Góp ý dự án luật hòa giải cơ sở Kinh phí thực hiện công tác hoà giải cơ sở cần phải được đảm bảox
Trang 1Góp ý d án Lu t Hoà gi i c s : ự án Luật Hoà giải cơ sở: ật Hoà giải cơ sở: ải cơ sở: ơ sở: ở:
Kinh phí th c hi n công tác hoà gi i c s c n ph i đ ự án Luật Hoà giải cơ sở: ện công tác hoà giải cơ sở cần phải được đảm ải cơ sở: ơ sở: ở: ần phải được đảm ải cơ sở: ược đảm c đ m ải cơ sở:
b o ải cơ sở:
Một trong những vấn đề lớn được các đại biểu tham dự hội nghị rất quan tâm đó
là vấn đề kinh phí thực hiện công tác hòa giải cơ sở Đa số ý kiến đề nghị dự án Luật Hòa giải cơ sở nên quy định Nhà nước đảm bảo kinh phí cho công tác hòa giải cơ sở thay vì quy định kinh phí thực hiện công tác hòa giải cơ sở được hỗ trợ
từ ngân sách Nhà nước và từ các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong xã hội như hiện nay Điều này xuất phát từ thực tế công tác hòa giải cơ sở trên địa bàn tỉnh Bình Định, trong hơn 10 năm qua hoạt động của phần lớn các tổ hòa giải trên địa bàn tỉnh gặp rất nhiều khó khăn, đối với mỗi cuộc hòa giải thành, họ được thanh toán từ 20.000đ đến 30.000đ; hòa giải không thành được thanh toán từ 10.000đ
đến 15.000đ (thấp hơn rất nhiều so với mức chi được quy định tại Thông tư số 63/2005/TT-BTC ngày 05/8/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và nay là Thông tư liên tịch số 73/2010/TTLT-BTP-BTC ngày 14/5/2010 của Bộ Tư pháp
và Bộ Tài chính hướng dẫn việc lập, quản lý, sử dụng kinh phí cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật), thậm chí có nơi không được thanh toán Nguyên nhân
của tình trạng này là do việc hỗ trợ kinh phí của UBND cấp xã đối với hoạt động hòa giải cơ sở là rất hạn chế, đặc biệt đối với những xã ở vùng sâu, vùng xa, vùng
có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, không có nguồn thu mà chủ yếu là do ngân sách cấp trên hỗ trợ Vì vậy, trong dự án Luật lần này rất cần thiết quy định Nhà nước đảm bảo kinh phí cho công tác hòa giải cơ sở để có đủ kinh phí phục vụ cho hoạt động của Tổ hòa giải và khuyến khích, tạo điều kiện cho hòa giải viên tham gia công tác này
Trang 2Ngoài ra, các đại biểu cũng thống nhất việc ban hành Luật Hòa giải cơ sở sau hơn 13 năm thực hiện Pháp lệnh Tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở là cần thiết để tạo cơ sở pháp lý toàn diện, đầy đủ, nâng cao chất lượng hoạt động hòa giải ở cơ sở Việc ban hành luật là phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 được Bộ Chính trị đưa ra trong Nghị quyết số 49-NQ/TW Tuy nhiên, nội dung của dự án luật cũng còn nhiều vấn đề khiến các đại biểu phân vân:
Trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận các cấp trong công tác hòa giải cơ sở: Các đại biểu đề nghị Nhà nước vẫn nên giữ vai trò chủ đạo trong công tác
hoà giải cơ sở, còn Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với tư cách là tổ chức chính trị xã hội, chỉ nên phát huy vai trò của mình trong việc phối hợp với các cơ quan nhà nước thực hiện việc hòa giải, thực hiện công tác giám sát theo thẩm quyền chứ không tham gia quản lý nhà nước đối với công tác hòa giải cơ sở như chỉ đạo, hướng dẫn việc xây dựng, củng cố Tổ hòa giải và hòa giải viên; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ, kỹ năng hòa giải cho hòa giải viên; thống kê, báo cáo về hoạt động hòa giải cơ sở; xây dựng, ban hành và
hướng dẫn sử dụng “Sổ theo dõi hoạt động hòa giải cơ sở”; xây dựng dự toán
kinh phí cho công tác hòa giải cơ sở, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt,… Việc quy định Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia quản lý nhà nước đối với công tác hòa giải cơ sở vừa trái với chức năng của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vừa dễ dẫn đến sự chồng chéo không đáng có về thẩm quyền giữa ngành tư pháp và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở các cấp trong việc quản lý đối với công tác hòa giải cơ sở
Giá trị biên bản hòa giải: Dự án luật lần này đã kế thừa nội dung của
Trang 3Pháp lệnh Tổ chức và hoạt động hòa giải cơ sở quy định “Hòa giải viên lập biên bản hòa giải trong trường hợp các bên yêu cầu hoặc được các bên đồng ý” Tuy
nhiên, thực tế cho thấy biên bản hòa giải là cơ sở hết sức cần thiết và quan trọng
để các Tổ hòa giải ở cơ sở được thanh toán chi phí thực hiện hòa giải (theo mức chi cụ thể pháp luật quy định đối với các trường hợp hòa giải thành và không thành) Ngoài ra, việc lập biên bản, thực hiện theo những nội dung mà các bên
đã thỏa thuận trong biên bản cũng thể hiện tôn trọng sự tự nguyện của các bên
(họ tự nguyện khi lựa chọn hòa giải, tự nguyện thỏa thuận hòa giải với nhau và
tự nguyện thực hiện những vấn đề mình đã thỏa thuận) và góp phần đưa hoạt
động hòa giải cơ sở đạt đến mục tiêu, mục đích đề ra là giải quyết tranh chấp, giữ gìn tình đoàn kết trong nội bộ nhân dân, giữ gìn trật tự xã hội, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Do đó, các đại biểu dự họp đã thống nhất đề nghị việc hòa giải nên được lập biên bản kể cả hòa giải thành hoặc không thành
Việc công nhận hòa giải viên: Dự án luật quy định “Ban Công tác Mặt
trận ở thôn, tổ dân phố có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các tổ chức thành viên, Trưởng thôn, Tổ trưởng Tổ dân phố lựa chọn giới thiệu danh sách những người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 7 của Luật này để Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) ra quyết định công nhận” Tuy
nhiên, xuất phát từ tiêu chuẩn của hoà giải viên là người có uy tín trong cộng đồng dân cư và hòa giải viên là người trực tiếp hòa giải những mâu thuẫn, xích mích, tranh chấp nhỏ giữa các cá nhân, hộ gia đình trong cộng đồng dân cư ấy nên rất cần thiết hòa giải viên phải là người do nhân dân tại cơ sở giới thiệu và bầu ra Do
đó, dự án luật nên quy định “Ban Công tác Mặt trận ở thôn, tổ dân phố có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các tổ chức thành viên, Trưởng thôn, Tổ trưởng Tổ
dân phố tổ chức hội nghị trong thôn, tổ dân phố để nhân dân giới thiệu và bầu
Trang 4những người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 7 của Luật này để Chủ tịch
UBND xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) ra quyết định công nhận”.
Căn cứ tiến hành hòa giải: Khoản 1, Điều 18 dự án luật quy định “trong
trường hợp một bên yêu cầu hòa giải thì việc tiến hành hòa giải được thực hiện, nếu có sự đồng ý của bên còn lại” Việc quy định như vậy là không phù hợp vì
thực tế có nhiều trường hợp việc hòa giải được thực hiện thành công, có hiệu quả, góp phần quan trọng giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, giữ vững trật
tự an toàn xã hội ở cơ sở nhờ các hòa giải viên kiên trì tiếp xúc, khuyên giải, vận động khi chỉ có một bên tranh chấp yêu cầu còn bên tranh chấp còn lại không
đồng ý hòa giải Vì vậy, dự án luật nên quy định “trong trường hợp một bên yêu cầu hòa giải thì việc tiến hành hòa giải vẫn được thực hiện mà không cần có sự đồng ý của bên còn lại”.
Dự án luật cũng cần thiết bổ sung nội dung những hoạt động hòa giải không phải là hoà giải cơ sở, không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật này như hoạt động hòa giải trong tố tụng dân sự, hoạt động hòa giải trong giải quyết các tranh chấp về lao động, hoạt động hòa giải thuộc thẩm quyền UBND cấp xã để làm rõ phạm vi điều chỉnh của luật Bổ sung thêm 01 điều quy định về đối tượng
áp dụng của luật, xác định những cá nhân tổ chức có liên quan đến hoạt động hòa giải cơ sở, trong đó xác định rõ người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài đang cư trú ở Việt Nam có thuộc đối tượng áp dụng của Luật này hay không? Bổ sung thêm một số tiêu chuẩn đối với hoà giải viên như tiêu chuẩn về sức khoẻ, về kiến thức xã hội, đồng thời có quy định rõ như thế nào là có hiểu
Trang 5biết pháp luật? bổ sung thêm 01 trường hợp có thể thôi làm hòa giải viên là khi hòa giải viên đó chết./