đảm bảo

Thứ ba: Gỉai quyết được vấn đề Chính sách “chạy sau” thực tế

Sau hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam có những bước tiến dài trong các linhvực kinh tế- y tế- giao thông vận tải, từ một nước nghèo chúng ta trở thành mộtnước có sản lượng gạo xuất khẩu đứng thứ ba trên thế giới, từ một nước có tỷ lệ trẻ

mù chữ cao thành một nước có tỷ lệ trẻ em tới trường và được phổ cập giáo dục tớicấp phổ thông cơ sở cao….Như vậy, Đảng và Nhà Nước ta rất quan tâm tới đờisống của nhân dân, đã và đang ban hành những chính sách phù hợp với xu thế pháttriển chung

Tuy nhiên, khi nói về chinh sách phát triển đô thị- cơ sở hạ tầng, chúng takhông phù nhận những nỗ lực của của Nhà Nước trong vấn đề xây mới và cải tạo lại

cơ sở hạ tầng Nhưng chúng ta thấy có một vấn đề tồn tại rất nhiều năm trong vấn

đề xây dựng và cải tạo cơ sở hạ tầng đó là chính sách “chạy sau” thực tế Có nhữngviệc đã xảy ra, thậm chí là đang xảy ra, nhưng các cấp chính quyền và cán bộ cóliên quan không thể giải quyết nổi, không phải những người có chức năng không đủtrình độ để giải quyết vấn đề, mà là chính sách và luật chưa đề cập tới vấn đề đó.Thực tế luôn luôn thay đổi, vận động không ngừng, chính sách thì cần có thời gian

để được ban hành và ứng dụng trong thực tế, rõ rang, giữa chính sách và thực tếluôn luôn có một khỏa cách và việc hoàn thiện và bổ sung chính sách là một điềuquan trọng và cấp thiết trong việc đẩy nhanh tiến độ cải tạo và xây mới cơ sở hạtầng

Thứ tư: Gỉam tình trạng khiếu nại của người dân

Có rất nhiều nguyên nhân gây ra sự khiếu nại của người dân trong vấn đề bồithường và giải phóng mặt bằng, ví dụ như: lợi ích của người dân bị ảnh hưởng, chủ

dự án không thực hiện đúng quy định của luật đền bù và giải phóng mặt bằng màluật đất đai quy định hay chính sách bồi thường của Nhà Nước chưa thật sự phùhợp, chưa kịp thay đổi so với thực tế….Như chúng ta biết, để một chính sách đượcthực hiện cần phải trải qua một thời gian, chính sách luôn luôn có độ trễ so với thực

tế, bởi vậy một số vấn đề vướng mắc trong việc giải phóng và đền bù xảy ra thì cán

bộ quản lý dự án không thể giải quyết nổi, do luật đất đai và các chính sách hỗ trợchưa đề cập tới vấn đề này Điều này gây ra tình trạng bế tắc trong khâu giải thíchcho người dân hiểu, gây nên khiếu kiện trong người dân khi họ cho rằng lợi ích của

họ bị ảnh hưởng Như vậy, về phái người dân, họ cho rằng: quyền lợi của họ bị ảnhhưởng, về phái chủ dự án và các cấp lãnh đạo địa phuơng thì không biết giải quyết

Trang 21

chính sách nào đề cập tới đó Một lần nữa, chúng ta khẳng đinh: Nhà Nước luônluôn cố gắng bổ sung chính sách mới và thay đổi chính sách cũ, tuy nhiên do “độtrễ” của chính sách, nên nhiều khi một số vấn đề chưa được giải quyết tốt.

Như vậy, các nhà hoạch định chính sách cần phải thường xuyên bổ sungchính sách mới và sửa đổi chính sách cũ sao cho phù hợp với thực tế và tiến tớichính sách phải đi trước thực tế một bước, làm tiền đề để giải quyết vấn đề mộtcách tốt nhât, có thực hiện được như vậy, người dân mới cảm thấy lợi ích của mìnhđược đảm bảo và làm giảm đi tình trạng khiếu nạo trong dân

Vậy: đất nước càng ngày càng phát triển, theo xu hướng hòa nhập với Thế

giới, không chỉ riêng chính sách đất đai phải thường xuyên hoàn thiện mà các chinhsách thuộc các lĩnh vực khác nhau cũng phải thay đổi và bổ sung sao cho phù hợpvới thực tế trong nước và trên thế giới, luôn luôn đặt lợi ích của người dân lên hàngđầu và hài hòa lợi ích giữa các bên Việc bổ sung và thay đổi một chính sách là rấtkhó và cần nhiều thời gian, nhưng thực tế thì mọi vấn đề luôn thay đổi theo thờigian và chính sách cũng cần phải được hoàn thiện, hoàn thiện để phù hợp với thực

tế, hoàn thiện để đảm bảo tốt nhất lợi ích giữa các bên, hoàn thiện để hòa nhậpnhanh với Thế giới

Trang 22

CHƯƠNG II/ CHÍNH SÁCH VÀ THỰC HIỆN ĐỀN BÙ- GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG NHỮNG

NĂM GẦN ĐÂY

I/ CHÍNH SÁCH GIÁ CẢ LIÊN QUAN TỚI VIỆC ĐỀN BÙ VÀ GIẢI

PHÓNG MẶT BẰNG

1.1/ Một số nét liên quan tới chính sách giá đất hiện nay

Giá cả đền bù là một trong những yếu tố quyết định tới việc di dời nhanh haychậm của người dân có đất bị thu hồi Ngay trong quá trình lập kế hoạch xây dựng

dự án chủ dự án cũng đã xây dựng các phương án đền bù khác nhau Trong các vănbản pháp luật cũng đã quy định khung giá đền bù cho từng vùng và từng loại đất.Giá đất là một căn cứ quan trọng để xác định các quan hệ tài chính đất đai liên quanđến khai thác, điều tiết nguồn lợi từ đất đai, trong luật đất đai 2003 đã được quyđịnh trong điều 56: “Giá đất do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trungương quy định được công bố công khai vào ngày 01 tháng 01 hàng năm được sửdụng làm căn cứ để tính thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụngđất, tính tiền sử dụng đất và tiền thuê đất khi giao đất, cho thuê đất không thông quađấu giá quyền sử dụng đất khi giao đất không thu tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ,bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, tính tiền bồi thường đối với người có hành vi

vi phạm pháp luật về đất đai mà gây thiệt hại cho Nhà nước”

Phạm vi áp dụng giá đất do Nhà nước quy định để xác định các quan hệ

tài chính Song quan hệ tài chính đất đai lại tuỳ thuộc vào các chính sách tài

chính đất đai cụ thể, nên giá đất do Nhà nước quy định để xác định các quan hệ

tài chính cũng có những đặc thù riêng, dẫn đến có sự áp giá đất khác nhau Do

vậy, giá đất do Nhà nước quy định làm căn cứ để xác định quan hệ tài chính đất

đai quy định tại Điều 56 Luật Đất đai 2003 cần cụ thể hoá cho phù hợp với

từng chính sách tài chính đất đai cụ thể:

+ Giá đất để tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất về cơ bản là theo

giá đất do Nhà nước quy định công bố hàng năm Song để mọi người bị thu hồi

đất có thể chấp nhận mức bồi thường, trong trường hợp giá đất do Nhà nước

quy định thấp khoảng trên 20% so với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất

123 bổ sung hai phương pháp mới là: phương pháp chiết trừ và phương pháp thặng

dư Bốn phương pháp này sẽ cùng được sử dụng để xác định giá đất Bên cạnh đó,Nhà Nước cũng tính thêm cả những giá trị về mất công ăn việc làm, giá trị về mấtvăn hóa làng quê để đền bù cho người dân một cách thỏa đáng

Trang 23

1.2/ Chính sách giá cả theo loại đất và theo vùng

Tùy thuộc và sự phân hóa mà có các vùng khác nhau, mỗi vùng có một đặcđiểm, một tính chất khác nhau Bởi vậy, chúng ta không thể đánh đồng các vùng vớinhau được, phải có chính sách giá cả theo từng vùng khác nhau Có thể phân chiathành hai loại đất như sau:

+ Đất nông nghiệp

+ Đất phi nông nghiệp

Dưới đây là một số khung giá đất năm 2009 ở một số địa phương do ủy bannhân dân cấp tỉnh quy định như sau:

1.2 1/ Đất nông nghiệp

Việc quy định giá đất nông nghiệp được thực hiện theo 3 vùng: đồng bằng,trung du, miền núi và theo vị trí đất trong từng xã, phường, thị trấn 62/63 tỉnh quyđịnh giá các loại đất nông nghiệp nằm trong Khung giá các loại đất do Chính phủquy định tại Nghị định số 123/2007/NĐ-CP Cụ thể như sau:

1.2.1.1/Đất trồng cây hàng năm:

Giá đất trồng cây hàng năm bình quân đối với mức giá cao nhất quy địnhtrong Bảng giá đất của 63 tỉnh là 80.680 đồng/m2, năm 2008 là 70.590 đồng/m2.Trong đó:

Bảng 1: Gía đất cây trồng hàng năm

- Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long 110.710 16.350

Nguồn: Sở Tài Nguyên Môi Trường TP Hà Nội

Vùng Đông Nam Bộ có mức giá đất trồng cây hàng năm cao nhất là 131.200đồng/m2 Tiếp đó, vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (117.680 đồng/m2) Vùng TâyNguyên có mức giá đất trồng cây hàng năm thấp nhất, từ 2.400 - 26.800 đồng/m2

Trang 24

1.2.1.2 / Đất trồng cây lâu năm:

Bình quân mức giá đất trồng cây lâu năm cao nhất quy định trong Bảng giá đấtcủa 63 tỉnh là 84.830 đồng/m2, tăng 14,53% so với năm 2008 và bằng 53,69% so vớimức giá tối đa của Khung giá đất Trong đó:

Bảng 2: Gía đất cây trồng lâu năm

- Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long 124.310 19.600

Nguồn: Sở Tài Nguyên Môi Trường TP Hà Nội

Vùng Đông Nam Bộ có mức giá đất trồng cây lâu năm cao nhất của là129.500 đồng/m2, bằng 81,96% so với mức giá tối đa của Khung giá đất Tiếp đó,vùng Đồng bằng sông Cửu Long (124.310 đồng/m2), Vùng Tây Nguyên có mức giáđất trồng cây lâu năm thấp nhất, từ 2.160 - 22.590 đồng/m2

1.2.1.3/ Các loại đất nông nghiệp khác còn lại:

Các loại đất nông nghiệp còn lại bao gồm đất rừng sản xuất, đất nuôi trồngthủy sản, đất làm muối Do phạm vi nghiên cứu của đề tài hẹp, nên em xin phépkhông đê cập tới giá đất cảu các loại đất trên

1.2.2/ Đất phi nông nghiệp

Nói đến đất phi nông nghiệp chúng ta nói đến một số laoij đất như sau: đất ởtại nông thôn, đất ở tại đô thị, và đất sản suất kinh doanh phi nông nghiệp Có lẽ đây

sẽ là những loại đất mà em xin đề cập chi tiết hơn vì nó là yếu tố ảnh hưởng rất tớiquá trình chính sách giá đền bù

1.2.2.1/ Đất ở tại nông thôn:

-Gía đất ở nông thôn cũng còn phụ thuộc và vị thế của mảnh đất đó.Ví dụ giáđất ở tại nông thôn thuộc các vị trí ven các trục đường giao thông chính, khu dulịch, thương mại, khu công nghiệp: Bình quân mức giá đất ở cao nhất là 3.334.220đồng/m2.Trong đó:

Trang 25

Bảng 3: Gía đất ở khu vực nông thôn thuộc trục đường chính, khu du lịch

- Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long 3.870.000 101.800

Nguồn: Sở Tài Nguyên Môi Trường TP Hà Nội

Vùng Đồng bằng Bắc Bộ có mức giá đất ở tại nông thôn cao nhất tại các vịtrí trên (4.671.430 đồng/m2), tiếp đến là vùng Đồng bằng Sông Cửu Long(3.870.000 đồng/m2), vùng Miền núi và Trung du Bắc Bộ (3.067.220 đồng/m2) vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ là vùng có mức giá thấp nhất (từ 46.500 -1.950.000 đồng/m2) Vùng Đồng bằng Bắc Bộ có giá cao nhất cũng đễ hiểu bởi vìkhu vực đó là khu vực trung tâm kinh tế- xã hội

- Giá đất ở tại nông thôn tại các vị trí còn lại: Bình quân mức giá cao nhất là1.164.660 đồng/m2 Trong đó:

Bảng 4: Gía đất ở khu vực nông thôn thuộc các vùng còn lại

- Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long 878.560 68.310

Nguồn: Sở Tài Nguyên Môi Trường TP Hà Nội

Vùng Đồng bằng Bắc Bộ có mức giá đất ở tại nông thôn thuộc các vị trí cònlại cao nhất (1.680.000 đồng/m2, tiếp đến là vùng Đông Nam Bộ (1.161.600đồng/m2) vùng Tây Nguyên có mức giá thấp nhất, từ 9.380 - 862.500 đồng/m2

1.2.2.3/ Đất ở tại đô thị:

Phần lớn các tỉnh điều chỉnh tăng giá đất ở tại những khu vực nằm trongdiện điều chỉnh quy hoạch, và những khu vực mới được Nhà nước đầu tư nâng cấpkết cấu hạ tầng, công trình phúc lợi công cộng

- Đối với đô thị loại I: Bình quân mức giá cao nhất của đô thị loại I là25.700.000 đồng/m2

Trang 26

- Đối với đô thị loại II: Bình quân mức giá đất ở cao nhất của đô thị loại II là19.033.330 đồng/m2 Trong đó

- Đối với đô thị loại III là 12.565.290 đồng/m2

- Đối với đô thị loại IV là 7.195.790 đồng/m2

- Đối với đô thị loại V là 4.671.740 đồng/m2

1.2.2.4/ Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp:

Phần lớn các tỉnh quy định giá đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệpbằng khoảng 60 - 80% giá đất ở cùng vị trí

Do dặc tính khác nhau ở mỗi vùng, mỗi loại đất nên đã tạo ra giá đền bùkhác nhau ở mỗi vùng và mỗi địa phương Nhà Nước cũng có quy định khung giáđất cho từng vùng và từng loại đất

1.3/ Chính sách về việc giải phóng và đền bù mặt bằng của Nhà Nước.

Có thể nói chính sách giá cả tác động rất lớn tới việc dời đi của người dântrong diện giải tỏa, người dân thì mong muốn được bồi thường bằng với giá đất trênthị trường, chủ dự án thì muốn bồi thường theo khung giá của Nhà Nước quy định.Bởi vậy có sự mâu thuẫn giữa chủ dự án và người dân Để giải quyết mâu thuẫn đó

và giúp người dân định hướng được đúng nghề nghiệp sau khi di dời, hiện nayĐảng và Nhà Nước có một số chính sách giúp người dân ổn định nhanh cuôc sống.Ngay trong luật đất đai năm 1988 việc Nhà Nước thu hồi đất đã được quy địnhtrong Điều 14 là Nhà Nước thu hồi toàn bộ hoặc một phần đất đã giao sử dụng,nhưng quy định về hỗ trợ di chuyển, tái định cư, đào tạo nghề, chuyển đổi việc làmkhi Nhà nước thu hồi đất thì chưa được thể chế vào luật Đất đai Qua nhiều năm cảicách thì hiện nay luật đất đai đã và đang tiếp tục bổ sung cá chính sách về lao động,việc làm, và hỗ trợ tái định cư cho người dân Dưới đây em xin đề cập tới haichính sách đó là: chính sách sử dụng lao động và chính sách hỗ trợ tái định cư chongười dân mất đất

Trang 27

Dưới đây em xin liệt kê lại một cách ngắn gọn một số văn bản quy phạm pháp luậthiện hành quy định về chính sách hỗ trợ di chuyển, tái định cư, đào tạo nghề,chuyển đổi việc làm khi nhà nước thu hồi đất như sau:

- Luật Đất đai năm 2003

đã là điều khó đối với các nhà hoạch định chính sách Nhưng có lẽ vấn đề giải quyếtviệc làm cho người lao động mất đất, mất nghề để xây dựng một dự án lại khó khănhơn rất nhiều

Một trong những hiện tượng nổi trội trong những năm vừa qua là: một sốvùng, khi người dân phải di dời khỏi mảnh đất của mình đồng nghĩa với việc họkhông còn nghề nghiệp để ổn định cuộc sống, điều này thường xảy ra đối với nhữngngười nông dân” hai suơng một nắng”-“ bán mặt cho đất- bán lưng cho trời”, họquanh năm làm ăn vất vả, chưa bao giờ họ được cầm trên tay một khoản tiền lớn,bởi vậy khi họ được đền bù, họ đã tiêu xài khoản tiền đấy một cách lãng phí vàkhông có một kế hoạch nào cho tương lai của họ và gia đình họ Như vậy: họ từnhững người có nghề thành những người thất nghiệp, tạo ra gánh nặng cho xã hội,nguy cơ tệ ạn xã hội ra tăng Nhận ra vấn đền trên Đảng và Nhà Nước đã có một sốchính sách như: yêu cầu sử dụng lao động tại chính địa phương để làm tại các dự ántrên chính mảnh đất đó Hoặc chính sách dạy nghề cho người dân bị mất đất mà họkhông có khả năng tái tạo lại cuộc sống

Chính sách này được thông qua tại hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hànhTrung ương (khoá X) 05/08/2008 đã ra Nghị quyết số 26-NQ/T.Ư về nông nghiệp,nông dân, nông thôn Nghị quyết số 26 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa

IX đã nêu rõ: “Bảo đảm cho người bị thu hồi đất đến chỗ ở mới có điều kiện phát

triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ” Ngay tại buổi báo cáo tại kỳ họp thứ 10 Quốc

Hội khóa XI( 17/10/2006) đã nêu rõ chủ trương của Chính Phủ như sau : “Chú

trọng đào tạo nghề, tạo việc làm cho lao động nông thôn; tiếp tục hỗ trợ thích hợp cho người dân ở những nơi Nhà nước đã thu hồi đất để sớm ổn định cuộc

Trang 28

sống; kiểm tra chặt chẽ các dự án tái định cư bảo đảm cuộc sống của dân khi quyết định thu hồi đất”

Như vậy dù ít hay nhiều Đảng và Nhà Nước đã và đang chú trọng tới vấn đề

hỗ trợ và giải quyết việc làm cho người dân bị mất đất do quá trình thực hiện dự áncủa địa phương Những chính sách này góp phần thúc đẩy quá trình giải phóng mặtbằng, ổn định đời sống nhân dân và giảm tỷ lệ tệ nạn xã hội trong địa phương

1.3.2/ Chính sách hỗ trợ và tái định cư cho người dân bị mất đất

Quan điểm và chủ trương, chỉ đạo của Đảng trong công tác thu hồi đất và hỗtrợ cho người dân mất đất được quy định ngay từ luật đất đai 1993 và luật 1998trong nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 1998 Đến năm 2003 Luậtđất đai được Quốc hội thông qua, đã thể chế đầy đủ hơn về các nguyên tắc bồithường, hỗ trợ và cả tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; để hướng dẫn thực hiệnchính sách, ngày 03 tháng 12 năm 2004 Chính phủ đã ban hành Nghị định số197/2004/NĐ-CP về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất Tuynhiên, trong quá trình triển khai thực hiện các chính sách về hỗ trợ di chuyển, tái định

cư khi Nhà Nước thu hồi đất vẫn còn những khó khăn và vướng mắc Do đó, Chínhphủ đã tiếp tục sửa đổi, bổ sung hoàn thiện thêm chính sách bồi thường khi NhàNước thu hồi đất trong Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006,Nghị định số 84/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ và Nghị định số69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quyhoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã từng bướckhắc phục, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong qúa trình thực hiện thu hồi đất đểphục vụ phát triển kinh tế - xã hội

Ngày đăng: 19/06/2023, 09:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w