1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn (Đề Tài Cấp Bộ) Quan Hệ Kinh Tế Việt Nam - Liên Hiệp Châu Âu (1995 - 2004).Pdf

103 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan Hệ Kinh Tế Việt Nam - Liên Hiệp Châu Âu (1995 - 2004)
Tác giả Hoàng Thị Như Ý
Trường học Trường đại học Đà Lạt
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2007
Thành phố Đà Lạt
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 700,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thôøi ñaïi ngaøy nay, vaán ñeà quan heä quoác teá trôû neân heát söùc quan troïng ñoái vôùi moãi quoác gia, daân toäc 1 BOÄ GIAÙO DUÏC VAØ ÑAØO TAÏO TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑAØ LAÏT ÑEÀ TAØI NGHIEÂN C[.]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT

[ \

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ

MÃ SỐ: B2005 – 29 – 39

Tên đề tài:

QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM – LIÊN HIÊP CHÂU ÂU

(1995 – 2004)

Chủ nhiệm đề tài:

HOÀNG THỊ NHƯ Ý

Đà Lạt, 2007

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

BẢNG VIẾT TẮT

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LIÊN HIỆP CHÂU ÂUVÀ ĐƯỜNG LỐI

ĐỐI NGỌAI ĐỔI MỚI CỦA VIỆT NAM

1.1.2.Đặc điểm của Liên hiệp Châu Aâu

1.13.Quan hệ kinh tế quốc tế của EU

1314

1.2 Đường lối đối ngọai đổi mới của Việt Nam (1986 -2004) 16

1.2.1 Quan hệ quốc tế của Việt Nam giai đọan 1975-1985 16

1.1.2 Đổi mới tư duy đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam 17

Chương 2: QUAN HỆ VIỆT NAM – EU TRÊN LĨNH VỰC KINH TẾ

2.1 Tình hình quốc tế, khu vực sau chiến tranh lạnh Những tác động đến

quan hệ kinh tế Việt Nam – EU

2.1.1 Sự biến động của cục diện thế giới

2222

2.1 2 Tình hình khu vực Châu Á và Châu Âu cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI 24

2.1.3 Tác động của tình hình thế giới và khu vực đến quan hệ Việt Nam-EU 28

2.2.3 Quan hệ trên lĩnh vực đầu tư và hợp tác phát triển 32

2.3 Quan hệ kinh tế Việt Nam - EU giai đọan 1995-2004 33

Trang 3

CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM

PHÁT TRIỂN QUAN HỆ KINH TẾVIỆT NAM – EU

3.1 Bài học kinh nghiệm

3.2.Những cơ hội và thách thức của quan hệ Việt Nam –EU

trong thập niên đầu thế kỷ XXI

55

60

3 2.1 Cơ hội của quan hệ Việt Nam trong thập niên đầu thế kỷ XXI 60

3.2.2 Thách thức của quan hệ Việt Nam trong thập niên đầu thế kỷ XXI

3.2.3 Triển vọng của quan hệ kinh tế Việt Nam - EU

3.3 Một số giải pháp nhằm phát triển quan hệ kinh tế Việt Nam -EU

62

64

66

3.3.1 Giải pháp chung về quan hệ kinh tế đối ngọai

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Hiện nay, toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế tất yếu đang diễn ra như một dòng nước xoáy, cuốn hút các quốc gia và khu vực Sức mạnh cuả những quan hệ kinh tế chung toàn thế giới lớn mạnh hơn tất cả, vì thế quan hệ quốc tế trở nên hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia, dân tộc Quốc gia nào, dân tộc nào xây dựng được mối quan hệ quốc tế tốt sẽ tạo ra cho mình sức mạnh để xây dựng và bảo vệ đất nước Quốc gia nào, dân tộc nào đóng cửa với thế giới, đi ngược với xu thế của thời đại sẽ không tránh khỏi tụt hậu

Đối với những nước đang phát triển, đi sau như Việt Nam phải có đường lối mở cửa, hội nhập đúng đắn, có cách làm khôn khéo, năng động, sáng tạo, biết tranh thủ cơ hội, vượt qua khó khăn, thách thức, biến ngoại lực thành nội lực cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững

Trên cơ sở nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng với việc nhận thức sâu sắc xu thế và yêu cầu chung của thời đại, Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá, từng bước hội nhập khu vực và quốc tế, là bạn của tất cả các nước,

“Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, mở rộng, chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế; Việt Nam sẳn sàng làm bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” [18, tr42]

Đường lối ngoại giao nhất quán đó không chỉ được Đảng và Nhà nước ta vận dụng trong quan hệ với các nước trong khu vực mà còn vận dụng trong quan hệ với các nước phát triển, các trung tâm tư bản như EU

Liên hiệp châu Âu (European Union – EU) là một trong những trung tâm kinh tế, thương mại chính trị, văn hoá, khoa học và công nghệ lớn Trong xu thế

Trang 5

mở cửa giao lưu, hội nhập chung hiện nay, EU ngày càng mở rộng và tăng cường quan hệ hợp tác nhiều mặt với châu Á, trong đó có Việt Nam

Việt Nam luôn coi trọng quan hệ toàn diện với EU, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế, để có nhiều điều kiện trong việc tranh thủ nguồn vốn, tiếp thu công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý của EU Muốn vậy, cần có sự hiểu biết sâu sắc đầy đủ và vững chắc về EU

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu quan hệ kinh tế Việt Nam –EU 2004) không chỉ mang ý nghĩa khoa học, mà còn đáp ứng yêu cầu thực tiễn công tác đối ngoại của Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho phép chúng ta rút ra những bài học kinh nghiệm, thấy được những khó khăn vướng mắc trong quá khứ, để có những chủ trương chính sách đúng và có giải pháp phù hợp nhằm phát huy thành tựu, thúc đẩy quan hệ hợp tác có hiệu quả hơn trong hiện tại và tương lai

(1995-Nhu cầu phát triển đất nước đặt ra nhiệm vụ cần phải tiếp cận các vấn đề liên quan đến quá trình hội nhập quốc tế và khu vực mang tính lợi ích của Việt Nam một cách khách quan, tổng quát trên những cơ sở khoa học thực sự, góp phần làm cơ sở cho việc hoạch định chủ trương, chính sách, tiếp tục đưa quan hệ Việt Nam - EU trên lĩnh vực kinh tế ngày càng phát triển

Từ ý nghĩa khoa học và thực tiễn nói trên, chúng tôi quyết định chọn nghiên cứu vấn đề : “Quan hệ kinh tế Việt Nam – Liên hiệp châu Âu (1995 – 2004)” với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào lĩnh vực này

2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Trong thập niên 90 của thế kỷ XX, việc nghiên cứu châu Âu được đặt ra với giới nghiên cứu ở các nước châu Á nói chung, Đông Nam Á nói riêng Các tổ chức nghiên cứu châu Âu ở các nước ASEAN đã nhiều lần họp mặt (1997 , 1999) bàn đến sự hợp tác giữa các tổ chức và các nước trong việc thực hiện triển khai nghiên

Trang 6

cứu châu Âu Nghiên cứu châu Âu đã trở thành một bộ môn khoa học (European Studies) thuộc chuyên ngành khu vực học (Area studies)

Các tổ chức chuyên nghiên cứu châu Âu chủ yếu tập trung khai thác về quá trình liên kết châu Âu, sự hình thành và tiến trình mở rộng EU dưới các góc độ khác nhau Ví dụ các công trình: “Mở rộng thành viên của Liên minh châu Âu” (Expanding Membership of the European Union, 1995) của Richard E Baldwin, Pertti Haaparanta và Jaakko Kiander, “Hội nhập châu Âu: mối đe dọa các nền kinh tế chuyển đổi” (Integrating Europe: The Transition Economics at Stake, 1996) của Jozef M van Brabant, “Trung, Đông Âu trên con đường tới Liên minh châu Âu” (Central and Eastern Europe on its Way to European Union, 1999) của Raymond Courbis và Wladyslaw Welfe, “Sự mở rộng của Liên minh châu Âu: Những vấn đề và chiến lược” (The Enlargement of the European Union: Issues and Strategies, 1999) của Vitoria Curzon Price, Alice Landau và Richard G Whitma, “Liên minh châu Âu: Cấu trúc và cơ chế” (The European Union: Structure and Process, 2000) của Clive Archer, “Kinh tế chính trị trong cạnh tranh

ở châu Âu mở rộng” (The Political Economy of Competitiveness in an Enlarged Europe, 2001) của Julie Pellegrin, “Đàm phán về châu Âu mới: Liên minh châu Âu và Đông Âu” (Negotiating the New Europe: the European Union and Eastern Europe, 2002) của Dimitris Papadimitriou và Theo hiểu biết của chúng tôi, đến nay hầu như chưa có công trình nào của các nhà khoa học nước ngoài nghiên cứu về quan hệ của Việt Nam –EU

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu châu Âu như là một chuyên ngành khoa học (European Studies) tập trung chủ yếu ở Trung tâm nghiên cứu châu Âu thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội & Nhân văn Quốc gia, nay là Viện nghiên cứu châu Âu thuộc Viện khoa học Xã hội Việt Nam, còn ở Vụ châu Âu thuộc các Bộ ngoại giao, thương mại và ở một số cơ quan khác, châu Âu được nghiên cứu ở các góc độ chuyên biệt hơn Có thể điểm các công trình tiêu biểu đã được công bố như sau :

Trang 7

1- Sách Liên minh châu Âu của tác giả Đào Huy Ngọc, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội – 1995

2- Sách Quan hệ Việt Nam – Liên minh châu Âu của tác giả Trần Thị Kim Dung, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội - 2000 Đây là công trình gần gủi với đdề tài của chúng tơi hơn cả và chúng tôi đã được kế thừa kết quả nghiên cứu của công trình này như phương pháp tiếp cận vấn đề, những kết quả bước đầu của mối quan hệ EU – Việt Nam như đã được chỉ rõ trong các trích dẫn tài liệu Tuy nhiên công trình nghiên cứu của tác giả Trần Thị Kim Dung có sự khác nhau cơ bản về thời đoạn nghiên cứu, về chủ thể nghiên cứu, về bối cảnh quốc tế, khu vực trong giai đoạn nghiên cứu Tác giả đã giành hẳn một chương để trình bày quá trình hình thành phát triển của EU và quan hệ của EU với Mỹ, châu Á Quan hệ Việt Nam – EU được tác giả trình bày một cách khái quát trên các lĩnh vực chính trị, thương mại, đầu tư, hợp tác viện trợ trong thời gian từ năm 1990 đến năm

1998 Cũng từ góc độ lấy EU là chủ thể do đó tác giả đã đi sâu phân tích quan hệ của từng nước thành viên EU với Việt Nam

3- Sách “Thúc đẩy quan hệ thương mại – đầu tư giữa Liên Hiệp châu Âu và Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI”, của tác giả Bùi Huy Khoát (chủ biên), Nhà xuất bản Khoa học xã hội – 2001 Công trình này đã làm rõ hơn những cơ hội và thách thức mà sự liên kết kinh tế - tiền tệ của EU đang tạo ra trước nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh vượt qua ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng kinh tế (1997), để tiếp tục thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong những năm đầu thế kỷ XXI

4- Sách “Mở rộng EU và các tác động đối với Việt Nam”, được biên soạn bởi các tác giả Carlo Filippini, Bùi Huy Khoát, Stefan Hell, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2004 Các bài viết tập trung phân tích quá trình mở rộng của EU và ý nghĩa của lần mở rộng thứ năm (năm 2004) trong tiến trình phát triển của EU

Trang 8

5- Nhiều bài nghiên cứu về một số mặt có liên quan đến EU hoặc đến mối quan hệ của EU với các đối tác đã được đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành như Nghiên cứu châu Âu, Nghiên cứu quốc tế… Tuy nhiên trong quy mô của một bài viết chưa nêu việc nghiên cứu toàn diện mối quan hệ này trong những năm gần đây

Như vậy, quan hệ kinh tế Việt Nam – EU cần được tiếp tục nghiên cứu

trong hiện tại và tương lai

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc trình bày quan hệ kinh tế Việt Nam – EU (1995-2004), chúng tôi phân tích nguyên nhân, những cơ hội, thách thức,bài học kinh nghiệm, triển vọng của quan hệ Việt Nam - EU

Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi mạnh dạn đề xuất làm cơ sở cho việc đề

ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển toàn diện quan hệ Việt Nam - EU trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, phân tích bối cảnh quốc tế và khu vực hai thập niên cuối thế kỷ

XX đầu XXI, làm rõ những tác động của thế giới và khu vực đến sự phát triển quan hệ kinh tế Việt Nam - EU Tập trung làm sáng rõ tiến trình đổi mới tư duy, triển khai đường lối đối ngoại của Đảng và nhà nước Việt Nam về “đa dạng hoá”,

“đa phương hoá” quan hệ quốc tế, coi trọng phát triển quan hệ hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế, trong đó có EU

Thứ hai, nghiên cứu tiến trình hình thành quan hệ Việt Nam - EU thời kỳ trước năm 1995, phân tích thực trạng và nguyên nhân chủ yếu, đi sâu nghiên cứu quá trình phát triển quan hệ kinh tế Việt Nam-EU (1995- 2004)

Trang 9

Thứ ba, từ việc nghiên cứu, rút ra bài học kinh nghiệm, phân tích cơ hội, thách thức và đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng nhằm phát triển quan hệ Việt Nam - EU trong những thập niên đầu thế kỷ XXI

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu mối quan hệ giữa Việt Nam và Liên hiệp châu Âu trong sự tác động của tình hình thế giới và khu vực, sự điều chỉnh chiến lược, sách lược, biện pháp cụ thể trong chính sách đối ngoại của Đảng cộng sản Việt Nam Chiến lược mới hướng về châu Á, Đông Nam Á trong đó có Việt Nam của EU Đề tài xem xét mối quan hệ này dưới góc độ Việt Nam với tư cách là chủ thể của mối quan hệ và chủ thể của đối tượng nghiên cứu, EU được xem xét như một khối liên kết chứ không nghiên cứu riêng rẽ theo từng nước

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về phạm vi thời gian , giới hạn đề tài này bắt đầu từ năm 1995 đến năm

2004, dựa trên lý do căn bản là:

Từ giữa thập niên 90 của thế kỷ XX, sự gặp nhau về việc triển khai mạnh mẽ đường lối đối ngoại đổi mới “đa phương hoá, đa dạng hoá” của Đảng Cộng sản Việt Nam với mục tiêu chiến lược hướng về châu Á và Đông Nam Á của EU, đã tạo cơ sở thuận lợi thúc đẩy sự phát triển quan hệ hợp tác toàn diện giữa Việt Nam với EU Ngày 17 tháng 7 năm 1995, tại Brussels, Việt Nam-EU đã chính thức ký

“Hiệp định khung”, sự kiện này được coi như một “mốc son” trong lịch sử quan hệ đối ngoại giữa hai bên Hiệp định khung đã tạo cơ sở pháp lý và mở ra triển vọng tốt đẹp cho quan hệ kinh tế Việt Nam - EU

Mốc cuối của thời gian nghiên cứu dừng lại ở năm 2004, là thời điểm quan hệ Việt Nam – EU đãphát triển toàn diện trên mọi lĩnh vực Đặc biệt tháng 10 năm 2004, Việt Nam đã tổ chức Hội nghị thượng đỉnh ASEM V thành công “Một

Trang 10

nửa thế giới” đã đến với Việt Nam thông qua Hội nghị này Cuộc họp giữa Việt Nam với các nhà lãnh đạo EU bên lề sự kiện này đã tăng cường hơn nữa các mối quan hệ song phương EU trở thành đối tác thương mại đầu tiên của Việt Nam kết thúc đàm phán song phương về việc Việt Nam gia nhập WTO là một bước tiến quan trọng cho cả quá trình gia nhập Ngoài ra, trong năm 2004, EU thực hiện lần mở rộng lớn nhất trong lịch sử của mình – mở rộng lần thứ năm đưa thêm 10 quốc gia gia nhập, sự kiện này có tác động không nhỏ đến quan hệ Việt Nam – EU

5 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1 Cơ sở lý luận

Công trình dựa trên nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về quan hệ quốc tế Trọng tâm là dựa vào chủ nghĩa duy vật lịch sử để giải quyết các vấn đề mang tính lý luận đặt ra trong quá trình thực hiện đề tài

Hệ thống nhận thức luận Mác-xít còn làm nền tảng cho việc phân tích và đánh giá các sự kiện trong tiến trình phát triển quan hệ Việt Nam – EU, giúp tác giả nhận định đúng đắn và có kiến giải khoa học phù hợp với quy luật vận động phát triển của nó

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận Mác - Lênin, chúng tôi kết hợp sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic, các phương pháp chuyên ngành, liên ngành và các phương pháp cụ thể như: phân tính, tổng hợp, thống kê và đối chiếu so sánh Vận dụng các phương pháp của các khoa học có liên quan như phương pháp nghiên cứu kinh tế Đặc biệt là những phương pháp của khoa học quan hệ quốc tế …

5.3 Tài liệu sử dụng

Trang 11

Để thực hiện được đề tài này, chúng tôi dựa vào và sử dụng các nguồn tài liệu sau đây:

- Các văn kiện ngoại giao của Chính phủ Việt Nam, EU, Ủy ban châu Âu (EC) và chính phủ các nước thành viên EU do văn phòng ngoại giao của các nước này xuất bản (như các văn bản, hiệp định ký kết song phương, các số liệu…)

- Các bài phát biểu, các báo cáo, tuyên bố, của những người đứng đầu chính phủ và một số quan chức ngoại giao của Việt Nam và các nước (như các bài trả lời phỏng vấn và phát biểu của Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, Nguyễn Mạnh Cầm, phát biểu của chủ tịch Ủy ban châu Âu, Báo cáo của Ủy ban châu Aâu v v

- Các tài liệu của Thông tấn xã Việt Nam

- Những kết quả nghiên cứu về quan hệ quốc tế của các cơ quan như Viện nghiên cứu châu Âu, Viện kinh tế và chính trị thế giới thuộc Viện KHXH Việt Nam, Viện Quan hệ quốc tế thuộc Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh …, của các hội thảo khoa học về những vấn đề có liên quan đến đề tài

- Các ấn phẩm như sách báo, tạp chí bằng tiếng Anh của một số nhà nghiên cứu Việt Nam và thế giới

- Một số bài viết được đăng trên các báo, tạp chí tiếng Việt có liên quan đến đề tài như tạp chí Nghiên cứu châu Âu, tạp chí Nghiên cứu quốc tế, tạp chí Những vấn đề Kinh tế thế giới…

- Chúng tôi cũng sử dụng và kế thừa trên một mức độ nhất định những thành quả nghiên cứu đã được công bố của các nhà khoa học đã nghiên cứu trước những vấn đề có liên quan

Trang 12

Chương 1

TỔNG QUAN VỀ LIÊN HIỆP CHÂU ÂU VÀ ĐƯỜNG LỐI ĐỐI

NGOẠI ĐỔI MỚI CỦA VIỆT NAM

1.1 TỔNG QUAN VỀ LIÊN HIỆP CHÂU ÂU

1.1.1.Quá trình hình thành Liên hiệp châu Âu

Châu Âu là nơi xuất hiện mầm mống liên kết sớm nhất trong lịch sử nhân loại Các quốc gia dân tộc châu Âu được hình thành trong lịch sử là kết quả của nhiều quá trình hoà nhập vào nhau của nhiều tộc người Lịch sử đã chứng minh con đường tiến lên của nhân loại không dành riêng cho một quốc gia nào, mà sức mạnh chính là sự liên kết châu lục thành một khối thống nhất về mọi mặt

Từ sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, cả châu Âu trở thành bãi chiến trường đổ nát Hai “cực” Xô – Mĩ đối đầu gay gắt, quyết liệt, kéo dài làm cho cục diện thế giới luôn phức tạp căng thẳng Đối đầu giữa hai hệ thống chính trị, xã hội đối lập, dẫn đến cuộc đối đầu giữa hai khối Đông –Tây, cuốn hút từng quốc gia, tác động mạnh đến các khu vực trên thế giới

Tình hình trên là nguyên nhân cơ bản, trực tiếp thúc đẩy khuynh hướng liên kết châu Âu trên cơ sở dựa vào Mỹ để khôi phục kinh tế – xã hội và ngăn ngừa những xung đột trong tương lai Mặt khác các nước Tây Âu đã thấm thía bài học của chia rẽ và chiến tranh cho nên tất cả đều mong muốn phải có sự liên kết trước hết là kinh tế để củng cố và phát triển thị trường trong khối, chia lại thị trường cho phù hợp với so sánh lực lượng mới, mở rộng bề sâu của thị trường, điều hoà mâu thuẫn giữa các nước Tây Âu và chống lại sự xâm nhập cạnh tranh của Mỹ

Vì thế khi ngoại trưởng Pháp đưa ra đề nghị liên kết nhau trong sản xuất và phân phối than – thép đã được sáu nước Pháp, Đức, Ý, Bỉ, Hà Lan và Luych xăm

Trang 13

Bua ủng hộ Hiệp ước Paris được ký kết, thành lập Cộng đồng than và thép châu Âu (ECSC) (ngày 18/4/1951), tổ chức tiền thân của EU

Sang giữa thập niên 50, nhu cầu phát triển kinh tế ngày càng đòi hỏi mở rộng hơn nữa quy mô liên kết, cac nứơc ECSC ký hiệp định Rome tháng 3 năm

1957, thành lập Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC) và Cộng đồng năng lượng nguyên tử châu Âu ( EURATOM) Cả ba cộng đồng ECSC, EEC và EURATOM hợp nhất nhau lại thành Cộng đồng châu Âu (EC) bằng bản Hiệp ước Merger kí ngày 1/7/1967

Chiến tranh lạnh kết thúc, EC phải đối diện với những vấn đề gay gắt về kinh tế, chính trị, nội bộ các quốc gia mất ổn định; vị trí vai trò của một nứơc Đức thống nhất tăng lên làm phá vỡ thế cân bằng chiến lược tam giác giữa 3 nước Anh, Pháp, Đức; tiếp tục thúc đẩy liên kết châu Âu Ngày 7 tháng 2 năm 1991, 12 nước thành viên đã ký Hiệp ước (Maastricht Treaty on European Union) đánh dấu một bước tiến quan trọng tới mục tiêu thống nhất châu Âu Nội dung Hiệp ước nêu lên 2 vấn đề về Liên minh chính trị, Liên minh kinh tế [xem phụ lục 1]

Hiệp ước Maastricht có hiệu lực ngày 1/11/1993, là cơ sở pháp lý để hình thành một châu Âu thống nhất Tổ chức liên kết của 12 nước thành viên từ đó được gọi là Liên hiệp châu Âu (EU)

Như vậy EU ra đời - ý tưởng thống nhất khu vực trải qua một lịch sử phát triển lâu dài, đầy cam go, thử thách mới trở thành hiện thực Sự thống nhất châu Âu bắt đầu từ yêu cầu phát triển kinh tế, lan sang các lĩnh vực quân sự, chính trị, văn hoá, khoa học công nghệ và hàng loạt các lĩnh vực của đời sống xã hội

1.1.2 Đặc điểm của Liên hiệp châu Âu

Về cơ bản, EU giống như bộ máy nhà nước khổng lồ với ba quyền hạn quan trọng là:ban hành các “luật lệ châu Âu” áp dụng cho các nước thành viên; xây

Trang 14

dựng một ngân sách dùng để tài trợ cho các hoạt động trong EU; ký các Hiệp ước quốc tế về hợp tác quốc tế và thương mại(xem phụ lục 1)

EU đã đạt những kết quả to lớn về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội và đang thực hiện nhiệm vụ hàng đầu là củng cố sức mạnh kinh tế để trở thành một trong những trung tâm tài chính mạnh nhất thế giới trong thế kỷ XXI

Về chính trị, quân sự : khi mới ra đời, EU chỉ mới lo tập trung vào kinh tế Qua quá trình phát triển, với những thành công trong liên kết kinh tế, dẫn đến mong muốn tạo lập cho mình một địa vị chính trị đối ngoại độc lập có bản sắc riêng EU tăng cường xúc tiến việc mở rộng, đưa ra một chính sách chung về an ninh và quốc phòng: thành lập lực lượng phòng vệ riêng 120.000 quân, cho phép

EU có thể can thiệp và duy trì hoà bình tại châu Âu một cách độc lập và chủ động

1.1.3 Quan hệ kinh tế quốc tế của EU

Trong quan hệ kinh tế đối ngoại, EU đã triển khai mở rộng các hướng quan hệ, vừa củng cố thị trường cũ, vừa tìm kiếm khai thác thị trường mới

Quan hệ với Mỹ, EU,quan hệ với Mỹ vốn là mối quan hệ truyền thống lịch sử trên mọi lĩnh vực vừa phụ thuộc vừa cạnh tranh quyết liệt Sự trùng hợp lợi ích của hai bên quyết định đến sự thân thiện hay căng thẳng của mối quan hệ EU tìm cách phát huy sức mạnh của thị trường nội bộ để thoát ra khỏi sự phụ thuộc vào Mỹ, trở thành đối tác cạnh tranh với Mỹ

Quan hệ với Nhật Bản, EU thuyết phục và thương lượng Nhật mở cửa thị trường Xu hướng phát triển là gia tăng cạnh tranh và hợp tác trong buôn bán các

kĩ thuật cao

Trong quan hệ đầu tư quốc tế giữa EU- Mỹ- Nhật Bản diễn ra khi lắng dịu, khi căng thẳng Mỗi bên đều muốn khống chế, ngăn cản các công ty của các nước vào nước mình, nhưng cũng vừa cần phải phối hợp với nhau để quản lý các công

ty xuyên quốc gia thúc đẩy kinh tế thế giới phát triển

Trang 15

Quan hệ với khu vực Nam Mỹ, EU mở rộngliên kết đặc biệt ưu tiên cho những nước ở châu Phi,Thái Bình Dương (ACP) cho phép sản phẩm có nguồn gốc

ở các nước này bán rộng rãi vào thị trường EU được miễn hoặc giảm thuế, tiến đến thành lập khu vực mậu dịch tự do thương mại song phương

Quan hệ với khu vực Châu Á

Khi nhân loại chuẩn bị bước vào ngưỡng cửa của Thiên niên kỷ mới với sự xuất hiện xu thế toàn cầu hoá, liên kết và hợp tác cho sự phát triển, Ủy ban châu Âu kêu gọi EUù cần có một chính sách tích cực hơn hướng tới châu Á Ngày

14 tháng 7 năm 1994, EU đưa ra một chiến lược mới đối với châu Á (NAS) Mục tiêu của chiến lược nhằm tiếp cận toàn diện, trên tất cả các phương diện chính trị, kinh tế và hợp tác với châu Á Tháng 9/2001, EU công bố văn bản mới :Châu Âu và châu Á: một khuôn khổ chiến lược cho sự gia tăng quan hệ đối tác, nhằm sửa đổi, điều chỉnh Chiến lược châu Á mới Mục đích tăng cường phối hợp với từng quốc gia và cả khu vực, đặc biệt trong đó đã rất coi trọng quan hệ với ASEAN, vừa là thị trường vừa là cửa ngõ để EU đi vào khu vực châu Á, Thái Bình dương

Năm 2003, EU đã công bố văn kiện “Một đối tác mới với Đông Nam Á”, [28,tr265]], khẳng định những ưu tiên chiến lược trong xây dựng và phát triển quan hệ hợp tác EU – ASEAN,đdặc biệt quan hệ thương mại – đầu tư Quan hệ EU – ASEAN càng trở nên khăng khít hơn, mở rộng hơn là một trong những lợi thế cho Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế đa dạng hơn, nhiều chiều hơn Việt Nam “ đã tranh thủ được quan hệ EU- ASEAN để hỗ trợ thêm cho quá trình gia nhập ASEAN của minh” và sau khi trở thành thành viên chính thức của ASEAN (tháng 7-1995), Việt Nam khai thác lợi thế vốn có quan hệ gắn bó truyền thống với nhiều nước EU để “ mở rộng quan hệ song phương và đa phương, tạo thêm thế đứng của mình trong EU và ASEAN” [ 28, tr254] Quan hệ chặt chẽ EU – ASEAN đã tạo

cơ sở cho sự hợp tác bình đẳng cùng có lợi giữa châu Á và châu Âu SưÏ hình thành Diễn đàn hợp tác Á-Âu là một minh chứng cho điều đó

Trang 16

Đối với Việt Nam

EU xác định 4 mục tiêu chiến lược: Thúc đẩy gia tăng thương mại hai chiều theo nguyên tắc cùng có lợi; Ủng hộ phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam và trợ giúp cải thiện điều kiện sống dân cư nghèo; Thúc đẩy hợp tác kinh tế cùng có lợi kể cả ủng hộ những cố gắng của chính phủ Việt Nam trong tái kết cấu kinh tế và chuyển sang nền kinh tế thị trường; Ủng hộ bảo vệ môi trường và quản lý bền vững các vùng tự nhiên EU quan tâm thúc đẩy quan hệ hợp tác với việt Nam , điều đó thể hiện khá rõ trong lời phát biểu của ông C Patten, Uỷ viên Uỷ ban châu Âu phụ trách về đối ngoại nhân dịp Việt nam và EU ký Hiệp định hợp tác EU-Việt Nam ngày 17-7-1995:” Hiệp định này thể hiện sự hiểu biết của EU đối với đặc thù, nhu cầu và nguyện vọng của Việt Nam Hơn nữa, việc ký hiệp định khung bày tỏ tin tưởng của chúng tôi rằng, Việt Nam đóng vai trò quan trọng đối với cả EU và Uỷ ban châu Âu do vị trí chiến lược của Việt Nam ở Đông Nam Á” [42, tr45] “Liên minh châu Âu không thể có mặt khắp nơi trên thế giới, nhưng Việt Nam là nước phải được ưu tiên Cộng đồng sẽ dành cho Việt Nam tình cảm xứng đáng, sự giúp đỡ và hợp tác cần thiết” [40, tr 139]

Tóm lại, từ tổ chức liên kết ban đầu ECSC chỉ có 6 nước (1951), EU đã liên tục phát triển và không ngừng mở rộng lớn mạnh về nhiều mặt, chi phối nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị có ảnh hưởng rộng lớn trên thế giới

Để tăng cường vai trò vị thế của mình trên trường quốc tế, EU không thể bỏ

qua một nhân tố quan trọng đó là tăng cường sự “hiện diện” của mình ở khu vực Đông Nam Á trong đó có Việt Nam và ngược lại tăng cường quan hệ với EU là phù hợp chủ trương đối ngoại“rộng mở”của Đảng, Nhà nước Việt Nam, trở thành một trong những nhu cầu phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

1.2 Đường lối đối ngoại của Việt Nam (1986 -2004)

1.2 1 Quan hệ quốc tế của Việt Nam giai đoạn 1975 – 1985

Trang 17

Trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam từ khi Cách mạng tháng Tám thành công (1945) đến nay, điều đặc biệt là mỗi lần bước sang một giai đoạn mới Việt Nam lại phải đứng trước những thử thách vô cùng khắc nghiệt trong quan hệ quốc tế Đảng và Nhà nước Việt Nam đã đề ra đường lối đối ngoại đúng đắn, những giải pháp khôn khéo phù hợp với tình hình thực tế với nguyên tắc “thêm bạn bớt thù”, xác định thứ tự các mối quan hệ ưu tiên trong chiến lược đối ngọai của mình

Giữa thập niên 70, thế giới có nhiều biến đổi về kinh tế, chính trị và quan hệ quốc tế, tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội và chính sách đối ngoại của các nước trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng Việt Nam phải đối mặt với thử thách mới nghiêm trọng trong quan hệ quốc tế, phải đối phó với sự phá hoại của nhiều thế lực thù địch Quan hệ láng giềng căng thẳng, sự đồng tình quốc tế bị thu hẹp.Việt Nam bị đẩy vào một cuộc chiến tranh mới với chính những người anh em cùng chung chiến hào trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ trước đây

Trong nửa đầu thập niên 80 của thế kỷ XX “Việt Nam gần như bị đơn độc trong quan hệ với khu vực và quốc tế ’’ Việt Nam phải xử lý quan hệ với tất cả các nước lớn về giải pháp cho vấn đề Campuchia trong suốt cả thập kỷ 80 Việt Nam phải đối mặt với một trong những khó khăn lớn nhất là nhiều thế lực quốc tế muốn kìm giữ Việt Nam, hòng đẩy Việt Nam đến bờ vực tan rã cả về kinh tế lẫn chính trị Điều đó đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải đổi mới tư duy đối ngoại, từng bước tháo gỡ các vấn đề cục bộ, tạm thời, thứ yếu đang cản trở quá trình mở rộng quan hệ quốc tế.Việt Nam phải tập trung giải quyết vấn đề Campuchia có liên quan đến ba mối quan hệ đan xen nhau Đảng Cộng sản Việt Nam đã vạch ra và xử lý đúng đắn các mối quan hệ song phương lẫn đa phương

1.2.2 Đổi mới tư duy đối ngoại của Đảng cộng sản Việt Nam

Trang 18

Trước thực trạng đất nước khủng hoảng và những chuyển biến nhanh chóng của tình hình khu vực và thế giới đòi hỏi Đảng ta phải đổi mới tư duy trong mọi lĩnh vực hoạt động

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng cộng sản Việt Nam tháng 12 năm 1986 đã khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước Đổi mới tư duy về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, tạo ra những biến chuyển quan trọng trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, đổi mới về tư duy đối ngoại Đại hội xác định phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới với “xu thế mở rộng phân công, hợp tác giữa các nước, kể cả các nước có chế độ kinh tế – xã hội khác nhau, cũng là những điều kiện rất quan trọng đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta” [13, tr30] do đó phải “sử dụng tốt mọi khả năng mở rộng quan hệ thương mại, hợp tác kinh tế và khoa học, kỹ thuật với bên ngoàiđểphục vụ công cuộc xây dựngchủnghĩa xã hội”[13, tr31]

Nội dung đổi mới tư duy đối ngoại tiến triển qua các Nghị quyết Trung ương (1988, 1989, 1990), đánh dấu bước đổi mới quan trọng trong nhận thức về các vấn đề quốc tế và đối ngoại của Đảng cộng sản Việt Nam Chúng đặt cơ sở nền tảng cho đường lối đối ngoại rộng mở đa phương hóa, đa dạng hóa ở giai đoạn sau Từ sự đổi mới nhận thức “muốn kết hợp sứ mạng của dân tộc với sứ mạng của thời đại, nước ta phải tham gia sự phân công lao động quốc tế” [13, tr81], Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương tăng cường quan hệ với các nước tư bản trong đó có EU trên cơ sở hai bên cùng có lợi, có những bước đi quan trọng đặt cơ sở nền tảng và mở ra triển vọng mới cho quan hệ đối ngoại nói chung và với EU nói riêng trong các giai đoạn tiếp theo sau này.

1.2.3 Đường lối đối ngoại đổi mới (1991 – 2004 )

Trong bối cảnh cục diện chính trị thế giới và khu vực thay đổi nhanh chóng, phức tạp, Đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục đổi mới tư duy đối ngoại Đảng nhận

Trang 19

thức sâu sắc nhu cầu khách quan đặt ra đối với tất cả các quốc gia dân tộc là cần phải phối hợp chặt chẽ với nhau để giải quyết những vấn đề quốc tế, cần phải sáng suốt, linh hoạt, mềm dẻo trong quan hệ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng cộng sản Việt Nam vào tháng 6 năm 1991 chủ trương “hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình” [15, tr88] , phát triển chủ trương “thêm bạn bớt thù” của Đại hội VI thành “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” [15, tr147] Đại hội VII quán triệt việc đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế với mọi quốc gia, các tổ chức kinh tế

Đường lối đối ngoại đổi mới đó được khẳng định lại ở Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII “phải đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới” và “Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới,

vì hòa bình hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế vì lợi ích tối cao của dân tộc; đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của quốc gia, dân tộc khác của khu vực và toàn thế giới” [16, tr120], “tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại…”, “ củng cố môi trường hòa bình, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa, đẩy mạnh sự phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [16, tr120]

Nghị quyết Đại hội IX của Đảng cộng sản Việt Nam (4 – 2001) chủ trương nâng tiến trình hội nhập kinh tế lên một bước mới, nhấn mạnh, xem hội nhập về kinh tế là vấn đề chủ yếu của hội nhập quốc tế Phương châm của Đại hội VIII được phát triển lên một bước tại Đại hội IX là “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” [18, tr119]

Trang 20

Như vậy điểm nổi bật xuyên suốt từ đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đến Đại hội VIII, IX và qua các Hội nghị Trung ương đều xác định chủ trương hợp tác bình đẳng cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị – xã hội trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đã thể hiện quan điểm lập trường đổi mới và thiện chí của mình trong quan hệ quốc tế, đó chính là tiền đề quan trọng thúc đẩy quan hệ Việt Nam –EU tiếp tục phát triển

Triển khai thực hiện đường lối đối ngoại đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam có những bước đi đúng đắn trong quá trình hội nhập quốc tế,bình thường hoá quan hệ với Mỹ,ø chính thức gia nhập ASEAN, tham gia Diễn đàn hợp tác Á-Âu (ASEM) với tư cách là thành viên sáng lập Việt Nam đã gia nhập Diễn đàn kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (11/1998), đánh dấu bước phát triển nhảy vọt trong lĩnh vực ngoại giao Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ VI tại Việt Nam, nâng cao vai trò tích cực của mình trong ASEAN, tổ chức thành công Hội nghị Thượng đỉnh ASEM-5 (10-2004), chứng tỏ sự dày dạn, tự tin của Việt Nam

Đối với EU, Việt Nam nhận thức đầy đủ vai trò vị trí chiến lược của EU, chủ trương tăng cường các quan hệ với EU và các nước thành viên “Trong chính sách của mình Việt Nam coi trọng quan hệ hợp tác với EU”[21, tr39] Việt Nam xem việc phát triển quan hệ với EU là một trong những hướng ưu tiên trong chính sách đối ngoại thời kỳ đổi mới

Trên bình diện khu vực và quốc tế, việc tăng cường quan hệ với EU giúp Việt Nam thêm thuận lợi mới trong các hoạt động với tư cách là thành viên đầy đủ của ASEAN, cũng như trong các quan hệ với các đối tác khác Trong quá trình hội nhập vào cộng đồng thế giới, xây dựng củng cố và phát triển quan hệ nhiều mặt với EU có tính quan trọng cấp thiết, góp thêm thuận lợi cho các mối quan hệ song phương, cũng như các mối quan hệ đa phương liên quan đến sự hợp tác giữa hai tổ

Trang 21

chức khu vực ASEAN và EU, đại diện cho hai nhóm nước Đông Nam Á và Cộng đồng châu Aâu mà Việt Nam sẽ là một thành viên tích cực Những kết quả đạt được trong mối quan hệ đan xen này đã củng cố và nâng cao vị thế của đất nước, tạo ra thế cơ động linh hoạt trong quan hệ quốc tế, có lợi cho việc bảo vệ độc lập tự chủ và an ninh cũng như công cuộc xây dựng đất nước tạo đà cho bước phát triển hợp tác toàn diện Việt Nam - EU

Tóm lại, đường lối đổi mới chính sách đối ngoại của Việt Nam được khởi xướng từ Đại hội VI (1986) đã thường xuyên được bổ sung phát triển phù hợp với tình hình trong nước, thế giới thể hiện qua các đại hội VII, VIII, IX và các Hội nghị Trung ương “Với thời gian, chúng ta ngày càng nhận thức được ý nghĩa cực kỳ quan trọng của chính sách đối ngoại theo định hướng mới này là đường lối độc lập, tự chủ và đa dạng hóa được triển khai từ những tháng cuối năm 1991” Từ định hướng đó “chúng ta đã và đang thực hiện một bước chuyển cơ bản về tư duy và thực tiễn của hoạt động đối ngoại Kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa, chúng ta lấy mục tiêu hòa bình và phát triển làm chuẩn mực trong mọi hoạt động quốc tế của mình” [8, tr 160]

Quan điểm đối ngoại rộng mở đề ra ở Đại hội VI đã phát triển thành đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa Đường lối đổi mới đó trở thành kim chỉ nam cho việc triển khai các hoạt động quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ với EU nói riêng

Trang 22

Chương 2 QUAN HỆ VIỆT NAM – LIÊN HIỆP CHÂU ÂU TRÊN LĨNH VỰC

KINH TẾ (1995 -2004) 2.1 Tình hình quốc tế, khu vực sau chiến tranh lạnh Những tác động đến quan hệ Việt Nam – EU

2.1.1 Sự biến động của cục diện thế giới

Bứơc vào thập niên cuối của thế kỷ XX, thế giới chuyển từ hai cực sang đa cực mang đặc điểm mới quan trọng là quá độ hoà bình, không trải qua chiến tranh như các lần trước, nhưng lại diễn ra trong bối cảnh đầy kịch tính của những biến động bất trắc với các cuộc xung đột cục bộ quốc tế vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh kiềm chế lẫn nhau

Mỹ có lợi thế tạm thời là cực duy nhất còn lại đã ra sức củng cố vị trí siêu cường, mưu đồ giữ vai trò chi phối bá chủ thế giới.Thế nhưng sức mạnh của nền kinh tế Mỹ trong tương quan so sánh với EU, Nhật Bản ngày càng suy giảm, vai trò siêu cường độc nhất của Mỹ ngày càng bị thu hẹp.Các mâu thuẫn về sắc tộc, tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ… nay bộc lộ thành xung đột gay gắt mà không thể giải quyết nhanh chóng một sớm một chiều Chủ nghĩa dân tộc và sự phân ly dân tộc, tình cảm, sắc tộc tăng lên nhanh chóng cùng tạo nên môi trường cho sự phát triển của các thế lực tôn giáo Tại nhiều nơi trên thế giới gia tăng thù hận dân tộc, tôn giáo, bùng nổ xung đột vũ trang Đặc biệt làø chủ nghĩa hồi giáo cực đoan,

“giống như con sóng khổng lồ không chỉ tung phá biên giới quốc gia khu vực, làm rung động toàn bộ thế giới Hồi giáo mà còn trên một chừng mực nhất định làm

Trang 23

ảnh hưởng đến sự thay đổi và phát triển của tình hình thế giới” [9,tr59] Mặc dù vậy lợi ích quốc gia vẫn là tiêu chí hàng đầu trong quan hệ quốc tế Xu thế hợp tác quốc tế để cùng tồn tại hoà bình trong khu vực và toàn cầu ngày càng phát triển, quá trình giải trừ vũ khí hạt nhân ngày càng gia tăng

Những thay đổi của tình hình thế giới trong những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI đã hình thành nên những xu hướng phát triển lớn trong quan hệ quốc tế như sau:

Thứ nhất, quá trình toàn cầu hoá và quốc tế hoá đang tăng tốc trở thành “xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, bao trùm hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác vừa tăng sức ép cạnh tranh và tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế” [18, tr157]

Thứ hai, bước phát triển rất cao của nền kinh tế thế giới, với sự tự do hoá của thương mại, đầu tư dịch vụ, chuyển dịch công nghệ, lao động trên phạm vi toàn cầu đã thúc đẩy các quan hệ, giao dịch song phương, đa phương và tăng cường sự liên kết giữa các quốc gia, các khu vực trên toàn thế giới

Thứ ba, toàn bộ nền kinh tế thế giới trong những thập niên đầu thế kỷ XXI chịu sự tác động chi phối của làn sóng công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, làm xuất hiện các phương thức kinh doanh và quản lý mới, buộc các nền kinh tế phải thích ứng với một giai đoạn phát triển mới là nền kinh tế tri thức, làn sóng tự do hoá kinh tế, sự gia tăng thương mại – đầu tư quốc tế, sự gia tăng cuả liên kết kinh tế quốc tế theo chiều sâu của các khối kinh tế – thương mại

Thứ tư, tất cả các quốc gia đều đang ra sức điều chỉnh chiến lược phát triển và tập trung mọi sức lực vào ưu tiên phát triển kinh tế, lấy kinh tế làm trọng điểm Kinh tế trở thành vấn đề được ưu tiên trong quan hệ quốc tế Cạnh tranh bằng sức mạnh tổng hợp quốc gia thay thế cho chạy đua vũ trang đã trở thành hình thức chủ yếu trong cuộc đọ sức giữa các cường quốc Xu thế phát triển kinh tế thị trường

Trang 24

“tràn ngập” các châu lục, các nước dù lớn hay nhỏ muốn khôi phục và phát triển kinh tế thì không còn lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận và đẩy mạnh kinh tế thị trường Thế giới đang chuyển mạnh từ tranh giành những khoảng trống về quyền lực sang cạnh tranh về kinh tế, chiếm lĩnh các thị trường

Thứ năm, xu thế xây dựng quan hệ bạn bè chiến lược ổn định lâu dài giữa các nước lớn Các cường quốc trên thế giới đã điều chỉnh lại chính sách đối ngoại, xây dựng khuôn khổ quan hệ mới ổn định lâu dài, xác lập các điều kiện quốc tế có lợi hơn Các nước lớn đều tìm kiếm biện pháp và xu hướng thông qua đối thoại, thoả hiệp và tránh xung đột, tồn tại song song giữa hợp tác và cạnh tranh, giữa mâu thuẩn và hài hoà, tiếp xúc và kiềm chế, cùng có một mục đích chung nữa đó là chống chủ nghĩa khủng bố quốc tế

Như vậy, trong quan hệ quốc tế ngày nay “sự tập hợp lực lượng diễn ra rất

đa dạng và linh hoạt, chủ yếu dựa trên sự trùng hợp về lợi ích dân tộc trên từng vấn đề, từng lúc, từng nơi”[9,tr77] Các nước dù lớn hay nhỏ đều ra sức mở rộng quan hệ quốc tế, không phân biệt chế độ chính trị- xã hội khác nhau, không câu nệ đối tuợng, với tất cả những ai có khả năng hợp tác hiệu quả, việc xác định bạn hay thù, hình thức và mức độ quan hệ rất linh hoạt

Tóm lại, các xu thế chính trong cục diện quốc tế ngày nay tác động trong mối quan hệ qua lại với nhau, vừa có tính độc lập tương đối lại mang tính nhân quả Hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế trở thành yêu cầu khách quan của quá trình phát triển các quốc gia dân tộc trên thế giới Chiều hướng phát triển đó đặt ra yêu cầu thúc đẩy hợp tác quốc tế nói chung, hợp tác Việt Nam – EU nói riêng

2.1.2 Tình hình khu vực Á - Âu cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI

Cục diện quốc tế với những đặc điểm và xu thế lớn đã nêu trên tác động mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu và trong từng khu vực Đặc điểm về lịch sử, chính

Trang 25

trị, kinh tế văn hoá ở mỗi khu vực không giống nhau, nên biểu hiện của sự tác động cũng khác nhau về phạm vi hình thức và mức độ

Điều đáng chú ý của châu Á trong thập niên cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI là vấn đề phát triển kinh tế, với đặc điểm nổi bật là tốc độ tăng trưởng cao và sự chuyển dịch thị trường thành công ở các nước kinh tế chuyển đổi Trong khi phần lớn các nước thành viên EU lâm vào tình trạng suy giảm từ mức trung bình 3,5% năm 1989 xuống 0,9% năm 1992 thì các nước Đông Nam Á vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân 7% Sau cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế (1997) mức tăng trưởng của khu vực –7,1% (1998), sang năm 1999 bắt đầu phát triển năng động trở lại đạt mức tăng trưởng từ 0,5 đến 6% Trong những năm đầu thế kỷ XXI, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức như sự tác động của hậu quả do chiến tranh Irắc, nạn đại dịch mang tính toàn cầu SARS, nhưng kinh tế châu Á vẫn đạt mức tăng trưởng cao nhất thế giới Trung Quốc duy trì tốc độ tăng trưởng đứng đầu thế giới đạt 8,5% (2003), các nước ASEAN đạt 4,5% (2003), Việt Nam đạt 7,24% (2003) và 7% (2004) [26, tr22] Sự hội nhập đa dạng bao gồm cả các liên minh kinh tế tiểu khu vực, đã diễn ra nhanh chóng và có hiệu quả trên nhiều khu vực của châu Á (APEC, ASEAN, AFTA, ASEM) Rõ ràng, sự liên kết khu vực này là một nhân tố làm cho sự phát triển của châu Á có tính tương đối bền vững Nhận định về khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận định “khu vực châu Á – Thái Bình Dương đang phát triển năng động và tiếp tục phát triển với tốc độ cao” [16, tr77]

Tuy nhiên, ngoài những thuận lợi rất cơ bản, châu Á còn phải đối mặt với nhiều thách thức lớn Đại hội IX của Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định: “khu vực Đông Nam Á, châu Á – Thái Bình Dương, sau khủng hoảng tài chính – kinh tế, có khả năng phát triển năng động nhưng vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định” [18, tr14] Châu Á vẫn còn tồn tại nhiều điểm nóng và nhiều nguồn có thể gây ra xung đột Các điểm xung đột và mâu thuẫn ở châu lục này rất phức tạp và

Trang 26

có nguồn gốc lâu đời, không thể giải quyết một sớm một chiều Ví dụ như vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên dù đã trải qua nhiều lần đàm phán 4 bên rồi 6 bên nhưng hiện nay vẫn chưa giải quyết được; vấn đề ở khu vực eo biển Đài Loan; khu vực Biển Đông v.v… Sự phân hoá giàu nghèo ở đây quá lớn Nếu châu Âu về cơ bản là lục địa giàu chia đều, châu Phi là nghèo chia đều thì châu Á và Mỹ La tinh là hai lục địa có sự chênh lệch giàu nghèo lớn nhất

Một vấn đề khác liên quan đến hoà bình và phát triển của châu Á trong thế kỷ XXI là quan hệ giữa các nước lớn, Đặc biệt là giữa Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật và Nga kiềm chế lẫn nhau không để cho một nước nào vươn lên làm bá chủ khu vực Tất cả các nước lớn đều muốn có hoà bình ổn định để đảm bảo lợi ích của họ

ở phần đất này của thế giới Hầu hết các quốc gia trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương ngoài việc kiềm chế, còn hợp tác để giải quyết vấn đề an ninh chung trong khu vực và trên toàn cầu Mẫu số chung của sự hợp tác giữa Mỹ – Trung – Nhật là lợi ích chung, điều đó không cho phép họ xung đột lẫn nhau, mà phải tích cực hợp tác phối hợp giải quyết các bất đồng xung đột khu vực, hạn chế chúng trong phạm vi nhỏ nhất có thể được, ngăn cản không cho mở rộng xung đột thành chiến tranh khu vực

Toàn bộ tình hình trên chứng tỏ khu vực châu Á nói chung và Đông Nam Á nói riêng từ sau chiến tranh lạnh về cơ bản là ổn định và hoà bình Việc tạo nên sự cân bằng quyền lực là cơ sở cho duy trì hoà bình ổn định của khu vực Tình hình đó tác động đến sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của các nước lớn đối với khu vực với mục tiêu chung là nhằm củng cố nâng cao ảnh hưởng lại khu vực, tạo cơ sở cho việc thực thi chính sách châu Á - Thái Bình Dương của mỗi nước Xu hướng mở rộng quan hệ với Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam của Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc trở thành một trong những yếu tố quan trọng đưa đến sự nhận thức lại về vai trò của Việt Nam và khu vực trong tư duy đối ngoại của EU

Trang 27

Tình hình EU, nhìn chung diễn biến lành mạnh trong bối cảnh EU thực hiện chiến lược “ mạnh hơn mở rộng hơn” thành công Sau ba lần mở rộng trong những năm 70-80, EU ngày càng thể chế hóa chặt chẽ về cơ chế và trở thành một tổ chức khu vực mạnh Việc ký Hiệp ước Maastricht đánh dấu bước phát triển mới về chất của cộng đồng châu Âu trong bối cảnh quốc tế mới sau chiến tranh lạnh Cuộc đối đầu Đông Tây bị đẩy lùi, mục tiêu chiến lược chung giữa EU và Mỹ không còn hoàn toàn thống nhất như trước đây EU ngày càng gặt hái được nhiều thành tựu trong liên kết kinh tế như hình thành EMU sử dụng đồng tiền chung Euro đã tạo ra được một cực tiền tệ mới đối trọng với đồng đôla Mỹ để hình thành cục diện tiền tệ quốc tế đa nguyên EU giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế ôn hòa và mức lạm phát thấp EU ngày càng trở thành một cực quan trọng của tăng trưởng và ổn định trong nền kinh tế toàn cầu EU đồng thời tạo ra những bước tiến vững vàng về liên kết chính trị bao hàm cả lĩnh vực an ninh và đối ngoại như việc tiến tới xây dựng chính sách an ninh và quốc phòng châu Âu, đưa ra bàn thảo các vấn đề tư pháp, nội vụ EU đã soạn thảo và thông qua Hiến pháp châu Âu năm 2005

Như thế, EU thực sự lớn mạnh vừa là một đối tác, vừa là một đối thủ của Mỹ Trong bối cảnh đó, EU đưa ra chiến lược thế kỷ XXI là xây dựng một châu Âu thống nhất để phát triển kinh tế, thiết lập nền an ninh phòng thủ riêng, mở rộng ảnh hưởng ra các khu vực, nhằm biến châu Âu thành một cực mạnh có trọng lượng đáng kể trong trật tự thế giới “sau chiến tranh lạnh” EU nổ lực tìm kiếm tiếng nói chung tranh thủ mọi cơ hội thể hiện vai trò của mình ở khu vực châu Á nói chung, ASEAN nói riêng, trong đó có Việt Nam

Tóm lại, tình hình thế giới, khu vực trong những thập niên cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI với chiều hướng phát triển của nó, đặt ra yêu cầu thúc đẩy hợp tác quốc tế, đã tác động mạnh mẽ đến từng quốc gia dân tộc trên thế giới Những nhân tố nêu trên đã làm nẩy sinh tính đa phương, đa dạng trong quan hệ quốc tế và trong chính sách đối ngoại của từng nước Tất cả các nước trên thế giới, dù lớn

Trang 28

hay nhỏ, đều có sự thay đổi hoặc điều chỉnh lại chính sách đối ngoại dựa trên nền

tảng bảo vệ quyền lợi quốc gia, đảm bảo các điều kiện đối ngoại thuận lợi tối đa

để phát triển quan hệ hợp tác bình đẳng với tất cả các nước trên thế giới, mở rộng

sự phối hợp hành động chiến lược với các nước hàng đầu, nhằm duy trì và củng cố

sự ổn định an ninh toàn cầu giúp việc thiết lập hệ thống đa cực của các mối quan

hệ quốc tế Việt Nam và EU cùng nằm trong trào lưu chung đó

2.1.3 Tác động của tình hình thế giới và khu vực đến quan hệ Việt Nam – Liên hiệp châu Âu

Thứ nhất, tình hình chính trị và kinh tế thế giới những năm đầu thế kỷ XXI,

đặt ra nhu cầu thúc đẩy phát triển hợp tác cho tất cả các quốc gia trên thế giới nói

chung, Việt Nam - EU nói riêng Thế giới đang trong quá trình tạo dựng trật tự

mới, EU rất cần tới sự hợp tác của các nước châu Á trong đó có Việt Nam Vì việc

đấu tranh chống chủ nghĩa đơn phương của Mỹ đã trở thành lợi ích chung cho cả

châu Âu lẫn châu Á Mặt khác, nếu chỉ một mình EU,dù đã nâng cao vị thế chính

trị, kinh tế nhưng chưa thể so sánh với Mỹ về sức mạnh tổng thể, do đó nhu cầu

hợp tác với các quốc gia càng trở nên cần thiết

Thứ hai, sự giải thể của Liên Xô, ảnh hưởng của quan hệ Xô – Mỹ không

còn nữa, tác động của chiến lược đối ngoại của Mỹ cũng giảm đi, xu thế đa cực

hoá tăng lên Những điều đó đã tạo cơ hội và không gian rộng lớn để các quốc gia

EU thực thi chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, phát huy tính tích cực của mình

tăng cường mở rộng các quan hệ song phương, trong đó có mối quan hệ với Việt

Nam

Thứ ba, trong tình hình thế giới có nhiều biến động, nền kinh tế thế giới

vẫn chưa thoát khỏi sự suy thoái thì việc phát triển mối quan hệ giữa Việt Nam

với các khối nước trong đó có EU ngày càng trở nên cần thiết hơn Điều này có ý

nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của thế giới trong tương

Trang 29

lai cũng như đối với mỗi quốc gia của cả hai châu lục, nhất là đối với Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập quốc tế

Thứ tư, thắng lợi của nhất thể hoá làm cho EU có kỳ vọng cao hơn về vai trò chính trị trên thế giới Tình hình bất ổn của thế giới làm cho các nước đều cảm thấy nền an ninh của mình bị đe doạ, nhu cầu hợp tác quốc tế vì hoà bình và phát triển càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết Điều đó cũng khiến cho EU có ý muốn thay thế vai trò của Liên Xô để đảm bảo thế cân bằng toàn cầu Vì vậy một trong ba trụ cột chính của EU là chính sách đối ngoại và an ninh chung, mà mục tiêu của nó là đảm bảo sự có mặt của EU trên tất cả các khu vực thế giới, đặc biệt là châu Á Điều đó càng thúc đẩy việc chạy đua của EU vào khu vực châu Á và Việt Nam

Thứ năm, đối với châu Á nói chung, Đông Nam Á nói riêng đang biến đổi theo chiều hướng tăng cường liên kết kinh tế, tạo ra một khu vực phát triển năng động, tạo ra vị thế mới cho khu vực Điều đó thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các trung tâm trong việc lôi kéo hợp tác với ASEAN về phía mình để giành ưu thế thực hiện chiến lược trong bàn cờ lớn quốc tế Điều đó thuận lợi cho việc mở rộng quan hệ Việt Nam – EU EU từ lâu đã lo mất thị phần do Mỹ và Nhật tăng cường thương mại đầu tư ở khu vực này Điều lo ngại nhất của EU là Mỹ lợi dụng APEC để tập hợp lực lượng trong các cuộc đàm phán thương mại đa phương, do đó Mỹ làm ngơ trước đề nghị của EU đối thoại với APEC Vì thế EU thiết lập Diễn dàn hợp tác Á – Âu (ASEM) nhằm tăng cường sự có mặt về chính trị và an ninh ở khu vực này đảm bảo cho lợi ích kinh tế của EU

Thứ sáu, “Sự trỗi dậy của châu Á đang làm thay đổi một cách sâu sắc sự cân bằng cuả thế giới về sức mạnh kinh tế”[23,tr27] Châu Âu thấy cần phải tăng sự có mặt ở châu Á và đóng góp vào sự hợp tác với các nước : Trung Quốc – Việt Nam – Inđônêxia – Ấn Độ Các nước này đang trải qua một sự chuyển đổi sâu sắc và tích cực trên bình diện kinh tế, xã hội, mở ra một thị trường tiềm năng rộng lớn

Trang 30

cho thiết bị, hàng tiêu dùng, các dịch vụ, đó là cơ hội cho các nước châu Âu Như vậy EU đang đi vào thị trường phát triển mạnh nhất thế giới, việc hướng tài nguyên của mình vào các khu vực có thể cạnh tranh được một cách thực sự sẽ có lợi hơn cho cạnh tranh trên bình diện quốc tế

Thứ bảy, trong bối cảnh phân công lao động tòan cầu, các nước đều tìm cách giành cho mình một vị thế xứng đáng trong việc tranh thủ vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý để phát triển, đấu tranh để bảo vệ lợi ích của mình Nhận rõ xu thế đó, Việt Nam đề ra chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế, tranh thủ mọi sự giúp đỡ của EU cho quá trình này Các nước thành viên EU bắt đầu hình thành nền kinh tế tri thức, cần thiết phải mở rộng quan hệ hợp tác với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Vì chỉ có mở rộng quan hệ kinh tế, các nước EU mới có điều kiện chuyển giao những ngành, những khâu kỹ thuật công nghệ đã bị hao mòn vô hình sang các nước còn ở trình độ lạc hậu hơn để vừa thu hồi được tư bản cố định, vừa có điều kiện mới cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng mới phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế tri thức

Thứ tám, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh gay gắt, khoa học công nghệ có những bước phát triển nhảy vọt, cùng nhân loại tiến hành cuộc chuyển tiếp sang nền kinh tế tri thức trong thế kỷ 21, Việt Nam là nước đang phát triển, đi sau, trong khi chưa hoàn thành công nghiệp hoá, hiện đại hoá rất cần mở rộng quan hệ với EU gồm những nước có trình độ khoa học công nghệ tiên tiến, là cái nôi của những công nghệ nguồn Việc mở rộng quan hệ với EU là hoàn toàn phù hợp với quan điểm chung của Đảng và Nhà nước Việt Nam: đa phương hoá,

đa dạng hoá để làm bạn, làm đối tác tin cậy của nhau Tuy nhiên, bên cạnh những

cơ hội, Việt Nam không tránh khỏi những khó khăn thách thức về vốn, khoảng cách và trình độ phát triển

2.2 Quan hệ kinh tế Việt Nam-EU giai đoạn 1990 – 1995

Trang 31

Trong bối cảnh mới như đã phân tích ở trên dẫn đến quan hệ Việt Nam – EU

có những chuyển biến rõ rệt Từ chỗ với thái độ nghi kỵ, bất hợp tác chuyển sang thái độ thân thiện, hiểu biết lẫn nhau và cùng hợp tác vì lợi ích của hai bên Sự kiện thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức Việt Nam – EU (10-1990) đánh dấu một thời kỳ mới trong quan hệ Việt Nam – EU Trên cơ sở quan hệ chính trị mở đường tạo động lực thúc đẩy quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam – EU ngày càng phát triển

2.2.1 Quan hệ trên lĩnh vực thương mại

Chiến tranh lạnh kết thúc, việc mở rộng quan hệ thương mại với EU là một trong những mục tiêu quan trọng của Việt Nam Sau khi mất đi thị trường truyền thống là Liên Xô và các nước Đông Âu xã hội chủ nghĩa, Việt Nam muốn nhanh chóng tìm và mở rộng thị trường mới, nhằm đưa ngoại thương Việt Nam ra khỏi tình trạng hẫng hụt, đặc biệt là trong lĩnh vực dệt may, một ngành có tiềm năng sản xuất khá lớn của Việt Nam

Việt Nam, EU đã ký với nhau hiệp định buôn bán hàng dệt – may ngày 18/12/1992 và có hiệu lực từ 1/1/1993 “Đây là Hiệp định kinh tế đầu tiên mà EU ký với Việt Nam; cũng là lần đầu tiên Việt Nam ký một hiệp định song phương lớn với EU” [10, tr133] Các điều khoản chủ yếu nhằm thiết lập chế độ áp dụng cho buôn bán hàng dệt xuất xứ từ Việt Nam Việc xếp loại các mặt hàng được căn cứ trên cơ sở danh biểu thuế quan chung và danh biểu thuế thống kê của EU, đã tạo cơ sở pháp lí cho Việt Nam tăng nhanh xuất khẩu hàng dệt vào thị trường EU Hiệp định quy định Việt Nam xuất khẩu sang EU 151 chủng loại mặt hàng (cat) trong đó có 46 loại tự do không bị ràng buộc vào hạn ngạch Tổng số hạn ngạch theo hiệp định này là 21.298 tấn với kim ngạch 450 triệu USD mỗi năm [22, tr62]

Trang 32

Trong năm 1993, Việt Nam đã xuất khẩu vào EU khoảng 250 triệu USD

sản phẩm dệt may Cả nước đã có 277 doanh nghiệp trực tiếp xuất khẩu hàng dệt

may sang EU, trong đó có 76 doanh nghiệp đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 triệu

USD (trong năm 1993 chỉ có 49 doanh nghiệp) [40, tr5]

Các hiệp định được ký kết đã góp phần tích cực đẩy mạnh quan hệ buôn

bán giữa Việt Nam và EU,(xem phu lục 3) Có 9 mặt hàng xuất khẩu chính sang

thị trường EU là giày dép, hàng dệt-may, cà phê, sản phẩm bằng da thuộc, đồ gỗ

gia dụng, đồ chơi trẻ em, dụng cụ thể thao, đồ gốm-sứ, máy móc-thiết bị điện và

thủy, hải sản Những mặt hàng này có kim ngạch chiếm khoảng 75% tổng kim

ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào EU Trong đó, việc kí kết hiệp định hàng dệt

Việt Nam - EU đã đẩy kim ngạch xuất khẩu hàng dệt sang EU tăng lên nhanh

chóng, từ 84 triệu USD lên 285 triệu USD (1994) và hơn 300 triệu USD (1995),

chiếm 70% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU, tăng liên tục từ

1992 đến 1995 Điều đó cho thấy tầm quan trọng của hàng dệt trong cán cân

thương mại giữa Việt Nam và EU thời kỳ từ năm 1990 đến 1995 EU được Việt

Nam coi là thị trường trọng điểm và khai thác triệt để,có hiệu quả.“Châu Âu đã

trở thành thị trường xuấtkhẩu hàng dệt may theo hạn ngạch lớn nhất của Việt

Nam” [22, tr64]

2.1.2 Quan hệ trên lĩnh vực đầu tư và hợp tác phát triển

Trong các lĩnh vực đầu tư giữa Việt Nam - EU, dầu khí là lĩnh vực hợp tác

mà Việt Nam và các nước EU đã có quan hệ từ rất sớm Ngay từ khi ra đời vào

những năm 70, ngành dầu khí Việt Nam đã hợp tác với các công ty EU như Agip

(Italy), Deminex (Cộng hoà Liên bang Đức), Compagnie Generale de

Geophysique (Pháp) trong khảo sát, tìm kiếm, thăm dò dầu khí ở thềm lục địa

phía Nam Ngành bưu chính viễn thông là một trong những ngành ï phát triển

mạnh mẽ nhất ở Việt Nam với các đại diện như France Telecom, Alcatel, Siemen,

Trang 33

Ericsson, Kinnevik, Comvik… các đối tác EU đưa vào Việt Nam những công nghệ viễn thông tiên tiến, tạo bước nhảy vọt cho mạng lưới dịch vụ viễn thông Việt Nam.

Trên lĩnh vực hợp tác phát triển EU thưcï hiện qua nhiều kênh khác nhau chủ yếu thông qua các tổ chức phi chính phủ (NGO)û Năm 1990 -1991, có 61 NGO (trong đó có 23 NGO thuộc EU) có các dự án viện trợ cho Việt Nam, năm 1995-

1996, các nước EU có 34 NGO Tháng 12 năm 1990, đại diện của Uỷ ban châu Âu và chính phủ Việt Nam đã ký thoả thuận về chương trình giúp đỡ người Việt Nam

ra đi bất hợp pháp trở về tái hoà nhập trên nguyên tắc hồi hương tự nguyện, với số tiền là 210 triệu USD Bằng sự hỗ trợ đó đã giúp cho 110.000 người có điều kiện trở lại với cộng đồng và ổn định cuộc sống

Trong 4 năm, từ 1992 đến 1995, EU đã tài trợ khoảng 8 triệu USD cho các dự án giáo dục, y tế… ở Việt Nam thông qua các tổ chức phi chính phủ và một khoản viện trợ 750.000 USD giúp các vùng bão lụt ở nước ta Tại Hội nghị các nhà tài trợ ở Paris(1993) EU đã nhất trí viện trợ cho Việt Nam 90 triệu USD của Ngân hàng phát triển châu Á EU còn dành cho Việt Nam một khoản tài trợ 16,5 triệu USD (11/1994), nhằm giúp Việt Nam cải tạo hệ thống kế toán, kiểm toán, bảo hiểm, đầu tư trong nước, tiêu chuẩn và chất lượng, sở hữu trí tuệ, kế hoạch hoá kinh tế và các hệ thông tin

Tóm lại, quan hệ Việt Nam – EU từ khi hai bên thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức cấp đại sứ (1990) đến khi ký hiệp định khung hợp tác (1995) đã có những bước chuyển biến mới toàn diện trên mọi lĩnh vực chính trị lẫn kinh tế Có thể nói rằng quan hệ Việt Nam – EU đã được thiết lập vào thời điểm thích hợp và cần thiết cho cả hai bên, đáp ứng lợi ích và nhu cầu từ hai phía, xác định được hướng đi đúng đắn và đem lại kết quả tích cực

Tuy nhiên, ngoài những thành tựu đã đạt được, nhìn chung giai đoạn này còn nặng về hợp tác, hỗ trợ phát triển Chủ yếu là các nước thành viên chủ chốt

Trang 34

của EU tích cực ủng hộ cho Việt Nam thông qua các dự án Trong lĩnh vực này còn mang nặng tính một chiều, chưa thể hiện rõ sự bình đẳng hai bên vì sự kém phát triển kinh tế của Việt Nam và chính sách đầu tư, khuyến khích xuất khẩu của Việt Nam đang ở trong giai đoạn sửa đổi hoàn chỉnh Mặc dù còn nhiều hạn chế, song với những kết quả đã đạt được, quan hệ Việt Nam - EU thời kỳ 1990 -

1995 đã đặt cơ sở thúc đẩy hai bên ký kết Hiệp định khung (1995) mở ra một trang mới cho quan hệ đối tác chiến lược và toàn diện

2.3 Quan hệ kinh tế Việt Nam- EU giai đọan 1995 - 2004

Sự kiện trọng đại đánh dấu bước chuyển biến mới trong quan hệ Việt Nam – EU là ngày 17 tháng 7 năm 1995 tại Brussels, hai bên đã ký chính thức “Hiệp định hợp tác giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Vịêt Nam và Cộng đồng châu Âu Nội dung của Hiệp định gồm 21 điều khoản, thoả thuận sự hợp tác toàn diện trên nhiều lĩnh vực giừa EU với một nước thuộc khu vực Đông Nam châu Á [xem phụ lục 2] Hiệp định này đánh dấu một bước tiến quan trọng vào Việt Nam của EU, là dấu mốc trong quan hệ hai bên, mở ra một thời kỳ mới với những điều kiện pháp lý thuận lợi và vững chắc hơn cho sự phát triển mối quan hệ này

Đối với Việt Nam, đây là một trong những thắng lợi đối ngoại quan trọng khẳng định tính đúng đắn của đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế của Đảng và nhà nước ta, đánh dấu một bước tiến quan trọng trên con đường hội nhập quốc tế của Việt Nam, làm thất bại chính sách bao vây, cấm vận Việt Nam của những thế lực thù địch, khẳng định sự hợp tác bình đẳng hai bên cùng có lợi giữa Việt Nam và EU Hiệp định là cơ sở pháp lý tác động tích cực đến việc cải thiện và phát triển các mối quan hệ hữu nghị hợp tác Việt Nam – EU trên nhiều lĩnh vực lâu dài, bền vững theo đúng luật pháp quốc tế Đồng thời trong chừng mực nhất định, Hiệp định này đã có sự tác động đến các mối quan hệ giữa Việt Nam với một số nước lớn khác

Trang 35

2.3.1 Quan hệ Việt Nam – EU trên lĩnh vực thương mại

Trong Hiệp định khung hợp tác Việt Nam - EU kí kết (7/1995), thương mại chiếm vị trí quan trọng trong những nội dung cơ bản của hiệp định [xem phụ lục 2] Đó là cơ sở pháp lý quan trọng cho lĩnh vực buôn bán trao đổi thương mại Việt Nam-EU Thị trường EU trở thành một trong những thị trường lớn của Việt Nam và đang là “miếng đất màu mỡ“ để Việt Nam tận dụng khai thác Đồng thời nhu cầu nhập khẩu của EU đối với các mặt hàng chủ lực của Việt Nam là rất lớn và chính sách thương mại của EU đối với Việt Nam cũng đang dần được hoàn thiện

Kim ngạch buôn bán Việt Nam-EU tăng dần theo thời gian, cụ thể năm

1997 là 3,3 tỷ USD; 1998: 4,09 tỷ USD (tăng 7,2%); năm 1999 là 4,4 tỷ USD; 2000: 4,6 tỷ USD, tăng gấp 3 lần năm 1995 Năm 2002, kim ngạch hai chiều tăng gấp 20 lần so với năm 1990 Sang năm 2003, kim ngạch buôn bán giữa Việt Nam-

EU đã đạt 6,8 tỷ USD (theo số liệu thống kê của phía EU), đứng thứ hai sau Mỹ Năm 2004, tổng kim ngạch buôn bán hai chiều đạt gần 11tỷ USD Từ năm 1997, Việt Nam đã đạt thặng dư thương mại trong buôn bán với EU, EU đã trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam Cụ thể trong năm 2000, Việt Nam xuất khẩu sang EU 3,9 tỷ Euro (tăng 20 lần so với năm 1999) và nhập khẩu 1.2 tỷ USD, Năm 2001, xuất khẩu của Việt Nam sang EU đạt 2,4 tỷ USD và nhập khẩu đạt 1,3 tỷ USD Thị trường EU chiếm 20%, Nhật Bản chiếm 18,8%, Trung Quốc 11% lượng hàng xuất khẩu của Việt Nam Việt Nam xuất sang EU năm 2003 hơn 3,8 tỷ USD, tăng 25 lần so với 1990 Nhập khẩu 2003 gần 2,5 tỷ $, tăng gần 15 lần so với 1990 [41, tr1-4] Năm 2004, xuất khẩu của Việt Nam sang EU đạt 4,5 tỷ USD và nhập khẩu đạt mức 6,5 tỷ USD [43, tr99](xem phụ lục 5)

Hai bên luôn có những nổ lực trong hợp tác thương mại, như hỗ trợ chính sách thương mại đa biên (gọi tắt là MUTRAP) là sáng kiến chung giữa Ủy ban châu Âu với chính phủ Việt Nam khởi đầu từ năm 1998 Giai đoạn đầu kết thúc

Trang 36

tháng 3/2003 với tổng số vốn 3,1 triệu euro, giai đoạn hai bắt đầu thực hiện vào tháng 4/2004 với tổng số vốn trị giá 5,1 triệu euro Các hoạt động tập trung vào hỗ trợ kỹ thuật cho những vấn đề cụ thể của đàm phán WTO như cách thức giảm thuế, miễn trừ Quy chế tối huệ quốc, quan hệ giữa dịch vụ và đầu tư, cách thiết lập các điểm hỏi đáp về thiết lập hàng rào đối với thương mại và các điểm tư vấn vệ sinh dịch tễ, kinh nghiệm hội nhập của EU cũng như các hoạt động xây dựng mạng lưới thông tin hỗ trợ quá trình đàm phán và phổ biến tình hình hội nhập đến các địa phương trong địa bàn cả nước EU công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường là một bước tiến lớn làm cho hàng hoá Việt Nam không bị bất lợi đối với các biện pháp chống phá giá của EU, tạo cơ sở thuận lợi trong các mối quan hệ ngày càng vững mạnh

Xuất khẩu của Việt Nam sang EU chiếm gần 19% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam , nhập khẩu của Việt Nam từ EU chiếm gần 10% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam Qua đó chứng tỏ EU là một bạn hàng quan trọng hàng đầu của Việt Nam EU là đối tác hỗ trợ lớn cho những nỗ lực của Việt Nam trong việc cải thiện thâm hụt cán cân thương mại

a) Tình hình xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường EU

* Hàng dệt may: Thị trường EU là thị trường trọng điểm nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam Việt Nam đã khai thác triệt để, có hiệu quả

Hiệp định thương mại hàng dệt-may giữa Việt Nam và EU đã ký kết từ 1992) và đến nay qua nhiều lần sửa đổi (1994, 1996, 1997, 2000, 2003) Trong lần sửa đổi ngày 15/2/2003, Việt Nam - EC đã ký tắt thoả thuận theo đó EU chấp nhận tăng 50-75% hạn ngạch cho các mặt hàng may nhạy cảm của Việt Nam đến năm 2004 Thực ra Hiệp định bổ sung hàng dệt may này khi ký đã có hiệu lực ngay trong năm 2003, nhưng do Việt Nam không kịp sử dụng nên phía EU đồng ý để Việt Nam chuyển hạn ngạch sang năm 2004

Trang 37

Hiệp định hàng dệt-may Việt Nam - EU đã tạo cho Việt Nam nhiều khả năng thuận lợi để xuất khẩu sản phẩm sang EU, góp phần tích cực thúc đẩy sự phát triển ngành công nghiệp may mặc Hiệp định buôn bán hàng dệt-may Việt Nam - EU sau khi được ký kết và thực hiện đã tạo cho ngành dệt-may một thị trường rộng lớn: kim ngạch xuất khẩu hàng năm tăng bình quân hàng năm 14% đưa mặt hàng dệt-may lên đứng thứ hai trong 10 mặt hàng xuất khẩu có giá trị lớn của Việt Nam (chiếm khoảng 18,9% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước) Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU tăng liên tục qua các năm Thị trường EU đứng trên các thị trường khác như Nhật bản là 590 triệu USD, các nước châu Âu ngoài EU 180 triệu USD, Bắc Mỹ 150 triệu USD Năm 2004, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của thị trường Việt Nam lên khoảng 1tỷ USD [30, tr5], tăng khoảng 400 triệu so với năm 2003

EU đã trở thành thị trường xuất khẩu hàng dệt-may theo hạn ngạch lớn nhất của Việt Nam Trong cơ cấu xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang EU thì áo jacket chiếm tỷ trọng khoảng 51,7%, xuất khẩu sang EU 18 triệu chiếc, đạt giá trị khoảng 360 triệu USD/năm; áo sơ mi (11%), quần âu (5%), áo len và áo dệt kim (3,9%), quần dệt kim (22,7%) Nhìn chung, sức cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam chưa cao do một số chi phí phụ trợ như vận tải, giao nhận lưu kho còn cao, trong đó chỉ có 30% là xuất khẩu trực tiếp còn 70% là hàng gia công Giá trị xuất khẩu hàng dệt may sang EU năm 2003 đạt trên 600 triệu USD và năm 2004 tăng lên khoảng 1 tỷ USD [30, tr5],chiếm khoảng 25% kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may cả nước Ngày 3/12/2004, sau những bàn bạc gay go căng thẳng, cuối cùng đạt được thoả thuận là EU nhất trí xoá bỏ hạn ngạch cho hàng dệt may Việt Nam từ tháng 1/2005 điều đó thể hiện sự ưu đãi của EU đối với Việt Nam, tạo điều kiện cho hàng dệt may Việt Nam cạnh tranh được với hàng của các nước đã gia nhập WTO như Trung Quốc, Ấn Độ, giúp cạnh tranh bình đẳng

Trang 38

Như vậy, ngành dệt may Việt Nam tuy phát triển rất nhanh, thị trường EU đã mở ra đối với Việt Nam nhưng để đứng được vững chắc được trên thị trường này là vấn đề không dễ Bởi vì, khu vực sản xuất thiếu khả năng cạnh tranh do phương thức gia công dễ dãi, ngành dệt chưa đáp ứng được nhu cầu về nguyên liệu, phụ liệu cho ngành may, khó cạnh tranh được với hàng Trung Quốc và các nước ASEAN Ngoài ra, do xu hướng tăng cường buôn bán trong nội bộ của khu vực thị trường thống nhất EU và chiến lược tập trung cho các nước thành viên mới của EU gây khó khăn cho Việt Nam trong khả năng tăng xuất khẩu sang thị trường này

* Hàng da giày: Từ sau khi ký Hiệp định khung (7/1995), sau đó ký Hiệp định giày dép (2000), nhóm hàng giày dép xuất khẩu vào EU không phải xin phép, vì thế kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh chóng chiếm đến 70% hàng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường EU và vượt lên giành vị trí đầu bảng của ngành dệt may ở giai đoạn trước Trong đó sản phẩm giày dép (chủ yếu là giày thể thao) đang chiếm vị trí hàng đầu trong số các mặt hàng da giày xuất khẩu của Việt Nam sang EU Tại thị trường EU, Việt Nam được ghi nhận là một trong năm nước có số lượng giày dép đuợc tiêu thụ nhiều nhất ở EU do có chất lượng tốt và mẫu mã được chấp nhận Về giày vải của Việt Nam ở thị trường EU đứng thứ hai sau Trung Quốc [25, tr16]

Khác với hàng dệt may mặt hàng giày dép đạt được sự tăng trưởng tương đối đều ở tất cả các khu vưcï thị trường và các nước chủ yếu, nhưng thị phần vẫn tập trung chủ yếu ở các nước EU

Giày dép Việt Nam xuất khẩu sang EU được hưởng ưu đãi GSP với mức thuế bằng 70% mức thuế thông thường và không bị áp dụng hạn ngạch Thế nhưng có đến 95% hàng gia công nên hiệu quả thu được từ xuất khẩu rất thấp, chỉ 20-25% Hơn nữa do gia công theo đơn đặt hàng và sản xuất theo quy trình kỹ thuật nhập khẩu nên các doanh nghiệp hoàn toàn bị động về mẫu mã, phụ thuộc vào

Trang 39

quy trình sản xuất cũng như thị trường tiêu thụ Việt Nam còn gặp khó khăn vì chưa tạo được nguồn nguyên liệu ổn định, hàng năm vẫn phải nhập khẩu 200-250 triệu USD vải giả da, 80-100 triệu USD da các loại [ 25, tr22].Việt Nam có lợi thế hơn về giá công nhân rẻ so với các nước xung quanh trong khu vực, nhưng do máy móc lạc hậu, tiêu tốn nhiều nguyên liệu, năng lượng, sử dụng nhiều nhân công nên giá thành sản phẩm của Việât Nam lại cao hơn so với các nước khác

* Hàng thuỷ sản: Mặt hàng này có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ tư của Việt Nam sang EU, từ sau năm 1995, đạt tốc độ phát triển khá nhanh Năm 1999, EU đã đưa Việt Nam vào danh sách các nước xuất khẩu thuỷ sản, công nhận Trung tâm kiểm tra chất lượng vệ sinh thuỷ sản là cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam đủ điều kiện kiểm soát hàng thuỷ sản vào EU, chứng nhận vệ sinh theo mẫu EU quy định Hàng thuỷ sản của Việt Nam được EU đưa vào danh sách ưu tiên loại 1, trong đó có 40 doanh nghiệp Việt Nam đủ điều kiện xuất thuỷ sản thẳng vào EU mà không qua sự thoả thuận song phương với từng nước thành viên, năm 2001 chiếm 6% thị phần của thị trường này Tuy vậy, có những mặt hàng thị trường EU cần như thịt gia súc, mật ong nhưng Việt Nam không xuất khẩu được vì chưa đáp ứng được yêu cầu của EU về mặt chất lượng, nhất là về vệ sinh thực phẩm Ở Việt Nam có khoảng hơn 200 nhà máy chế biến thuỷ sản với công suất đạt 200.000 tấn sản phẩm xuất khẩu/năm [24,tr5] Trong đó 70% cơ sở đã lạc hậu về công nghệ không áp dụng được quy trình quản lý chất lượng chặt chẽ khó bảo đảm các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, ô nhiễm môi trường do EU đề ra Mặt khác, nguồn nguyên liệu thuỷ sản nuôi trồng chưa phát triển mà chủ yếu dựa vào khai thác tự nhiên nên không cung cấp ổn định cho thị trường

* Hàng nông sản: Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU bao gồm chè, cà phê, cao su… trong đó cà phê chiếm vị trí hàng đầu, 44,9% tổng kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng nông sản và có tốc độ tăng hàng năm khoảng 30% Còn các nước Châu Âu ngoài EU chỉ có 38,7%, Bắc Mỹ 16,4%

Trang 40

EU là thị trường lớn nhất đối với cà phê Việt Nam, chiếm tỷ trọng 40-50% kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam Năm 2001, Việt Nam xuất khẩu sang EU

466000 tấn cà phê đạt 198 triệu USD Năm 2002, giảm xuống còn 360.000 tấn đạt

166 triệu USD Các nước thành viên của EU nhập khẩu cà phê Việt Nam với số lượng đạt năm cao nhất khoảng 30.000 tấn, trị giá trên dưới 12 triệu USD [7, tr12.] Nhìn chung xuất khẩu cà phê vào thị trường EU không gặp khó khăn nào, không bị rào cản thương mại, thế nhưng do giao dịch xuất khẩu phần lớn đều thực hiện thông qua một số ít các nhà nhập khẩu nên dễ bị ép giá đem lại hiệu quả kinh doanh thấp

Còn chè xuất khẩu của Việt Nam do chiến tranh Iraq làm cho khủng hoảng,

do đó xúc tiến xuất khẩu sang EU là rất cần thiết, nhưng sản phẩm chè của Việt Nam không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, do khâu sản xuất dùng thuốc sâu tràn lan Mấy năm qua lượng chè xuất khẩu sang khu vực EU không nhiều, mỗi năm chỉ đạt khoảng 3 triệu USD, năm cao nhất là năm 2002, đạt gần 5000 tấn vớí kim ngạch gần 5 triệu USD Còn số các nước thành viên mới, Việt Nam chỉ xuất khẩu chè sang thị trường Ba Lan mỗi năm khoảng 2000 tấn với trị giá hơn 1 triệu USD[37,tr6]

Mặt hàng gạo của Việt Nam xuất khẩu vào EU được tính mức thuế quan thấp hơn so với hạn ngạch thuế quan của EU, nhưng không có nhiều triển vọng xuất khẩu gạo vào EU mở rộng vì hàng rào thuế quan cao (gạo 100%, đường 200%).Một số mặt hàng nông lâm sản khác có nhiều tiềm năng xuất khẩu sang thị trường EU như hạt điều, cao su, rau hoa quả thực phẩm chế biến Trong đó mặt hàng rau quả mới thâm nhập vào thị trường EU vài năm sau này chiếm 18% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của thị trường Việt Nam Nhìn chung, hàng nông sản của Việt Nam vào thị trường EU gặp phải cản trở lớn do các nước EU có chính sách bảo trợ nông nghiệp

Ngày đăng: 19/06/2023, 09:14

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w