Vì vậy để đáp ứng được yêu cầu trên việc tinh giá thành sản phẩm xây dựng phải được tính đúng, đủ, hợp lý những chỉ phí nhằm phản ánh đúng giá thành thực tế của từng công trình, cung cấ
Trang 1xo ak
Loi mé dau
Những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành
tựu đáng kể Điều này khẳng định sự đúng đắn của đường lối cải cách kinh tế
và chính sách quản lý kinh tế của Đảng và Nhà nước ta Cơ chế kinh tế thị
trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước đã mở ra cho Doanh nghiệp môi
trường, điều kiện kinh doanh mới cắt bỏ sợi dây trói buộc, kìm hãm sự phát
triển của Doanh nghiệp
Cũng chính trong nền kinh tế thị trường đề tổn tại và phát triển đỏi
hỏi các doanh nghiệp cần phải không ngừng nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chỉ phí, giảm giá thành sản phẩm, lao vụ Chỉ phí sản
xuất và giá thành sản phẩm phản ánh toàn diện các mặt hoạt động của doanh
nghiệp: Trình độ trang bị kỹ thuật, năng suất lao động và sử dụng vật tư, tiền vốn, lao động Vì vậy, tăng cường quản lý chỉ phí sản xuất, phấn đấu giảm chỉ phi, hạ giá thành sản phẩm không chỉ là trách nhiệm mà còn là quyền lợi sống, còn đỏi hỏi sự quan tâm của doanh nghiệp
Trong điều kiện hiện nay, việc sử dung vén tiết kiệm làm cho giá thành sản phẩm không ngừng hạ thấp có ý nghĩa to lớn không chỉ đối với Công
ty nói riêng mà còn có tác dụng không nhỏ tới toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Trên thực tế, việc quản lý và hạch toán chỉ phí sản xuất, giá thành sản phẩm của nhiều doanh nghiệp chưa được tốt Do đó cần thiết phải tăng cường các
kế toán lấy đó làm căn cứ cung cấp thông tin một cách chính xác nhất cho các nhà quản lý Xí nghiệp và giúp các nhà quản lý sử dụng hợp lý các nguồn lực, tiết
Trang 2kiệm chỉ phí, tăng năng xuất lao động, hạ giá thành công trình mà vẫn đảm bảo chất lượng tạo niềm tin cho khách hàng, đó cũng là điều kiện quan trọng để
Công ty cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài tỉnh, thắng thầu ngày cảng
nhiều Vì vậy để đáp ứng được yêu cầu trên việc tinh giá thành sản phẩm xây dựng phải được tính đúng, đủ, hợp lý những chỉ phí nhằm phản ánh đúng giá
thành thực tế của từng công trình, cung cấp thông tin một cách chính xác nhất
cho các nhà quản lý
Xuất phát từ những vấn đề trên em đã nhận thức được tầm quan trong
của việc xác định giá thành công trình XDCB nên em đã chọn đề tài: Tổ chức
kế toán tập hợp chỉ phí và tính giá thành sản phẩm tại Xí Nghiệp sản xuất
vật liệu xây dựng số 2 cho báo cáo thực tập của mình Báo cáo được trình bày
theo kết cấu như sau:
Phần I: Những vấn đề lý luận cơ bản về hạch toán chỉ phí sản xuất và tính giá thành công trình xây dựng cơ bản
"Phần II: Thực trạng tổ chức kế toán tập hợp chỉ phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Xí Nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng số 2
Phần II: Một số ý kiến góp phần đề xuất những vấn đề về hạch toán chỉ
phí sản xuất và tính giá thành công trình XD tại Xí Nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng số 2
Trang 3
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất độc lập có chức năng tái sản
xuất tài sản có định cho nền kinh tế quốc dân Nó tạo nên cơ sở vật chất cho xã
hội, tăng tiềm lực kinh tế và an ninh quốc phỏng Việc xây dựng cơ sở hạ tầng vững chắc là tiền đề phát triển sự phổn vinh của đất nước
Nguyên tắc của xây dựng cơ bản là trước khi bước vào xây lắp phải lập
dự toán về chỉ phí sản xuất và dự toán giá thành sản phẩm xây lấp Quá trình sản xuất phải so sánh với dự toán được duyệt, lấy dự toán làm thước đo cho giá trị sản phẩm hoàn thành
Sản phẩm của nghành xây dựng cơ bản là những công trình, vật kiến trúc, có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc, có thời gian sản xuất dài, có giá trị lớn Các điều kiện khác cần thiết cho quá trình xây dựng cơ bản như máy móc thiết bị, phương tiện cơ giới, người lao động phải di chuyển theo địa điểm xây lắp Do vậy, trong thời gian xây lắp, những yếu tổ này chịu ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên như thời tiết, địa hình sản xuất
Sản phẩm xây lắp mang tính tổng hợp về nhiều mặt : kinh tế, chính trị,
kỹ thuật, nghệ thuật Nó đa dạng nhưng lại mang tính độc lập thiết kế kỹ thuật riêng và tại một địa điểm nhất định
Quá trình từ khởi công xây dựng công trình cho đến khi công trình hoàn thành bàn giao và đưa vào sử dụng thường kéo dài Nó phụ thuộc vào quy mô
và tính phức tạp về kỹ thuật của từng công trình Quá trình thi công được chia
Trang 4làm nhiều giai đoạn: chuẩn bị thi công, thi công hoàn thiện và bàn giao công trình
Mỗi giai đoạn thi công lại bao gồm nhiều công việc khác nhau, các công việc chủ yếu ngoài trời nên chịu ảnh hưởng lớn của thời tiết, thiên nhiên Do vậy, qui trình và điều kiện thi công không có tính ồn định, nó luôn biến động, theo địa điểm xây dựng và giai đoạn thi công của công trình
Xuất phát từ những đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản có sự khác biệt với các ngành sản xuất kinh doanh khác, làm cho công tác quản lý sản xuất và hạch toán trong nghành xây dựng cơ bản cũng có những đặc thủ riêng Công tác hạch toán chỉ phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp rất phức tạp
Để phát huy đầy đủ vai trò của kế toán là công cụ phục vụ quản lý kinh tế, công tác kế toán trong doanh nghiệp xây lắp phải được tổ chức phủ hợp với điểm kiện sản xuất kinh doanh, quy trình công nghệ trong việc thi công xây lấp, nhưng vẫn phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của hạch toán chỉ phí và tính giá thành sản phẩm Đồng thời phải đảm bảo cung cấp số liệu trung thực kịp thời cho lãnh đạo
1I- BẠN CHẤT VÀ NỘI DUNG KINH TẾ CỦA CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THANH SAN
PHAM XAY LAP
Trang 5lĩnh vực hoạt động sản xuất xây lắp, như là hoạt động sản xuất công nghiệp phụ
trợ, hoạt động sản xuất nông nghiệp phụ trị
Bản chất và nội dung kinh tế của chỉ phí xây lắp :
Trong sản xuất - kinh doanh mỗi loại chỉ phí phát sinh có nội dung, tính chất khác nhau và yêu cầu quản lý khác nhau Do đó để lập kế hoạch sản xuất
và hạch toán chính xác giá thành, khống chế và thông nhất chỉ phí trong doanh nghiệp để hoàn thiện giá thành sản phẩm thì người ta phải phân loại chỉ phí sản
Về cơ bản thì chỉ phí sản xuất phân loại theo phương pháp này trong các doanh nghiệp sản xuất là như nhau, nhưng trong xây dựng cơ bản có nội dung
cụ thể sau:
~ Chỉ phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là những chỉ phí tính đến hiện trường
xây lắp của nguyên vật liệu chính như: xi măng, sắt, thép nguyên vật liệu
phụ bột đá, đỉnh, thép buộc, que han, vật kết cấu, vật liệu điện dây ba pha, 6
cắm công tắc, vật liệu nước ống nước, ống cổng, cút, vật liệu hoàn thiện
cửa các loại, gạch Ốp, gạch lát
- Chỉ phí nhân công trực tiắp: Là những chỉ phí về tiền lương chính của
công nhân trực tiếp tham gia xây dựng
~ Chỉ phí máy thỉ công: Những chỉ phí về nguyên vật liệu sử dụng cho máy thi công, chỉ phí về tiền lương công nhân điều khiển máy và phụ máy, các khoản trích theo lương BHXH, BHYT và các khoản lương phụ khác, chỉ phí khấu hao máy thi công, chí phí một lần cho sử dụng máy thi công, chỉ phí sửa chữa máy thi công, chỉ phí thuê máy
Trang 6~ Chỉ phí chung:
+ Chỉ phí sản xuất chung: Là toàn bộ các khoản chỉ phí phát sinh trong phạm vi các đội xây lắp (gồm tiền lương gián tiếp, các khoản trích theo lương, các chỉ phí khác)
+ Chỉ phí quản lý doanh nghiệp: Là toàn bộ các chỉ phí có liên quan đến việc tổ chức, quản lý SXKD và quản lý hành chính của doanh nghiệp (tiền lương và các khoản trích theo lương của bộ phận quản lý doanh nghiệp, văn phỏng phẩm, khấu hao nhà xưởng, máy móc thiết bị
+ Chỉ phí bán hàng: Là toàn bộ các khoản chỉ phí thực tế phát sinh trong quá trình xây lắp chi phí chảo hàng, giới thiệu sản phẩm, chỉ phí bảo hành
Phân loại chi phí sản xuất sản phẩm xâ)
~ Chỉ phí trực tiếp: là những chỉ phí sản xuất có quan hệ trực tiếp tới việc
sản xuất một công trình, một sản phẩm hay một công việc nhất định Với loại
chỉ phí này kế toán có thể căn cứ trực tiếp cho từng đổi tượng chịu phí
~ Chỉ phí gián tiếp: là loại chỉ phí liên quan đến nhiều hoạt động sản xuất, nhiều sản phẩm Những loại chỉ phí này sẽ được kế toán dùng tiêu thức phân bỏ thích hợp để phân bồ cho từng đổi tượng chịu phí
Cách phân loại chỉ phí này trong doanh nghiệp xây lắp được thể hiện rất
rõ như chỉ phí khấu hao máy thi công là một ví dụ Một máy có thể phải sử dụng cho nhiều công trình do đó chỉ có thể tập hợp khấu hao máy của tất cả các công trình rồi lại tiến hành phân bỏ cho từng công trình Do vậy việc lựa chọn tiêu thức phân bổ số ca máy theo tỉ lệ chỉ phí nhân công, theo tỉ lệ nguyên vật liệu trực tiếp đẻ phân bổ cho chính xác, hợp lý là rất cần thiết trong phương pháp kế toán tập hợp và phân bỏ chỉ phi
Déi tượng và phương pháp hạch toán chỉ phí sản xuất:
Đối tượng hạch toán chỉ phí sản xuất là phạm vi giới hạn để tập hợp các chỉ phí sản xuất phát sinh trong kỳ Xác định đối tượng hạch toán chỉ phí sản xuất thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chỉ phí
Trang 7Để xác định đối tượng tập hợp chỉ phí sản xuất hợp lý, phủ hợp với từng doanh nghiệp, nhà quản lý phải căn cứ vào:
~ Tính chất sản xuất và quy trình công nghệ cao
~ Loại hình sản xuất
- Đặc điểm tổ chức sản xuất
~ Yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp
~ Đơn vị tính giá thành trong doanh nghiệp
Hoạt động xây lắp là hoạt động phát sinh nhiều chỉ phí, quy trình sản xuất phức tạp và sản phẩm mang tính chất đơn chiếc, có quy mô lớn và thời gian thỉ công lâu dai Mỗi công trình bao gồm nhiều hạng mục công trình nên đối tượng hạch toán chỉ phí sản xuất có thể được chỉ tiết theo từng hạng mục công trình Ngoài ra tuỳ theo từng công việc cụ thể, người ta có thể tập hợp chỉ phí sản xuất theo đơn đặt hàng hay giai đoạn công việc hoàn thành
Do có nhiều đối tượng hạch toán chỉ phí sản xuất khác nhau nên trong
doanh nghiệp xây lắp có nhiều phương pháp tập hợp chỉ pI
* Phương pháp tập hợp chỉ phí sản xuất theo đơn đặt hàng:
Chỉ phí sản xuất phát sinh hàng kỳ sẽ được tập hợp và phân loại theo từng đơn đặt hàng - hợp đồng giao thầu Khi đơn đặt hàng hoàn thành, tổng chỉ
phí phát sinh được tập hợp theo đơn hàng đó tới lúc khởi công đến khi hoàn thành là giá thành thực tế của đơn hàng đó
* Phương pháp tập hợp chỉ phí sản xuất theo hạng mục công trình:
'Theo đó chỉ phí phát sinh cho công trình hay hạng mục công trình nào thì được tập hợp cho công trình, hạng mục công trình đó
* Phương pháp tập hợp chỉ phí sản xuất theo đơn vj thi công:
Các chỉ phí sản xuất phát sinh được tập hợp theo từng đơn vị thỉ công Thông thường phương pháp này được áp dụng kết hợp với hai phương pháp trên Vì một công trình, hạng mục công trình, đơn đặt hàng thường do nhiều đơn vị thi công Đầu tiên, đơn vị sẽ tập hợp chỉ phí theo đơn vị thi công hay khu vực thi công Khi công trình hoàn thành hay cuối kỳ hạch toán, người quản
Trang 8lý sẽ phân tích, đánh giá kết quả thỉ công của các đơn vị hay bộ phận đó và tính
ra giá thành của cả công trình bằng phương pháp tổng cộng chỉ phí, phương pháp tỉ lệ, phương pháp trực tiế
Mỗi công trình, hạng mục công trình
thành sản phẩm mang tính chất cá bi
hay khối lượng xây lắp hoàn thành đến có một giá thành riêng Hơn nữa khi nhận thầu công trình thì giá nhận thầu đã được xác định trước khi thỉ công Như vậy giá báo có trước giá thành thực tế của công trình Do đó giá thành thực tế của công trình sẽ xác định lỗ, lãi của doanh nghiệp Trong các cuộc đấu thầu
công khai thì yếu tổ giá thành có ý nghĩa quyết định thắng lợi của nhà thầu
Bên cạnh đó nếu doanh nghiệp phấn đấu hạ giá thành thấp bao nhiêu so với giá
bỏ thầu thì lãi sẽ tăng lên từng đó Tuy nhiên hiện nay cũng có một số doanh nghiệp xây lắp tự tổ chức thiết kế, thỉ công tạo ra các công trình sau đó báo cáo lại cho các đối tượng có nhu cầu mua thì giá thành sản phẩm xây lắp cũng trở thành cơ sở để lập và xây dựng giá bán của sản phẩm đó
b Phan loại giá thành sản phẩm xây lắp:
Nếu căn cứ vào số liệu và điểm tính toán giá thành, chỉ tiêu giá thành được chia thành : Giá thành kế hoạch, Giá thành định mức, Giá thành thực tế
* Giá thành kế hoạch :
Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở chỉ phí sản xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch Việc xác định, tính toán giá thành kế hoạch được tiến hành bởi bộ phận kế hoạch kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, được tiến hành trước
Trang 9khi tiến hành sản xuất Giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp và cũng là căn cứ để so sánh, phân tích, đánh giá tỉnh hình thực hiện kế hoạch giá thành và kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp
* Giá thành định mức
Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở định mức chỉ phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm Việc tính giá thành định mức cũng được thực hiện trước khi tiến hành quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm Giá thành định mức là công cụ quản lý định mức của doanh nghiệp, là thước đo chính xác để
xác định kết quả sử dụng tài sản, vật tư lao động trong sản xuất giúp cho đánh giá chính xác, đúng đắn các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện trong quá trình sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh
trình sản xuất Giá thành thực tế sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tông hợp, phản
ảnh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức áp dụng các giải pháp kỹ thuật đề thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm, làm cơ sở xác định kết quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài ra nếu ta phân chia phạm vi tập hợp chỉ phí thì chỉ tiêu giá thành cỏn được chia thành giá thành công xưởng
và giá thành toàn bộ,
€ Đi tượng và phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp
* Đối tượng tính giá thành sản phẩm xây lắp
Để đo lường hiệu quả hoạt động của mình, mỗi doanh nghiệp phải xác định đúng, đủ, chính xác giá thành sản phẩm Công việc đầu tiên là xác định đúng đổi tượng giá thành sản phẩm Đôi tượng tính giá thành sản phẩm là các loại sản phẩm, công việc, lao vụ do doanh nghiệp làm ra cần phải tính được tổng giá thành và giá thành đơn vị
Trang 10Với đặc điểm riêng của ngành xây lắp: Đôi tượng tính giá thành thường trùng với đối tượng hạch toán chỉ phí sản xuất Do vậy đối tượng tính giá thành sản phẩm xây lắp có thể là từng hạng mục hay toàn bộ công trình hoàn thành
Đồi tượng tập hợp chỉ phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp giống nhau
về bản chất đều là phạm vi giới hạn tập hợp chỉ phí, cùng phục vụ cho công tác quản lý kế hoạch giá thành của doanh nghiệp Tuy nhiên xác định đối tượng tập hợp chỉ phí sản xuất là xác định phạm vi phát sinh chỉ phí trong khi thỉ công cần xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm gắn liền với kết quả của quá trình thi công Một đối tượng tập hợp chỉ phí có thể có nhiều đối tượng tính giá thành
Phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp là phương pháp sử dụng số liệu về chỉ phí sản xuất đã tập hợp để tính toán ra tổng giá thành và giá thành đơn vị của sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành
* Ky inh giá thành sản phẩm lắp
Kỳ tính giá thành sản phẩm xây lắp là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành cần phải tiến hành công việc tính giá thành Việc xác định kỳ tính giá thành giúp cho việc tính giá thành một cách khoa học, hợp lý, đảm bảo cung cấp số
liệu kịp thời, đầy đủ thực hiện chức năng giám đốc tình hình thực hiện kế hoạch giá thành Muốn xác định được kỳ tính giá thành phải căn cứ vào đặc điểm sản xuất của sản phẩm và chu kỳ sản xuất Trường hợp tổ chức thi công xây lắp nhiều công trình , hạng mục công trình có khối lượng lớn thì kỳ tính giá thành thích hợp là hàng quý vào thời điểm cuối quý Trường hợp thi công xây lắp đơn chiếc hoặc hàng loạt theo đơn đặt hàng có kỳ sản xuất xây lắp dài thì
kỳ tính giá thành là thời điểm khi sản phẩm xây lắp đã hoàn thành kết thúc chu
kỳ sản xuất xây lắp Đơn vị tính giá thành là đơn vị được thừa nhận trong nền kinh tế quốc dân
Phương pháp tính giá thành xây lắp
* Phương pháp tính giá thành trực tiếp
10
Trang 11Phương pháp này được sử dụng phổ biến trong các doanh nghiệp xây lắp hiện nay vì sản xuất thi công mang tính đơn chiếc, đối tượng hạch toán chỉ phí phủ hợp với đối tượng tính giá thành Hơn nữa áp dụng phương pháp này cho phép cung cấp kịp thời số hiệu về giá thành trong mỗi kỳ báo cáo với cách tính đơn giản, dễ thực hiện Theo phương pháp này, tập hợp tất cả các chỉ phí phát sinh trực tiếp cho từng công trình, hạng mục công trình từ khi khởi công đến khi hoàn thành chính là giá thành thực tế của công trình đó Trên cơ sở số hiệu chỉ phí sản xuất đã tập hợp được trong kỳ và chỉ phí của sản phẩm dở dang đã xác định, giá thành sản phẩm hoàn thành được tính theo công thức:
Z=C+D,,-D,
Trong đó: Z: giá thành sản phẩm
C: Chỉ phí thanh toán phát sinh trong kỳ
Da, Da: Chỉ phí dở dang đầu kỳ và cuối kỳ
trình đó
Z của hạng mục công trình:
Zi=di+H
zc Trong đó : H = - x 100 tỉ lệ phân bổ giá thành thực tế công trình
Edi
EC _ : Tổng chỉ phí của cả công trình
di : Tổng giá thành dự toán của công trình
di: Giá thành dự toán hạng mục ỉ
Trang 12sản xuất là từng đội sản xuất Còn đối tượng tính giá thành là sản phẩm cuối
cùng Cách tính như sau:
dau ky Đội I Đội 2 Độin
* Phương pháp tính giá thành theo hệ số chỉ phí:
Phương pháp này áp dụng trong doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất ra nhiều nhóm sản phẩm, có nhiều chủng loại khác nhau Đối tượng hạch toán chỉ phí là nhóm sản phẩm, đối tượng tính giá thành là từng chủng loại sản phẩm Theo phương pháp này căn cứ vào tổng giá thành thực tế đã tính được và tổng giá thành kế hoạch của tất cả các đối tượng tính giá dé tính tỷ lệ giá thành theo công thức sau:
“Tổng giá thành thực tế
Hệ số chỉ phí — =
Tổng giá thành kế hoạch Giá thành thực tế từng chủng loại sản phẩm được tính như sau:
Giá thành sản Giá thành kế Sản lượng
xuất thực tế của = hoạchđơnvị X thựctếsản X quy
* Phương pháp liên hợp:
Phương pháp này được áp dụng trong các doanh nghiệp mà do đặc điểm
tổ chức sản xuất tính chất của quy trình công nghệ và tính chất của sản phẩm làm ra rất phức tạp Để tính được giá thành sản phẩm phải áp dụng đồng thời nhiều phương pháp tính giá thành khác và gọi đó là phương pháp tính giá thành liên hợp
Trên thực tế các doanh nghiệp xây lấp có thể áp dụng kết hợp nhiều phương
„
Trang 13pháp nêu trên Việc lựa chọn phương pháp nào là tuỳ thuộc vào đặc điểm, trình
độ quản lý và trình độ kế toán của mỗi doanh nghiệp
3 Mối quan hệ giữa chỉ phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Ngày nay trong các doanh nghiệp thuộc mọi ngành nghề khác nhau việc tính toán chỉ phí sản xuất và giá thành sản phẩm đã trở thành công việc quan trọng Nó là một phần trong kế hoạch kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Bởi vì chỉ tiêu chỉ phí sản xuất và giá thành sản phẩm là thông tin cơ bản cho các bộ phận khác trong doanh nghiệp : nghiên cứu phát triển, thị trường, tài chính, nhân sự có hướng đi đúng cho sản phẩm của mình
Các bộ phận đó có thể đánh giá, phân tích kế hoạch sản xuất, chất lượng,
tính năng của sản phẩm và hiệu quả sử dụng tài san , tiền vốn cho sản xuất từng
loại sản phẩm là như thế nào
Trong ngành xây lắp : Chỉ phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp giống nhau về chất nhưng khác nhau về lượng Nội dung cơ bản của chúng ta là biểu hiện bằng tiền của những chỉ phí mà doanh ngi
bỏ ra cho hoạt động sản xuất Trong khi chỉ phí xây lắp là tổng thể các chỉ phí phát sinh trong một kỳ nhất định thì giá thành sản phẩm xây lắp là tổng thể các chỉ phí gắn liền với một khối lượng xây lắp hoàn thành và bàn giao
Chỉ phí sản xuất phát sinh trong một kỳ không chỉ liên quan đến những sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ mà nó còn liên quan đến những sản phẩm được coi là đở dang cuối kỳ , các sản phẩm hỏng Cỏn giá thành sản phẩm có, liên quan tới cả chỉ phí phát sinh trong kỳ , chỉ phí sản phẩm dở dang đầu kỳ, chỉ phí của kỳ trước phân bổ cho kỳ này Chỉ phí sản xuất trong kỳ là cơ sở để tính giá thành sản phẩm , công việc , lao vu , dich vụ hoàn thành
Để thực hiện tốt quá trình hạch toán chỉ phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp đổi với mỗi doanh nghiệp là yếu tổ sống cỏn và đòi hỏi các bộ phận trong doanh nghiệp đều phải thực hiện tốt phần trách nhiệm của mình để không ngừng ngày càng hoàn thiện công tắc này
Ul HACH TOAN CHI PHÍ SẢN XUẤT XÂY LÁP TRONG DOANH NGHIỆP.
Trang 141 Hach toán chỉ phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chỉ phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm giá trị nguyên vật liệu chính (xi ming , cát, đá , sắt thép, ) các cấu kiện, bộ phận riêng lẻ, các loại nhiên liệu (xăng dầu , khí đốt, ) và các loại vật liệu khác được xuất dùng trực tiếp cho công trình thi công
Chỉ phí về nguyên vật liệu trực tiếp chiếm tỉ trọng lớn trong giá thành:
70 - 80% được hạch toán trực tiếp cho từng công trình hay hạng mục công trình Nếu vật tư sử dụng cho nhiều công trình, hạng mục công trình thì phải được phân bổ theo tiêu thức hợp lý Trong chỉ phí này không bao gồm chỉ phí vật tư sử dụng cho máy thi công
Nguyên vật liệu trực tiếp có thể được xuất từ kho của doanh nghiệp hoặc
vật tư được bán đưa thắng đến chân công trình
Để tập hợp và phân bỏ chỉ phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng
“TK 621 * Chỉ phí nguyên vật liệu trực tiếp "
Bên nợ: Tập hợp chỉ phí NVL trực tiếp cho từng đối tượng
Bên có: Ghi các khoản giảm chỉ phí
TK 621 cuối kỳ không có số dư
Phương pháp hạch toán:
- Trong kỳ khi xuất nguyên vật liệu chính và vật liệu phụ sử dụng trực tiếp sản xuất trong xây lắp hoặc thực hiện lao vụ, căn cứ vào phiếu xuất kho nguyên vật liệu, kế toán ghi:
Nợ TK 621: Chỉ phí NVL trực tiếp
Có TK 152: Nguyên liệu, vật liệu
- Trường hợp mua NVL không nhập kho, đưa thẳng đến công trình phục
vụ thi công, kế toán ghỉ:
Nợ TK 621: Giá mua NVL chưa có thuế GTGT
Nợ TK 133: Thuế GTGT được khấu trừ
Có TK 111, 112, 331: Tổng số tiền thanh toán cho người bán
™
Trang 15- Trường hợp NVL xuất sử dụng cho san xuất xây lắp nhưng không sử dụng hết, nhập lại kho kế toán ghỉ:
Trang 16(1) chỉ phí vật liệu vượt mức bình thường,
(2) quyết toán chỉ phí vật liệu giao khoán
2 Hạch toán chỉ phí nhân công trực tiếp
Chỉ phí nhân công trực tiếp là toàn bộ số tiền lương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp phải trả cho số công nhân trực tiếp xây dựng công trình, công nhân phục vụ xây lắp Chỉ phí này không bao gồm tiền lương của công nhân lái máy và phụ máy
Kế toán sử dụng TK 622 “ Chỉ phí nhân công trực tiếp ” để hạch toán,
không hạch toán vào TK 622 những khoản phải trả về tiền lương , các khoản
phụ cấp cho nhân viên quản lý đội xây lắp , công nhân sử dụng máy thi công, nhân viên quản lý doanh nghiệp
Bên nợ: Tập hợp chỉ phí nhân công trực tiếp PS trong kỳ
Bên có: Phân bổ va kết chuyển chỉ phí nhân công trực tiếp
TK 622 cuối kỳ không có số dư
Phương pháp hạch toán:
- Chỉ phí tiền lương và các khoản phụ cấp phải trả cho sản công nhân trực tiếp sản xuất xây lấp trong kỳ hạch toán hoặc tiền thuê nhân công bên ngoài :
Nợ TK 622: Chỉ tiết đối tượng
Có TK 334 (3341, 3342): Phải trả công nhân viên
~ Trích trước tiền lương nghỉ phép phải trả cho công nhân sản xuất xây lắp vào chỉ phí sản xuất kì này, kế toán ghi:
Nợ TK 622: Chỉ tiết đối tượng
Có TK 335: Chỉ phí phải trả
~ Tạm ứng chỉ phí nhân công để thực hiện giá trị giao khoán xây lắp nội bộ:
Nợ TK 622: Chỉ tiết đối tượng
C6 TK 141 (1413): Tạm ứng
Trang 17~ Cudi ky kết chuyển chỉ phí nhân công trực tiếp theo đối tượng tập hợp chỉ phí để tính giá thành, kế toán ghỉ:
Nợ TK 154: Chỉ phí sản xuất kinh doanh dở dang
Có TK 622: Chỉ tiết đối tượng
3 Hạch toán chỉ phí máy thi công
Đây là loại chỉ phí đặc trưng của ngành xây lấp, là khoản chỉ phí trực tiếp cho sản xuất Máy thi công di chuyển theo địa điểm công trình thi công nó trợ giúp rất nhiều cho người lao động tạo ra khả năng hoàn thành công trình với chất lượng cao và tiến độ nhanh mà lao động con người khó có thể thực hiện Loại chỉ phí này chiếm tỷ lệ rất lớn trong giá thành sản phẩm xây lắp Chúng ta
có thể liệt kê một số loại máy thi công chủ yếu sau : Máy trộn bê tông, cẩu, xe
6 tô, lu, máy rải thảm, vận thăng, máy đào, và chi phi dé van hành, sử dụng máy thỉ công phục vụ cho các công trình bao gồm : chỉ phí về nguyên vật liệu vận hành máy, chỉ phí nhân công và phụ máy, các khoản tính theo lương, các khoản chỉ phí mua ngoài : điện, nước chi phí về thuê máy và sửa chữa máy
7
Trang 18Để hạch toán chính xác loại chi phí này yêu cầu doanh nghiệp phải phân loại máy và nắm chắc đặc điểm hoạt động nội dung chỉ phí và các hình thức sử dụng máy để phân bố và hạch toán phủ hợp với chỉ phi phat sinh thực tế
Để hạch toán chỉ phí sử dụng máy thi công, kế toán sử dụng TK623 “Chỉ phi sử dụng máy thi công ”
Bên nợ: Tập hợp chỉ phí sử dụng máy thi công
Bên có: Kết chuyển (phân bổ) chỉ phí sử dụng máy thi công
TK 623 cuối kỳ không có số dư, được mở chỉ tiết thành 6 TK cấp 2
Nợ TK133: Thuế GTGT được khấu trừ
C6 TK 111, 112, 331: Tổng số tiền phải thanh toán
Trang 19- Khi trích truée chi phi sita chita lén may thi cng, ghi:
No TK623 (6238)
Có TK 335
~ Cuỗi kỳ kế toán kết chuyển chỉ phí sử dụng máy thi công vào TK154
để tính giá thành công trình hạng mục công trình, ghỉ:
Nợ TK 154: Chỉ phí sản xuất kinh doanh dé dang
Có TK 623: chỉ phí sử dụng máy thi công
So dé 03: Sơ đồ hạch toán tỗng hợp chỉ phí sử dụng máy thỉ công
TK 23%,
Chỉ pHÍ TIỀN tƯƠNG,
K/€ củi nhỉ SDMTC raicn reo LUOwe
4 Hạch toán chi phi chung
a Hach toán chỉ phí sản xuất chung
Chỉ phí sản xuất chung là những khoản chỉ phí phục vụ cho quá trình xây lắp tại các đội, bộ phận thi công trong doanh nghiệp xây lấp Đây là chỉ phí phát sinh trong từng bộ phận ngoài các loại chỉ phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp, chi phi sử dụng máy thỉ công Chỉ phí sản xuất chung mà
Trang 20liên quan đến nhiều đối tượng chịu phí thì phải tiến hành phân bổ Việc phân bổ này được dựa vào tỉ lệ của chỉ phí nhân công trực tiếp hay chỉ phí sử dụng máy thi công khi tỉ lệ của loại chỉ phí này chiếm ưu thể trong giá thành Công thức phân bổ :
TOne cut pHi chuNG cẦN pHÂN BO Tiêu rỨc
Tne Tiêu tHỨc pHÂN BỔ,
TK627 không có số dư cuối kỳ và được mở chỉ tiết thành 6 TK cấp 2
Có TK 334: Phải trả cho công nhân viên
- Trích BHXH, BHYT, KPCĐ của nhân viên đội xây lắp theo qui định,
Trang 21- Chi phi điện nước, thuê nhà xưởng, nhà kho, chỉ phí sửa chữa TSCĐ
thuê ngoài thuộc đội xây lắp, ghỉ:
Nợ TK 627 (6277) : Chưa có thuế GTGT:
No TK133 : Thuế GTGT được khấu trừ (nếu có)
Có TK 111, 112, 331 : Tổng sô tiền phải thanh toán
~ Trường hợp sử dụng phương pháp tính trước hoặc tính dần số đã chỉ về chỉ phí sửa chưã TSCĐ thuộc đội xây lắp, tính vào chỉ phí sản xuất chung:
+ Khi tính trước hoặc tinh din số chỉ phí sửa chữa TSCĐ, ghi:
Nợ TK 627: Chỉ phí sản xuất chung
Có TK 335 : Chỉ phí phải trả
Có TK 142 : Chỉ phí trả trước +Khi chỉ phí sửa chữa TSCĐ thực tế phát sinh, ghi:
: Tổng số tiền phải thanh toán
- Cuối kì, kết chuyển (phân bồ) chỉ jhí sản xuất chung vào TK154 tính giá thành cho từng công trình, hạng mục côhg trình theo tiêu thức phủ hợp, ghỉ:
Nợ TK 154 : Chỉ phí sản xuất kinh doanh dq dang
Có TK 627 : Chỉ phí sẳn xuất chung (Chỉ tiết đối tượng)
Sơ đồ 04
.Sơ đã hạch toán tống hợp chỉ phí s
Trang 22sổ mẻ dung | rea
Trang 235 Tổng hợp CPSX, kiểm kê và đánh giá SP dé dang
a Tổng hợp chỉ phí sản xuất
23
Trang 24“Tổng hợp chỉ phí sản trong xây lắp theo từng đối tượng (công trình, hang mục công trình) và các khoản mục giá thành quy định theo giá dự toán xây lắp
“TK 154 được sử dụng để hạch toán, tập hợp chỉ sản xuất kinh doanh phục vụ
cho việc tính giá thành sản phẩm xây lắp (TK 154 có 4 tài khoản cấp 2)
- Kết chuyền chỉ phí nguyên vật liệu trực tiếp:
- Kết chuyển chỉ phí máy thi công:
Nợ TK 154 (1541 chỉ tiết đối tượng)
Có TK 623
~ Kết chuyển chỉ phí sản xuất chung:
Nợ TK 154 (1541 chỉ tiết đối tượng)
Có TK 627 (Chỉ tiết bộ phận)
“Tổng giá thành sản xuất công trình hoàn thành bàn giao trong kỳ:
Nợ TK 632: Bàn giao cho chủ đầu tư
Nợ TK 155: Nếu sản phâm xây lắp chơ tiêu thụ
Nợ TK 336: Bàn giao cho công ty khi bộ phận nhận khoán
có tổ chức kế toán riêng
Nợ TK 241 (2412): Giá thành công trình, lán trại có nguồn
vến riễng
Có TK 154: Giá thành sản xuất công trình hoàn thành
b Kiểm kê và đánh giá sản phẩm đở dang
Sản phẩm làm dở dang trong doanh nghiệp xây dựng có thể trong công trình, hạng mục công trình đở dang chưa hoàn thành hay khối lượng công tác xây lắp dở dang trong kỳ chưa được chủ đầu tư nghiệm thu, chấp nhận thanh toán Đánh giá sản phẩm làm dở là việc tính toán, xác định phẩn chỉ phí trong
4
Trang 25sản xuất trong kỳ cho khối lượng sản phẩm làm dở cuối kỳ theo nguyên tắc nhất định
Để xác định được giá thành sản phẩm một cách chính xác, một trong những điều kiện quan trọng là phải đánh giá chính xác sản phẩm làm dở cuối
kỳ tức là xác định số chỉ phí sản xuất tính cho sản phẩm làm đở cuối kỳ phải chịu
Muốn vậy phải kiểm kê chính xác khối lượng công tác xây lắp dở dang trong kỳ đồng thời xác định đúng mức độ hoàn thành của khối lượng làm dở dang so với khối luợng hoàn thành theo quy ước của từng giai đoạn thi công
Chất lượng của công tác kiểm kê khối lượng xây lắp có ảnh hưởng đến tính chính xác của việc đánh giá sản phẩm làm dở và tính giá thành Ở các doanh nghiệp xây dựng, do đặc điểm của sản phẩm xây dựng là có kết cấu phức
loàn thành của nó rất khó khăn nên khi đánh giá
2s
Trang 26Chỉ phí thực tế của khối lượng
Chỉ phí xây lắpDDĐK_ +
thực tế
của khỏi = Chi Phi cha Khoi
trong kỳ
Chỉ phí của khôi lượng xây lấp DDCK theo dự
toán
Giá trị dự toán của khối lượng
Chỉ phí thực lượng xây — lượng xây lấp
tế của khối lắpDDĐK + thực hiện
lắp DDCK Tổng giá trị dự toán của các giai
Trang 27CHUONG II : TINH HINH CÔNG TAC KE TOAN TAI Xi NGHIEP SAN
XAT VAT LIEU XAY DUNG SO 2
1 Những vấn đề chung của xí nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng số 2
xây dựng số 2
Công ty xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng được thành lập theo
quyết định số 384/1998/QÐ - BXD của Bộ Trưởng Bộ Xây Dựng ký ngày
05/02/1988 nhằm đáp ứng yêu cầu của đất nước khi hoà bình lập lại Từ đó đến nay để đáp ứng yêu cầu rộng khắp và sự phát triển của đất nước , công ty
đả có nhiều đơn vị trực thuộc ở khắp cả ba miền Bắc - Trung - Nam
Xí nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng số 2 được thành lập thang 4/1994 ,
là đơn vị trực thuộc có tư cách pháp nhân Hiện tại xí nghiệp đóng tại mỏ đá Hoàng Mai A ~ Quỳnh Lưu - Nghệ An , nhiệm vụ chính của xí nghiệp là trực
tiếp thi công các gói thầu do tổng công ty giao cho và một số công trình mà xí
nghiệp trúng thầu tại khu vực Bắc Miền Trung với các nhiệm vụ chính như sau:
27
Trang 28* Khai thác cung cấp nguyên liệu da cho nhi may Xi Mang Nghi Son , Sao Mai làm nguyên liệu sản xuất xỉ măng
* Nhận thầu và xây dựng các công trình xây dựng và dân dụng như : xây
dựng giao thông , hạ tầng cơ sở
* xây dựng đường điện và trạm biến áp đến 35 kw , kiến thiết mỏ cho nhà máy xi măng nghỉ sơn , các công trình xây dựng khu phụ trợ
* sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng, san lấp mặt bằng
Bằng sự có gắng và nổ lực của của cán bộ công nhân viên trong xí
Là
xí nghiệp có quy mô chưa lớn cùng với phương thức sản xuất và
điều kiện sản xuất Xí Ng|
đã gặp những khó khăn và thuận lợi sau :
* Khó khăn : ngoài những công trình mà công ty giao cho thì Xí Nghiệp còn phải đấu thầu những gói thầu khác đề thi công chính vì thế màdo cơ chế đấu thầu nên đơn gía muốn trúng thầu và gạt bỏ được nhà thầu khác thì giá nhận thầu thỉ công phải sát với giá thực tế , điều đó buộc đơn vị phải quản lý và
co biện pháp kinh doanh tốt nếu không sẻ rất dể bị lỗ Công việc làm theo các
dự án đấu thầu nên hết gói thầu của công trình này thì đơn vị phải chuyển đi
tìm các gói thầu mới nên rất tốn kém cho việc di chuyển về nhân lực và thiết bị,
tải sản và đầu tư ban đầu về cơ sở hạ tầng
* Thuận lợi : gói thầu với nhà máy xi măng nghỉ sơn được ccong ty giao cho đến nay liên tục trúng thầu và đã liên tục trúng thầu và thi công từ năm
1998 đến nay, bên cạnh đó xí nghiệp có nhiều gói thầu xây dựng các công trình quan trọng và lớn trên địa bàn như : xây dựng trụ sở làm việc,ngân hàng, trạm nghiền,
Do vậy mà sản lượng hàng tháng tương đối lớn, có kế hoạch trước nên
dễ dàng tính được phương án chuẩn bị về lao động và đầu tư thiết bị đã tránh
Trang 29được lãng phí, khôi lượng được thanh toán kịp thời nên tận dụng được vốn tiền
mặt đề tái đầu tư mở rộng sản xuất
Từ những khó khăn và thuận lợi trên xí nghiệp đã thu được một số thành quả đáng kể tăng tích luỹ và từng bước mở rộng vồn kinh doanh được thể hiện
qua một số chỉ tiêu sau :
Đạt được những thành quả trên là do sự quan tâm của các cấp cũng như
sự nỗ lực phấn đấu của tập thể xí nghiệp và sự áp dụng thành công các thành tựu của khoa học tiên tiến trong suốt những năm qua Mặt khác sự quản lý và công tác tổ chức sản xuất kinh doanh của xí nghiệp khá hoàn thiện cũng góp phần đáng kể vào sự thành công này
1.2 Đặc điễm tổ chức sản xuất kinh doanh của xí nghiệp
Trang 30
1.2.1 Khái quát về quá trình sản xuất kinh doanh
Là xí nghiệp hoạt đông trong lĩnh vực xây dựng và cung cấp nguyên liệu sản xuất xi măng Nên quá trình hoàn thành một sản phẩm dài hay ngắn là tuỳ thuộc vào từng công trình có quy mô lớn hay nhỏ Đối với một số công trình đặc biệt, xí nhiệp được công ty chỉ định thầu cỏn những công trình khác xí nghiệp phải tham gia đấu thầu Nếu trúng thầu xí nghiệp phải bảo vệ công trình ( bảo vệ biện pháp thi công công trình ) và thành lập công trình Trong quá trình thi công,
xí nghiệp phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về an toàn lao động và chất lượng công trình
Quá trình sản xuất kinh doanh được thể hiện qua sơ đỏ sau :
Sơ đồ khái quát quy trình sản xuất kinh doanh
LC ——b tiến nồnw rổ chỨc nà công | —— | TỔ chỨc NghIỆM THU K.LƯỢNG
xế được suyệt và cuất LƯỢNG cÔNg rnÌM
CÔnG vaÌNH hoàn Thôn sẵn GIAo Lất Bens dau tại
ToắN vÀ BỒN @ lAo | —| tHANH rod cOna £—
30
Trang 311.2.2.Đặc điễm tổ chức quản lý của xí nghiệp
Xí nghiệp từ khi thành lập đến nay bộ máy tổ chức của xí nghiệp ngày càng hoàn thiện và én định hơn
Đứng đầu xí nghiệp là Giám Đốc dưới giám đốc là phó giám đốc kỷ thuật
và công nghệ và phó giám đốc thi công Hiện tại xí nghiệp có ba phòng chức năng :
* Phòng kế hoạch kỷ thuật
* Phòng kế toán
* phỏng tổ chức hành chính
Và bốn đội sản xuất :
* Đội thi công
* Đội cơ giới
* Đội sửa chữa
* Đội khoan bắn
GIÁM ĐỘC xÍ NGHIỆP
Về cơ Anh chức của xí nghiệp có thể khái quát sub
Pud ordm Adc xŸ
Trang 32* Giám đốc xí nghiệp : là người chịu trách nhiệm trước pháp luật và nhà nước về qúa trình hoạt động của xí nghiệp là người đại diện pháp nhân của xí nghiệp và quản lý mọi mặt của xí nghiệp
* Hai phó giám đốc : là người giúp giám đốc điều hành mọi hoạt động của xí nghiệp khi giám đốc đi vắng và chịu trách nhiệm giám sát điều hành hoạt động về mặt ky thuật và thỉ công tại mỗi công trường
* Phỏng kế toán : có trách nhiệm ghỉ chép kịp thời mọi hoạt động sản xuất kinh doanh phát sinh trong xí nghiệp , phân tích và đánh giá tình hình thực tế nhằm cung cấp thông tin cho giám đốc ra quyết định Phỏng có ttrách nhiệm áp dụng chế độ kế toán hiện hành về tổ chức chứng từ ,tài khoản „ số sách kế toán
và các báo cáo tài chính cũng như tình hình thực tế của đơn vị theo quy định của pháp luật về chế độ kế toán hiện hành
Trang 33* Phòng kế hoạch kỷ thuật : có nhiệm vụ lập kế hoạch sản xuất kinh doanh cho xí nghiệp chỉ đạo về khâu kỳ thuật , theo dõi về chất lượng công trình cũng như an toàn lao động
* Phỏng tổ chức hành chính : Giúp giám đốc trong việc bổ trí tuyển chọn
và đào tạo lao động phù hợp với tỉnh hình sản xuất „ lập danh sách cán bộ công nhân viên và các công viêc liên quan đến lĩnh vực hành chính
* Các đội xây dựng : là đội ngủ lao động sát sườn với thành quả lao động của xí nghiệp , đội ngủ này giúp cho xí nghiệp tăng năng suất lao động , ồn định
và đáp ứng tiến độ thi công
1.2.3.Tổ chức bộ máy kế toán của xí nghiệp xây dựng số 2
Để phù hợp với cơ cấu tổ chức quản lý của xí nghiệp và quản lý tốt công tác kế toán „ xí nghiệp đã xây dựng mô hình tổ chức công tác theo hình thức tập
trung
Theo mô hình này toàn xí nghiệp có một phỏng kế toán tại xí nghiệp làm nhiệm vụ hạch toán chỉ tiết và hạch toán tổng hợp „ lập báo cáo tài chính.Tại các đội sản xuất có nhân viên kế toán làm nhiệm vụ tổng hợp chứng từ các nghiệp
KẾ roắn rập HỢP ké roan nen, KẾ roắn NVL
odin cOna no” BHXxH, vow sano rau sdn c6 dinw
Trang 34Công tác tổ chức bộ máy kế toán khoa học đóng vai trỏ quan trọng trong việc đảm bảo tính hiệu quả của công tác kế toán Để đảm bảo thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của phỏng kế toán Xí nghiệp đả quy định chức năng và nhiệm vụ của từng phòng cụ thể như sau :
* KẾ toán trưởng : là người có chức năng tổ chức kiểm tra công tác kê toán ở đơn vị do mình phụ trách, chịu trách nhiệm chính xác các số liệu tài chính của xí nghiệp, có trách nhiệm bảo toàn về vốn, nguồn vốn hoạt động của doanh nghiệp , đôn đốc việc thực hiện đúng chế độ kế toán theo quy định : đôn đốc, kiểm tra, lập báo cáo quyết toán và chấp hành các chính sách về nghã vụ nộp thuế cho ngân sách nhà nước
* Kế toán NVL, công cụ dụng cụ tài sản cố định : Theo dõi tình hình
tăng , giảm khấu hao TSCD, tinh hình biến động vật tư tại xí nghị
* Kế toán vốn bằng tiền, thanh toán lương và BHXH : Giúp giám đốc xí nghiệp về chế đọ chỉ tiêu và thanh toán với công nhân viên, phản ánh mọi khoản vốn bằng tiền tại ngân hàng và quỹ tiền mặt, tính lương và BHXH cho cán bộ công nhân viên, các khoản nộp BHXH, BHYT
* Kế toán tập hợp chỉ phí sản xuất và tính giá thành, thanh toán công nợ :
có nhiệm vụ tập hợp các yếu tố tính giá như nguyên vật liệu, chỉ phí sử dụng máy, chỉ phí nhân công, chỉ phí sản xuất chung, theo dõi lập dự toán hoàn
thành công trình và thanh toán khối lượng
34
Trang 35
* Thủ quỹ : có trách nhiệm thu chỉ theo lệnh, vào số quỷ, chịu trách
n mặt, giao dịch ngân hàng hàng tháng đối chiếu thanh toán về
kế toán tổng hợp và ghỉ sé liên quan Tất cả các chứng từ này đều phải có sự kiểm tra phê duyệt của kế toán trưởng
Trang 36Ghi chi :
—> Ghi hang ngiy
—— > Ghi cudi thang
Ghi déi chiếu
Các chứng từ sở sách đều được kế toán thu thập, ghi chép mét céch day dit, r6 rằng theo trình tự sau :
* Hàng ngày căn cứ vào chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại, đã được kiểm tra dùng làm căn cứ ghi sổ, kế toán lập chứn từ ghỉ sổ Căn cứ vào chứng từ ghi sổ để ghi vào số đăng ký chứng từ ghỉ sổ, sau
đó được dùng để ghi vào số cái, các chứng từ kế toán sau khi làm căn cứ lập chứng từ ghỉ số sẻ được dùng để ghi vào số thẻ kế toán chỉ tiết có liên quan
* Cuối tháng, phải khoá sổ tính ra tổng số tiền của nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong tháng trên sổ đăng ký chứng từ ghi sổ, tính ra tổng số phát sinh nợ „ tổng phát sinh có và số dư của từng tài khoản trên sổ cái căn cứ vào sổ cái lập bảng cân đối phát sinh
36
Trang 37* sau khi đối chiếu khớp đúng số liệu ghi trên sổ cái và bảng tổng hợp chỉ tiết, được dùng để lập báo cáo tài chính
Việc áp dụng hình thức kế toán theo hình thức * chứng từ ghỉ số ” tại
1.2.5 phương pháp hạch toán hàng tồn kho xí nghiệp áp dụng
Do đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp là xây dựng và
cung cấp nguyên liệu đá để sản xuất xi măng nên có nhiều loại nguyên li
nhập và xuất kho thường xuyên cho thi công Vì vậy, để đảm bảo nguyên tắc
thường xuyên Với phương pháp này xí nghiệp áp dụng chủ yếu là tài khoản
152 và các tài khoản đối ứng li
I TINH HINH THUC TE VE TÓ CHỨC CÔNG TÁC KÉ TOÁN CHI PHÍ SÀN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH TẠI XÍ NGHIỆP SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG SỎ 2
n quan
2.1 đối trợng và phương pháp tập hợp chỉ phí sản xuất
Xuất phát từ đặc điểm của nghành xây dựng cơ bản và sản phẩm xây dựng „ để đáp ứng nhu cầu của công tác quản lý và công tác kế toán Đồi tượng
và phương pháp tập hợp chỉ phí sản xuất của xí nghiệp được xác định là từng công trình, hạng mục công trình cũng có thể là giai đoạn công việc hoàn thành.Mỗi công trình từ khi khởi công xây dựng đến khi hoàn thnảh bàn giao đều được mở những tờ kê chỉ tiết chi phi dé tập hợp chỉ phi sản xuất phát sinh cho công trình hạng mục công trình đó
Chỉ phí của xí nghiệp được tập hợp theo những khoản mục chỉ phí sau :
* chỉ phí nguyên vật liệu trực tiếp
37
Trang 38* chỉ phí nhân công trực tiếp
* chỉ phí máy thi cong
3.2 Đối tượng và phương pháp tính giá thành
Sản phẩm của xí nghiệp được sự thừa nhận của nền kinh tế theo từng công trình hạng mục công trình Mặt khác do tổ chức sản xuất của xí nghiệp là
đơn chiếc nên đối tượng tính giá thành ở xí nghiệp là từng công trình hạng mục
công trình hoặc giai đoạn công
Về phương pháp tính giá thành xí nghiệp áp dụng phương pháp tính giá thành giản đơn ( Phương pháp trực tiếp ) Hàng ngày , mỗi chỉ phí phát sinh tại công trình nào thì hạch toán cho công trình đó , những chỉ phí cần phân bổ
được tập hợp vào cuối kỳ tính giá và được phân bổ theo tiêu thức phủ hợp cho từng công trình
Công thức tính giá thành theo phương pháp trrực tiếp như sau :
GÍA mỖNH MỰC — ChummÍsỂN — ChummÍsẵ xuất ——— chummÍsẩm
Để hạch toán chỉ phí sản xuất và tính giá thành xí nghiệp sử dụng tài
khoản : TK 621, TK 622, TK623, TK627 ,TK 154.
Trang 392.3 Nội dung công tác hạch toán chỉ phí sản xuất và tính giá thành tại xí nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng số 2
Xí nghiệp áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên để hạch toán hàng tổn kho, các tài khoản mà xí nghiệp sử dụng để hạch toán chỉ phí sản xuất được
mở xhi tiết cho từng công trình hạng mục công trình
Do đặc trưng của nghành xây dựng là chu kỳ sản xuất sản phẩm kéo dài nên việc tính giá thành sản phẩm thường được tính theo quý Vì vậy để đáp ứng
yêu cầu trong côngtác hạch toán chỉ phí và tính giá thành, có số liệu minh hoạ
cụ thể Sau khi thông nhất với xí nghiệp em xin lấy số liệu quý IV năm 2007 với việc tập hợp chỉ phí và tinh giá thành của ba công trình :
* Công trình A1 - ngân hàng đầu tư và phát triển Bắc Nghệ An
* Công trình Hoàng Mai A
* Công trình Mỏ Sét Trường Lâm
Cách quản lý về chỉ phí là tuỳ theo giá dự toán của công trình đó , khi có
nhu cầu chỉ trả, vật liệu, chỉ phí máy thi công thì nhân viên kế toán tại các
đội sản xuất viết giấy tạm ứng gửi lên phỏng kế toán theo mẫu sau :
Trang 40Ngày 10 tháng 10 năm 2007
Kính gửi : Ông giám đốc xí nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng số 2
Tên tôi là : Nguyễn Minh Quân
Địa chỉ: đội xây dựng
Đề nghị tạm ứng số tiền là 24.580.000 đồng
Số tiền bằng chữ : Hai muơi bổn triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng chẵn
Lý do tạm ứng : trả tiền xăng dầu công trình A1 - ngân hàng
Thời hạn thanh toán là ngày 06 tháng 11 năm 2007
Hoàng Mai , ngày 10 tháng 10 năm 2007
KẾ toấn mƯỞNa — Giấu đỐc xÍNeuỆp — NGƯỜi xu rậm ỨNG
€kÝ „ HỘ TÊN 3 (Ý , nỌ tê 3 CY, HO TÊM 3
Căn cứ vào bảng dự toán công trình thấy lý do xin tạm ứng là hợp lệ, khi đó kế toán đơn vị và giám đốc ký xác nhận , kế toán lập phiếu chỉ theo mẫu sau :
ĐơN vị : XÍ nauệp SXVLXP sỐ 2 Mẫu sỐ o -T+
Dia cui: @L- Now AN (Ban Hann mo @D 36 15 20068D - BTC
Nody 20032006 clia BO Tana BTC)
PHIEU CHI Ngày 10 tháng 10 năm 2007 No: 141
Có:111
Họ tên người nhận tiền : Nguyễn Minh Quân
Địa chỉ : đội xây dựng
Lý do chỉ : trả tiền xăng dầu công trình A1 - ngân hang
Số tiền _ : 24.580.000
Bằng chữ : Hai mươi bồn triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng chẵn
kèm theo : 01 chứng từ gốc
40