Quản lý nhà nước đối với các hệ thống thư viện phục vụ cho quá trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
Trang 1MỞ ĐẦU
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Văn hóa đọc là một yếu tố cơ bản quyết định hiệu quả của quá trình tựhọc, trong đó sách là phương tiện cơ bản và hữu hiệu nhất để con ngườiquyết định đến nguồn thông tin, văn hóa tri thức, đồng thời khối lượng kiếnthức thu thập được từ việc đọc sách chính là một thước đo đánh giá tầm vóctri thức của mỗi người Trước khi có các phương tiện nghe nhìn (truyềnhình, phim ảnh, internet…), sách là phương tiện cơ bản và hữu hiệu nhất đểcon người tiếp cận với nguồn thông tin, văn hóa và tri thức Mỗi cuốn sách
là một bậc thang nhỏ đưa con người đến với những chân trời mới và nhữngkhám phá mới giúp con người tiến bộ và hoàn thiện hơn trong cuộc sống.Ngày nay, cùng với sự phát triển đời sống kinh tế - xã hội cũng như yêu cầungày càng cao về trình độ tri thức của nhân loại, nhu cầu đọc sách và vănhóa đọc đang trở thành vấn đề được nhiều quốc gia, nhiều tổ chức quan tâm
và đặt lên hàng đầu, đặc biệt là trong thời đại văn hóa nghe nhìn ngày càng
tỏ ra hấp dẫn và có ưu thế hơn đang lấn át văn hóa đọc Điều này đặt ra yêucầu cần thiết phải tiến hành giải quyết vấn đề duy trì vai trò truyền thống củasách và đọc sách đồng thời nâng cao hiệu quả của quá trình cải biến, xâydựng văn hóa đọc theo hướng hiện đại
Cùng với quá tình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và xu thếtoàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực chất lượngcao ngày càng trở nên cấp thiết, đặc biệt trong hoàn cảnh chất lượng nguồnnhân lực của nước ta còn nhiều hạn chế Quá trình đào tạo nguồn nhân lựcchất lượng cao phải được tiến hành dựa trên sự phối kết hợp đồng bộ củanhiều yếu tố và đòi hỏi cung cấp một hệ thống cơ sở vật chất, tri thức, khoa
Trang 2học thường xuyên đổi mới Trong đó, hệ thống thư viện được xem nhưphương tiện gần gũi, trực tiếp nhất để con người tiếp cận những kiến thứckhoa học một cách nhanh chóng và hiệu quả Để đáp ứng được yêu cầu thựctiễn khách quan đó, hệ thống thư viện, đặc biệt là thư viện phục vụ trực tiếpcho quá trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cần phải được tổ chức
và hoạt động theo một định hướng xác định, trong đó không thể thiếu vai tròquản lý nhà nước đối với hệ thống thư viện này Thực hiện hoạt động quản
lý nhà nước đối với hệ thống thư viện, đặc biệt là thư viện phục vụ cho quátrình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao có hiệu quả sẽ có ý nghĩa quyếtđịnh trong việc cung cấp kiến thức tri thức khoa học về các lĩnh vực khoahọc, kỹ thuật, văn hóa, xã hội… phát triển nguồn nhân lực Trong nhữngnăm qua, cùng với những kết quả đạt được của quá trình đổi mới tổ chứchoạt động của bộ máy nhà nước và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tácquản lý nhà nước trên các lĩnh vực nói chung, công tác quản lý nhà nước vềhoạt động của hệ thống thư viện cũng đã bước đầu có những thay đổi đáng
kể góp phần nâng cao vai trò và vị trí của hệ thống thư viện trong quá trìnhđào tạo, bồi dưỡng dân trí, nhân lực cũng như đáp ứng nhu cầu người, tuynhiên trên thực hoạt động này vẫn còn tồn tại nhiều bất cập cần được kịpthời khắc phục và hoàn thiện
Với những lý do trên, quản lý nhà nước đối với các hệ thống thư việnphục vụ cho quá trình đào tạo cho quá trình đào tạo nguồn nhân lực chấtlượng cao được đặt ra như một yêu cầu cấp thiết
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trang 3Đề tài “Quản lý nhà nước đối với các hệ thống thư viện phục vụ cho quá trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao” nhằm:
- Khái quát hệ thống hoá những vấn đề chung và cơ bản nhất về quản lýnhà nước đối với hệ thống thư viện và thư viện phục vụ cho quá trình đào tạonguồn nhân lực chất lượng cao
- Tìm hiểu hoạt động quản lý hành chính nhà nước trên một lĩnh vực cụthể: tổ chức và hoạt động của thư viện phục vụ cho quá trình đào tạo nguồnnhân lực chất lượng cao
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước trên lĩnh vực này.III PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài thực hiện nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về thư viện nóichung trên cơ sở tìm hiểu tổng quát quy định về quản lý nhà nước về thưviện Đồng thời, tìm hiểu thực tế việc tình hình thực hiện quản lý nhà nướcđối với một số thư viện phục vụ cho quá trình đào tạo nguồn nhân lực chấtlượng cao như thư viện Quốc gia, thư viện một sô trường đại học trên địabàn thành phố Hà Nội
IV – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Với mục đích tìm kiếm, khảo sát những thông tin xác thực, toàn diện vàkhoa học, trong quá trình nghiên cứu đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiêncứu:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phỏng vấn theo mẫu
- Phương pháp phỏng vấn chuyên sâu
- Phương pháp điều tra xã hội học
Trang 4- Phương pháp hệ thống hoá, phân tích, tổng hợp tài liệu lưu trữ.
Trang 5NỘI DUNG Chương 1: Khái quát chung về QLNN đối với hệ thống thư viện phục
vụ cho quá trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
1 Một số vấn đề chung về quản lý nhà nước
1.1 Quản lý
Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức, điều hành các hoạtđộng có mục đích, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lýnhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên những quy luậtkhách quan
1.2 Quản lý nhà nước
- Theo quan điểm lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, nhà nước xét về bảnchất, là một hiện tượng thuộc thượng tầng kiến trúc, tồn tại dựa trên một cơ sởkinh tế nhất định; là công cụ để duy trì sự thống trị của giai cấp này đối với giaicấp khác, là một tổ chức quyền lực đặc biệt, có bộ máy chuyên trách để cưỡngchế và thực hiện các chức năng quản lý nhằm thực hiện và bảo vệ lợi ích củagiai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp đối kháng
Bản chất giai cấp của nhà nước được thể hiện ở các chức năng của nó Dướigóc độ tính chất của quyền lực chính trị, nhà nước có chức năng thống trị chínhtrị của giai cấp và chức năng xã hội Chức năng thống trị chính trị của giai cấp -chức năng giai cấp - là chức năng nhà nước làm công cụ chuyên chính của mộtgiai cấp nhằm bảo vệ sự thống trị giai cấp đó đối với toàn thể xã hội Chức nănggiai cấp của nhà nước bắt nguồn từ lý do ra đời của nhà nước và tạo thành bảnchất chủ yếu của nó Chức năng xã hội của nhà nước là chức năng nhà nướcthực hiện sự quản lý những hoạt động chung vì sự tồn tại của xã hội, thỏa mãnmột số nhu cầu chung của cộng đồng dân cư nằm dưới sự quản lý của nhà nước
Trang 6- Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điềuhành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội vàhành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêuyêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước.
Tuy nhiên, để quản trị quốc gia, quản lý nhà nước không chỉ thuộc thẩmquyền của nhánh hành pháp mà bao gồm tất cả các hoạt động từ việc xây dựngthể chế, chính sách đến tổ chức thực hiện và thanh tra, kiểm tra, xử lý viphạm… Quản lý nhà nước theo nghĩa rộng là hoạt động tổ chức, điều hành của
cả bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lựcnhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp
Như vậy, quản lý nhà nước là một dạng quản lý đặc biệt, được sử dụng các quyền lực của nhà nước trong các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp để quản lý mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
2 Quản lý nhà nước đối với thư viện
2.1 Thư viện
- Thư viện có chức năng, nhiệm vụ giữ gìn di sản thư tịch của dân tộc;thu thập, tàng trữ, tổ chức việc khai thác và sử dụng chung vốn tài liệu trong xãhội nhằm truyền bá tri thức, cung cấp thông tin phục vụ nhu cầu học tập, nghiêncứu, công tác và giải trí của mọi tầng lớp nhân dân; góp phần nâng cao dân trí,đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế,văn hóa, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Thư viện có các nhiệm vụ sau đây:
+ Đáp ứng yêu cầu và tạo điều kiện thuận lợi cho người đọc trong việc sửdụng vốn tài liệu thư viện và tham gia các hoạt động do thư viện tổ chức
Trang 7+ Thu thập, bổ sung và xử lý nghiệp vụ vốn tài liệu; bảo quản vốn tài liệu
và thanh lọc ra khỏi kho các tài liệu lạc hậu, hư nát theo quy chế của thư viện.+ Tổ chức thông tin, tuyên truyền vốn tài liệu thư viện, tham gia xây dựng
và hình thành thói quen đọc sách, báo trong nhân dân
+ Xử lý thông tin, biên soạn các ấn phẩm thông tin khoa học
+ Thực hiện sự liên thông giữa các thư viện trong nước; trao đổi tài liệu vớithư viện nước ngoài theo quy định của Chính phủ
+ Nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến vàocông tác thư viện, từng bước hiện đại hóa thư viện
+ Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho người làm công tác thưviện
+ Bảo quản cơ sở vật chất, kỹ thuật và tài sản khác của thư viện
2.2 Quản lý nhà nước đối với thư viện
Quản lý nhà nước về thư viện là sự tác động có chủ đích, có định hướng củanhà nước đối với toàn bộ hoạt động liên quan đến công tác thư viện bằng quyềnlực của nhà nước, thông qua pháp luật, chính sách, công cụ, môi trường, lựclượng vật chất và tài chính trên tất cả các mặt hoạt động của công tác thư việnnhằm đạt mục tiêu của nhà nước
Hoạt động thư viện được đặt dưới sự quản lý thống nhất của Nhà nước;chủ động dựa vào nội lực là chính, đồng thời phát huy sức mạnh tổng hợp củacác loại hình thư viện trong mối liên kết chặt chẽ, thúc đẩy nhau cùng pháttriển
2.2.1 Về quản lý nhà nước đối với thư viện, Pháp lệnh thư viện quyđịnh:
Trang 8- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về thư viện và được thể hiện ởnhững nội dung sau: Quyết định chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển thưviện; đệ trình các dự án luật về thư viện lên Quốc hội, ban hành các văn bảnpháp quy theo thẩm quyền; chỉ đạo một số hoạt động trong lĩnh vực thư việnnhư nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ, tổ chức đăng ký hoạt độngt hư viện,thực hiện hợp tác quốc tế, tổ chức thi đua khen thưởng, thanh tra, xử lý các viphạm pháp luật về thư viện
- Bộ Văn hóa – Thông tin chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản
lý nhà nước
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quankhác của nhà nước có trách nhiệm phối hợp với bộ Văn hóa – Thông tin thựchiện quản lý nhà nước đối với thư viện trực thuộc theo quy định của Chính phủ
- Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước vvvề thư việntrong phạm vi địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ
2.2.2 Về chính sách của nhà nước trong lĩnh vực thư viện, Pháp lệnh nhànước về thư viện quy định:
- Đầu tư để đảm bảo cho các thư viện hưởng ngân sách nhà nước hoạtđộng, phát triển và từng bước hiện đại hóa cơ sở vật chất - kỹ thuật, điện tử hóa,
tự động hóa thư viện; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ những người làm công tác thưviện
- Đầu tư tập trung cho một số thư viện có vị trí đặc biệt quan trọng; ưu tiênđầu tư xây dựng thư viện huyện ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn,vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
Trang 9- Khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ởnước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia đóng góp xây dựng và pháttriển sự nghiệp thư viện Việt Nam.
- Hỗ trợ việc đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho người làmcộng tác thư viện các tổ chức không hoạt động bằng ngân sách nhà nước
- Ưu tiên giải quyết đất xây dựng thư viện
- Hỗ trợ, giúp đỡ việc bảo quản các bộ sưu tập tài liệu có giá trị đặc biệt
về lịch sử, văn hóa, khoa học của cá nhân, gia đình
2.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về thư viện bao gồm:
- Xây dựng, chỉ đạo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển các loại hìnhthư viện
- Ban hành, chỉ đạo thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về thưviện
- Đào tạo, bồi duỡng nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, chuyên môn,nghiệp vụ cho đội ngũ những người làm công tác thư viện
- Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoahọc và công nghệ trong lĩnh vực thư viện
- Tổ chức đăng ký hoạt động thư viện
- Hợp tác quốc tế về thư viện
- Tổ chức, chỉ đạo công tác thi đua khen thưởng trong hoạt động thưviện
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về thư viện; giải quyếtkhiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm pháp luật về thư viện
1.1 Một số văn bản quy phạm pháp luật về công tác thư viện
Trang 10- Sắc lệnh lưu chiểu năm 1946 của Chính phủ Việt Nam dân chủcộng hòa.
- Sắc lệnh số 18 ngày 31 tháng giêng năm 1946 đặt thể lệ lưu chiểuvăn hóa phẩm trong nước Việt Nam
- Quyết định của Bộ trưởng Bộ Lao Động số 120/LĐ-QĐ ngày 6tháng 6 năm 1985 ban hành bản danh mục số 1 các chức danh đầy đủviên chức Bộ Văn hóa và chuyên ngành báo chí xuất bản; biểu diễn nghệthuật; thư viện
- Thông tư liên bộ 97 ngày 15 tháng 6 năm 1990 của Bộ VHTT và BộTài chính về chính sách đầu tư của nhà nước đối với thư viện công cộng
- Thông tư số 97/TTLB-VHTTTTDL-TC của Bộ tài chính, Bộ thôngtin, văn hóa, thể thao và du lịch ngày 15 tháng 06 năm 1990 hướng dẫnchế độ quản lý tài chính và chính sách đầu tư của Nhà nước đối với thưviện công cộng
- Thông tư số 30/TT-LB ngày 26 tháng 7 năm 1990 của Bộ tài chính,
Bộ GD&ĐT về hướng dẫn quản lý vốn sự nghiệp đầu tư cho Giáo dụcphổ thông
- Quyết định số 1067/QĐ-TTg của thủ tướng Chính phủ ngày 25tháng 11 năm 1998 về việc phê duyệt Dự án xây dựng và quản lý tủ sáchpháp luật ở xã, phường, thị trấn
- Quyết định số 61/1998/QĐ-BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạongày 06 tháng 11 năm 1998 về việc ban hành quy chế về tổ chức và hoạtđộng thư viện trường phổ thông
- Pháp lệnh thư viện số 31/2000/PL-UBTVQH10 của Uỷ ban thường
vụ Quốc hội ngày 28 tháng 12 năm 2000
Trang 11- Nghị định của Chính phủ số 72/2002/NĐ-CP ngày 06 /08/2002 Quyđịnh chi tiết thi hành Pháp lệnh thư viện.
- Nghị định của Chính phủ số 56/2006/NĐ-CP ngày 06/06/2006 về
xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa - thông tin
- Quyết định số 170/2003/QĐ-TTg ngày 14/8/2003 của Thủ tướngChính phủ về "Chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hóa"
- Quyết định của Bộ trưởng, Trưởng ban tổ chức - cán bộ chính phủ
số 393/1998-QĐ-TCCP-CCVC ngày 3/10/1998 về việc quyết định thinâng ngạch bảo tàng viên, thư viện viên, thư mục viên lên bảo tàng viênchính, thư viện viên, thư mục viên chính
- Quyết định số 01/2003/QĐ-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ GD&ĐTngày 02 tháng 01 năm 2003 về việc ban hành Quy định tiêu chuẩn thưviện trường phổ thông
Quyết định số 50/2003/QĐBVHTT của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin ngày 22 tháng 8 năm 2003 về việc Quy định mức kinh phí muasách lý luận, chính trị của hệ thống thư viện
Thông tư số 56/2003/TT BVHTT của Bộ văn hóa thông tin ngày16/9/2003 về hướng dẫn chi tiết về điều kiện thành lập thư viện và thủtục đăng ký hoạt động thư viện
- Luật xuất bản số 30/2004/QH11 của Quốc hội ngày 03 tháng 12năm 2004
- Quyết định số 16/2005/QĐ-BVHTT của Bộ Văn hóa - Thông tinngày 04 tháng 5 năm 2005 ban hành Quy chế mẫu Tổ chức và hoạt độngcủa thư viện Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Trang 12- Quyết định số 49/2006/QĐ-BVHTT của Bộ trưởng Bộ Văn hóaThông tin ngày 05 tháng 5 năm 2006 ban hành quy chế mẫu về tổ chức
và hoạt động của thư viện Huyện, Quận, Thị xã, Thành phố trực thuộcTỉnh
- Thông tư liên tịch số 46/2006/TTLT/BVHTT-BTC của Bộ Vănhóa– Thông tin và Bộ tài chính ngày 25 tháng 4 năm 2006 về hướng dẫnthực hiện chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hóa
- Thông tư liên tịch số BLĐ-TB&XH-TLĐLĐVN của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốcphòng, Bộ GD&ĐT, Bộ LĐ-TB&XH và Tổng Liên đoàn lao động ViệtNam ngày 07 tháng 6 năm 2006 về hướng dẫn việc xây dựng, quản lý,khai thác Tủ sách pháp luật ở cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, trườnghọc
02/2006/TTLT-BTP-BCA-BQP-BGD&ĐT Quyết định số 10/2007/QĐ 02/2006/TTLT-BTP-BCA-BQP-BGD&ĐT BVHTT của Bộ văn hóa thông tinngày 04 tháng 05 năm 2007 phê duyệt quy hoạch phát triển ngành Thưviện Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
- Quyết định số 13/2008/QĐ-BVHTTDL của Bộ trưởng Bộ văn hóa,thể thao và du lịch ngày 10 tháng 03 năm 2008 về việc ban hành Quy chếmẫu tổ chức và hoạt động thư viện trường đại học
- Quyết đinh số 26/2008/QĐ-BVHTTDL của Bộ trưởng Bộ văn hóa,thể thao và du lịch quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổchức của Vụ Thư viện
2 Yêu cầu của hệ thống thư viện phục vụ cho quá trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
Trang 13Nguồn nhân lực chất lượng cao được hiểu là bộ phận lao động xãhội có trình độ học vấn và chuyên môn kĩ thuật cao; có kĩ năng lao độnggiỏi và có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng củacông nghệ sản xuất; có sức khỏe và phẩm chất tốt, có khả năng vận dụngsáng tạo những tri thức, những kĩ năng đã được đào tạo vào quá trình laođộng sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao Để cónguồn nhân lực chất lượng cao đủ sức đáp ứng những đòi hỏi ngày càngcao của kinh tế tri thức hiện nay, nguồn nhân lực phải đảm bảo các yêucầu cơ bản sau: Người lao động phải được nâng cao về trình độ dân trí;Người lao động phải có khả năng sáng tạo cao; Người lao động phải cótinh thần tự giác ham muốn học hỏi; Người lao động phải có khả năngthích ứng và có tính linh hoạt cao Ngoài ra, nền sản xuất công nghiệpcòn đòi hỏi ở người lao động phải có các năng lực và văn hóa lao độngcông nghiệp cần thiết như: có kỷ luật tự giác, biết tiết kiệm nguyên vậtliệu và thời gian, có tinh thần trách nhiệm, có tinh thần hợp tác và tácphong lao động công nghiệp, lương tâm nghề nghiệp… Nguồn nhân lựcchất lượng cao không đồng nghĩa với học hàm, học vị cao mà thể hiện ởmọi người lao động, dù lao động cơ bắp tay hay lao động trí óc với sứcvóc thể chất tốt để duy trì và phát triển trí tuệ, để chuyển tải tri thức vàohoạt động thực tiễn, biến tri thức thành sức mạnh vật chất.
Để đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ nhu cầucủa quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và đáp ứng nhữngđòi hỏi ngày càng cao của kinh tế tri thức hiện nay, hệ thống thư việnphục vụ trực tiếp cho quá trình này phải đáp ứng các yêu cầu sau:
Trang 14- Hệ thống thư viện phải góp phần nâng cao về trình độ dân trí; mởrộng hiểu biết, tìm tòi nghiên cứu và kích thích khả năng sáng tạo tronghoạt động thực tiễn; hình thành tinh thần tự giác, ham muốn học hỏi, traudồi kiến thức, rèn luyện kỹ năng và không ngừng nâng cao trình độ; bồidưỡng khả năng thích ứng và tính linh hoạt cao cho người học tập,nghiên cứu, lao động khi vận dụng những tri thức cơ bản vào giải quyếtcác đòi hỏi của thực tiễn, ứng dụng linh hoạt lý thuyết vào thực hành vànâng cao khả năng làm chủ của con người trong cuộc sống vốn luôn cónhiêu biến đổi.
- Hệ thống thư viện phải tự mình khẳng định được vị trí quan trọngcủa mình trong quá trình nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡngnhân tài thông quá việc cải tiến chất lượng phục vụ và mở rộng quy môhoạt động với nhiều phương thức khác nhau Từ đó góp phần tác độngđến việc thay đổi nhận thức của xã hội, của chính quyền các cấp, của các
cơ quan về vai trò của thư viện trong thời kỳ mới đặc biệt coi trọng vị trícủa thư viện và đầu tư cho hoạt động của thư viện trong phục vụ công tácđào tạo nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm làm cho thưviện trở thành nhân tố tích cực và trực tiếp góp phần vào quá trình đàotạo đội ngũ nhân lực chất lượng cao
- Hình thành mạng lưới thư viện rộng khắp với hai loại hình thưviện cơ bản là thư viện công cộng và thư viện đa ngành, chuyên ngành cókhả năng đáp ứng mọi nhu cầu đọc và thông tin của mọi độc giả Mạnglưới thư viện phải tạo ra được sự đào tạo, bồi dưỡng, trau dồi kiến thứckhông chỉ đối với đội ngũ cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư
mà cả đối với đội ngũ công nhân, kỹ thuật viên, cán bộ trung cấp, kỹ
Trang 15sư… nhằm thỏa mãn nhu cầu xã hội và sự phát triển của nền kinh tế quốcdân Cụ thể:
+ Đáp ứng kịp thời, đầy đủ và có hệ thống các thông tin chonghiên cứu và học tập; tham gia góp phần nâng cao trình độ tiếp nhận,khai thác, sử dụng thông tin trong xã hội, thúc đẩy quá trình nâng cao dântrí; củng cố, phát triển và khai thác có hiệu quả nguồn lực thông tin, mởrộng các loại hình ấn phẩm thông tin và các dịch vụ thông tin, đáp ứng tốtnhất nhu cầu của người khai thác và sử dụng
+ Đầy đủ đầu sách cho học tập, nghiên cứu, giảng dạy
+ Cơ chế thông thoáng, chính sách thu hút học tập, nghiên cứu qua hệthống thư viện
+ Môi trường văn hóa đọc sách lành mạnh
+ Đầu tư đồng bộ: nâng cao chất lượng sách, hệ thống tra cứu điệntử-internet, đầu tư phòng đọc (thoáng đãng, mát mẻ, tiện nghi, đủ diệntích…); phương tiện kỹ thuật, cơ sở vật chất và phương thức hoạt độngkhông ngường được đổi mới theo hướng hiện đại
+ Có sự phối hợp với đoàn trường, cơ quan trường học, hội thanhniên, tổ chức quần chúng tuyên truyền văn hóa đọc sách, hướng thanhniên xây dựng nếp sống, thói quen đọc sách
- Đẩy mạnh hình thức liên kết, phối hợp hoạt động giữa các thư viện,các trung tâm thông tin trong cả nước; đặc biệt là hoạt động của các Liênhiệp thư viện khu vực và Liên hiệp thư viện các trường đại học
- Có sự đa dạng hóa các loại hình thư viện phục vụ rộng rãi các đốitượng, bám sát nhu cầu thông tin, học tập, công tác và nghiên cứu củamọi tầng lớp nhân dân trong từng giai đoạn phát triển chính trị, kinh tế,
Trang 16văn hoá xã hội của đất nước Mở rộng hoạt động và hiện đại hóa hệ thôngthư viện của các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp vàdạy nghề - nhân tố quyết định cho hoạt động đào tạo nguồn nhân lực chấtlượng cao.
- Xây dựng được đội ngũ cán bộ làm công tác thư viện có trình độchuyên môn vững vàng, có kinh nghiệm công tác, có lòng nhiệt tình yêunghề Chú trọng công tác đào tạo cán bộ chuyên ngành với nhiều hìnhthức: Chính quy, tại chức, đào tạo lại ở nhiều cấp độ khác nhau: thạc sỹ,
cử nhân, trung cấp
- Công tác xã hội hoá hoạt động thư viện được đẩy mạnh và phát huyhơn nữa hiệu quả quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thư viện Hợp tácquốc tế trong lĩnh vực thư viện trên cơ sở tranh thủ tối đa các nguồn lựcngoài nước, đồng thời huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hộitrong việc xây dựng và phát triển ngành thư viện Việt Nam phù hợp trongbối cảnh đất nước hội nhập kinh tế quốc tế và yêu cầu ngày càng cao củađời sống kinh tế - xã hội
CHƯƠNG 2THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐi VỚI HỆ THỐNG THƯVIỆN PHỤC VỤ CHO QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHẤTLƯỢNG CAO QUA THỰC TẾ TẠI THƯ VIỆN QUỐC GIA VÀ MỘT SỐTHƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thư viện quốc gia Việt Nam cũng như thư viện của các trường đại học trênđịa bàn Hà Nội đều là một bộ phận của hệ thống thư viện trong cả nước, cóchức năng, nhiệm vụ chung là: Đảm bảo việc thu thập, lưu trữ và phổ biến,
Trang 17cung cấp thông tin văn hóa – khoa học – xã hội, cũng như hỗ trợ khai thác hiệuquả những nguồn thông tin phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập và nghiêncứu khoa học của người đọc Với vai trò, chức năng đó, hệ thống thư viện nàygóp phần cơ bản và tích cực vào quá trình cũng cấp nguồn thông tin, tri thứccho toàn bộ dân cư trên địa bàn Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung tronghoạt động tra cứu, tìm hiểu, học tập, nghiên cứu, giảng dạy… đặc biệt là trongquá trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao Trong những năm qua, cùngvới quá trình đổi mới đất nước, nâng cao hiệu quả quản lý và hoạt động trên tất
cả các lĩnh vực và quá trình nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, hoạt độngcủa Thư viện quốc gia và thư viện các trường đại học đã có những thay đổiđáng kể, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao trình độ dân trí và làm phongphú sự hiểu biết trong toàn dân, góp phần vào nỗ lực chung của toàn xã hộitrong vấn đề nâng cao tầm vóc tri thức của người Việt Nam, đặc biệt là nângcao kiến thức chuyên ngành, chuyên sâu cho giới học sinh, sinh viên – nguồnlao động dự trữ, tiềm năng của đất nước Tuy nhiên, bên cạnh đó, hoạt động của
hệ thống này vẫn còn tồn tại một số hạn chế gây cản trở đến quá trình đào tạonguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng và toàn bộ quá trình đổi mới đất nướcnói chung
Trang 18thông tin, tài liệu cần thiết theo yêu cầu của quá trình phát triển đào tạo,
nghiên cứu cũng được cập nhật tương đối thường xuyên
Công tác thu nhận, lưu chiểu của Thư viên quốc gia các năm được tiến
hành thường xuyên, liên tục, các ấn phẩm nhận được tương đối đều Số
lượng sách nhận lưu chiểu năm 2009 tăng 4.172 bản so với năm 2008 trong
đó số lượng luận án tiến sĩ tăng 237 bản
Thư viện quốc gia vẫn tiếp tục duy trì được các mối quan hệ mật thiết
với các đơn vị, tổ chức nước ngoài và đã nhận được nhiều tài liệu qua các
nguồn biếu tặng từ các Dự án, Quỹ Châu Á, các Đại sứ quán, Thư viện quốc
gia Hàn Quốc, Tây Ba Nha, Nga, Pháp, Trung Quốc Cụ thể của năm 2009
ĐỔI
BIẾU TẶNG
TỔNG CỘNG
A SÁCH, TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT (TRANH, BẢN ĐỒ, ), LUẬN ÁN
TIẾNG
VIỆT
19.199 TÊN 86.209 BẢN
452 TÊN 2.913 BẢN
19.651 TÊN 89.122 BẢN NGOẠI
VĂN
3 TÊN 945
TÊN
3.029 TÊN
3.977 TÊN
B BÁO, TẠP CHÍ, BẢN TIN
TIẾNG
VIỆT
973 TÊN 47.025 SỐ
127 TÊN 28.191 SỐ
1.100 TÊN 75.216 SỐ
NGOẠI
VĂN
53 TÊN
768 SỐ
133 TÊN 3.378
46 TÊN
252 SỐ
232 TÊN 4.398 SỐ
Trang 19Nhờ việc thực hiện tốt các sắc lệnh về lưu chiểu và sự tận tụy với công tác
bổ sung, xây dựng vốn tài liệu cho nên tháng 10 năm 2010 Thư viện quốc gia
đã có bộ sưu tập rất phong phú, như:
+ Sách Nhật, Triều Tiên: 4.374 cuốn
+ Bản đồ: 1.859; kho lưu chiểu: 140.045 tên sách (250.000 bản)
+ Kho phụ phòng đọc: 31.860 cuốn
+ Kho sách các thứ tiếng dân tộc Việt Nam 1.141 cuốn
+ Kho tài liệu tra cứu: 4.000 bản
+ Kho tài liệu nghiệp vụ: 3.000 bản
- Kho ấn phẩm định kỳ gồm:
+ Báo, tạp chí tiếng Việt: 1.080 tên
+ Báo, tạp chí tiếng Pháp: 928 tên
+ Báo, tạp chí tiếng Anh: 1862 tên
Trang 20+ Báo, tạp chí tiếng Nga: 743 tên
+ Kho báo, tạp nghiên cứu: 2.599 tên
- Vốn vi phim, vi phích gồm có:
+ Phim Pôgativ: báo Việt: 231 tên (551 hộp)
+ Báo ngoại: 111 tên (177 hộp)
+ Sách ngoại: 878 tên (916 hộp)
+ Sách Nga: 46 tên (63 hộp)
+ Sách Hán: 79 tên (141 hộp)
+ Sách Việt: 1047 hộp
- Phim Negativ: báo Việt: 189 cuộn
+ Báo ngoại: 132 cuộn
1862 đến nay, như: một vài số của tờ Gia Định báo, tờ báo chữ quốc ngữ đầutiên, xuất bản năm 1865 ở Sài Gòn, Le Courrier de Haiphong, xuất bản năm
1886, Revue Indochinoise Illustrée, xuất bản năm 1894 tại Hà Nội, Journal
Trang 21officiel de l’Indochine Francaise, xuất bản tại Sài Gòn năm 1896; La tribuneIndoChinoise xuất bản tại Hà Nội năm 1899
Đó là những điều kiện rất tốt nhằm phục vụ cho quá trình đào tạo nguồnnhân lực có chất lượng cao bởi mỗi cuốn sách chính là chìa khóa vạn năng mởcủa trí tuệ cho mỗi con người nguồn tri thức vô biên
1.2 Công tác phục vụ bạn đọc
Thư viện quốc gia mở cửa tất cả các ngày trong tuần kể cả thứ 7 và chủnhật từ 8h đến 20h, thư viện chỉ đóng cửa vào các ngày nội dịch (ngày thứ 5tuần thứ 2 hàng tháng) và các ngày lễ theo quy định của nhà nước (không nghỉ
bù nếu ngày lễ tết trùng vào các ngày thứ 7, chủ nhật)
Năm 2007 thư viện quốc gia quyết định mở rộng thành phần bạn đọc tớisinh viên năm thứ nhất, thực hiện mục tiêu bồi dưỡng và nâng cao chất lượngnguồn nhân lực quan trọng của xã hội Cũng trong năm này, thư viện đã banhành cuốn “Hướng dẫn sử dụng Thư viện Quốc gia Việt Nam” giúp bạn đọctiếp cận tốt hơn với vốn tài liệu của thư viện Hướng dẫn tận tình bạn đọc trongviệc tìm và tra cứu tài liệu trên máy trung bình 390 lượt bạn đọc tra cứu/ngày.Đáp ứng nhanh, kịp thời và đúng nội dung 285 yêu cầu trả lời thông tin dướidạng các danh mục hoặc thư mục sách báo qua mạng phục vụ cho các đề tài,công trình nghiên cứu của bạn đọc trong cả nước đến năm 2009 thì con số nàytăng lên 885 yêu cầu trả lời thông tin dưới dạng các danh mục hoặc thư mụcsách báo qua mạng, trả lời trực tuyến trên website của thư viện phục vụ bạn đọc
cả nước
Năm 2009 thư viện quốc gia mở cửa phục vụ 342 ngày Đơn vị tiếp tục cảitiến thủ tục cấp thẻ, giảm thiểu tối đa các thủ tục hành chính, tuyên truyền thuhút bạn đọc bằng nhiều cách và cấp thẻ cho 17.460 bạn đọc (trong đó có 16.633
Trang 22thẻ chính và 827 thẻ đọc tạm thời) trung bình có khoảng 1.100 lượt bạnđọc/ngày đến sử dụng và phục vụ 2.200 lượt tài liệu/ngày Các chỉ tiêu phục vụ
PHƯƠNG TIỆN
PHÒN
G TRA CỨU
BÌNH QUÂN (L/ NGÀY)
1 Lượt độc
giả
303.239
36.267
2 Lượt tài
liệu
511.399
203.472