CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM CỦA KHU DU LỊCH SINH THÁI VĨNH HƯNG 1 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM CỦA KHU DU LỊCH SINH[.]
Trang 1CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH
SÁCH SẢN PHẨM CỦA KHU DU LỊCH SINH THÁI VĨNH HƯNG
1.1 Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
Từ khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức Thương mại thếgiới WTO, đất nước ngày càng là điểm đến nổi tiếng của thế giới Năm 2007 du lịchđóng góp 4,5% trong tổng sản phẩm quốc nội Ngày càng có nhiều dự án đầu tư trựctiếp nước ngoài đổ vào ngành du lịch Sau các ngành công nghiệp nặng và phát triển
đô thị, đầu tư nước ngoài hầu hết đã được tập trung vào du lịch Việt Nam có đầy đủcác yếu tố để phát triển ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn với tiềm năng
du lịch phong phú và đa dạng Trong báo cáo quý 2/2011 về ngành du lịch Việt Nam,BMI – tổ chức phân tích, đánh giá độ tín nhiệm và tủi ro của các thị trường trên toàncầu cho rằng lượng khách du lịch đến Việt Nam trong năm 2010 tăng 40% so với nămtrước, Việt Nam đã trở thành thị trường du lịch hoạt động tốt nhất trong khu vực.Doanh thu của ngành du lịch Việt Nam năm 2009 đạt từ 68.000 đến 70.000 tỷ đồng.Theo dự báo của tổng cục du lịch Việt Nam, năm 2015 ngành du lịch Việt Nam sẽ thuhút 7-8 triệu lượt khách quốc tế, 32-35 triệu khách nội địa, con số này tương ứng vớinăm 2020 là 11-12 triệu lượt khách quốc tế, 45- 48 triệu khách nội địa Doanh thu dulịch sẽ đạt 18-19 tỷ USD năm 2020
Hà Nội là trung tâm kinh tế văn hóa lớn của cả nước với rất nhiều nguồn tàinguyên phát triển du lịch Trong những năm qua, Hà Nội đã diễn ra hàng loạt các sựkiện kinh tế văn hóa có quy mô lớn Đặc biệt là năm 2010, Hà Nội diễn ra đại lễ kỷniệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội Vì vậy trong năm 2010 khách quốc tế vào ViệtNam du lịch từ 5,5 đến 6 triệu lượt người, khách nội địa từ 25 – 26 triệu lượt người,thu nhập du lịch đạt 4 đến 4,5 tỷ đồng Nhu cầu của khách tăng đồng nghĩa với việcyêu cầu về chất lượng dịch vụ cũng tăng và sự cạnh tranh để thu hút khách giữa cácdoanh nghiệp ngày càng gay gắt Các doanh nghiệp có nhiều hình thức để cạnh tranhnhau Vì vậy, chính sách sản phẩm là một trong những yếu tố quan trọng nhất đem lại
sự thành công cho doanh nghiệp, nó được coi là xương sống của cả chiến lược kinhdoanh và chiến lược marketing của bất kỳ doanh nghiệp nào
Để phát triển kinh doanh du lịch, đòi hỏi các doanh nghiệp phải cung cấp ra thịtrường những sản phẩm phù hợp và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng bằng cách thuhút các nguồn tài nguyên để làm phong phú thêm sản phẩm của mình Tuy nhiên, việc
ra các quyết định về sản phẩm không phải là một điều đơn giản Sản phẩm mang tínhchất vô hình không cụ thể, dễ sao chép bắt trước và nó cũng mang tính không đồngnhất, sản phẩm du lịch chủ yếu là dịch vụ như dịch vụ vận chuyển, lưu trú, ăn uống,vui chơi giải trí và các dịch vụ bổ sung khác nên nó không thể tồn kho,dự trữ được và
Trang 2rất dễ bị hư hỏng vì vậy mà khách hàng không thể kiểm tra chất lượng sản phẩm trướckhi mua, gây khó khăn cho việc lựa chọn sản phẩm Sự phân bổ của các vùng miềnkhác nhau thì thị trường du lịch có những nhu cầu, những yếu tố du lịch khác nhau.Mặt khác thị trường du lịch phụ thuộc rất nhiều vào sự biến đổi kinh tế, tài chính củanền kinh tế thế giới nói chung cũng như du lịch của từng nước nói riêng Thị trường dulịch luôn có sự cạnh tranh gay gắt, luôn biến đổi không ngừng nó có sự phân hóa nhưcác ngành khác, nó tùy thuộc vào nhu cầu của từng người và nhu cầu có thể thay đổiđáp ứng túi tiền Yêu cầu đặt ra đối với các doanh nghiệp kinh doanh du lịch là cầnphải có sự nghiên cứu, phân tích thị trường cũng như các yếu tố khác một cách kỹlưỡng để có những quyết định phù hợp nhằm hoàn thiện chính sách sản phẩm củamình, đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, tăng khả năng cạnh tranh của mình và gópphần vào lợi ích chung của toàn xã hội
Chính vì vậy mà chính sách sản phẩm rất quan trọng, là cơ sở để xác địnhphương hướng đầu tư, thiết kế sản phẩm sao cho phù hợp với thị hiếu của khách hàng,hạn chế rủi ro cũng như chỉ đạo các chiến lược kinh doanh khác nhau liên quan đếnsản phẩm
Là một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mới bước vào hoạt động từ năm 2008,một doanh nghiệp còn non trẻ Khu du lịch sinh thái Vĩnh Hưng cũng như nhiều doanhnghiệp khác vấp phải sự cạnh tranh vô cùng khốc liệt của các doanh nghiệp kinhdoanh lâu năm và đã có những uy tín vị thế trên thị trường, được khách hàng biết đến
và tin tưởng Điều quan trọng của doanh nghiệp là làm sao thu hút được sự quan tâm
và thuyết phục khách hàng sử dụng dịch vụ của mình là điều mà các nhà quản trị đangbăn khoăn và muốn tìm ra được các chính sách hợp lý Doanh nghiệp đang cố gắngtừng bước hoàn thiện cơ sở vật chất cũng như chính sách sản phẩm của mình để có thểcạnh tranh với các đối thủ, thu hút được sự chú ý của khách hàng Trong quá trình thựctập tại doanh nghiệp em nhận thấy rằng chính sách sản phẩm của doanh nghiệp về cơbản đã đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, nhưng sản phẩm của doanh nghiệp chưa
có tính khác biệt và danh mục sản phẩm để khách hàng lựa chọn vẫn còn một sốnhững hạn chế chưa thể thỏa mãn tối đa yêu cầu của khách hàng Khách hàng thì cónhu cầu ngày càng cao nên doanh nghiệp cũng đang rất chú trọng vào việc nghiên cứuthị trường và phát triển các sản phẩm dịch vụ của mình sao cho ngày càng phong phú
và đa dạng bắt kịp với sự biến đổi không ngừng của thị trường Doanh nghiệp cũngđang cố gắng xây dựng chính sách sản phẩm sao cho hợp lý để doanh nghiệp có thểtồn tại và phát triển Bên cạnh những điều mà doanh nghiệp đã đạt được thì vẫn cònkhông ít những vấn đề tồn tại trong việc thu hút khách và xây dựng một chính sách sảnphẩm hoàn chỉnh Hiện tại thì chưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề này, nên việcnghiên cứu vấn đề này là rất cần thiết cho doanh nghiệp Nhận thức được vấn đề này
Trang 3trong thời gian thực tập tại Khu du lịch sinh thái Vĩnh Hưng em chọn đề tài nghiên cứu
về chính sách sản phẩm làm vấn đề nghiên cứu cho luận văn của mình Dựa trên các
cơ sở lý luận đã được học và quá trình thực tế thực tập tại doanh nghiệp em làm đề tàinày để đề ra một số giải pháp hoàn thiện chính sách sản phẩm cho doanh nghiệp Từ
đó có thể khẳng định vấn đề nghiên cứu của đề tài “ Giải pháp hoàn thiện chính sáchsản phẩm của Khu du lịch sinh thái Vĩnh Hưng” là cần thiết và có ý nghĩa lý luận thựctiễn cao
1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài
Xuất phát từ tính cấp thiết của vấn đề đã nêu ở trên, chính sách sản phẩm là khôngthể thiếu cho bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn hoạt động tốt Nhu cầu của thị trường
là căn cứ quan trọng để các nhà quản trị xây dựng chính sách sản phẩm, xác định đượckhông gian và thời gian nào nên sản xuất ra cái gì để đáp lại nhu cầu của thị trường Sựthỏa mãn của khách hàng sẽ là một việc tốt cho việc mở rộng hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp, quảng bá rộng rãi hình ảnh của Khu du lịch tới các đối tượng kháchhàng và có được những sản phẩm đáp ứng lại sự trông đợi của khách hàng Đặc biệttrong ngành kinh doanh dịch vụ du lịch lại mang tính chất thời điểm thời vụ nên cầnphải xác định rõ được nhu cầu và chu kỳ sống của sản phẩm để từ đó để có những sảnphẩm mới, biến đổi để thu hút tập khách hàng mục tiêu của mình.Khu du lịch sinh tháiVĩnh Hưng kinh doanh là ăn uống và vui chơi giải trí càng cần phải có một chính sáchsản phẩm phù hợp để thu hút được khách hàng, tạo ra được những nét mới sáng tạo vàđộc đáo khác biệt đối với các sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh Vì vậy vấn đềnghiên cứu được đặt ra trong đề tài “ Giải pháp hoàn thiện chính sách sản phẩm củaKhu du lịch sinh thái Vĩnh Hưng” là chính sách sản phẩm, nhu cầu và xu hướng pháttriển của đoạn thị trường mà doanh nghiệp hướng tới, góp phần hoàn thiện chính sáchsản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh doanh cũng như tăng sức cạnh tranh cho doanhnghiệp
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu là xây dựng hệ thống giải pháp mang tính khả thi nhằm hoànthiện chính sách sản phẩm của Khu du lịch sinh thái Vĩnh Hưng Từ mục tiêu trên này
có thể đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể là:
- Tập hợp và hệ thống hóa các nội dung cơ sở lý luận để xây dựng chính sách sảnphẩm
Các nội dung đó bao gồm: xác định danh mục sản phẩm, chu kỳ sống của doanhnghiệp, phát triến sản phẩm mới và mối quan hệ giữa chính sách sản phẩm với một sốchính sách marketing khác trong Marketing-Mix Đó là những lý luận cơ bản để làmcăn cứ xây dựng một chính sách marketing hoàn chỉnh, không chỉ dừng lại ở lý thuyết
mà còn áp dụng vào thực tế của doanh nghiệp Căn cứ vào tình hình thực tế tại mỗi
Trang 4một doanh nghiệp mà việc áp dụng các nội dung sẽ khác nhau, có sự biến đổi sao chophù hợp với bản thân và mục đích phát triển của mỗi một doanh nghiệp Đề tài hoànthành sẽ làm rõ được sản phẩm của doanh nghiệp cần bổ sung những và sửa đổi nhưthế nào cho phù hợp, có những kiến nghị và đề xuất với các cơ sở ban ngành để doanhnghiệp có được một chính sách sản phẩm hoàn thiện đáp ứng lại được sự trông mongcủa khách hàng hiện tại cũng như khách hàng tiềm năng, đối tượng mà doanh nghiệpmuốn hướng tới.
- Khảo sát đánh giá thực trạng về chính sách sản phẩm tại Khu du lịch sinh tháiVĩnh Hưng thông qua nguồn tài liệu sơ cấp và thứ cấp có liên quan.Trên cơ sở kết hợpphân tích, đánh giá thực trạng trong quá trình hoạt động và thực hiện chính sách sảnphẩm tại Khu du lịch sinh thái Vĩnh Hưng, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế để làm cơ
sở cho việc hoàn thiện chính sách sản phẩm của Khu du lịch sinh thái Vĩnh Hưngtrong thời gian tới Đồng thời nó cũng là những căn cứ quan trọng để doanh nghiệpxây dựng chiến lược kinh doanh cho hoạt động kinh doanh của mình
- Trên cơ sở những ưu nhược điểm và nguyên nhân của những ưu nhược điểm đó,
đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách sản phẩm một cách khả thi để thuhút khách Kiến nghị với cơ quan quản lý vĩ mô trong ngành du lịch và chính quyềnđịa phương để hoàn thiện chính sách sản phẩm của Khu du lịch sinh thái Vĩnh Hưngnói chung và các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội nói chung
Phạm vi về không gian: nghiên cứu địa bàn hoạt động và thị trường kinh doanhcủa Khu du lịch sinh thái Vĩnh Hưng
Phạm vi về thời gian: Khoảng thời gian lấy số liệu thực tế tại Khu du lịch sinhthái Vĩnh Hưng là số liệu năm 2009 và năm 2010 Đây là những số liệu thực tế củanhững năm gần đây với nhưng sự biến động của môi trường kinh doanh trong nước vàthế giới, phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của doanh nghiệp Các giải pháp đề xuất ápdụng cho giai đoạn 2011 - 2015
1.5 Kết cấu luận văn tốt nghiệp
Kết cấu luận văn tốt nghiệp gồm 4 chương:
Trang 5Chương 1: Tổng quan nghiên cứu giải pháp hoàn thiện chính sách sản phẩm củaKhu du lịch sinh thái Vĩnh Hưng.
Chương 2: Những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách sản phẩm trong kinh doanh
CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH SẢN
PHẨM TRONG KINH DOANH DU LỊCH 2.1 Một số khái niệm cơ bản
2.1.1 Du lịch, kinh doanh du lịch
`* Khái niệm du lịch
Trang 6Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mìnhnhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời giannhất định Khi định nghĩa về du lịch có nhiều cách tiếp cận khác nhau và phải chú ý tớibốn nhóm sau: khách du lịch; các nhà kinh doanh du lịch; chính quyền địa phương;dân cư địa phương Theo cách tiếp cận này thì du lịch những quan hệ tương hỗ nảysinh do sự tác động qua lại giữa bốn nhóm trên trong quá trình thu hút và phục vụkhách du lịch.
* Kinh doanh du lịch
Kinh doanh du lịch là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn củaquá trình hoạt động du lịch từ việc nghiên cứu nhu cầu, “sản xuất” sản phẩm đến việcthực hiện dịch vụ du lịch trên thị trường nhằm mục đích sinh lời Luật du lịch củanước ta quy định, các ngành nghề kinh doanh du lịch bao gồm:
- Kinh doanh lữ hành
- Kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch
- Kinh doanh vận chuyển khách du lịch
- Kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch
Sản phẩm du lịch là tổng hợp những thành tố khác nhau nhằm thỏa mãn chuyến
đi của khách du lịch Sản phẩm du lịch các hàng hóa dưới dạng vật chất cụ thể vànhững phần không cụ thể Như vậy, sản phẩm du lịch là sự kết hợp của những sảnphẩm vật chất cụ thể và phần không cụ thể mà khách chỉ có thể cảm nhận được sauchuyến đi
Theo cách sắp xếp của AJ BURKART và SMEDLIK được nhiều người thừanhận, sản phẩn du lịch bao gồm những phần như sau:
- Một di sản gồm các tài nguyên thiên nhiên, văn hóa, nghệ thuật, lịch sử hay côngnghệ có khả năng thu hút khách du lịch và thúc đẩy chuyến đi của họ
- Những trang bị mà bản thân chúng không phải là yếu tố gây ảnh hưởng cho mụcđích chuyến đi nhưng nếu thiếu chúng thì chuyến đi không thể thực hiện được như nơi
ăn, ở, các khu vui chơi giải trí…
- Những thuận lợi trong tiếp cận, các phương tiên chuyên chở mà du khách sẽ sử dụng
để đi đến địa điểm đã chọn, những thuận lợi này được chú ý về mặt kinh tế hơn so vớikhoảng cách về mặt địa lý
Trang 7Đặc điểm của sản phẩm du lịch: Sản phẩm du lịch mang đầy đủ đặc điểm của sảnphẩm khách sạn:
- Sản phẩm khách sạn rất đa dạng và tổng hợp, có cả vật chất và mang đầy đủ các đặcđiểm của dịch vụ Có phần do khách sạn tạo ra có phần do ngành khác tạo ra nhưngđều do khách sạn phục vụ trực tiếp để thỏa mãn nhu cầu của khách
- Khách tiêu dùng sản phẩm khách sạn có sự tiếp xúc trực tiếp với nhân viên phục Dovậy giá trị cảm nhận và việc đánh giá chúng cũng có thể khác nhau Chất lượng dịch
vụ không ổn định, mối quan hệ giữa nhân viên với khách, giữa khách với nhau có ảnhhưởng tới chất lượng dịch vụ
- Mọi sai sót trong phục vụ của nhân viên đều bị phát hiện Việc ngăn ngừa các sai sót
là vấn đề hết sức quan trọng Điều đó dẫn đến sự cần thiết phải thiết lập các tiêu chuẩnphục vụ khách
- Sản phẩm khách sạn bao gồm các hoạt động phục vụ khách diễn ra trong suốt quátrình từ khi nhận được lời yêu cầu của khách cho đến khi khách rời khỏi khách sạn
- Sản phẩm khách sạn thường ở cách xa nơi khách thường trú do vậy cần phải có hệthống phân phối thông qua các đơn vị trung gian Khách được đưa đến nơi có sảnphẩm để tiêu thụ Quá trình sản xuất ra sản phẩm và tiêu thụ được diễn ra đồng thời
- Sản phẩm khách sạn không thể sản xuất ra để lưu kho được Sản phẩm khách sạn dễ
bị hư hỏng do quan hệ cung ứng cố định và nhu cầu lại biến thiên rất nhiều Trong thờigian ngắn không thể thay đổi được lượng cung do vậy giải quyết quan hệ cung- cầu vềkhách sạn rất khó khăn
- Là khâu phục vụ trực tiếp, khách sạn phải chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩmvật chất và dịch vụ với khách Mặc dù có những sản phẩm không phải do khách sạntạo ra nhưng đôi khi khách không hài lòng chúng dẫn đến không hài lòng đối với toàn
bộ sự phục vụ của khách sạn
Ngoài những đặc điểm trên sản phẩm du lịch còn có những đặc điểm sau:
- Sản phẩm du lịch không thể bao gói, mang đến tận tay người tiêu dùng Ngược lại,khách du lịch được chuyên chở tới tận nơi mà ở đó sản phẩm du lịch sẽ được khách dulịch tiêu dùng Trước khi mua họ không được thấy sản phẩm mà chỉ được nghe nhữngthông tin về nó hoặc xem những hình ảnh minh họa đặc trưng
- Sản phẩm du lịch cơ bản là không cụ thể nên nó khá độc đáo, khách không thể kiểmtra chất lượng trước khi mua và ngay cả khi mua rồi cũng không thể hoàn trả nếukhông hài lòng
- Sản phẩm du lịch không thể sản xuất ra để lưu kho được, nó thường do nhiều đơn vịtham gia cung ứng và có sự phụ thuộc lẫn nhau
- Nhu cầu của khách đối với sản phẩm du lịch dễ thay đổi do sự biến động về tỷ giá,tình hình kinh tế, chính trị, an ninh…
Trang 8- Khách mua sản phẩm du lịch thường ít trung thành với một nhãn hiệu, từ đó gây ranhững khó khăn trong dự đoán nhu cầu; nhu cầu sản phẩm du lịch thường mang tínhmùa vụ rõ rệt.
2.1.3 Chính sách sản phẩm
* Khái niệm
Chính sách sản phẩm được hiểu là phương thức kinh doanh có hiệu quả trên cơ sởđảm bảo nhu cầu của khách hàng trên thị trường trong từng thời kỳ hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp
Dưới góc độ Marketing thì chính sách sản phẩm là tổng thể những quy tắc chỉ huyviệc tạo ra và tung sản phẩm vào thị trường để thỏa mãn nhu cầu của thị trường và thịhiếu của khách hàng trong từng thời kỳ kinh doanh của doanh nghiệp để đảm bảo việckinh doanh có hiệu quả
Dưới góc độ kinh doanh thì chính sách sản phẩm là những chủ trương của doanhnghiệp về việc hạn chế, duy trì, phát triển và mở rộng đối với các mặt hàng dịch vụnhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng với hiệu quả cao, phù hợp với các giai đoạn của chu
kỳ sản phẩm và phù hợp với khả năng của doanh nghiệp
Chính sách sản phẩm đảm bảo cho sản xuất kinh doanh đúng hướng Chính sáchsản phẩm cho biết doanh nghiệp nên sản xuất bao nhiêu loại, chủng loại sản phẩm? sốlượng là bao nhiêu? Chất lượng sản phẩm ở mức nào? Thỏa mãn tập nhu cầu củanhững tậpkhách hàng nào? Đồng thời chính sách sản phẩm còn gắn bó chặt chẽ cáckhâu của quá trình tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp nhằm mục tiêu chiến lượctổng quát Chính sách sản phẩm hợp lý thì doanh nghiệp có thể dự báo được lượngkhách cung như nhu cầu của họ để từ đó có những biện pháp phù hợp đối với quá trìnhtái sản xuất
2.2 Một số lý thuyết về chính sách sản phẩm trong kinh doanh khách sạn
2.2.1 Chu kỳ sống của sản phẩm
* Khái niệm chu kỳ sống của sản phẩm
Trang 9Chu kỳ sống của sản phẩm là một khái niệm quan trọng của Marketing, nghiên cứuchu kỳ sống của sản phẩm giúp chúng ta hiểu rõ thêm động thía của cạnh tranh Trongchu kỳ sống của sản phẩm, các doanh nghiệp thường phải thay đổi chiến lượcmarketing vài ba lần do các điều kiện như cạnh tranh, tình hình kinh tế, mà quan trọnghơn là do sản phẩm đã trải qua các giai đoạn mới của sự quan tâm và những yêu cầucủa người mua, do đó doanh nghiệp phải đề ra những chiến lược cho phù hợp với từnggiai đoạn sống của sản phẩm Sản phẩm và thị trường đều có chu kỳ sống của nó Mỗinhu cầu mới của thị trường đều tuân theo chu kỳ của nhu cầu có khả năng thanh toán
và trải qua các giai đoạn xuất hiện, phát triển nhanh dần,phát triển chậm dần rồi đạtđược chin muồi sau đó suy thoái
Chu kỳ sống của sản phẩm mô tả các giai đoạn trong lịch sử tiêu thụ của một sảnphẩm từ khi nó xuất hiện đến khi nó không bán được nữa, tương ứng với những giaiđoạn này là những cơ hội, và những vấn đề đặt ra với chiến lược marketing và khảnăng sinh lời Khi đem bán sản phẩm trên thị trường, các doanh nghiệp đều muốn sảnphẩm của mình được tiêu thụ với khối lượng lớn, thời gian lâu dài, song điều đó có đạtđược hay không nó còn tùy thuộc vào hoàn cảnh môi trường và thị trường luôn thayđổi Mong muốn đó của các doanh nghiệp chỉ có thể đạt được khi họ hiểu rõ đượcnhững diễn biến của chu kỳ sống, đặc điểm của từng giai đoạn, đồng thời điều chỉnhcác chiến lược marketing thích hợp với từng giai đoạn
Như vậy chu kỳ sống của sản phẩm được hiểu đơn giản là khoảng thời gian từ khisản phẩm được tung ra thị trường đến khi nó không bán được nữa phải rut lui khỏi thịtrường
Nhìn chung mỗi loại sản phẩm, mỗi chủng loại, mỗi nhãn hiệu đều có chu kỳ sốngdài ngắn từng giai đoạn khác nhau Song khái quát về lý thuyết thì chu kỳ sống của sảnphẩm có 4 giai đoạn: (1) Giai đoạn tung sản phẩm ra thị trường; (2) Giai đoạn pháttriển; (3) Giai đoạn chín muồi; (4) Giai đoạn suy thoái
* Các giai đoạn trong chu kỳ sống của sản phẩm
- Giai đoạn tung ra thị trường
Giai đoạn này được bắt đầu từ khi sản phẩm mới được tung ra thị trường Trong giaiđoạn này lợi nhuận âm hay thấp bởi vì mức tiêu thụ thấp, chi phí phân phối và khuyếnmại lớn, lúc này còn ít đối thủ cạnh tranh, sản phẩm chưa thất hoàn thiện, giá có xuhướng cao, các doanh nghiệp tập trung bán sản phẩm cho những khách hàng sẵn sangmua nhất, những người chấp nhận sớm sản phẩm Các chiến lược marketing trong giaiđoạn tung ra thị trường các nhà quản trị có thể sử dụng từng biến của marketing mixcao hay thấp Nếu xét ở mức độ giá và khuyến mại thì thường có 4 chiến lược sau:
Khuyến mại
Trang 10Cao Thấp
Giá
Thấp
Hình 2.1 Các chiến lược marketing khi tung sản phẩm ra thị trường
Tùy vào vị thế cạnh tranh của mình trên thị trường mà trong giai đoạn này cácdoanh nghiệp lựa chọn các chiến lược marketing cho thích hợp Chẳng hạn công ty đitiên phong trên thị trường muốn tung muốn tung sản phẩm ra thị trường để nhằm cóđược lợi nhuận nhanh thì nó có thể hi sinh thu nhập lâu dài để giữ lấy mối lợi trướcmắt, hơn nữa họ cũng biết rằng họ không thể xâm nhập tất cả thị trường mà phải cóchọn lọc, họ phải phân tích tiềm năng sinh lời của từng đoạn thị trường và biết chắcchắn rằng sớm hay muộn thì các đối thủ cạnh tranh cũng nhảy vào hạ giá, đồng thờilàm giảm thị phần của họ
- Giai đoạn phát triển
Sản phẩm du lịch khi bước vào giai đoạn phát triển, nó trở nên phổ biến hơn và hấpdẫn đông đảo du khách hơn, nó được đánh dấu bằng mức tiêu thụ nhanh, lợi nhuậntăng lên nhanh chóng, các đối thủ cạnh tranh xâm nhập vào thị trường vì bị hấp dẫn vì
cơ hội mở rộng kinh doanh và lợi nhuận cao, họ đưa ra những tính chất mới của sảnphẩm và mở rộng mạng lưới phân phối Giá lúc này có thể giữ nguyên hoặc giảmxuống chút ít do nhu cầu tăng nhanh Các chiến lược marketing lúc này có xu hướnggiữ nguyên hay gia tăng khuyến mại để đối phó với cạnh tranh Lợi nhuận tăng nhanhmặc dù chi phí khuyến mại có thể tăng, nhưng do khối lượng tiêu thụ tăng nhanh hơnnên chi phí khuyến mại bình quân có thể giảm xuống Để kéo dài thời gian và mức độtăng trưởng càng lâu bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu, các doanh nghiệp khách sạn, dulịch có thể sử dụng các chiến lược như: nâng cao chất lượng dịch vụ, bổ sung thêmdịch vụ cho các sản phẩm, chẳng hạn như nâng cao chất lượng các phương tiện chuyênchở trong các tour du lịch, hay bổ sung thêm các dịch vụ…; xâm nhập vào các đoạn thịtrường mới, mở rộng phạm vi và xây dựng các kênh phân phối mới, chuyển mức độquảng cáo từ biết sang ưa thích sản phẩm, giảm giá để thu hút những người mua nhạycảm với giá song vẫn giữ chất lượng dịch vụ…
- Giai đoạn chín muồi
Đặc điểm lớn nhất của giai đoạn này là tuy tiêu thụ vẫn có thể ở mức cao, song tốc
độ tăng trưởng chậm dần lại một số người mua mới vẫn có thể gia nhập thị trường, sau
đó là ổn định mức tiêu thụ không thay đổi là do mức bão hòa và sau đó bắt đầu suy
Chiến lược hớt vángnhanh
Trang 11giảm Ở đầu giai đoạn các sản phẩm đã xâm nhập tới đưa vào thị trường mà doanhnghiệp nhằm vào, các doanh nghiệp thì cạnh tranh ráo riết hơn về giá cả và chất lượngdịch vụ, các doanh nghiệp bắt đầu đua nhau hạ giá, quảng cáo tăng, chi phí cho nghiêncứu cải tiến, phát triển sản phẩm tăng… Trong giai đoạn này các doanh nghiệp có thể
sử dụng một số chiến lược sau:
● Cải biến thị trường, người bán cố gắng tăng mức tiêu thụ của sản phẩm hiện cóbằng hai cách là tìm thêm những người sử dụng mới, khuyến khích họ đi du lịch vàkhuyến khích những khách hàng hiện có tiêu dùng nhiều hơn dịch vụ mà mình cungcấp
● Cải biến sản phẩm, trong giai đoạn chín muồi khi mức độ tăng trưởng giảm sút cácdoanh nghiệp cần nghiên cứu để cải tiến sản phẩm của mình bằng các cách như hoànthiện thêm sản phẩm du lịch hiện có, tăng chất lượng các dịch vụ cung ứng cho kháchhàng
● Cải biến các yếu tố của marketing mix bằng cách có thể cải biến một hay nhiềuthành phần của marketing mix như: giảm giá, soạn lại chương trình quảng cáo có hiệuquả hơn, mang các chương trình du lịch bán tận tay khách tại các cơ quan trườnghọc… những nơi đông dân cư, giảm mạnh giá cho đoàn đông, sử dụng nhiều dịch vụ
để kích thích tiêu thụ, cải tiến dịch vụ để việc phục vụ du khách được nhanh chóng,chu đáo hơn…
- Giai đoạn suy thoái
Các chương trình du lịch, các sản phẩm du lịch khác nhau có thể có giai đoạn suythoái nhanh hay chậm khác nhau, song giống nhau ở chỗ trước sau gì cũng bước vàogiai đoạn này Các doanh nghiệp cần nhận thức rõ để có các chiến lược Marketingthích hợp Trong giai đoạn này mức tiêu thụ giảm nhanh do bán được sản phẩm cácdoanh nghiệp đua nhau giảm giá Việc giảm giá này làm cho lợi nhuận giảm đi nhanhchóng Mức tiêu thụ giảm có thể do nhiều lý do như: nhu cầu thay đổi, cạnh tranh giatăng, sự tiến bộ của công nghệ, dư thừa nhiều trong cung Lúc này nhiều doanh nghiệprút lui khỏi thị trường Các doanh nghiệp có thể thu hẹp lại thị trường của mình, thuhẹp danh mục sản phẩm, cắt giảm khuyến mại, quảng cáo, giảm giá bán hơn nữa Nhìnchung doanh nghiệp không nên giữ lại các sản phẩm yếu kém, song trong một sốtrường hợp vẫn cần phải giữ lại hoặc là do cần thiết để tiêu thụ các sản phẩm khác,hoặc là do doanh nghiệp cho rằng một chu kỳ tăng trưởng mới sắp bắt đầu và khi đódoanh nghiệp sẽ có lợi, tuy nhiên việc này phải hết sức thận trọng
Nhìn chung trong giai đoạn này, các doanh nghiệp phải quyết định 3 vấn đề cơ bảnsau:
● Phát hiện những sản phẩm yếu kém bằng cách rà soát lại sản phẩm trên cơ sởcác ý kiến của các đại diện bán hàng, các nhân viên Marketing, bộ phận phân tích
Trang 12nghiên cứu và phát triển, đánh giá tài chính… để phân tích thị phần, chỉ tiêu tiêu thụ,mức chi phí và khả năng sinh lời của sản phẩm.
● Xác định chiến lược Marketing, các doanh nghiệp phải quyết định xem cónên tiếp tục duy trì nó hay loại bỏ Để có quyết định này doanh nghiệp cần xem xét xuthế của ngành và vị thế của mình trong ngành để quyết định
● Khi doanh nghiệp quyết định loại bỏ, thì bước tiếp theo là cách loại bỏ nhưthế nào, hoặc là chuyển lại cho các đối tác, hoặc là phải loại bỏ nhanh
Cũng như các hàng hóa khác, không phải sản phẩm du lịch nào cũng có chu kỳ sốngtrải qua cả 4 giai đoạn Có những điểm hấp dẫn du lịch mà thời gian chín muồi của nótồn tại rất lâu, song cũng có những nơi lại không bao giờ vượt sang được giai đoạnphát triển sự phát triển của thị trường tùy thuộc vào diễn biến của mức cầu nếu nóthỏa mãn một số nhu cầu nào đó, nó sẽ gặp phải sự cạnh tranh từ các sản phẩm tương
tự hay thay thế Để tồn tại, các sản phẩm du lịch phải thường xuyên được cải tiến vàthay đổi hình ảnh Chu kỳ sống của sản phẩm thường ngắn hơn chu kỳ sống của mộtnhãn hiệu và nó thường bao gồm nhiều thế hệ sản phẩm được cải tiến về công nghệ
2.2.2 Xác định danh mục sản phẩm
Những sản phẩm, dịch vụ khác nhau của danh mục sản phẩm của doanh nghiệp tácđộng lẫn nhau theo nghĩa tự cạnh tranh, nhưng cũng bổ sung cho nhau, do vậy việc xácđịnh quy mô của danh mục sản phẩm là một nội dung quan trọng của chính sách sảnphẩm Các doanh nghiệp ngày nay không kinh doanh một loại sản phẩm mà thôngthường nó gồm rất nhiều sản phẩm, dịch vụ khác nhau tập hợp thành một danh mụcsản phẩm
Danh mục sản phẩm là tập hợp tất cả các nhóm chủng loại sản phẩm và các sảnphẩm, dịch vụ cụ thể mà người bán cụ thể đem chào bán cho người mua, còn chủngloại sản phẩm là nhóm các sản phẩm có liên hệ mật thiết với nhau, có thể là do giốngnhau về chức năng hay do chúng thỏa mãn cùng bậc nhu cầu, được sử dụng cùngnhau, được bán tới cùng nhóm khách hàng, sử dụng cùng loại trung gian hoặc đượcbán với cùng một dãy giá
Danh mục sản phẩm của một doanh nghiệp được thể hiện qua bốn thông số đặctrưng: bề rộng, bề sâu , chiều dài và mức độ hài hòa:
- Bề rộng của danh mục sản phẩm là tổng số các nhóm chủng loại sản phẩm do doanhnghiệp cung cấp ra thị trường
- Bề sâu của danh mục sản phẩm là số lượng các sản phẩm khác nhau trong cùng mộtchủng loại ( hay có thể xác định bằng số lượng sản phẩm trung bình trong mỗi chủngloại)
- Chiều dài hay mức độ phong phú của danh mục sản phẩm là tổng các sản phẩm củatất cả các chủng loại trong danh mục sản phẩm của doanh nghiệp
Trang 13- Mức độ hài hòa, tương thích của danh mục sản phẩm phản ánh sự gần gũi, giốngnhau giữa các sản phẩm và các chủng loại khác nhau xét theo góc độ mục đích sửdụng cuối cùng, hoặc được sản xuất ra từ những yếu tố sản xuất giống nhau hay nhữngtiêu chuẩn nào đó.
Bốn thông số đặc trưng cho danh mục sản phẩm sẽ giúp doanh nghiệp xác định đượcchính sách sản phẩm của mình Doanh nghiệp có thể mở rộng hoạt động sản xuất kinhdoanh của mình bằng cách: bổ sung thêm những chủng loại sản phẩm dịch vụ mới,tăng mức độ phong phú của những chủng loại sản phẩm dịch vụ vốn có, đưa ra những
dự án mới cho những sản phẩm dịch vụ có trong mỗi chủng loại sản phẩm, có thể tănghay giảm mức độ hài hòa giữa các mặt hàng thuộc nhóm chủng loại sản phẩm khácnhau tùy thuộc vào việc doanh nghiệp muốn chiếm lĩnh trên một lĩnh vực nào đó haymuốn hoạt động trong nhiều lĩnh vực
Ví dụ về hỗn hợp sản phẩm của một khách sạn
Trang 14
Phòng ngủ Ăn Giải khát Giải trí Thể thao
- Căn hộ - Tiệc đứng - Cocktail - Vũ trường - Thể thao
- Phòng đặc biệt - Tiệc cưới - Cà phê - Karaoke - Bể bơi
- Phòng loại 1 - Tiệc sinh nhật - Bia - Ca nhạc - masage
- Phòng loại 2 - Ăn thông thường - Trà
- Phòng loại 3 - Ăn sáng
Trong ví dụ trên chiều dài của danh mục sản phẩm của khách sạn A là 25 Bốnthông số trên của danh mục sản phẩm tạo ra những căn cứ để xác định chiến lược sảnphẩm của doanh nghiệp
Khi doanh nghiệp thay đổi danh mục sản phẩm của mình, doanh nghiệp cần phảithường xuyên đánh giá hiệu quả kinh doanh của các loại dịch vụ để phát hiện ra nhữngloại dịch vụ không có lãi loại bỏ nó giúp doanh nghiệp phát triển hiệu quả hơn Cũngcần phải chú ý, thực tế có những sản phẩm dịch vụ du lịch bản thân nó có hiệu quảthấp nhưng khách hàng nhờ nó mà mua những loại sản phẩm dịch vụ khác giúp tănglợi nhuận của doanh nghiệp Đó là những loại sản phẩm dịch vụ gián tiếp tạo ra lợinhuận của doanh nghiệp Mặt khác, khi tăng chiều rộng của danh mục sản phẩm,doanh nghiệp cũng cần phải chú ý đến khả năng tài chính của mình và trình độ của độingũ lao động có đáp ứng được không, từ đó có phương hướng phát triển đào tạo
Một doanh nghiệp có thể kéo dài chủng loại sản phẩm bằng cách kéo dài sản phẩmtrong chủng loại hay bổ sung thêm những loại sản phẩm mới trong phạm vi hiện tạicủa sản phẩm đó
2.2.3 Phát triển sản phẩm mới
* Lý do phải nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới
- Do nhu cầu thị hiếu của khách hàng luôn thay đổi, các doanh nghiệp đã phân đoạn thịtrường và lựa chọn thị trường mục tiêu, định vị được những mong muốn trên thịtrường thì phải chon lựa được những sản phẩm thích hợp để đáp ứng các nhu cầu,mong muốn đó thì mới hi vọng thành công
- Do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật ngày càng diễn ra nhanh chóng hơn và nó đã trởthành lực lượng sản xuất trực tiếp tạo điều kiện cho thiết kế, chế tạo sản phẩm mới,chẳng hạn có thể hiện đại hóa các phương tiện, tiện nghi…
Trang 15- Cạnh tranh trên thị trường ngày càng trở nên gay gắt hơn, cạnh tranh đã chuyển dầntrọng tâm từ giá sang chất lượng sản phẩm, dịch vụ, nó đòi hỏi các doanh nghiệp phảithường xuyên tìm cách nâng cao chất lượng và hoàn thiện thêm sản phẩm hiện có củamình, hay tạo ra được sản phẩm mới để giành được lợi thế trong cạnh tranh.
- Mỗi sản phẩm đều có chu kỳ đời sống riêng, khi sản phẩm đã chín muồi và suy thoáithì doanh nghiệp phải có sản phẩm thay thế nhằm đảm bảo quá trình sản xuất kinhdoanh liên tục
* Khái niệm sản phẩm mới
Sự cải tiến sản phẩm là một dãy liên tục, đi từ sản phẩm hiện tại đến một sản phẩmhoàn toàn mới, chúng có thể qua các giai đoạn như cải tiến bề ngoài, đến việc cải tiếnnhỏ trên các thuộc tính ít quan trọng; cải tiến lớn trên những thuộc tính quan trọng vàcuối cùng là sản phẩm mới Đối với doanh nghiệp, sản phẩm mới có thể là mới hoàntoàn, sản phẩm cải tiến, sản phẩm cải tiến cùng nhãn hiệu mới mà doanh nghiệp pháttriển thông qua nỗ lực nghiên cứu phát triển của chính mình Với khách hàng thì phảixem xét khách hàng có đánh giá chúng là mới không?
* Các bước phát triển mới
- Hình thành ý tưởng
Việc hình thành ý tưởng phải được thực hiện một cách có hệ thống trên cơ sởxem xét mục tiêu của việc phát triển sản phẩm mới và thị trường mà doanh nghiệpnhắm vào
- Lựa chọn ý tưởng
Nếu như ở bước trên cần hình thành nên càng nhiều ý tưởng càng tốt thì ở bướcnày lại phải giảm bớt một số ý tưởng xuống còn một vài ý tưởng trên cơ sở chọn lọcchúng để lấy những ý tưởng có tính hấp dẫn và thực tiễn nhất
- Soạn thảo và thẩm định dự án
Từ ý tưởng về sản phẩm đã được chọn lựa, tư tưởng khái quát về sản phẩm,khách hàng không mua ý tưởng mà họ mua sản phẩm có nghĩa là các dự án cụ thể cónghĩa là từ ý tưởng đó phải hình thành các phương án sản phẩm mới với các thông số,khái niệm có ý nghĩa với khách hàng
- Soạn thảo chiến lược marketing cho sản phẩm mới
Sau khi thử nghiệm chọn được phương án tốt nhất, bước tiếp theo là phải soạnthảo chiến lược marketing cho sản phẩm mới
- Thiết kế sản phẩm mới
Trong bước này phải biến các dự án trên thành sản phẩm hiện thực, bộ phận xâydựng chương trình, thiết kế phải đưa ra được một hay nhiều phương án mô hình hóa,phải tính toán, đưa ra được các thông số cần thiết cho sản phẩm mới
- Thử nghiệm trên thị trường
Trang 16Thử nghiệm trên thị trường nhằm mục đích xem người tiêu dùng và các đại lý phảiứng như thế nào với sản phẩm và xem xét độ lớn của thị trường.
- Thương mại hóa
Sau khi thử nghiệm, doanh nghiệp sẽ có quyết định có đưa sản phẩm ra kinh doanh
và bán đại trà hay không
2.2.4 Các quyết định cơ bản về sản phẩm
* Quyết định về dịch vụ cơ bản và dịch vụ bao quanh
Đây là những dịch vụ cụ thể liên quan đến sự thỏa mãn nhu cầu mong muốn của tậpkhách hàng trên thị trường mục tiêu
Dịch vụ cơ bản nhằm thỏa mãn lợi ích cốt lõi trong nhu cầu của khách hàng Căn cứvào các đoạn thị trường đã chọn, các doanh nghiệp quyết định về dịch vụ cơ bản vànhững lợi ích mà doanh nghiệp đó mang lại Các dịch vụ cơ bản có thể là dịch vụ cơbản chính và dịch vụ cơ bản phát sinh
Dịch vụ bổ sung là những dịch vụ được hình thành làm tăng giá trị cho dịch vụ cơbản, các dịch vụ bổ sung có thể cùng nằm trong hệ thống của dịch vụ cơ bản hay độclập, dịch vụ bổ sung nó thường là rất nhiều, nó tạo điều kiện để các doanh nghiệpquyết định các dịch vụ trọn gói cho khách hàng cùng các dịch vụ cơ bản
Quyết định về dịch vụ cơ bản và dịch vụ bổ sung phải tạo ra một hệ thống hoànchỉnh để thỏa mãn tốt nhất nhu cầu mong muốn của tập khách hàng mà doanh nghiệphướng tới
* Quyết định đa dạng hóa sản phẩm
Thực chất của đa dạng hóa sản phẩm là quyết định số hàng hóa dịch vụ cung cấptương ứng với tập khách hàng mục tiêu, muốn khai thác nhiều đoạn thị trường mụctiêu thì doanh nghiệp phải thỏa mãn nhiều tập khách hàng khác nhau Mức độ đa dạnghóa là nhiều loại sản phẩm với các mức chất lượng, mức giá khác nhau, phục vụ đượcnhiều đối tượng khách khác nhau Việc doanh nghiệp có đa dạng hóa sản phẩm haykhông, đa dạng hóa đến mức nào phụ thuộc vào loại hình dịch vụ, nhu cầu thị trường
và quan hệ đối tác của doanh nghiệp
* Quyết định các hướng tăng trưởng
Tại mỗi thị trường khác nhau, với những sản phẩm hiện tại hay sản phẩm mới,doanh nghiệp có thể đưa ra các chiến lược khác nhau Các quyết định tăng trưởng:
- Thâm nhập thị trường: chỉ ra hướng tăng trưởng qua sự tăng lên của thị phần thịtrường với sản phẩm- thị trường hiện tại
- Phát triển thị trường: đề cập đến việc tìm kiếm khách hàng mới cho sản phẩm hiệntại
- Phát triển sản phẩm: đề cập đến việc đưa ra sản phẩm mới thay thế cho sản phẩmhiện tại
Trang 17- Đa dạng hóa đề cập tới cả việc đưa ra sản phẩm mới và mở thêm thị trường mới.
2.3 Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu của những công trình nghiên cứu trong những năm gần đây.
Hoàn thiện chính sách sản phẩm được đánh giá là một vấn đề bức xúc và cấp thiếtcủa bất cứ doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch nào Trong những năm gần đây đã
có một số công trình nghiên cứu của sinh viên đại học Thương Mại về vấn đề này Cụthể là một số đề tài sau:
- Đề tài “ Hoàn thiện chính sách sản phẩm của công ty cổ phần khách sạn du lịchSông Nhuệ” của Nguyễn Thị Hường, K42B, năm 2010 Luận văn đã só sự tổng hợp lýluận rõ ràng Tuy nhiên phần giải pháp vẫn chưa cụ thể vẫn chung chung
- Đề tài “ Xây dựng chính sách sản phẩm thu hút khách công vụ tại khách sạn VịHoàng- Công ty cổ phần du lịch Nam Định” của Đặng Vân Duyên, K41B5 Luận văn
đã có sự tổng hợp lý luận cơ bản về sản phẩm và chính sách sản phẩm trong khách sạn.Luận văn cũng đã vận dụng lý thuyết và thực tiễn một cách logic để chỉ ra được những
ưu điểm, hạn chế và những nguyên nhân tồn tại trong chính sách sản phẩm của doanhnghiệp Tuy nhiên, luận văn vẫn chưa cụ thể chi tiết mà mới chỉ phân tích một cáchkhái quát, chung chung về thực trạng chính sách sản phẩm của khách sạn
- Đề tài “ Hoàn thiện chính sách sản phẩm của khách sạn Holidays- Hà Nội” củaNguyễn Thị Thảo, K40B1 Luận văn tiến hành nghiên cứu thực trạng kinh doanh củadoanh nghiệp, rút ra những thành công, hạn chế và tìm ra được nguyên nhân trongchính sách sản phẩm của khách sạn Tuy nhiên, luận văn chưa xem xét, phân tích sựtác động của các yếu tố môi trường đến chính sách sản phẩm như thế nào, đồng thờigiải pháp mang tính tổng hợp, chưa bám sát vào thị trường mục tiêu của khách sạn Các công trình nghiên cứu trên đã có những giá trị lớn cả về lý luận lẫn thực tiễnđối với doanh nghiệp nghiên cứu Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu các đề tài vẫnchưa đi sâu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách sản phẩm Đây là một vấn
đề quan trọng, bởi các doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển thì luôn chịu những tácđộng cả tích cực và tiêu cực của các nhân tố Mỗi doanh nghiệp lại chịu tác động theonhững chiều hướng và mức độ khác nhau tùy thuộc vào điều kiện kinh doanh củadoanh nghiệp Vì vậy, giải pháp hoàn thiện chính sách sản phẩm cần phải phù hợp vớithực tế của doanh nghiệp cũng như xu hướng phát triển kinh doanh
Tại khu du lịch sinh thái Vĩnh Hưng trong thời gian qua mỗi năm có rất nhiều sinhviên thuộc các chuyên ngành khác nhau của các trường đại học, cao đẳng về thực tập
và làm các đề tài nghiên cứu về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nhưng trongnhững đề tài đó chưa có đề tài nào nghiên cứu về chính sách sản phẩm Chính vì vậy,
em chọn đề tài “ Giải pháp hoàn thiện chính sách sản phẩm tại Khu du lịch sinh tháiVĩnh Hưng” làm đề tài nghiên cứu
Trang 182.4 Phân định nội dung vấn đề nghiên cứu của đề tài
2.4.1 Xác định danh mục sản phẩm
Khách đi tham quan du lịch, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí và khách công vụ là haiđối tượng khách khác nhau và có nhu cầu về dịch vụ du lịch cũng khác nhau Danhmục sản phẩm cho khách đi với mục đích nghỉ ngơi và vui chơi giải trí là các dịch vụvui chơi giải trí, ăn uống và các dịch vụ bổ sung khác như hội nghị hội thảo,massage,karaoke…
Danh mục sản phẩm được đặc trưng bởi bốn chỉ tiêu hay còn gọi là bốn chiều củadanh mục sản phẩm:
- Chiều rộng của danh mục sản phẩm: thể hiện rằng doanh nghiệp có bao nhiêu loạisản phẩm dịch vụ khác nhau trong danh mục
- Chiều dài của danh mục sản phẩm: là tổng số các mặt hàng sản phẩm dịch vụ trongdanh mục sản phẩm
- Chiều sâu của danh mục sản phẩm thể hiện có bao nhiêu phương án của mỗi sảnphẩm trong từng loại
- Mật độ của danh mục sản phẩm thể hiện mối quan hệ mật thiết đến mức độ nào giữcác sản phẩm khác nhau xét theo cách sử dụng cuối cùng, thiết bị sản xuất, kênh phânphối hay một phương diện nào khác
Với bốn chiều này của danh mục sản phẩm, các doanh nghiệp có thể lựa chọn pháttriển kinh doanh theo bốn cách Có thể bổ sung những chủng loại mới tức mở rộngdanh mục Có thể kéo dài từng chủng loại hoặc có thể bổ sung các phương án cho từngsản phẩm để tăng chiều sâu của danh mục Cuối cùng doanh nghiệp có thể tăng haygiảm mật độ của loại sản phẩm tùy theo định hướng kinh doanh và ý đồ của doanhnghiệp trong từng thời điểm khác nhau
2.4.2 Phát triển sản phẩm mới
Để thu hút ngày càng được nhều khách hàng hơn, doanh nghiệp phải tiến hành cáchoạt động phát triển sản phẩm mới với các lý do sau: Do nhu cầu của khách hàng luônluôn thay đổi và có xu hướng ngày càng cao hơn Do khoa học công nghệ ngày càngphát triển, tiến bộ Doanh nghiệp phải nắm bắt được những vấn đề này để có thể đápứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng, tạo ra những lợi ích cho khách hàng, từ đó nângcao sức cạnh tranh của các sản phẩm của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranhkhác
+ Quy trình phát triển sản phẩm mới
Bước 1: Hình thành ý tưởng
Những ý tưởng sản phẩm mới có thể nảy sinh từ nhiều nguồn khác nhau như:khách hàng, các nhà khoa học, đối thủ cạnh tranh, nhân viên phục vụ, nhân viên các bộphận, ban lãnh đạo Với việc phát triển sản phẩm mới trong kinh doanh thì nguồn hình
Trang 19thành ý tưởng chủ yếu là từ ý kiến khách hàng và các nhà hoạch định marketing củadoanh nghiệp Do đó doanh nghiệp phải thường xuyên tiến hành lấy ý kiến khách hàngbằng việc phát phiếu thăm dò ý kiến và qua các hóm thư góp ý để thu thập ý kiếnkhách hàng Với những khách hàng đã có nhiều kinh nghiệm sử dụng các dịch vụ vuichơi giải trí thì ý kiến đóng góp của họ sẽ rất phong phú và có ý nghĩa rất lớn đối vớiviệc phát triển sản phẩm
Bước 2: Lựa chọn ý tưởng
Nếu như giai đoạn hình thành ý tưởng có mục đích là hình thành càng nhiều ý tưởngcàng tốt thì mục đích của bước này là giảm bớt số ý tưởng xuống còn một và ý tưởnghấp dẫn và có tính thực tiễn nhất Tức là các ý tưởng đó phải phù hợp với đối tượngkhách của doanh nghiệp và xu hướng phát triển của thị trường khách cũng như khảnăng tài chính cũng như trình độ tổ chức quản lý và trình độ lao động của doanhnghiệp
Bước 3: Soạn thảo và thẩm định dự án
Từ ý tưởng đã được lựa chọn ở trên, doanh nghiệp cần đưa ra các phương án sảnphẩm và lựa chọn một phương án tốt nhất trong các phương án đó Nhà quản lý củadoanh nghiệp cần phải tiến hành thẩm định dự án đó bằng cách đưa ra thử nghiệm chomột nhóm khách hàng được lựa chọn
Bước 4: Soạn thảo chiến lược Marketing cho sản phẩm mới
- Phần thứ nhất: mô tả quy mô, cấu trúc và hành vi của thị trường mục tiêu mà doanhnghiệp hướng tới, cũng như xác định mức tiêu thụ, thị phần và lợi nhuận dự kiến trongmột vài năm đầu
- Phần thứ hai: trình bày giá dự kiến, chiến dịch phân phối và ngân sách marketingcủa doanh nghiệp cho việc phát triển sản phẩm mới trong những năm đầu tiên
- Phần thứ ba: trình bày những dự kiến, những mục tiêu tương lai của các chỉ tiêu:mức tiêu thụ, lợi nhuận, quan điểm Marketing mix cho từng thời gian cụ thể
Bước 5: Thiết kế sản phẩm mới
Thiết kế thật cụ thể các vấn đề liên quan đến sản phẩm thu hút khách như các điềukiện về cơ sở vật chất trang thiết bị và con người, cách thức phục vụ cũng như cácphương án để làm cho sản phẩm của khách sạn và có sự khác biệt với sản phẩm màdoanh nghiệp đang cung cấp và khác biệt so với các doanh nghiệp khác
Bước 6: Thử nghiệm trên thị trường
Thử nghiệm trên thị trường nhằm mục đích xem người tiêu dùng và các đại lýphản ứng như thế nào với sản phẩm và xem xét độ lớn của thị trường Qua đó người ta
có thể thử nghiệm toàn bộ các biến số của Marketing mix trong môi trường cạnh tranhthực tế để từ đó có thể điều chỉnh các biến số của marketing nếu kết quả không đạt như
Trang 20ý muốn Đối tượng thử nghiệm có thể vừa là khách hàng cũng có thể vừa là các nhàbán buôn hay các chuyên gia có kinh nghiệm Số lần thử nghiệm cũng cần được tínhtoán, cân đối với chi phí thử nghiệm và thời gian tiến hành để đảm bảo có được kếtquả chắc chắc.
Bước 7: Thương mại hóa
Sau khi thử nghiệm, doanh nghiệp sẽ có quyết định có đưa sản phẩm ra kinhdoanh và bán đại trà hay không Nếu quyết định đưa sản phẩm mới vào kinh doanh,doanh nghiệp sẽ phải ký kết hàng loạt hợp đồng với các doanh nghiệp đối tác, để cùngcung cấp các dịch vụ cho các chương trình du lịch mới Giai đoạn này doanh nghiệpphải thông qua bốn quyết định đó là:
- Thời điểm nào thì tung sản phẩm mới ra thị trường, hoặc là tung ra đầu tiên, hoặc làđồng thời hoặc là muộn hơn so với các đối thủ cạnh tranh và các vấn đề phụ khác như
có chấm dứt kinh doanh sản phẩm cũ hay không, hay chọn thời vụ du lịch mới mớiđưa ra…
- Tung sản phẩm mới ra thị trường ở đâu, diện rộng hay hẹp và phải lưu ý đến các đốithủ cạnh tranh sẵn có?
- Sản phẩm mới tung ra bán cho đối tượng khách hàng nào?
- Sản phẩm được tung ra thị trường bán như thế nào? Các hoạt động hỗ trợ, xây dựng
kế hoạch hành động cụ thể để tung sản phẩm ra thị trường?
2.4.3 Các quyết định cơ bản về sản phẩm
Để chính sách sản phẩm được áp dụng tại mỗi doanh nghiệp, không chỉ xem xétnội dung của chính sách sản phẩm đơn thuần mà mục đích của doanh nghiệp là phảiđưa ra các quyết định cụ thể Trong kinh doanh du lịch các doanh nghiệp thường đưa
ra các quyết định sau:
- Quyết định về dịch vụ cơ bản và dịch vụ bao quanh
Khách hàng tiêu dùng các sản phẩm dịch vụ du lịch thường là các dịch vụ tổng thểbao gồm dịch vụ cơ bản và dịch vụ bổ sung Khi quyết định về chính sách sản phẩm,các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch cần có các quyết định cụ thể về các dịch
vụ cơ bản và dịch vụ bổ sung
Dịch vụ cơ bản là những dịch vụ chính mà công ty cung cấp cho khách hàng nhằmthỏa mãn những nhu cầu cơ bản, không thể thiếu được đối với khách hàng Việc quyếtđịnh về dịch vụ cơ bản phụ thuộc vào các đoạn thị trường mà doanh nghiệp đã lựachọn và chiến lược marketing doanh nghiệp trên cơ sở phân tích sản phẩm của đối thủcạnh tranh và tiềm lực kinh doanh của mình mà doanh nghiệp sẽ đưa ra các dịch vụvới một mức định trước nhất định Doanh nghiệp sẽ quyết định về khối lượng tiêu thụ
Trang 21dự kiến từ đó xác định mức chi phí tương ứng cho khối lượng đó, căn cứ vào đó sẽ xácđịnh mức doanh thu lợi nhuận Dịch vụ cơ bản được coi là sản phẩm cốt lõi của doanhnghiệp.
Dịch vụ bổ sung là những dịch vụ phụ cấp thêm cho khách hàng, nhằm thỏa mãn cácnhu cầu không bắt buộc như những dịch vụ cơ bản Bản chất của dịch vụ bổ sung làlàm tăng giá trị cho dịch vụ cơ bản và tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng sử dụngdịch vụ cơ bản, dịch vụ bổ sung phải có mối quan hệ thương quan, đồng bộ với dịch
vụ cơ bản Nếu dịch vụ cơ bản có chất lượng cao thì dịch vụ bổ sung cho nó cũng phải
có chất lượng cao tương xứng Dịch vụ bổ sung mà có chất lượng thấp hơn dịch vụ cơbản thì khách hàng sẽ đánh giá chất lượng dịch vụ của dịch vụ cơ bản thấp hơn chấtlượng thực tế của nó, do khách hàng đánh giá một cách tổng thể chứ không đánh giátách biệt từng loại sản phẩm và ngược lại Tuy nhiên nếu doanh nghiệp bán dịch vụ bổsung với mức giá trung bình mà muốn duy trì chất lượng cao như vậy sẽ ảnh hưởng tớilợi nhuận của doanh nghiệp Do đó, những nhà quản trị phải cân đối sao cho dịch vụ
cơ bản và dịch vụ bổ sung của doanh nghiệp có sự cân đối, tương xứng với nhau Cácquyết định về số lượng, loại, chất lượng các dịch vụ bổ sung có phù hợp với dịch vụ cơbản, với mục tiêu và tình hình tài chính của doanh nghiệp Cùng với dịch vụ cơ bản,dịch vụ bổ sung phải tạo ra một hệ thống hoàn chỉnh để thỏa mãn tốt nhu cầu mongmuốn của tập khách hàng doanh nghiệp hướng tới
- Quyết định đa dạng hóa sản phẩm
Đa dạng hóa sản phẩm tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh khách sạn, dulịch cung cấp cho khách hàng những sản phẩm trọn gói Mức độ đa dạng hóa là nhiềuloại sản phẩm với các mức chất lượng, mức giá khác nhau, phục vụ nhiều đối tượngkhách khác nhau Xu hướng tiêu dùng là yêu cầu ngày càng cao của khách hàng vàmục tiêu của doanh nghiệp trong thời gian tới là thu hút thêm khách có khả năng chitrả cao, do đó đòi hỏi chính sách sản phẩm của doanh nghiệp cần có mức độ đa dạnghóa cao
Trong kinh doanh dịch vụ du lịch, khai thác nhiều đoạn thị trường mục tiêu thìdoanh nghiệp phải thỏa mãn đồng thời nhiều tập khách hàng khác nhau Thực chất của
đa dạng hóa sản phẩm là quyết định số hàng hóa dịch vụ cung cấp tương ứng với mộttập khách hàng mục tiêu Để tận dụng tối đa cơ sở vật chất, kinh nghiệm doanh nghiệpthường lựa chọn những thị trường mục tiêu có mối liên hệ với nhau, không quá khácbiệt Từ đó có thể sử dụng được một số dịch vụ chung cho tất cả các thị trường đó
- Quyết định về các hướng tăng trưởng sản phẩm
Quyết định chính sách sản phẩm về các sản phẩm hiện tại và sản phẩm mới có thểđược tiếp cận theo hình thức hướng tăng trưởng, bao gồm phương hướng phát triển cảsản phẩm và thị trường cho doanh nghiệp Xâm nhập thị trường chỉ ra hướng tăng
Trang 22trưởng qua sự tăng lên của thị phần thị trường với sản phẩm- thị trường hiện tại Pháttriển thị trường đề cập đến việc tìm kiếm khách hàng mới cho sản phẩm hiện tại Pháttriển sản phẩm đề cập đến việc đưa ra sản phẩm mới thay thế cho sản phẩm hiện tại.
Đa dạng đề cập tới cả việc đưa sản phẩm mới và mở thêm thị trường mới Cả 4 chiếnlược trên được trình bày trong bảng sau:
Hình 2.3 Hệ thống ma trận sản phẩm – thị trường
Thị trường Sản phẩm
Sản phẩm hiện tại Sản phẩm mới Thị trường hiện tại Thâm nhập thị trường Phát triển sản phẩm
Thị trường mới Phát triển thị trường Đa dạng hóa
Tại mỗi thị trường khác nhau, với những sản phẩm hiện tại hay sản phẩm mới, doanhnghiệp có thể đưa ra các chiến lược khác nhau:
● Thâm nhập thị trường: Nhà kinh doanh sẽ dựa trên việc cung cấp sản phẩm hiệntại ở thị trường hiện tại nhằm giữ khách hàng cũ mà không cần thay đổi gì cho bảnthân sản phẩm dịch vụ Trong trường hợp này kinh doanh dịch vụ du lịch có thể sửdụng một số cách như hạ giá sản phẩm dịch vụ, tăng chi phí quảng cáo, sử dụng cácchính sách khuyến mãi… Về thực chất theo hướng này, doanh nghiệp muốn tăng thuhút những người quen tiêu dùng sản phẩm dịch vụ du lịch của doanh nghiệp khác vềphía mình và đồng thời giữ khách hàng hiện có của mình
● Phát triển thị trường: Doanh nghiệp mở rộng thị trường mới cho sản phẩm hiệntại Họ bắt tay vào nghiên cứu thị trường mới như để xem có thể kích thích nhómngười này tiêu dùng sản phẩm dịch vụ vốn có của doanh nghiệp mình hay không ● Phát triển sản phẩm: Chiến lược này dựa trên việc cung cấp những sản phẩm mớicho thị trường hiện tại Sản phẩm cũ có thể được chào bán theo một cách mới, có thểđược nâng cao chất lượng hơn, hoặc những phương thức phục vụ mới Tất cả nhữngthay đổi nhỏ này khiến sản phẩm dịch vụ du lịch trở thành một sản phẩm mới Ngoài
ra có thể tung một sản phẩm hoàn toàn mới cho những khách hàng tiêu dùng khácnhau
● Đa dạng hóa: là việc doanh nghiệp chào bán sản phẩm mới trên thị trường hoàntoàn mới Đây là một chiến lược có tính rủi ro cao và hầu hết các doanh nghiệp đềuthất bại Doanh nghiệp ngoài việc kinh doanh những sản phẩm dịch vụ du lịch họ cóthể mở rộng những lĩnh vực kinh doanh những sản phẩm như bất động sản, tài chínhngân hàng… hoàn toàn mới với thị trường khách cũng hoàn toàn mới
Trang 24CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ PHÂN TÍCH TRẠNG CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM CỦA KHU DU LỊCH SINH THÁI
VĨNH HƯNG
3.1 Phương pháp hệ nghiên cứu các vấn đề
3.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Trong quá trình nghiên cứu chính sách sản phẩm tại Khu du lịch sinh thái VĩnhHưng, đề tài sử dụng hai nguồn thông tin: dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp
- Thu thập dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp là những thông tin sẵn có và đã được thu thập từ trước Sử dụng dữliệu thứ cấp có ưu điểm là dễ tìm kiếm và ít tốn kém Các dữ liệu thứ cấp được thuthập có nguồn gốc từ bên trong và bên ngoài doanh nghiệp
Các dữ liệu thứ cấp được thu thập trong doanh nghiệp đó là cơ cấu tổ chức và cơcấu lao động trong doanh nghiệp được phòng nhân sự cung cấp Các thông tin liệnquan đến tình hình kinh doanh và sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp bao gồm: Báocáo kết quả kinh doanh, báo cáo doanh thu theo cơ cấu khách hàng cũng như từngmảng kinh doanh của doanh nghiệp, đặc điểm thị trường khách mục tiêu được cungcấp bởi phòng kinh doanh và các bộ phận tác nghiệp trong doanh nghiệp
Các dữ liệu thứ cấp mà đề tài đã thu thập ở bên ngoài từ các nguồn sau:
Các website bao gồm các website về du lịch như: www.vietnamtourism.gov.com,www.webdulich.com, www.dulichvn.org.vn, www.baodulich.com, www.vinhhung.vn Các báo và tạp trí về du lịch: tạp chí du lịch, báo du lịch, các tạp trí chuyên ngành
Đề tài cũng tham khảo một số luận văn khóa trước như: Đề tài “ Hoàn thiên chínhsách sản phẩm tại khách sạn Holidays – Hà Nội” của Nguyễn Thị Thảo, K40B1 Đề tài
“ Xây dựng chính sách sản phẩm thu hut khách công vụ tại khách sạn Vị Hoàng –công ty cổ phần du lịch Nam Định” của Đặng Vân Duyên, K41B5 Đề tài “ Hoàn thiệnchính sách sản phẩm của công ty cổ phần khách sạn Sông Nhuệ” của Nguyễn ThịHường năm 2010
- Thu thập dữ liệu sơ cấp
Dữ liệu sơ cấp là những dữ liệu được tiến hành thu thập lần đầu Để thu thập dữliệu sơ
cấp, chúng ta cần sử dụng những phương pháp khác so với thu thập dữ liệu thứ cấpnhằm đáp ứng yêu cầu nghiên cứu đặc biệt Dữ liệu sơ cấp có lợi thế đặc biệt là cậpnhật được những thông tin mới nhất, bám sát và phục vụ trực tiếp cho mục tiêu nghiêncứu
Trang 25Các dữ liệu sơ cấp được thu thập từ các câu trả lời của nhân viên, của nhà quản trịtrong doanh nghiệp và những câu trả lời của khach hàng thông qua các phiếu điều tratrắc nghiệm Phương pháp điều tra trắc nghiệm được tiến hành thông qua các bước:
Bước 1: Xác định vấn đề nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu đặt ra khi thực hiện đề tài là tìm hiểu, nghiên cứu và phântích thực trạng của chính sách sản phẩm của khu du lịch sinh thái Vĩnh Hưng Tìmhiểu các thông tin về danh mục sản phẩm, kế hoạch phát triển sản phẩm mới, đánh giácủa nhân viên trong khách sạn và khách hàng về mức độ phù hợp giữa sản phẩm dịch
vụ bổ sung so với dịch vụ cơ bản, giữa giá cả và chất lượng dịch vụ, thu thập các ýkiến đóng góp đối với doanh nghiệp Từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện chínhsách sản phẩm của doanh nghiệp.Xác định rõ vấn đề nghiên cứu đặt ra giúp cho việcthiết kế phiếu điều tra, xác định đối tượng điều tra được chính xác hơn, từ đó kết quảđiều tra phản ánh sát với thực tế hơn
Bước 2: Thiết kế phiếu điều tra trắc nghiệm:
Đối tượng nhận phiếu điều tra là nhân viên, khách hàng và nhà quản trị Phiếuđiều tra trắc nghiệm được thiết kế dưới dạng câu hỏi trắc nghiệm và một vài câu hỏi
mở Các câu hỏi được thiết kế ngắn gọn, dễ hiểu và đúng trọng tâm của vấn đề nghiêncứu
Bước 3: Tiến hành điều tra:
Phiếu thăm dò ý kiến khách hàng được phát cho 30 khách hàng của doanhnghiệp trong thời gian từ 3/4/2011 đến ngày 18/4/2011 Phiếu điều tra của doanhnghiệp được phát cho 20 nhân viên thuộc các bộ phận tác nghiệp và các nhà quản trịdoanh nghiệp được thu về và xử lý Trong thời gian điều tra, mỗi khi có thắc mắc củangười nhân phiếu, người điều tra phải giải thích rõ ràng, cụ thể nội dung của phiếuđiều tra Bên cạnh việc thu thập thông tin sơ cấp bằng phiếu điều tra, trong quá trìnhđiều tra, người điều tra còn có thể hỏi thêm người được điều tra một số thông tin khácliên quan đến tình hình kinh doanh và chính sách sản phẩm của doanh nghiệp
3.1.2 Phương pháp phân tích số liệu:
- Đối với dữ liệu thứ cấp: Sử dụng phương pháp tổng hợp, so sánh bằng việc lậpcác bảng biểu tổng hợp về tình hình kinh doanh chung và chính sách sản phẩm tạidoanh nghiệp Từ đó, đưa ra đánh giá về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Đối với dữ liệu sơ cấp: Sử dụng phương pháp tổng hợp ý kiến đánh giá, thiết lậpbảng thống kê và phân tích các số liệu kết quả điều tra
Trang 263.2 Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng của nhân tố môi trường đế vấn đề nghiên cứu
3.2.1 Khái quát hoạt động kinh doanh của Khu du lịch sinh thái Vĩnh Hưng
* Giới thiệu về Khu du lịch sinh thái Vĩnh Hưng
+ Khái quát chung:
Tên doanh nghiệp: Khu Du Lịch Sinh Thái Vĩnh Hưng
Loại hình doanh nghiệp: công ty TNHH
Địa chỉ: 315A Vĩnh Hưng - Hoàng Mai - Hà Nội - Việt Nam
hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật mới và tiện nghi
Trong những năm 2009 vào 2010 thì doanh nghiệp cũng vẫn tiếp tục hoàn thiện cơcấu chính sách cũng như điều chỉnh các phương hướng hoạt động sao cho phù hợp vớinhu cầu của khách hàng cũng Toạ lạc về phía Nam Thủ Đô Hà Nội, chỉ hơn mườiphút từ Hồ Gươm là bạn có thể đến khu du lịch sinh thái Vĩnh Hưng Resort Các côngtrình xây dựng ở đây mang đường nét kiến trúc Châu Á truyền thống pha lẫn nétphóng khoáng, trẻ trung ẩn hiện trong phong cảnh mây trời, non nước tạo nên mộtkhung cảnh thật nên thơ, hữu tình Ấn tượng đầu tiên khi đến khu du lịch sinh tháiVĩnh Hưng Resort là một môi trường sinh thái xanh, sạch, đẹp, thoáng mát Bạn sẽ cócảm giác được làm tươi lại chính bản thân mình Các tiện nghi phục vụ được thiết lậpđồng bộ hiện đại và ẩn mình trong thiên nhiên không một chút phô trương
Đến với khu du lịch sinh thái Vĩnh Hưng Resort, Quý Khách sẽ được đắm mìnhtrong không gian thiên nhiên thật đẹp cùng với những trò chơi giải trí thật thú vị, mới
lạ, hấp dẫn và thưởng thức các món ăn Việt, Á, Âu nổi tiếng Đặc biệt cá 7 món SinhThái được chế biến rất công phu từ các đầu bếp nổi tiếng của chúng tôi.Đầu tư chiều sâu, kết hợp kết hợp giữa yếu tố hiện đại và thiên nhiên hoang dã, cải tạo
và gìn giữ môi trường quan cảnh, hết lòng phục vụ Quý Khách Đó là tiêu chí hànhđộng của khu du lịch sinh thái Vĩnh Hưng Resort.“Khu du lịch sinh thái Vĩnh HưngResort” – nơi dừng chân lý tưởng cho du khách “Về quê trong lòng Thủ Đô”
+ Cơ cấu tổ chức bộ máy, lĩnh vực kinh doanh
Trang 27Nhân viên kế toán
Bếp trưởng Trưởng bộ phận
tổ chức hoạt động vui chơi
Bảo vệ
Nhân
viên Nhân viên Nhân viên Nhân viên
Nhìn vào cơ cấu tổ chức bộ máy của Khu du lịch sinh thái Vĩnh Hưng ta thấydoanh nghiệp có bộ máy tổ chức khá gọn nhẹ Các phòng ban của doanh nghiệp được
bố trí khá rõ ràng:
Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của doanh nghiệp:
Nguồn: Phòng nhân sự Khu du lịch sinh thái Vĩnh Hưng
Doanh nghiệp cần có sự phân chia các phòng ban một cách thể hơn nữa để cácnhân trong mỗi phòng ban đó hiểu được vai trò, nhiệm vụ của mình để từ đó thực hiệncông việc một cách tốt nhất
Qua bảng trình độ lao động trong doanh nghiệp dưới đây, ta thấy tỷ lệ lao động nữtrong doanh chiếm tỷ lệ lớn khoản 62,3% Độ tuổi của người lao động trong doanhnghiệp khoảng 33, trong đó độ tuổi của những nhân viên nghiệp vụ như lễ tân, nhânviên tạp vụ và nhân viên bàn cũng như nhân viên thời vụ là còn khá trẻ Còn cán bộlãnh đạo của doanh nghiệp là những người có kinh nghiệm lâu năm Tỷ lệ lao động có
Trang 28trình độ đại học và trên đại học tương đối là cao 45 người tương ứng là 30,4%còn lại
là 69,6% lai động của doanh nghiệp ở các trình độ khác nhau
Nguồn: Phòng nhân sự Khu du lịch sinh thái Vĩnh Hưng
Nhìn vào cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp ta có thể thấy được lĩnh vực kinh doanhcủa doanh nghiệp thông qua các phòng, ban tổ chức của doanh nghiệp Lĩnh vực kinhdoanh của Khu du lịch sinh thái Vĩnh Hưng là: kinh doanh ăn uống và các dịch vụ vuichơi giải trí
* Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Từ bảng kết quả kinh doanh năm 2009 và 2010 ta thấy, tổng doanh thu của khu dulịch sinh thái Vĩnh Hưng năm 2010 tăng 107,4% tương ứng tăng 321 Tr.đ Trong đódoanh thu dịch vụ vui chơi giải trí tăng 111,9% tương ứng tăng 157 Tr.đ, tỷ trọng tăng1,77% Trong khi đó doanh thu ăn uống lại tăng không đáng kể 100,3 % tương ứng là
3 Tr.đ vì thế nên tỷ trọng giảm 1,74% Doanh thu các dịch vụ bổ sung cũng tăng110,8% tương ứng là 71 Tr.đ, tỷ trọng tăng 0,67% Như vậy doanh thu của dịch vụ vuichơi giải trí chiếm tỷ trọng cao nhất Doanh thu ăn uống tăng chậm vì vậy doanhnghiệp cần có những điều chỉnh mới trong danh mục sản phẩm để tăng mức doanh thucủa dịch vụ này hơn nữa