Thông qua mạng thông tin Á-Âu đã kết nối, trường Đại học quốc gia Chungnam, Hàn Quốc đang triển khai dự án nghiên cứu “Water quality models” với Đại học Dược và Viện Thuỷ lực học Đan Mạc
Trang 1BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
NGHỊ ĐỊNH THƯ NĂM 2006 - 2007
SẢN PHẨM
KẾT QUẢ NGHỊ ĐỊNH THƯ NĂM 2006 - 2007
Tên nhiệm vụ: Xúc tiến và hỗ trợ dự án kết nối Mạng thông tin Á-Âu
(TEIN) - Thuộc Nghị định thư Hợp tác Á - Âu (Dự án TEIN- kết nối Internet Á - Âu giai đoạn 2)
Cơ quan chủ trì đề tài/dự án: Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Chủ nhiệm đề tài/dự án: PGS TS Nguyễn Cảnh Lương
9147-1
Hà Nội - 2011
Trang 2BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
NGHỊ ĐỊNH THƯ NĂM 2006 - 2007
SẢN PHẨM
KẾT QUẢ NGHỊ ĐỊNH THƯ NĂM 2006 - 2007
Tên nhiệm vụ: Xúc tiến và hỗ trợ dự án kết nối Mạng thông tin Á-Âu
(TEIN) - Thuộc Nghị định thư Hợp tác Á - Âu (Dự án TEIN- kết nối Internet Á - Âu giai đoạn 2)
Chủ nhiệm đề tài/dự án:
PGS TS Nguyễn Cảnh Lương
Cơ quan chủ trì đề tài/dự án:
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Hà Nội - 2011
Trang 3DANH MỤC CÁC SẢN PHẨM CỦA NHIỆM VỤ NGHỊ ĐỊNH THƯ
Sản phẩm 1 Báo cáo xây dựng lộ trình tham gia mạng thông tin Á–Âu Sản phẩm 2 Báo cáo khảo sát mạng CERNET – Trung Quốc
Sản phẩm 3 Báo cáo khảo sát mạng KISDI-KOREN – Hàn Quốc
Sản phẩm 4 Báo cáo khảo sát mạng ThaiSARN – Thái Lan
Sản phẩm 5 Đề xuất mô hình tổ chức và hoạt động của NOC-VN
Sản phẩm 6 Đề xuất cơ chế quản lý NOC-VN
Sản phẩm 7 Đề xuất các vấn đề về an toàn, an ninh mạng
Sản phẩm 8 Đề xuất thử nghiệm và khai thác một số ứng dụng và công nghệ mới trên mạng
Trang 4BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHỊ ĐỊNH THƯ 2006-2007
Tên nhiệm vụ: Xúc tiến và hỗ trợ dự án kết nối Mạng thông tin Á-Âu
(TEIN) - Thuộc Nghị định thư Hợp tác Á - Âu (Dự án TEIN- kết nối Internet Á - Âu giai đoạn 2)
Sản phẩm 1
BÁO CÁO XÂY DỰNG LỘ TRÌNH THAM GIA
MẠNG THÔNG TIN Á-ÂU
Hà Nội 2008
Trang 5MỤC LỤC
I. TEIN, TEIN2 VÀ LỘ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA TEIN2 3
1.1 Giới thiệu tổng quan về mạng thông tin Á-Âu - TEIN 3
1.2 TEIN2 và lộ trình phát triển mạng thông tin Á- Âu giai đoạn 2 6
II. SỰ THAM GIA TEIN2 CỦA CÁC NƯỚC CHÂU Á 9
III. SỰ THAM GIA TEIN2 CỦA VIỆT NAM 9
3.1 Mục tiêu 9
3.2 Lợi ích 10
3.3 Nội dung tham gia 10
3.4 Về quản lý Nhà nước 10
3.5 Hiện trạng khi tham gia TEIN2 của Việt Nam 11
3.5.1 Tình hình thực tiễn 11
3.5.2 Các văn bản về định hướng phát triển công nghệ thông tin quốc gia 16
3.5.3 Các bước ký kết tham gia 16
3.5.4 Các hoạt động triển khai 17
IV. LỘ TRÌNH PHÁT TRIỂN MẠNG NGHIÊN CỨU VÀ ĐÀO TẠO VIỆT NAM 17
4.1 Kế hoạch triển khai ban đầu 17
4.2 Các công việc cần thực hiện 19
4.3 Phương án kỹ thuật xây dựng mạng VINAREN 21
4.3.1 Tiêu chí lựa chọn trung tâm vận hành mạng 21
4.3.2 Phương án kỹ thuật xây dựng mạng VINAREN 24
V. LỘ TRÌNH KẾT NỐI 29
5.1 Năm 2005 29
5.2 Năm 2006 29
Trang 6I TEIN, TEIN2 VÀ LỘ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA TEIN2
1.1 Giới thiệu tổng quan về mạng thông tin Á-Âu - TEIN
Dự án TEIN (Trans-Eurasia Information Network) là một sáng kiến thiết lập mạng thông tin liên châu lục Á-Âu, được các nguyên thủ quốc gia trong Hội nghị thượng đỉnh Á-Âu (ASEM) lần thứ 3 tại Hàn Quốc thông qua vào tháng 10/2000 Mạng TEIN có mục đích kết nối mạng nghiên cứu khoa học giữa Châu Á và Châu Âu thông qua kết nối giữa mạng GEANT của Châu
Âu – mạng kết nối toàn thể Châu Âu tốc độ gigabit (cụ thể là Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Áo, Rumani, Litva, Ba Lan, Ý, Thụy Điển) với các mạng nghiên cứu của Châu Á, như mạng dành cho thử nghiệm ứng dụng APII để nâng cao năng lực trao đổi thông tin trong nghiên cứu, phát triển và giáo dục-đào tạo Với nguồn kinh phí tài trợ của Cộng hoà Pháp vào tháng 12/2001 đã thực hiện kết nối thành công mạng thông tin Á-Âu giữa mạng viễn thông cho nghiên cứu và đào tạo RENATER của Pháp (Le Réseau National de
Télécommunications pour la Technologie, l'Enseignement et la Recherche,
http://www.renater.fr) với mạng KISDI của Hàn Quốc (Korea Information Strategy Development Institute, http://www.kisdi.re.kr), ban đầu là 2 Mbps và hiện nay là 34 Mbps và dự kiến sẽ được nâng lên 155 Mbps trong tương lai gần nhằm nâng cao khả năng phối hợp, chia sẻ nguồn tài nguyên thông tin thông qua môi trường mạng trong công tác nghiên cứu và đào tạo giữa hai nước Gần đây, phạm vi của mạng TEIN được mở rộng sang khu vực Đông Nam Á và Trung Quốc
Hình 1 Sơ đồ đường truyền trục mạng thông tin Á-Âu
Trang 7Thông qua mạng thông tin Á-Âu đã kết nối, trường Đại học quốc gia Chungnam, Hàn Quốc đang triển khai dự án nghiên cứu “Water quality models” với Đại học Dược và Viện Thuỷ lực học Đan Mạch; Viện Kỹ nghệ Sinh-Y, Đại học Enje, Hàn Quốc triển khai dự án Teledermatology với Châu
Âu và Trung Quốc; Đại học Kunkook, Hàn Quốc triển khai dự án Mobile IPv6 với các mạng nghiên cứu và đào tạo của Pháp, Bỉ; Đại học Soongsil, Hàn Quốc đang triển khai dự án AGEDIS (Automated Generation and Execution
of Test Suites for Distributed Component-based Software) với Đức; Đại học Inha, Hàn Quốc triển khai dự án Nghiên cứu Transitor công nghệ nano, kết hợp với Đại học Valladolid, Tây Ban Nha và Đại học Khoa học và Công nghệ Munich, CHLB Đức Theo số liệu thống kê năm 2003 của ASEM, đã có rất nhiều viện nghiên cứu và trường đại học tham gia kết nối với mạng thông tin Á-Âu, cụ thể như sau:
Số lượng các các nhà nghiên cứu đang tham gia vào mạng thông tin Á-Âu
Mỹ Canada TQ Nhật loan Đài Đức Pháp Anh Ý B Lan Nước
Các đơn vị sử dụng mạng thông tin Á-Âu
Tên nước Đơn vị dùng chính
Mỹ Đại học Duke gồm 10 đơn vị thành viê
Bắc Mỹ
Canada Đ i học Dalhousie gồm 10 đơn vị thành viên Trung Quốc Đại học The First Military Medical gồm 3 đơn vị thành viên
Châu Á
Nhật Trung tâm mạng thông tin Nhật Bản gồm 12 đơn vị thành viên
Châu Âu Bỉ Đơn vị cấp quyền đăng ký cục bộ cho các nhà cung cấp dịch vụ: 4 đơn vị thành viên
Trang 8British Trường đại học Bath gồm 17 đơn vị thành viên Austria Đơn vị cấp quyền đăng ký cục bộ ACOnet gồm 5 đơn vị thành viên Đan M ch Trung tâm nghiên cứu , đào tạo Đan Mạch và 2 đơn vị
Estonia Trung tâm Đào tạo Estonian và Mạng nghiên cứu Tartu Phần Lan Đại học Finnish và Tr ng tâm mạng nghiên cứu gồm 6 đơn vị thành viên Pháp Viện công nghệ IAP Institut d'Astrophysique gồm 23 đơn vị thành viên Đức Đại học công nghệ Aachen gồm 35 đơn vị thành viên
Hy Lạp Đại học Aristotle Thessaloniki gồm 5 đơn vị thành viên Hungary DELEGATED BLOCK Used to be managed gồm 4 đơn vị thành viên Aixơlen Mạng nghiên cứu SURIS/ISnet - Association of Research Networks của Aixơlen
Ai len Đại học Dublin Israel Đại học Ben Gurion gồm 4 đơn vị thành viên
Ý Trung tâm Centro di Calcolo di Ateneo gồm 9 đơn vị thành viên Lithuania Đại học công nghệ Kaunas, Trung tâm máy tính LITNET-1
à Lan Đại học n ng nghiệp Wageningen và 4 đơn vị thành viên khác Nauy Mạng Uninett và 4 đơn vị thành viên
Ba Lan POLIP gồm 9 đơn vị thành viên
Bồ Đào Nha PT-TLD-SERVERS RCCN-AGGREGATED-NET gồm 2 đơn vị thành viên
Ru ma ni Mạng đào tạo RoEduNet gồm 5đơn vị hành viên Nga Mạng eHouse (Moscow)
Singapore Đại học công nghệ Nanyang gồm 3 đơn vị thành viên Slovakia Đại học công nghệ Slovak gồm 3 đơn vị t ành viên Slovenia Mạng phân phối ARNES Ljubljana Slovenia ARNES gồm 4 đơn vị thành viên Tây Ban ha Trung tâm thông tin Centro Informatico Cientifico de Andalucia: 6 đơn vị thành viên
Ba Lan Đại học công nghệ Chalmers gồm 9 đơn vị thành viên Thụy Sỹ Đại học Geneva gồm 2 đơn vị thành viên
Đài Loan Bộ giáo dục Đào tạo và Trung tâm máy tính gồm 11 đơn vị thành viên Thái Lan Công ty trách nhiệm hữu hạn Internet Thailand
Trang 91.2 TEIN2 và lộ trình phát triển mạng thông tin Á- Âu giai đoạn 2
Từ kết quả của dự án mạng TEIN nêu trên, các nước trong Uỷ ban Châu
Âu (EC) và DANTE (Delivery of Advanced Networking Technology to Europe) đã nhất trí tài trợ để kết nối mạng thông tin Á-Âu giai đoạn 2 (gọi tắt
là TEIN2) nhằm hỗ trợ các nước đang phát triển trong ASEM Mục đích của TEIN2 là cung cấp, củng cố đường trục (backbone) cho liên khu vực Âu-Á, tạo điều kiện bình đẳng trong truy nhập tài nguyên mạng nghiên cứu, làm cầu nối trong hợp tác Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) và nâng cao khả năng phối hợp trong nghiên cứu và đào tạo của các nước trong ASEM, đặc biệt chú trọng đến các nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á Dự án TEIN2 được bắt đầu từ đầu năm 2004, được hỗ trợ chính từ EC và đóng góp của một số nước Châu Âu và Châu Á khác Các nước Châu Á trong danh sách thụ hưởng (được hỗ trợ 80% phí kết nối) bao gồm: Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippin và Việt Nam Ngoài ra, các đối tác phía Châu
Âu như mạng của Pháp (RENATER), mạng của Anh (UKERNA), mạng của
Hà Lan (SURFnet) Một số nước Châu Á tham gia kết nối nhưng không thuộc danh sách thụ huởng như: Brunei, Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc
Hình 2 Sơ đồ đường trục mạng TEIN2
Mạng TEIN2 là sự tiếp nối thành công đã có của việc kết nối Pháp –
Trang 10mạng nghiên cứu đào tạo đã có ở Châu Âu, Châu Á và các khu vực khác, rút kinh nghiệm từ các dự án đã triển khai Hiệu quả kết nối mạng trong từng khu vực đã được thể hiện ở các mạng như: GEANT (mạng Châu Âu), ALICE (mạng Châu Mỹ Latin), EUMEDCONNECT (mạng các nước vùng Địa Trung Hải) và SEEREN (mạng khu vực Đông Nam Châu Âu) Việc kết nối các đối tác Châu Á với mạng GEANT ở cấp khu vực sẽ giảm thiểu việc quản trị kết nối so với việc quản lý số lượng khá nhiều kết nối giữa Châu Âu và Châu Á như hiện nay Để kết nối các mạng trong khu vực Châu Á, đã có dự án AI3 (Asian Internet Interconnection Initiatives Project) hoặc dự án APII (Asia Pacific Information Infrastructure) hoặc như mạng APAN (Asia-Pacific Advanced Network) kết nối các mạng nghiên cứu và giáo dục của các nước trong Châu Á
Hiện nay, ngoài các nước khối EC cam kết tài trợ 9,75 triệu euro cho dự
án TEIN2 còn có sự đóng góp tài chính của các nước đã tham gia như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Brunei nhằm giúp các nước đang phát triển được hưởng thụ việc kết nối Internet liên Châu Âu–Châu Á Theo kế hoạch mở rộng của dự án TEIN2, Việt Nam sẽ là một trong sáu nước sẽ được thụ hưởng
dự án này cùng với Trung Quốc, Thái Lan, Phillipine, Indonesia, Malaysia Đặc biệt, việc kết nối mạng thông tin Á - Âu sẽ được khối EC tài trợ 80% kinh phí đường truyền quốc tế đến tháng 12/2008 và là một cơ hội rất tốt cho các bên tham gia
Trang 11Hình 3 Sơ đồ thiết kế kỹ thuật kết nối mạng TEIN2
Theo thiết kế, mạng TEIN2 bao gồm 14 tuyến chính, kết nối 10 nước khu vực Châu Á (6 nước thụ hưởng: Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Trung Quốc, Philippines, Việt Nam và 4 nước tham gia khác: Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Brunei) với nhau và với Châu Âu Mạng lưới mạng này sẽ được xây dựng xung quanh trung tâm là trục nối Tokyo, Singapore và Hồng Kông Các mạng sẽ được mở rộng đến Australia, Trung Quốc (Beijing), Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Philippines, Thái Lan, Việt Nam và kết nối đến GEANT của Châu Âu, được cung cấp bằng đường truyền tốc độ cao theo các tuyến cáp trên đất liền về hướng Bắc (622 Mbps) và cáp ngầm dưới biển theo hướng Nam (3 x 622 Mbps)
Một số công ty viễn thông khu vực đã hỗ trợ đường truyền cho dự án này như: NII (kết nối Tokyo–Singapore, 622 Mbps và Tokyo–Hồng Kông,
622 Mbps); MAFFIN (kết nối Tokyo–Quezon City, Philippines, 155 Mbps) và TransPAC2 (kết nối với khu vực Bắc Mỹ qua Tokyo) Các điểm tham chiếu của TEIN2 (PoPs) được đặt ở Bắc Kinh, Hồng Kông và Singapore, trong đó Trung tâm vận hành mạng TEIN2 sẽ được đặt tại Trường Đại học Thanh Hoa, Trung Quốc quản lý Dự án TEIN2 được hỗ trợ rất lớn từ công ty Juniper
Trang 12Networks, công ty tài trợ thiết bị định tuyến đặt tại các điểm tham chiếu của
dự án
II SỰ THAM GIA TEIN2 CỦA CÁC NƯỚC CHÂU Á
Các nước Châu Á trong nhóm ASEAN + 3 đều quan tâm, đặc biệt là Hàn Quốc trong nhóm nước không được hưởng lợi và Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan trong nhóm nước được hưởng lợi
Hàn Quốc: muốn đóng vai trò đầu tàu và đầu mối (hub) trong liên mạng Âu – Á
Trung Quốc: muốn đóng vai trò đầu tàu và đầu mối (hub) trong liên mạng Âu – Á, và đã thông báo sẵn sàng đóng góp 2 triệu USD đối ứng tại cuộc họp kỹ thuật 5/2004 tại Kuala Lampur
Malaysia và Thái Lan: muốn đóng vai trò đầu tàu và đầu mối (hub) trong khu vực ASEAN Cụ thể Thái Lan muốn làm đầu tàu cho khu vực Bắc ASEAN gồm Thái Lan, Việt Nam, Lào, Campuchia và Mianma
III SỰ THAM GIA TEIN2 CỦA VIỆT NAM
3.1 Mục tiêu
Các mục tiêu chính của việc Việt Nam tham gia Mạng thông tin Á –
Âu như sau:
- Xây dựng một Trung tâm vận hành mạng NOC-VN tại Hà Nội, kết nối trực tiếp với Mạng thông tin Á-Âu theo dự án TEIN2 nhằm cung cấp cổng truy nhập Internet trực tiếp dùng riêng cho các tổ chức nghiên cứu-triển khai và giáo dục-đào tạo trong nước
- Xây dựng đường trục kết nối chính cho Mạng nghiên cứu và đào tạo Việt Nam-VINAREN gồm 05 trung tâm vận hành mạng tại các thành phố: Hà Nội, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh, Huế và Cần Thơ
- Tạo điều kiện thuận lợi về đường truyền, tốc độ đường truyền, thông tin để các tổ chức nghiên cứu và đào tạo trong và ngoài nước có cơ hội quan hệ hợp tác chặt chẽ với nhau
- Xây dựng một môi trường mạng, cung cấp hạ tầng kỹ thuật truy cập Internet, cung cấp nội dung thông tin và các dịch vụ trên mạng cho các
Trang 13tổ chức nghiên cứu và đào tạo nhằm tạo điều kiện bình đẳng trong truy nhập tài nguyên nghiên cứu mạng
- Tạo cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho cộng đồng mạng nghiên cứu và đào tạo Việt Nam được kết nối với cộng đồng nghiên cứu và đào tạo Châu Âu
và các nước trên thế giới với tốc độ đường truyền 45/155 Mbps liên châu lục Âu- Á của mạmg TEIN2 thông qua đường trục mạng VINAREN tại các trung tâm vận hành mạng
- Tận dụng tối đa các dịch vụ, công nghệ Internet để tạo một sân chơi thuận lợi và một nơi giao lưu trao đổi kinh nghiệm về nghiên cứu khoa học, giảng dạy và học tập cho giới khoa học, công nghệ và đào tạo Việt Nam
3.2 Lợi ích
TEIN-2 có thể mang lại cho Việt Nam những lợi ích sau:
- Nâng cao trình độ, đào tạo đội ngũ nghiên cứu và đào tạo (R&E) tiệm cận trình độ khu vực;
- Hoà nhập công đồng quốc tế về R&E;
- Mở rộng hợp tác quốc tế;
- Thu hẹp phân cách số với các nước phát triển;
- Được tài trợ đường backbone liên kết với các nước trong khu vực Á- Âu;
- Đảm bảo phát triển bền vững cho mạng Internet và thông tin nói chung cho nghiên cứu và đào tạo
3.3 Nội dung tham gia
- Các chương trình nghiên cứu quốc tế trên các lĩnh vực khác nhau trong khuôn khổ ASEM;
- Đào tạo trên mạng giữa các trường đại học, viện nghiên cứu trong ASEM và thế giới;
- Sử dụng sơ sở hạ tầng và các dịch vụ được cung cấp phục vụ cho nghiên cứu, phát triển và đào tạo(R&E)
3.4 Về quản lý Nhà nước
Để triển khai dự án TEIN-2 tại Việt Nam, nên có một Ủy ban quốc gia từ các cơ quan chức năng có liên quan như Bộ Ngoại giao
Trang 14(Ban thư ký ASEM), Bộ Bưu chính Viễn Thông (về quản lý CNTT – viễn thông), Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ, trong đó Bộ Giáo dục và Đào tạo và Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam là nòng cốt về kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội và Viện Công nghệ Thông tin – những đơn vị phối hợp ban đầu với tổ chức DANTE đã tiếp cận và tham dự TEIN-2 sẽ là những đơn vị chính để thực hiện dự án dưới sự quản lý của Ủy ban và các cơ quan nói trên
3.5 Hiện trạng khi tham gia TEIN2 của Việt Nam
Việt Nam chính thức kết nối mạng Internet từ ngày 19/11/1997
và trên cơ sở mạng Internet, nhiều tổ chức KH&CN đã xây dựng và phát triển một số mạng thông tin khoa học và mạng thông tin giáo dục-đào tạo phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và đào tạo Trên thực tế các ứng dụng của mạng Internet nói riêng và tiến bộ trong khoa học công nghệ nói chung đã góp phần không nhỏ giúp Việt Nam bắt nhịp kịp với các nước trong khu vực, đồng thời tạo tiền đề cần thiết trong việc đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Trong các chương trình kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của Chính phủ thì ngoài việc nâng cao hạ tầng công nghệ thông tin còn phải chú trọng việc thiết lập mạng thông tin quốc gia và liên kết mạng quốc tế Hiện nay, nước ta đã có một số mạng lớn viễn thông hoạt động và đưa vào khai thác dịch vụ như mạng FPT, Viettel, VDC… Các mạng này thực sự đã mang lại một hiệu quả khá lớn cho người sử dụng, tuy nhiên mức độ hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu và đào tạo mới chỉ ở mức hết sức tối thiểu
Trong thời gian qua, Nhà nước đã quan tâm xây dựng một số mạng dành riêng cho hoạt động nghiên cứu và đào tạo như mạng VARENet của Viện Công nghệ thông tin, mạng VISTA của Bộ Khoa học và Công nghệ, mạng EduNet của Bộ Giáo dục và Đào tạo v.v
3.5.1 Tình hình thực tiễn
Trong những năm qua, Nhà nước luôn quan tâm ưu tiên đầu tư cho ứng dụng phát triển CNTT trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội… cùng với việc thiết lập mạng thông tin quốc gia, thực hiện liên kết với mạng quốc tế Coi hạ tầng công nghệ thông tin là
Trang 15hạ tầng kinh tế-xã hội quan trọng, ưu tiên sử dụng nguồn viện trợ không hoàn lại cho ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin Với chủ trương coi sự nghiệp phát triển KH&CN và giáo dục-đào tạo là quốc sách hàng đầu, Chính phủ Việt Nam đã cam kết với các nước ASEM tham gia mạng TEIN2 và đã giao cho Bộ KH&CN chủ trì thực hiện (tại công văn số 6880/VPCP-HTQT ngày 16/12/2004 của Văn phòng Chính phủ) Do vậy, việc triển khai kết nối vào mạng TEIN2 tại Trung tâm vận hành mạng (NOC-VN) Hà Nội để thực hiện liên thông đường truyền quốc tế riêng từ Hà Nội đi Hồng Kông phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo (R&E) là một nhiệm vụ rất quan trọng Cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa có một Trung tâm vận hành mạng riêng phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, giáo dục và đào tạo Do vậy, việc thực hiện kết nối vào mạng TEIN2 để xây dựng một Trung tâm vận hành mạng, liên thông với quốc tế tại Hà Nội (NOC-VN) và hình thành một mạng nghiên cứu và đào tạo Việt Nam-VINAREN dùng riêng trên cơ sở hạ tầng kỹ thuật của các mạng thông tin hiện có của nước ta sẽ có một ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo, góp phần đưa KH&CN trở thành động lực phát triển kinh tế-xã hội và thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trong những năm gần đây, mặc dù Nhà nước đã tập trung đầu tư nâng cấp hạ tầng mạng cho các Công ty viễn thông trong nước và đã đem lại hiệu quả thực sự cho người sử dụng cũng như giới nghiên cứu
và đào tạo, tuy nhiên mức độ hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu và đào tạo mới chỉ ở mức hết sức tối thiểu Năng lực cung cấp dịch vụ mạng Internet và cơ sở hạ tầng kỹ thuật của một số công ty viễn thông lớn của nước ta có thể tóm tắt như sau:
+ Mạng Công ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC)
Năm 2005, với 3 đường 155 M kết nối thông suốt giữa 3 trung tâm lớn là Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh, VNN/Internet hiện nay có khả năng đáp ứng được nhu cầu sử dụng ngày một gia tăng các dịch vụ viễn thông Vào thời điểm đó, tổng băng thông quốc tế của VDC là 1.851 Mbps Cụ thể như sau:
Trang 16- 11 đường STM1 155 Mbps (1 NTT Nhật 155 M, 2 Chinanet China
155 M, 4 Singtel Singapore , 3 Reach HongKong 605 M, 1 Korea Telecom)
- 3 đường T3 45 Mbps (2 đường Fusionn Mỹ 90 M, 1 đường peering
KT Korea 50 M)
- 5 đường E1 2M bps (4 sang Nhật, 1 sang Malaysia)
- 1 đường 1 Mbps (Taiwan)
Hiện nay (12/2008) tổng băng thông quốc tế của VDC đạt đến 30Gbps
+ Mạng của tổng công ty Viễn thông Quân đội (Viettel)
Mạng đường trục Backbone cáp quang kéo dài từ Hà Nội đến TP
Hồ Chí Minh với công nghệ SDH dựa trên 2 đường trục chính là 1A (dung lượng 2,5 Gb/s) và 1B (dung lượng 10Gb/s)
- Các vòng Ring nội tỉnh được phát triển từ một phần tử trên đường trục tại tỉnh đó Dựa trên Ring nội tỉnh, mạng truy nhập cáp đồng với công nghệ xDSL hay cáp quang PDH được phát triển để cung cấp cho khách hàng
- Tất cả các phần tử trên mạng đều được quản lý tập trung bằng NMS, giúp việc quản lý và khai thác hiệu quả nhất
- Tất cả các phần tử trên đường trục 1B dựa trên nền tảng NGN tương thích cho các dịch vụ NGN trong tương lai
- Khả năng bảo vệ của đường trục 1B là 5Gb/s
- Hiện tại Viettel đã triển khai xong tuyến cáp quang đất liền và trạm vệ tinh mặt đất tiếp nhận cửa ngõ quốc tế và có khả năng đáp ứng nhu cầu thuê kênh riêng đi quốc tế với các tốc độ Nx64Kb/s, 2Mb/s, 34Mb/s, 45Mb/s, 155Mb/s, 622Mb/s
- Trạm vệ tinh mặt đất của Viettel được kết nối với vệ tinh của hãng IntelSat cung cấp dịch vụ trên toàn cầu Hiện tại, với IP có 20MB downlink, 5MB uplink và có thể mở rộng lên 45MB downlink, 11MB uplink Với IDD
có 2E1 và có thể mở rộng lên 5E1
- Khả năng mở rộng của tuyến cáp quang đất liền là STM-16 Trạm vệ tinh mặt đất là: Với IP có 155MB downlink, 45MB uplink
Trang 17Qua thực tế trên ta thấy, cơ sở hạ tầng mạng hiện nay ứng dụng cho nghiên cứu khoa học cũng như đào tạo còn yếu kém, do vậy vẫn chưa phát huy được tiềm năng to lớn vốn có của nguồn nhân lực KH&CN Để nguồn nhân lực này đóng góp được hết sức mình trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cần có một môi trường mạng thông tin dành riêng cho hoạt động nghiên cứu và đào tạo đủ mạnh, ổn định và an toàn, liên kết với các mạng nghiên cứu của các quốc gia tiên tiến trên thế giới Nhờ môi trường mạng như thế, giới khoa học và giáo dục trong nước có thể trao đổi các thành quả nghiên cứu trên mọi lĩnh vực, chuyển giao công nghệ giữa các đơn vị nghiên cứu và đào tạo, thu được nhiều thông tin bổ ích, chính xác, kịp thời về khoa học và công nghệ trong khu vực và trên thế giới
Mặt khác, về kinh phí kết nối trong dự án, ngoài khối EC đồng tài trợ 9,75 triệu euro TEIN2 còn có sự đóng góp tài chính của các nước đã tham dự như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Brunei, nhằm giúp các nước đang phát triển được hưởng thụ việc kết nối Internet liên Châu Âu – Châu Á Theo kế
hoạch mở rộng của dự án TEIN2, Việt Nam là một trong sáu nước được thụ
hưởng lần này (cùng với Trung Quốc, Thái Lan, Phillipine, Indonesia,
Malaysia) Đặc biệt, việc kết nối Á-Âu sẽ được khối EC tài trợ 80% đến 12/2007 là một cơ hội rất tốt cho các bên tham gia Với tiềm lực kinh tế của nước ta hiện nay, việc đơn phương kết nối mạng thông tin Á-Âu là khó có thể thực hiện được Chính vì vậy, cơ hội được hỗ trợ kinh phí của EC để thiết lập kết nối này là rất quý báu đối với Việt Nam Do vậy, việc kết nối vào mạng TEIN2 là một cơ hội hiếm có, giúp các nhà KH&CN và giáo dục Việt Nam có một môi trường mạng làm việc mới, có thể thực hiện việc trao đổi thông tin và triển khai các dự án nghiên cứu khoa học chung trực tuyến phù hợp với các yêu cầu hội nhập quốc tế về KH&CN
Trong số các nước tham gia kết nối mạng TEIN2, hầu hết đều đã có mạng nghiên cứu khoa học và giáo dục quốc gia (NREN), cụ thể là:
- Mạng RENATER – Pháp
- Mạng UKERNA – Anh
- Mạng SURFnet – Hà Lan
- Mạng CERNET – Trung Quốc
- Mạng THAISARN – Thái Lan
Trang 18Việt Nam tham gia Mạng thông tin Á-Âu giai đoạn 2 và hình thành mạng VINAREN sẽ giải quyết cơ bản các vấn đề đang đặt ra hiện nay của các mạng thông tin KH&CN và giáo dục-đào tạo Mạng VINAREN sẽ được xây dựng dựa trên cơ sở hạ tầng mạng Internet chung của các nhà cung cấp dịch
vụ viễn thông Dự án này sẽ thiết lập đường trục kết nối Internet tốc độ cao chủ yếu dành cho các mục đích nghiên cứu khoa học và giáo dục-đào tạo là chính, quy hoạch lại việc kết nối giữa các trường đại học trong nước, các viện nghiên cứu nhằm tạo điều kiện cho các trường đại học, các viện nghiên cứu trong nước có cơ hội liên kết hoạt động nghiên cứu và đào tạo của mình với các trường đại học, các viện nghiên cứu ở Châu Âu và Châu Á, tạo cơ hội chia
sẻ và sử dụng hiệu quả nguồn cơ sở dữ liệu khoa học với các trường và các viện này, đồng thời cũng tạo nhu cầu cung cấp thông tin lên mạng của các trường đại học, viện nghiên cứu trong nước là các thành viên tham gia kết nối vào mạng VINAREN
Như vậy, khi tham gia dự án TEIN2, các nhà khoa học và giáo dục Việt Nam sẽ có điều kiện truy nhập thông tin của các mạng nghiên cứu và đào tạo của các nước trong khu vực và Châu Âu với tốc độ cao, có thể thực hiện các
dự án phối hợp nghiên cứu chung, tổ chức hội thảo và đào tạo từ xa Tạo cơ
sở để tăng cường và mở rộng hoạt động hợp tác quốc tế về KH&CN và giáo dục-đào tạo, tranh thủ được sự hỗ trợ của các nước tham gia dự án để tiếp cận với các thành tựu mới nhất về KH&CN và giáo dục-đào tạo của thế giới
Chính với các lý do nêu trên, việc đầu tư triển khai thực hiện dự án
"Mạng thông tin Á-Âu giai đoạn 2" để thiết lập đường trục kết nối Internet tốc
Trang 19độ cao cho mạng VINAREN, chủ yếu dùng riêng cho hoạt động nghiên cứu khoa học và giáo dục-đào tạo là một nhiệm vụ rất cấp thiết hiện nay Mạng VINAREN ra đời sẽ góp phần đắc lực thúc đẩy hoạt động nghiên cứu và đào tạo của Việt Nam phát triển, tạo tiền đề cho quá trình hội nhập quốc tế về KH&CN và giáo dục-đào tạo
3.5.2 Các văn bản về định hướng phát triển công nghệ thông tin quốc
gia
- Chỉ thị số 58/CT–TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Quyết định số 81/2001/QĐ–TTg ngày 24/5/2003 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình hành động triển khai Chỉ thị số 58–CT/TW của Bộ Chính trị
- Nghị quyết số 07/2000/NQ–CP ngày 05/06/2000 của Chính phủ về xây dựng và phát triển công nghiệp phần mềm giai đoạn 2000 – 2005
- Quyết định số 95/2002/QĐ–TTg ngày 17/7/2002 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch tổng thể về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin của nước ta đến năm 2005
- Quyết định số 235/QĐ–TTg ngày 02 tháng 03 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Dự án tổng thể về Ứng dụng và phát triển phần mềm nguồn mở ở Việt Nam giai đoạn 2004 – 2008
3.5.3 Các bước ký kết tham gia
- Ngày 16 tháng 12 năm 2004, Văn phòng Chính phủ đã có công văn số 6880/VPCP-QHQT do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đoàn Mạnh Giao ký về việc thông báo ý kiến của Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Khoan đồng ý cho phép tham gia Mạng thông tin Á-Âu giai đoạn 2 và giao cho Bộ Khoa học và Công nghệ làm cơ quan đầu mối, phối hợp với các bộ, ngành liên quan tham gia dự án TEIN2
- Ngày 07 tháng 01 năm 2005, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Hoàng Văn Phong đã gửi Thư cam kết tham gia dự án TEIN2 giai đoạn nghiên cứu khả thi cho EC và DANTE về việc Việt Nam đồng ý và đóng góp tham gia dự án TEIN2 giai đoạn 2005 -2007
Trang 20- Ngày 23 tháng 09 năm 2005, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Trần Quốc Thắng đã ký Thư cam kết tham gia TEIN2 giai đoạn vận hành, trong đó cam kết trả phần phí kết nối quốc tế cho 01 năm đầu, tốc độ kết nối
có thể lên tới 155Mbps
- Quyết định số 3119/QĐ-BKHCN ngày 16/12/2005 về việc thành lập Ban soạn thảo xây dựng dự án "Mạng thông tin Á-Âu giai đoạn 2" của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ
3.5.4 Các hoạt động triển khai
- Hội thảo về Mạng thông tin Á – Âu và sự tham gia của Việt Nam được tổ chức vào ngày 3 tháng 12 năm 2005 tại bộ Khoa học công nghệ với
sự tham gia của Bộ khoa học công nghệ, Bộ giáo dục và đào tạo, Bộ tài chính,
Bộ bưu chính viễn thông, bộ Y tế, bộ Kế hoạch đầu tư, trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, viện Công nghệ thông tin, bệnh viện Bạch Mai, công ty VDC
và nhiều trường đại học, trung tâm nghiên cứu, công ty khác
- Họp hội đồng kỹ thuật TEIN2 lấn thứ 10 năm 2006 tại Hạ Long: Hội nghị
đã nghe báo cáo tiến độ dự án TEIN2, nhìn lại những điểm chú ý được nêu ra
từ hội nghị lần thứ 9 Tiếp đó, hội nghị thảo luận về kế hoạch phát triển bền vững sau năm 2007, các thành viên nêu quan điểm ủng hộ của mình về kế hoạch phát triển bền vững
- Hội nghị, ủy ban kỹ thuật cũng đã đưa ra đề xuất về dự án Mạng thông tin Á-Âu giai đoạn 3 (gọi tắt là TEIN3) và lấy ý kiến của các thành viên
Các thành viên TEIN2 báo cáo tiến triển của nước mình và thông báo kế hoạch thực hiện đến hết năm 2006 Việt Nam thông báo tình hình triển khai mạng VINAREN, kết nối và các thành viên hiện tại cũng như các kết nối và các thành viên dự kiến của mạng Việt Nam thông báo kế hoạch tiếp theo bao gồm công bố mạng VINAREN, xây dựng mạng trục VINAREN, mở rộng và nâng cấp băng thông đường truyền cho các thành viên, xúc tiến hợp tác với các tổ chức khác,
IV LỘ TRÌNH PHÁT TRIỂN MẠNG NGHIÊN CỨU VÀ ĐÀO TẠO
VIỆT NAM
4.1 Kế hoạch triển khai ban đầu
Chia làm 2 giai đoạn:
Trang 21• Giai đoạn thí điểm (Pilot phase): dự kiến 6 tháng, đến cuối 2004
• Giai đoạn thực hiện (implementation phase): gồm hai bước:
• Xác định và liên hệ các tổ chức tham gia
• Chia sẻ quan điểm và lợi ích về dự án
• Xác lập quan hệ đối tác
• Cam kết từ các đối tác bằng “Letters of Commitment”
• Thành lập Ban Chính sách của TEIN
• Ban Chính sách và HộI đồng kỹ thuật TEIN2 họp lần đầu tiên 5/2004 tại Kuala Lampur
– Chỉ khởi động Pha 2, nếu Pha 1 được EC chấp thuận
–
• Pha 2A: Chuẩn bị, triển khai
– Mua sắm trang, thiết bị:
• Tuân thủ các quy tắc của EU
• Không có giải pháp định sẵn – Thoả thuận với các nhà cung cấp
– Dàn xếp với các nước không-được-thụ-hưởng (Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Brunei, Úc,…) tham gia hỗ trợ tài chính
Trang 22Các nội dung, công
việc thực hiện chủ yếu
(Các mốc đánh giá
chủ yếu)
(bắt đầu - kết thúc)
Người,
cơ quan thực hiện
1 Thiết kế Trung tâm vận
hành mạng VN-NOC
Có bản thiết kế NOC đạt tiêu chuẩn
VN-kỹ thuật
1/8/2005 – 30/9/2005
MOST, HUT, IOIT
2 Chuẩn bị nhân sự cho
VN-NOC
Thành lập đội ngũ
Kỹ sư Quản trị mạng có đủ năng lực và trình độ để vận hành VN-NOC
15/9/2005 – 10/10/2005
HUT, IOIT
3 Xin phê duyệt xây dựng
VN-NOC từ các Bộ,
Ngành liên quan
Có văn bản, quyết định đầu tư xây dựng VN-NOC từ phía Chính phủ và
Bộ Ngành liên quan
9/2005 – 10/2005
MOST
4 Đấu thầu và mua sắm
trang thiết bị cho
VN-NOC
Trang thiết bị phải đầy đủ theo thiết kế
và có dự trù cho việc dự phòng thiết
bị
10/2005 – 11/2005
MOST, HUT, IOIT
5 Xây dựng và đấu thầu
đường truyền 45Mbps
tới TEIN2 (Hồng
Kông)
Có hợp đồng ký kết với Công ty Viễn thông về đường truyền 45Mb/s với
11/2005 MOST,
HUT, IOIT, MOFA
Trang 23giá ưu đãi
6 Triển khai, thi công
Trung tâm vận hành
mạng VN-NOC hiện
đại theo tiêu chuẩn
VN-NOC được xây dựng theo đúng thời gian yêu cầu, đảm bảo chất lượng kỹ thuật tốt
11/2005 – 15/12/2005
MOST, HUT, IOIT
7 Kết nối VN-NOC vào
mạng TEIN2
Đường truyền Internet ổn dịnh, có tốc độ 45Mbps
12/2005 MOST,
HUT, IOIT
8 Khai trương VN-NOC
& TEIN2
HUT, IOIT
10/2006 MOST,
HUT, IOIT
12/2006 MOST,
HUT, IOIT
Trang 244.3 Phương án kỹ thuật xây dựng mạng VINAREN
4.3.1 Tiêu chí lựa chọn trung tâm vận hành mạng
1) Dự kiến phương án kỹ thuật xây dựng mạng VINAREN
a) Tiêu chí lựa chọn trung tâm vận hành mạng
Trung tâm vận hành mạng quốc gia (NOC-VN) sẽ được đặt trụ sở tại một Trường công nghệ lớn nước ta, là Đại học Bách Khoa Hà Nội, dưới sự giám sát và hỗ trợ mạnh mẽ từ Chính phủ, Bộ KH&CN, Bộ Giáo dục và Đào tạo, nó sẽ là một tâm điểm quan trọng và vững mạnh cho Mạng nghiên cứu giáo dục của Việt Nam trong tương lai Ngoài ra, NOC-VN tại Đại học Bách khoa Hà Nội sẽ đảm nhận luôn vai trò của Trung tâm vận hành mạng phía Bắc Trung tâm vận hành mạng quốc gia có những đặc điểm sau:
- NOC-VN được thành lập theo cam kết với cộng đồng Châu Âu DANTE chỉ thuần túy phục vụ cho nghiên cứu và giáo dục, kết nối Internet quốc tế ở tốc độ 45/55Mbps
Trang 25- NOC-VN nhận được sự hỗ trợ mạnh của DANTE và phát triển bền vững theo cam kết giữa DANTE với các nước tham dự TEIN 2
- NOC-VN trong tương lai là nền tảng quản lý toàn bộ mạng nghiên cứu giáo dục trong cả nước
- NOC-VN sớm kết nối với TEIN2 sẽ là cơ hội tốt để các Viện nghiên cứu, các Trường Đại học ở Việt Nam có điều kiện tham gia vào các mạng nghiên cứu giáo dục của các nước trong khu vực và trên Thế giới
- Tạo điều kiện cho các Viện, Trường Đại học trong cả nước chia sẻ thành quả nghiên cứu, thử nghiệm các ứng dụng phục vụ nghiên cứu đào tạo, cũng như cùng tham gia vào các chương trình nghiên cứu Quốc tế
NOC-VN ra đời sẽ nhận được sự giúp đỡ và hợp tác mạnh mẽ của các mạng NREN trong khu vực và trên Thế giới trong các lĩnh vực nghiên cứu giáo dục, chuyển giao công nghệ Vì vậy, NOC-VN sẽ phát huy tối đa những điểm mạnh của mình trong việc ứng dụng những công nghệ mới hiện đang được triển khai rộng rãi như: Ipv6, Wireless network, e-elearning, … góp phần rút ngắn khoảng cách về công nghệ thông tin giữa Việt Nam và các nước trên thế giới
Việc lựa chọn các địa điểm để đặt Trung tâm vận hành mạng thuộc mạng VINAREN được dựa trên các tiêu chí chính sau:
- Nơi đó phải là cơ sở đào tạo đại học hoặc cơ cở nghiên cứu triển khai, phải cam kết dành diện tích nhà tối thiểu 200 m2 dùng riêng cho NOC
- Phải có đội ngũ cán bộ vận hành mạng, đã có mạng máy tính cục bộ
và tự nguyện tham gia mạng VINAREN bằng văn bản
- Hạ tầng cơ sở kỹ thuật viễn thông tại khu vực cơ bản đáp ứng việc thiết lập kết nối mạng và đảm bảo cơ cấu vùng, miền
Trên cơ sở các tiêu chí lựa chọn Trung tâm vận hành mạng nêu trên, ngoài NOC-VN đặt tại Đại học Bách khoa Hà Nội (vừa là NOC-VN vừa là NOC cho miền Bắc) nhóm kỹ thuật dự án đã lựa chọn thêm 04 NOC nữa đặt tại các trường đại học để hình thành đường truyền trục xưng sống của mạng VINAREN như sau:
- Trung tâm vận hành mạng: NOC-HN
Địa chỉ liên hệ
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Trang 26Email: noc-hn@vinaren.vn
* Chức năng nhiệm vụ
Là trung tâm vận hành mạng chính của khu vực phía Bắc, là điểm kết nối tập trung cho các đơn vị nghiên cứu và giáo dục-đào tạo tại Hà Nội và các tỉnh lân cận Từ NOC-HN sẽ có 2 kết nối đến NOC-HCM tại TP Hồ Chí Minh và NOC-DN tại TP Đà Nẵng, tạo nên đường trục xương sống (Backbone) của mạng VINAREN
Trung tâm vận hành mạng này đồng thời cũng đóng vai trò là Trung tâm vận hành mạng quốc gia NOC-VN, làm đầu mối kết nối mạng VINAREN vào mạng TEIN2 thông qua kết nối quốc tế Hà Nội – Hồng Kông
- Trung tâm vận hành mạng khu vực TP HCM: NOC-HCM
Địa chỉ liên hệ: Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
Email: noc-hcm@vinaren.vn
* Chức năng nhiệm vụ
Là trung tâm mạng chính của khu vực phía Nam, là điểm tập trung kết nối cho các đơn vị thành viên tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phụ cận Từ đây có các kết nối đường trục đến NOC-HN và NOC-DN Đồng thời NOC-HCM cũng là đầu mối cung cấp kết nối cho NOC-CANTHO đặt tại Cần Thơ
- Trung tâm vận hành mạng: NOC-DN
Địa chỉ liên hệ: Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng
Email: noc-dn@vinaren.vn
* Chức năng nhiệm vụ
Là trung tâm vận hành mạng chính của khu vực Nam Trung Bộ, là điểm tập trung kết nối cho các đơn vị thành viên tại vùng Quảng Nam – Đà Nẵng và các tỉnh phụ cận Từ đây có các kết nối đường trục đến NOC-HN và NOC-HCM Đồng thời NOC-DN cũng là đầu mối cung cấp kết nối cho nút NOC-HUE đặt tại Huế
- Trung tâm vận hành mạng: NOC-HUE
Địa chỉ liên hệ: Đại học Huế
Email: noc-hue@vinaren.vn
* Chức năng nhiệm vụ
Trang 27Là trung tâm vận hành mạng cấp 2 thuộc khu vực Trung Bộ, là điểm tập trung kết nối cho các đơn vị thành viên tại thành phố Huế và các tỉnh phụ cận
Từ đây có các kết nối đi đến NOC-DN đặt tại Đà Nẵng Trong tương lai khi cần thiết, NOC-HUE có thể được nâng cấp thành NOC cấp 1 để mở rộng băng thông và hạ tầng backbone của VINAREN
- Trung tâm vận hành mạng NOC-CANTHO
Địa chỉ liên hệ: Đại học Cần Thơ Email: noc-ct@vinaren.vn
* Chức năng nhiệm vụ
Là trung tâm vận hành mạng cấp 2 thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, là điểm tập trung kết nối cho các đơn vị thành viên tại Cần Thơ và các tỉnh phụ cận Từ đây có các kết nối đi đến NOC-HCM đặt tại TP Hồ Chí Minh Khi nhu cầu kết nối mở rộng, NOC-CANTHO có thể được nâng cấp thành NOC cấp 1để mở rộng băng thông và hạ tầng backbone của VINAREN
Từ các Trung tâm vận hành mạng nêu trên sẽ có các kết nối đến các tổ chức KH&CN trong khu vực tự nguyện tham gia mạng VINAREN Các tổ chức KH&CN tham gia mạng VINAREN phải tự đảm bảo cơ sở vật chất và trang thiết bị để kết nối mạng Dự án chỉ hỗ trợ kỹ thuật kết nối và một phần kinh phí vận hành ban đầu khi kết nối mạng
4.3.2 Phương án kỹ thuật xây dựng mạng VINAREN
Phương án kỹ thuật cho việc kết nối, xây dựng mạng VINAREN được lựa chọn như sau:
- Sử dụng kênh kết nối cáp quang STM1 từ NOC-VN đến Công ty viễn thông đi thẳng quốc tế để đảm bảo tốc độ 45/155 Mbps
- Trong phương án kết nối đến các cửa ngõ quốc tế, luồng 45/155 Mbps từ nước ngoài được dẫn về trạm truyền dẫn của Công ty viễn thông tại
Hà Nội Từ trạm truyền dẫn này (của công ty Viễn thông) sẽ kết nối quang mức STM-1 tới NOC-VN phục vụ kết nối WAN 45/155 Mbps cho công tác nghiên cứu và đào tạo Luồng 45/155 Mbps trong nội hạt Hà Nội hoặc liên tỉnh tới thành phố Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh cũng phải được triển khai theo cấu hình 1+1 (nếu Công ty Viễn thông cung cấp vòng Ring cáp quang nội hạt trong Việt Nam thì càng tốt)
Trang 28- Việc kết nối, thiết lập mạng cục bộ của NOC-VN tại Đại học Bách khoa Hà Nội và Trung tâm vận hành mạng tại TP Hồ Chí Minh sẽ được sử dụng công nghệ và thiết bị tương tự như nhau Các Trung tâm vận hành mạng khác tại TP Đà Nẵng, Huế và Cần Thơ sẽ sử dụng công nghệ và lựa chọn thiết bị theo thiết kế riêng, tuỳ thuộc vào hạ tầng kỹ thuật viễn thông ở khu vực đó
Sơ đồ tổng thể đường truyền trục xương sống phục vụ cho việc kết nối của mạng VINAREN được lựa chọn như sau:
Hình 4 Sơ đồ kết nối Logic giữa VN-NOC đến các Trung tâm vận hành mạng ở các thành phố khác sử dụng kênh MPLS
Can Tho
Trang 29Từ các Trung tâm vận hành mạng ở các điểm kết nối mạng VINAREN khu vực Bắc, Trung, Nam sẽ tiến hành kết nối với các bộ, ngành và các tổ chức KH&CN trong khu vực đó Việc lựa chọn các tổ chức KH&CN kết nối với mạng VINAREN sẽ được thực hiện trên cơ sở đề xuất nguyện vọng tham gia mạng nghiên cứu và đào tạo của các tổ chức KH&CN và theo một tiêu chí riêng được "Ban quản lý dự án" mạng VINAREN quyết định
Trung tâm vận hành mạng Hà Nội sẽ kết nối với các bộ, ngành và các tổ chức KH&CN tại Hà Nội thông qua việc kết nối cáp quang trực tiếp bằng công nghệ Ethernet để có băng thông lớn phục vụ nhu cầu truy nhập thông tin của các bộ, ngành và các tổ chức KH&CN Phương án kết nối Trung tâm vận hành mạng Hà Nội với các bộ, ngành và các tổ chức KH&CN tham gia mạng VINAREN được lựa chọn như sau:
Router
Access Router
nxE1
Thai Nguyen
nxE1
Hai Phong
Hình 5 Mô hình kết nối VINAREN khu vực phía bắc
Theo thiết kế dự kiến ban đầu, NOC-HN sẽ cung cấp kết nối đến các đơn vị thành viên (năm 2006) theo các phương án kỹ thuật sau đây:
- Đại học Bách khoa Hà Nội : 1 đường cáp quang
- Đại học Y Hà Nội: 1 đường cáp quang
Trang 30- Bệnh Viện Bạch mai: 1 đường cáp quang
- Viện KH&CN Việt Nam: 1 đường cáp quang
- Đại học khoa học tự nhiên : 1 đường cáp quang
- Trung tâm tin học, Bộ Giáo dục và Đào tạo: 1 đường 2Mbps
- Viện ứng dụng Công nghệ: 1 đường 2Mbps
- Viện năng lượng nguyên tử Việt Nam: 1 đường 2Mbps
- Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương: 1 đường 2Mbps
- Đại học Hàng hải Hải Phòng: 1 đường 2Mbps
- Đại học Thái Nguyên: 1 đường 2Mbps
Dự kiến các đường cáp quang sẽ có kết nối ban đầu 10/100Mbps Các đường 2Mbps sẽ thuê bao qua các công ty viễn thông (mạng NGN)
Phương án kết nối từ các đơn vị thành viên đến các Trung tâm vận hành mạng khu vực khác trong mạng VINAREN (ở TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ và Huế) cũng sẽ được thiết kế theo mô hình tương tự nêu trên tùy theo nhu cầu hiện tại của các đơn vị kết nối
Phương án kết nối mạng tại các Trung tâm vận hành mạng khu vực được lựa chọn như sau:
Hình 6 Sơ đồ kết nối mạng tại các Trung tâm vận hành mạng cấp 1
Trang 31Tại Trung tâm vận hành mạng cấp 2 ở các thành phố khác sẽ kết nối với NOC-VN theo thiết kế kỹ thuật sau:
Hình 7 Sơ đồ kết nối mạng tại các Trung tâm vận hành mạng cấp 2
Việc lựa chọn phương án kỹ thuật xây dựng mạng VINAREN nêu trên
là phù hợp nhất đối với điều kiện hiện nay của Việt Nam Trước hết, sẽ thiết lập NOC-VN tham gia dự án TEIN2, sau đó xây dựng đường truyền trục xuyên suốt ba miền của đất nước gồm 05 Trung tâm vận hành mạng của mạng VINAREN để tạo ra mạng xương sống kết nối trực tiếp Internet tốc độ cao với quốc tế Từ các Trung tâm vận hành mạng của mạng xương sống này sẽ thực hiện kết nối với các trường đại học, các viện nghiên cứu và phát triển và các
tổ chức KH&CN tự nguyện tham gia mạng VINAREN Như vậy, đảm bảo mạng VINAREN sẽ luôn được mở rộng và ngày càng có thêm các điểm kết nối vào mạng
Phươmg án kỹ thuật kết nối từ các Trung tâm vận hành mạng của mạng VINAREN đến các tổ chức KH&CN trong khu vực sẽ dựa trên hạ tầng cơ sở viễn thông hiện có của khu vực và sẽ thực hiện theo một thiết kế cụ thể riêng
NOC cấp 2
Trang 32V LỘ TRÌNH KẾT NỐI 5.1 Năm 2005
Do điều kiện cơ sở hạ tầng của Việt Nam và nhu cầu dùng của Mạng nghiên cứu – đào tạo như đã phân tích ở trên Việt Nam nên kết nối TEIN2 ở tốc độ 45Mbps
5.2 Năm 2006
Khi đã có đường kết nối tốc độ 45Mbps và liên kết giữa các điểm kết nối đã được củng cố, để đường truyền quốc tế đạt chất lượng cao đáp ứng được nhu cầu sử dụng của cán bộ nghiên cứu, sinh viên…Cần sử dụng kết nối:
- Kết nối TEIN2 quốc tế: 155Mpbs
- Kết nối đường trục VINAREN: 45Mbps
- Kết nối các mạng nhánh VINAREN: 10Mbps
Nhóm thực hiện Nghị định thư
Trang 33BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHỊ ĐỊNH THƯ 2006-2007
Tên nhiệm vụ: Xúc tiến và hỗ trợ dự án kết nối Mạng thông tin Á-Âu
(TEIN) - Thuộc Nghị định thư Hợp tác Á - Âu (Dự án TEIN- kết nối Internet Á - Âu giai đoạn 2)
Sản phẩm 2
BÁO CÁO KHẢO SÁT MẠNG CERNET – TRUNG QUỐC
Hà Nội 2011
Trang 34MỤC LỤC
I. Kinh nghiệm về mặt quản lý mạng CERNET và mạng CERNET2 4
1.1 Kinh nghiệm từ mạng CERNET 4 1.1.1 Lịch sử hình thành mạng CERNET 4 1.1.2 Về mặt kết nối Internet 4 1.1.3 Về hạ tầng 4 1.1.4 Về các tổ chức vận hành mạng: 4 1.2 Kinh nghiệm từ mạng CERNET2: 5 1.3 Các kinh nghiệm khác 5 1.4 Hình thức thu phí 6 1.5 Các kinh nghiệm khác 6
II. Thông tin khảo sát mạng CERNET 7
2.1 Giới thiệu mạng CERNET 7 2.2 Quản lý dự án 11 2.3 Vận hành mạng CERNET 12 2.4 Dịch vụ thông tin trên mạng 23 2.5 Dịch vụ đăng ký 23 2.6 Dịch vụ danh bạ (Directory service) 23 2.7 Dịch vụ thông tin 23 2.8 Các dịch vụ mạng 23 2.9 Các dịch vụ về công nghệ 24 2.10 Các dịch vụ công nghệ cao 24 2.11 Tài nguyên thông tin và các ứng dụng trên mạng 24 2.12 Các trung tâm mạng vùng (Regional network centers) 28 2.13 Địa phương hóa ngôn ngữ 28 2.14 Internet và Trung Quốc 29 2.15 Kết luận 29 2.16 Thông tin tham khảo 30
III. Mạng Internet thế hệ mới của Trung Quốc (dự án CNGI – China Next Generation Internet và CERNET2) 31
3.1 Lịch sử phát triển Internet của Trung Quốc 31 3.2 Giới thiệu các mạng nghiên cứu đào tạo của Trung Quốc 32 3.3 IPv6 và quá trình phát triển của IPv6 ở Trung Quốc 33 3.4 Sơ lược về Dự án Mạng Internet thế hệ mới (CNGI) của Trung Quốc 39
Trang 35V. Kết luận 60
Trang 36I Kinh nghiệm về mặt quản lý mạng CERNET và mạng CERNET2
1.1 Kinh nghiệm từ mạng CERNET
1.1.1 Lịch sử hình thành mạng CERNET
CERNET hình thành từ năm 1994 và được Nhà nước bao cấp hoạt động đến năm 1997 (sau 3 năm thành lập) thì CERNET đinh hướng hoạt động dưới dạng tự trang trải phí viễn thông (hiện tại sau 12 năm thành lập CERNET vẫn còn được tài trợ/bao cấp từng phần theo hình thức các dự án, đặc biệt phần trang thiết bị và công tác nghiên cứu CERNET2 mạng Internet thế hệ kế tiếp được bao cấp và tài trợ)
1.1.2 Về mặt kết nối Internet
o Internet thương mại: mua từ các nhà cung cấp (trong nước
và quốc tế) với giá full circuit Hiện khoảng 3Gbps quốc tế
o Với các mạng nghiên cứu – đào tạo: trả giá half-circuit theo thỏa thuận
1.1.3 Về hạ tầng
Hai phần ba hạ tầng là sở hữu của CERNET, 1/3 còn lại thuê từ các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông (theo sự phát triển của Trung Quốc CERNET giai đoạn đầu chỉ thuê hạ tầng, giai đoạn hai liên kết với các nhà viễn thông, và giai đoạn ba (hiện tại) sở hữu hạ tầng, chủ yếu
là hệ thống cáp quang
1.1.4 Về các tổ chức vận hành mạng:
Có 3 đơn vị vận hành chính:
o CERNET NOC: Trung tâm vận hành mạng
Thực hiện theo khẩu hiệu KISS NOC (Keep It Simple and Stupid NO Complain: Đơn giản, rõ ràng, không bị than phiền)
Các phần mềm chính: Hệ thống thông báo nhanh (tự phát triển trên phần mềm nguồn mở), Hệ thống giám sát mạng (dựa trên NetFlow phiên bản 5 của CISCO),
Nhân lực chính gồm 5 ccna, 5 ccnp và 1 ccie
o CERNET NIC (CERNIC): Trung tâm thông tin mạng
Dịch vụ tài nguyên: Cấp phát tài nguyên IPv4, IPv6, đăng ký tên miền dưới edu.cn, IPv6 arpa reverse DNS, directory service
Trang 37 Dịch vụ thông tin đo lường, giám sát mạng,
Điều phối và hợp tác với các đơn vị liên quan như APNIC, CNNIC, vv…
o CERNET CERT (CCERT): Đội phản ứng nhanh an ninh mạng
1.2 Kinh nghiệm từ mạng CERNET2:
CERNET2 là mạng Internet thế hệ tiếp, được nhà nước bao cấp (chủ yếu qua dự án quốc gia CNGI (China Next Generation Internet, Internet thế hệ tiếp của Trung Quốc) Mạng CERNET 2 được thành lập để nghiên cứu, triển khai thử nghiệm công nghệ cũng như ứng dụng trên nền IPv6
Về hạ tầng thì mạng CERNET2 độc lập hoàn toàn với hạ tầng CERNET (IPv4), các trang thiết bị dựa chủ yếu trên công nghệ của Trung Quốc và hiện tại đường trục sử dụng công nghệ chuyển mạch quang 2,5Gbps và 10Gbps, kết nối hơn 200 trường đại học Về mặt kinh phí triển khai thì Nhà nước ủng hộ 10% kinh phí dự án cho triển khai mạng CERNET2
1.3 Các kinh nghiệm khác
Đến năm 2000, Trung tâm phát triển khoa học và công nghệ của Bộ Giáo dục đào tạo và 2 trường đại học Thanh Hoa và Bắc Kinh đã đầu tư
và thành lập Công ty công ích CERNET (CERNET Corp) từ 28 tháng
12 năm 2000 Công ty CERNET được giao vận hành và bảo dưỡng đường mạng trục CERNET từ năm 2001 Công ty CERNET cung cấp cho khách hàng các dịch vụ về mạng, dịch vụ thông tin và dịch vụ về kỹ thuật thông qua nguồn nhân lực dồi dào của 2 trường đại học nổi tiếng cũng như công nghệ, dịch vụ và hạ tầng hiện đại của mạng CERNET Sau 3 năm thành lập thì Công ty CERNET đóng vai trò rất quan trọng từ việc cải thiện chất lượng dịch vụ đến việc vận hành và bảo dưỡng hệ thống cáp trục của mạng CERNET, làm giàu các ứng dụng trên mạng và cung cấp nhiều thông tin giáo dục trên mạng Đến nay Công ty CERNET đã thành lập một số chi nhánh như CERNET Online,
Trang 38Tại cùng thời điểm Công ty CERNET thành lập đến 20 chi nhánh khắp Trung Quốc hoạt động trên lĩnh vực hỗ trợ dịch vụ và quảng cáo các loại hình dịch vụ trên toàn quốc
Đường mạng trục CERNET hiện có khoảng 30 ngàn km cáp quang (2/3 đường mạng trục của CERNET là do CERNET tự kéo, CERNET thu phí của các đơn vị tham gia mạng CERNET)
Theo kinh nghiệm của CERNET thì khi dung lượng đường truyền trung bình vượt quá 2/3 thì cần phải tăng băng thông Đường Internet thương mại của CERNET hiện tại có băng thông 2Gbps (cho IPv4) và Đường trục chính (8 đường) CERNET có băng thông 10 Gbps, các đường trục còn lại 2,5Gbps, 155Mbps
1.4 Hình thức thu phí
− Internet quốc tế: tính cước phí theo dung lượng sử dụng (volume charged)
− Internet nội địa: tính theo thuê bao băng thông (band width flat rate)
− Tổng băng thông hiện tại của Trung Quốc đạt khoảng 80Gbps
− Công ty CERNET quản lý và cập nhật thông tin trên Website tiếng Anh http://www.edu.cn/english_1369/và Website tiếng Trung http://www.edu.cn/
Nhà nước đầu tư thiết bị cho các NOC cấp 1 (NOC quốc gia) và các NOC cấp 2 (NOC-HN, NOC-ĐN, NOC-HCM) và các NOC vùng (ví dụ trường hợp của VINAREN là các NOC-Hue, NOC-CT) Phần đầu tư còn lại của các thành viên thì các thành viên tự trang trải kinh phí
Về mặt quản lý thì các thiết bị tại các NOC do Nhà nước cung cấp và do Nhà nước sở hữu CERNET trả các chi phí về nhân lực, điện nước, … cho các NOC thành viên (NOC cấp 1, cấp 2 và các NOC vùng) để đảm bảo điều kiện vận hành các NOC này CERNET là một tổ chức phi lợi nhuận, hiện tại CERNET là một công ty cổ phần, tương lai sẽ có thể phát triển thành công ty tư nhân Hiện tại Công ty CERNET có đến 30% cổ phần là của Bộ giáo dục (MoE)
Mô hình kết nối hiện tại, CERNET nối ngang hàng với China TeleCom
và truy nhập vào mạng này không mất phí Ngoài nhiệm vụ vận hành và
Trang 39bảo dưỡng đường truyền thi dịch vụ do CERNET cung cấp chủ yếu là các dịch vụ Internet thông thường (Mail, Web)
II Thông tin khảo sát mạng CERNET
2.1 Giới thiệu mạng CERNET
CERNET là mạng máy tính cho nghiên cứu đào tạo được triển khai đầu tiên trên toàn quốc Dự án CERNET do chính phủ Trung Quốc tài trợ
và do Hội đồng đào tạo quốc gia Trung Quốc trực tiếp quản lý Mạng CERNET kết nối tất cả các trường đại học và các viện của Trung Quốc trong tương lai gần và nối đến các trường trung học, trường trung học cơ
sở, trường tiểu học và các cơ sở đào tạo và nghiên cứu Mạng CERNET kết nối tới mạng Internet toàn cầu và trở thành một phần quan trọng của cộng đồng mạng Internet của Trung Quốc Dự án CERNET đã cải thiện rất nhiều đến hạ tầng cho nghiên cứu và đào tạo của Trung Quốc và nâng cao được trình độ của các chuyên gia về mạng cũng như trình độ về mạng và các kiến thức khác của người sử dụng
Dự án CERNET có kiến trúc 3 tầng, bao gồm một mạng trục quốc gia, 8 mạng vùng (regional networks) và các mạng của các trường đại học như hình vẽ 1 dưới đây:
Hình 1: Kiến trúc mạng CERNET
Trung Quốc có diện tích 9,6 triệu km2, và dân số là trên 1,2 tỷ người, bao gồm 38 tỉnh và gần 600 thành phố và việc quy hoạch mạng CERNET của Trung Quốc cần phải bổ sung thêm mạng lớp tỉnh (provincial layer) cho mục tiêu quản trị
Mạng trục quốc gia CERNET sử dụng các đường kết nối trực tiếp (leasedline) do Bộ Bưu chính viên thông Trung Quốc hỗ trợ Đến 2006 mạng trục CERNET đã bao phủ 36 tỉnh (38 POP) và phủ toàn bộ các tỉnh của Trung Quốc Mạng trục tạo thành nhiều vòng RING và có kết nối
Internet
Mạng trục CERNET
.edu.cn
Mạng Trường ĐH Mạng Trường ĐH
Trang 40Âu cũng được thiết lập với các băng thông lớn (Nối châu Âu theo 2 đường: đường qua Singapore 2/3*622Mbps và đường nối từ Bắc Kinh qua Seberie lúc đầu là 622Mbps và đến tháng 10 năm 2006 đã nâng đường Bắc Kinh-Châu Âu lên 2Gbps
Hình 2: Mạng trục CERNET
Các tỉnh và khu vực đều do các mạng 8 vùng của CERNET bao phủ như trong hình vẽ số 3 Hình 3 cho thấy số lượng trường đại học và số lượng sinh viên trong mỗi khu vực