Riêng ở hình thức nghệ thuật, so sánh, ấn dụ trong hình ảnh động vật và thực vật của ca đạo đồng bằng sông Cứu Long mang những đặc điểm riêng thể hiện được sự tỉnh tế vẻ cách sử dụng n
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÔNG THÁP
BÙI THỊ HÀNG
TRONG CA DAO DONG BANG SONG CUU LONG
(Khio sat qua nhóm hình änh động vật và thực vật)
Chuyên ngành: NGÔN NGỮ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Với tình cảm chân thành tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
PGS.TS Nguyễn Văn Nớ, người đã hết lòng giúp đỡ và hướng dẫn tôi tận tình
trong suốt thời gian làm luân văn tốt nghiệp
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thấy cô Phòng Dao tạo Sau Đại học - Trưởng Đại học Đông Tháp, đặc biệt là các thấy cô ngành
Ngôn ngữ Việt Nam và quý thẫấy cô thính giảng đã nhiệt tỉnh giảng dạy và
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, thực hiện để tài
Xin gửi lời cảm ơm đến những người thân trong gia đình và tắt cả bạn
bè, đông nghiệp đã luôn dành cho tôi sự quan tâm khích lệ và chia sé trong
suốt thời gian học tập và nghiền cứu
Tác Giá Luận Văn
Bùi Thị Hằng.
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Toi xin cam đoan đây là công trình nghiên cửu của tôi
Các sổ liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực nễu sai tôi hoàn
toàn chịu trách nhiệm
'Tác Giả Luận Văn
Bùi Thị Hằng.
Trang 4
Giả thuyết khoa học
'- Phương pháp nghiên cứu
, Dự kiến đồng góp của luận văn
9 Cấu trúc luận văn
NỘI DUNG
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ SO SÁNH, ÁN DỤ VÀ CÁ DAO
DONG BANG SONG CUU LONG 1.1 Vài nét về so sánh tu tir
1.3 Ca dao Đằng bằng sông Cứu Long
1.3,1 Khái niệm về ca dạo đồng bằng sông Cứu Long
1.4.2 Vài nét dung của ca dao đồng bằng sông Cửu Long
1.3.3 Đặc điểm về hình thức nghệ thuật của ca dao ĐBSLC
Trang 5Chương 3: NHÓM HINH ANH DONG VAT DUGC DUNG LAM
SO SANH VA AN DU TRONG CA DAO DONG BANG SONG CUU LONG 3.1 Đặc điểm hình ánh động vật được dùng làm so sánh và ấn dụ
2.1.1 Thông kế, phân loại
Chương 3: NHOM HINH ANH THUC VAT DUOC DUNG LA
SO SANH VA AN DU TRONG CA DAO DONG BANG SONG CUU LONG
Trang 7PHAN MO DAU
1 Lí đo chọn để tài
Dong vin hoe din gian, trong đó có ca dao đồng vai trò quan trọng trong tâm thức của cư đân tai vùng đất đó Ca dao phán ánh cuộc sống muôn màu, muôn
vẻ của nhân đân trên khắp mọi miễn đất nước, nó như kho tầng lịch sứ của đân tộc,
nên đến với ca dao là đến với côi nguồn nơi phát sinh nét đẹp văn hóa tỉnh thắn
của đân tộc
'Ca đao nói chúng và ca dao đồng bằng sông Cứu Long nói riêng đều thể hiện tình yêu quê hương đất nước, đạo vợ chồng tình yêu nam nữ, lời than thở hay tiếng
ca trong sinh hoạt hàng ngày Ca đào đồng bằng sông Cứu Long thể hiển cuộc
sống giản dị, đan xen bao buổn vui, thể hiện hoàn cảnh, lỗi sống, tâm tư tình cảm
cửa con người đồng bằng sông Cửu Long Điều này, đã tạo nên sự thu hút cho ca
dao đông bằng sông Cứu Long về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật Riêng ở hình
thức nghệ thuật, so sánh, ấn dụ trong hình ảnh động vật và thực vật của ca đạo đồng
bằng sông Cứu Long mang những đặc điểm riêng thể hiện được sự tỉnh tế vẻ cách
sử dụng ngôn ngữ hình ảnh, lỗi nói ví von của các nghệ sĩ vùng đồng bằng sông Cửu Long Bằng thủ pháp so sánh, an dụ các nghệ sĩ dân gian đã thể hiên những
tâm trạng hết sức tử nhị, cụ thể mà rất sâu sắc
Người viết chọn để tài "So sánh, ẩn dụ trong ca dao đồng bằng sông Cứu
Long” (khảo sét qua hai nhóm hình ảnh động vật và thực vật) vì nhận thầy rằng: Hình ảnh động vật và (hực vật được ding làm so sánh, ẩn dụ trong ca dạo
đồng bằng sông Cứu Long mang những sắc thái biểu cảm tuyệt vời nó vừa là công
cụ nhận thức vừa là phương tiện diễn tả mọi sắc thái, cung bậc của tình cảm, góp
phần làm giầu vốn ngôn ngữ đã dạng về ý nghĩa, làm tiếng Việt thêm phong phú
Sưu tầm và tìm hiểu về *So sánh, ân dụ trong ca dao đông bằng sông Cửu
Long” (khảo xát qua hai nhóm động vật và thực vật còn gớp phin vào việc nghiên
cứu vân hóa đân gian của dân tộc góp thêm cách nhìn về ca dao đồng bằng sông
Cửu Long
Trang 8
Nghiên cứu để tài này người viết sẽ khám phá được nhiều nét đặc trưng thể
hiện trí tuệ về sự liên tưởng, về khả năng khái quất trừu tượng về ngôn ngữ hì
cảnh, đặc biệt là trong nghệ thuật “so sánh, ấn dụ trong ca dao đồng bằng sông Cứu Long qua hai nhồm hình ảnh động vật và thực vật”
3 Lịch sử vẫn đề
“Từ trước đến nay đã có rất nhiễu bài viết công trình nghiên củu về ca dao
của dân tộc, có thể kế r một số công trình sau:
Quyên "Tue ngữ - ca dua - dân ca Việt Nam” của Vũ Ngọc Phan, Nxb Văn
học, 2007, trong đó có ca đao dân ca Nam Bộ Tác giả có để cập đến vấn để nghệ
“Nghệ thuật của ea dao rit tinh vi, tinh tế, đáp ứng mắt thiết với
nôi dung phong phú Cách đùng chữ, những lối biển thé, những lỗi hình tượng hóa
eu thể hóa, nhân cách hóa, sát với thực tế biểu hiện ở nội dung, làm cho cá dao trở
niên những câu hát rắt thẳm thiết về mặt trữ tình cũng như về mặt phản ánh cuộc
đời của nhân dân lao động Những thể phú, t (là thé so sánh), hứng cúa ca dao là
những thể mả ca dao đều có vì nó là những phương pháp nghề thuật cơ bản, cẳn
thiết cho việc cấu tứ cho thơ ca trữ tình” [35, tr 58]
Công trình nghiên cứu “Vấn học dân gian Việt Nam” (tấp II) của nhóm tác
giã Đình Gia Khánh và Chu Xuân Diên, các tác giả đã để cập đến các biện pháp
nghệ thuật của ca đao như: thể hứng, so sánh, ẩn dụ và nhân hóa, Tuy nhiên, các tắc siá nầy chỉ mới đừng lại ở việc nếu mà chưa có mô tả cụ thể
Quyền “Những thể giới nghệ thuật ca đạo” của Phạm Thu Yến, NXB Giáo dục, 1998 có để cập đến vấn để “Đặc điểm cúa nghệ thuật ấn dụ, so sánh trong ca dao” “An du trong ca đạo nhằm mục đích phản ánh một cách kín đáo, tỉnh tể nghệ
thuật những biểu hiện đa dang trừu tượng của thể giới tình cảm con người"
154 tr70]; "Mặc di so sánh không phải là thú pháp đc trưng riêng của ca đao bởi
vi xo sảnh cũng được sử dung rộng rãi trang nhiễu thể loại văn hoc diin gian khác
như thẳn thoại sử thì, tục ngô, câu đổ nhưng một điểu có thể nhận thấy rất rõ rằng
so sánh là thủ pháp nghệ thuật được sử dụng phố biển và đậm đặc trong ca đao”
Trang 9Quyền “Vấn học đâm gian ~ những cũng trình nghiễn cửa” của Bùi Mạnh
Nhị (chủ biên), Hồ Quốc Hùng Nguyễn Thị Ngọc Điệp, Nxb Giáo đục năm 2003,
tắc giá đã bước đầu chọn lọc, tập hợp một số trong rất nhiều công trình nghiên cứu
về những vấn để lí luận chung cũng như về những vẫn để cụ thể của từng thể loại
để tài, tác phẩm, nhân vật cách tiếp cân văn học dân gian Trong đó có để cập đến
công thức truyền thống — chìa khóa mở bí mật đặc trưng edu trúc cúa bài ca trữ tình
dân gian và vài nét về nội dung ca đao — dân ca Nam Bộ
Quyển "Thi pháp ca dao" của Nguyễn Xuân Kính, Nxh Khoa học xã hội
năm 2006, đã cho chúng ta biết một cách tổng thể vẻ thi pháp trong ca dao Trong
6 c6 đề cập đến một số biểu tương hình ảnh thực vặt (cây trúc, cây mai, hoa nai)
và động vật (con bing, con cò) trong ca dao; các yếu tế thí pháp trong một chỉnh thể
"nghệ thuật cả dao,
Bàn về những biểu trưng cụ thE wong vin hoe đần! gián nổi chìng và ea dno
'Việt Nam nói riêng còn có bàng loạt bài viễt, chẳng han Ý nghữu biểu trưng cúa hệ: biểu tượng con số trong ca duo người Việt của Nguyễn Thị Duyên, Hoa hỏng trong
ca đao của Nguyễn Phuong Chim, Biéu tượng “nước” trang thơ ca đân giam và thơ
ca hiện đại các dân tộc ít người của Nguyễn Thị Thánh Lưu, .v
Ngoài những bài viết giới thiệu những biểu tưng cụ thể, trong những năm
sẵn đây đã có một số luận án tiến sĩ Ngữ Văn thuộc các chuyên ngành văn học dân ian và ngôn ngữ học để cập đến khái niêm biểu trưng và biểu trưng trong ca dao
Việt Nam
Thế giới động vật trong ca dao cd truyền người Việt là tên luận án tiễn sĩ của
Đỗ Thị Hòa Tác giả đã miều tá khá chí tiết các đặc điểm hình thái biểu hiện của
thể giới động vật rang ca dao, hệ thẳng hồa các từ ngữ định danh động vật và cú
dạng kết cẩu, các thủ pháp nghệ thuật chủ yêu của cúc bài ca đao có hình tượng
oài vật Tác giá cũng đặt ra và tìm hiểu cách ủng xứ với mỗi trường xã hội và tự nhiên được phản ánh vào thể giới động vật trong các bài ca dao có hình tượng loài
vật, đẳng thời cổ gắng phân tích những cơ sở hiện thực tạo nên các giá trị biểu trưng.
Trang 10của thể giới đông vật trong ca đao cỗ truyền của người Việt và giải mã các giá trị
biểu trưng của các lớp, các loài vật cụ thể được phán ánh vào ca dao
Nguyễn Thị Ngọc Điệp trong luận án tiến sĩ ngữ văn Biểu mượng nghệ thuật
trong ca dao truyễn thống người Việt đã bước đầu tiễn hành phân loại miễu tả và im
hiểu hệ thông biểu tượng nghệ thuật trong ca đao từ nhiều phương điện như: nguồn
gốc và con đường hình thành biểu tương, sự vân động của biểu tương tong từng chính thể đem vị hoặc nhóm đơn vị ca dao Công trình nghiên cứu của tác giả đã góp
phần nghiên cửu sầu sắc hơn về thí pháp ca dao, vẻ đặc trưng của các loại ca dao
Nguyễn Thùy Vân trong luận án tiến sĩ ngôn ngữ Mốt sỐ biểu trưng trong ca đao Việt Nam (nhám chất liệu là thế giổi các hiện tượng thiên nhiên) đã làm sắng tô thêm ý nghĩa biểu trưng và giá trị biểu trưng của các từ ngữ chỉ thẻ giới các hiện
tượng thiên nhiên trong cá dao Việt Nam Trong đó, có để cập đến ý nghĩa biểu
trưng của từ chỉ thể giới động vật và (hực vật ròng cả dao Vidi Nam
Nguyễn Thị Kim Ngân, Trần Thị Diễm Thúy và Đặng Thị Diệu Trang đều để
cập đến thiên nhiên trong ca dao Nếu như Nguyễn Thị Kim Ngẫn để cập đến thiên
nhiên nói chung thì Trằn Thị Diễm Thúy bàn về Thiền nhiên trong cá duo trữ tình
“Nam Bộ còn Đặng Thị Diệu Trang thì để cập đến Thiến nhiên trong ca dao trữ tình
đẳng bằng Bắc Bộ Những công trình này đều đã để lại những đấu an riêng và chủ yếu tiếp cặn vẫn để tử góc độ văn hóa dẫn gian
“Tác giá Nguyễn Văn Nở đã so sánh hình ảnh thân em với những sự vật hiện
tượng hay loài hoa ít được để ý, ít được tôn trọng, làm nổi bật sự thắp kém của phụ
nữ trong xã hội trước đây Tác giả kết luận “Càng một đối tượng người ta có thể so ánh với rất nhiễu hình ảnh khác nhat qua sự liên trờng phát hiện đẩy xắng tạo của
tắc giá dân gian Đối tượng người phụ nữ, và đặc biệt là thân phần của họ là một
trong những ví dụ tiều biêu Ở mỗi miễn, mỗi vũng “Thần em " lại hiện lên với
những hình ảnh khác nhau, phân ảnh một cách nhìn riềng, một Hư đuy thẩm mỹ
riêng góp phẩn tạo nên sự đa dạng trong cách phô điển Sự thẳng nhất về mặt cầu trúc, sự phong phú đa dạng về hình ảnh liền tưởng đã cho chúng ta một cái nhìn đẩy đủ hơn, sâu sắc kơn về thân phận người phụ nữ trong xã hỏi xưa" (33, 23},
Trang 11Quyền “Biểu trưng trong ca dà Nam Bộ” của Trần Văn Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2010 tác giả đã thống kê kết hợp với phân loại các biểu trưng nghệ thuật trong ca dao Nam Bộ Nêu những cơ sở hình thành những biểu trưng, sự
vận động của biểu trưng qua các dạng cấu trúc Ngồi ra, tắc giá cũng cho rằng
“Nhìn từ gĩc độ tụ từ học, biểu trưng ca dao là hình thức tu từ trang tiếng Việt: ẩn
dụ Cũng cân lưu ý rằng những ân dụ này phái mang những nét nghữu tương đổi ấn
định và được tác giá dân gian dùng trong nhiễu bài ca dạo mới cĩ thể trở thành
những biểu trưng” |23, tr25]
'Nhìn chung, vấn để vé so sánh và ấn dụ được nghiên cứu khơng ít, nhưng chưa
cĩ cơng trình nào khảo sắt nĩ trong ca dao đẳng bằng sơng Cứu Lang, xét trên trục
thời gian, để phát hiện những đặc điểm kế thừa những đặc điểm sáng tao của các tác giá dân gian vùng đẳng bằng sơng Cứu Long
Trên tính thắn tiếp nối những cưng trình nghiên cứu của những người đi trước, trên sự kế thừa và học hỏi, người viết mong muốn gĩp thêm tiếng nĩi, cách nhìn vẻ để tài "so sánh, ấn dụ trong ca dao đồng bằng sơng Cửu Long” (khảo sát
qua hai nhĩm động vật và thực vậu Qua đĩ, tìm hiểu khám phá ra những cái hay, cải đẹp của nghệ thuật so sánh, an du trong bình ánh động vật thực vật của ca dao
đẳng bằng sơng Cứu Long
3 Đối tượng nghiên cửu
“Các bài ca đạo cĩ hình ảnh động vật và thực vật được dùng lầm so sánh, ân dụ Nội dung sẽ được khảo sát dựa trên các ngữ liệu thuộc ca đạo đồng bằng sơng Cứu Long
4 Phạm vì nghiên cứu
Để tài “so sánh, Ấn dụ trong ca dào đồng bằng sơng Cửu Long” (khảo sắt qua
nhĩm hình ảnh động vật và thực vặt) được giới han trong phạm v như sau:
~ Tìm hiểu, khám phá về nghệ thuật so sảnh tu từ, ẩn dụ tu tứ cĩ sử dụng
ình ảnh động vật và thực vật
~ Giới hạn khảo sất những bai ca dao trong quyền “Van học đân gian đơng bằng sơng Cứu Long” (Khoa Ngữ Văn Đại học Cần Thơ), “Ca dao dân cá Nam kỷ lục tỉnh”
Trang 12(Huỳnh Ngọc Trăng), "Văn hoc din gian Bên Tre" (Nguyễn Phương Thảo, Hoàng Thị Boch Liên), “Văn học dân gian Bạc Liêu” (Chu Xuân Điền), *Vũn học dân gian Sóc
“Trăng” (Chu Xuân Diễn), "Ca dao, hò, về Vĩnh Long” (Nguyễn Chiến Thắng)
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu "so sánh, in dụ trong ca dao đồng bằng sông Cửu Long”
(khảo sát qua hai nhóm động vật và thực vật) giáp ti biết được những hình ảnh
đồng vật, thực vật được dùng làm so sánh, ấn dụ trong ca dao thưởng theo những kết cầu nào? Những hình ảnh nào của động vật thực vật được dùng làm so xánh, din
dụ xuất hiền với tần số cao? Đặc biết là ở kết cấu và hình ảnh đồng vt, thực vật
được dùng làm so sánh, ấn dụ của ca dao đồng bằng sông Cứu Long có gì khác
biệt? Nó mang lại hiệu quả ra sao? Qua đó, thấy được sự tiếp thủ, sáng lạo riêng của
ca đạo đồng bằng sông Cứu Long, thấy được cuộc sống tính cách suy nghĩ, ảnh
hưởng của điều kiện môi trường trong ca dao đồng bằng sông Cứu Long Và đặc
biệt quan trọng hơn là nghiên cứu để thấy được giá trị biểu đạt, sắc thái ý nghĩa, sắc thai biểu cảm của nghệ thuật so sánh Ấn dụ trong hình ảnh động vật và thực vật của
ca đao đồng bằng sông Cứu Long
5.2 Nhiệm yụ nghiên cứu
Đề tài có những nhiệm vụ nghiền cửu sau:
- Nghiên cứu lí luận
- Khảo sát những hình ảnh động vất và thực vặt được đúng làm so sánh, ẫn dụ
- Phẫn tích giá trị của các biên pháp so sánh, Ấn dụ trong hình ảnh động
thực vật của ca đạo đẳng bằng sông Cửu Long,
- Qua phân tích đánh giá, nit ra những cấi hay, cát đẹp của nghệ thuật so sánh, Ấn dụ trong hình ảnh động vặt, thực vật của ca dao đồng bằng sông Cứu Long
và so sánh với ca dao Bắc Bộ để tìm những nét riêng của ca đao đồng bằng sông
Cửu Long,
Trang 13
6 Giá thuyết khoa học
Nghiên cửu dé tài "so sánh, din dy tong ca đạo đồng bằng sông Cứu Long”
{khảo sát qua hai nhóm đỏng vặt và thực vật) sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm giá trị
biểu đạt của những hình ảnh được dùng làm so sánh và ấn dụ tong ca dao đồng bằng sông Cứu Long (thuộc nhóm hình ảnh động vật và thực vật)
Kết quả nghiên cửu của để tài cũng sẽ đóng góp nhất định trong việc gìn giữ, phát triển và tôn thêm giá trị của ca dao đẳng bằng sông Cửu Long và kho tầng ca
đao Việt Nam
7 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện để tài người viết đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau:
7.1 Khảo sắt, thống kê những hình ảnh động vật, thực vật rong ca dao đồng,
bằng söng Cửu Long có sử dụng biện pháp so sánh và ấn dụ Trong đó, phương pháp thông kê được tiến hành cắn thận qua 04 tài liệu trong nguễn từ liệu nghiên cứu, thẳng kê để thấy được tần số xuất hiện của những bình ánh được dùng làm so sánh và ấn dụ trong ca đao đẳng bằng xông Cứu Long
1.2 Phân loại theo chủ đẻ hình ảnh so sánh, ấn dụ đẻ thấy được các đối tượng trong so sánh và dn dụ được cụ thể hóa bằng các hình ảnh, đo sự khác nhau
về điều kiên tư nhiên, phương thức lao động sinh hoạt, thối quen nếp nghĩ, văn hóa , hình ảnh trong ca dạo mỗi vùng được xử dụng và tần sổ xuất hiện có
sự chênh lệch nhau, để lí giái cho việc cá đạo đồng bằng sông Cứu Long có những hình ảnh so sánh và ấn dụ xuất hiển nhiễu hơn so với ca dao của những nơi khác
7-3 Lựa chọn những bài ca dao tiêu biểu để phãn tích, chimg minh cho tip
luân, làm rõ những vẫn đề cằn nghiên cứu
7-4 So xánh với ca dao các vùng, miễn lâm nỗi bật nết riễng tong ca dao
đẳng bằng sông Cứu Lang So sánh những hình ảnh động vật, thực vật được đùng lầm so sánh và ấn dụ trong ca đao đồng bằng sông Cửu Long với các vùng, miễn lầm cơ sở cho việc khảo sát để tìm ra những nết khu biệt trong ca dao: i
sông Cửu Long
từ
Trang 14
7⁄5 Ngoài ra vẫn đề "so sánh, ấn du trong ca dao đồng bằng sống Cứu
Long” (kháo sắt qua hai nhóm đông vật và thực vật) còn được xét trong mỗi quan
hệ với phong tục tip quần, lỗi sông, nếp nghĩ của con người đồng bằng sông Cứu Long Người nghiên cứu dẫn thêm một số ý kiến của các nhà nghiền cửu để có cơ
sé, phong phú và thuyết phục để để tài được tron ven hơn
#8 Dự kiến đóng góp của luận văn
Thue hiện thành công để tài sẽ gớp phần bổ khu)
cách thức vin dung, nội dung biểu đạt cúa hình ảnh đồng vật, thực vật lâm so sánh
và ân dụ trong ca dao đông bằng sông Cừu Lang Từ thành công trên, dé tài sẽ đóng
gốp một phẫn ở một phạm vi nhất định vào việc tim hiểu giá trị biểu đạt của hình
vỀ mặt lý thuyết trong
ảnh động vật thực vật được đùng làm so sinh va in dy wong ca đao đẳng bằng
xâng Cứu Long, khám phá được cát hay, cái đặc sắc, sự liên tưởng phong phú về thé
giới đông vật và thực vật của các nghẻ sĩ dân gian vùng đồng bằng sông Củu Long Qua 46, giúp chúng ta thấy được những đặc thò về văn hóa và tư duy của người đẳng bằng sông Cứu Long
'9 Cầu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đấu, kết luận, tài liệu tham khảo, để tài gồm có 03 chương: Chương 1: Khái quất vẻ so sánh, ân dụ và ca dao dong bang song Cửu Long
Chương 2: Nhóm hình ảnh động vật được dùng làm so sánh, an dy trong ca
đạo đồng bằng sông Cửu Long
Chương 3: Nhớm hình ảnh thực vat due ding làm so sánh, ấn dụ trong ca
dao đông hẳng sông Cửu Lang.
Trang 15Chương 1
KHAI QUAT VE SO SANH AN DU
VÀ CA DAO ĐÔNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
mỗi quan hệ liên tưởng tương đồng giữa các đối tương
Clin phân biệt xo sánh tu từ với xo sánh luận lí:
So sánh luận (là sự đối chiếu giữa các đối tượng cùng loại và chi cho ta thấy
sự ngung bằng hay hơn kém giữa các đối tượng
“Thí dụ:
“Hòa đã cao hơn me”
So sánh tụ từ là sư đối chiếu giữa các đổi tượng khác loại và nhằm mục đích
ơi lên mốt cách hình ảnh đặc điểm giữa các đổi tương từ đó tạo nên xúc cảm thẩm
mỹ trong nhân thức của người tiếp nhận
Thí dụ:
“Đi ta như lửa mới nhe
“Như trăng mới mọc nluz đền mới khêu *
(Ca đạo)
'Có nhiều khải niệm về phép so sánh:
“Theo tác giá Đình Trơng Lạc trong “99 plương rỉ
Viet”, Nxb Giáo dục, 1994, "So sánh là một biến pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó
người ta đổi chiều bai đối tượng khác loại của thực tẻ khách quan không đồng nhất
với nhau hoàn toàn mà chỉ có môt nét giổng nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình
cảnh một lỗi tì giác mới mè về đối tượng” [1T, t.154]-
ũ biển pháp tu tie tiéng
Trang 1610
“Thí dụ:
“Mật tươi như hoa”
Nguyễn Văn Nở trong °Phong cách hoe tiéng Vigt”, Nxb Bai học Cần Thơ,
2012, dua ra khái niệm “So sánh là biện pháp tu tử dùng sự đổi chiếu hai hay nhiễu
đối tượng (hoặc sự vật) có một nét tương đồng nào đó về hình thức bên ngoài hay
tính chất bên trung để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thắm mỹ trong nhãn thức của người đọc, người nghe [34, t.132]
“Thí du:
“Công cha như nũi Thái Sơn
“Nga mẹ như nước tong nguồn chảy ra"
(Ca dao)
Cu Dinh Tu trong “Phong edch hoe và độc điểm tư từ tiếng Việt”, Nxh Đại
ọc và Trung học chuyên nghiệp 1983, định nghĩa “So sánh tu từ là cách công khai
đối chiếu hai hay nhiều đối tương cùng có một dẫu hiệu chung nào đấy (nét giống, nhau) nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đối tượng [50 tr.175]
"Thí dụ:
"Mai eo khuôn mặt nÏủz mẹ”
Định Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa trong ^Phong cách học riểng Việt", Nxb,
Giáo dục, 2006, lại cho rằng “So sánh là phương thức diễn đạt tu tử khi đem sự vật này đối chiểu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó,
để gợi ra hình ánh cụ thể, những cám xúc thẩm mỹ trong nhận thức của người đọc,
người nghe [18, 1.189],
Thi dy:
“Tinh anh như nước dâng cao:
Tình em như đái lua đào tắm hương”
(Ca đao)
Như vậy so sánh tu từ là một biện pháp tu tử dùng sự đổi chiếu hai hay
Si tượng có một nét tương đồng nào đố vẻ hình thức bên ngoài hay tính chất
nhiều
Trang 17“Thân em như thẻ trái chanh
LẮc lửo trên cành nhiễu ké wie mo”
(Ca dao) 1.1.3, CẤU tạo của xo sánh từ tir
1.1.3.1 Về mật hình thức
“Trong so sánh tu từ thì về sơ sánh và về được so xánh bao giờ cũng xuất hiện
trên văn cảnh Hai về này gắn kết với nhau để tạo nên môi cẫu trúc so sánh Ở dạng
thức đây đủ nhất, so sánh gỗm có bến thành tổ: về so sánh, cơ sở sơ sánh, từ sơ sánh
'Có nhiều cách phân loại hình thức so sánh
© Can cử vào sự xuất hiệu hay vắng mật của thành tổ thứ hai hoặc thứ ba và trật tự của các thành tổ mà ta có các kiểu so sánh như sau:
~ Kiểu 1: có đầy đủ bắn thành tố và không đảo trật tư
"Thí dụ:
“Tiény sudi trong như suỗi Ngọc Tuyển
Ân nhữ hỡi gió thoêng cùng tên"
(Thể Lữ)
~ Kiểu 2: lược thành tổ thứ (2) — cơ sở so sánh
“Thí dụ:
‘Anh gdp em như cú gặp mỗi
"Đăng không cũng giền một hỗi với ø
(Ca dao)
Trang 18- Kiểu 8: lược thành tổ (2) và (3) ~ cơ sở sơ sánh và từ so sánh
“Thí dụ:
“Chim quyên ăn trãi nhân lẳng
'Cá thía quên châu vợ chồng quen hơi”
(Ca dao)
~ Kiểu 4: đảo trật tư các thành tổ Kiểu này có các dạng như sau:
+ Về được so sánh đưa lên đầu câu
*Lẽnh đênh một chiếc thuyễn tình
Bén tinh bén nghia, bên nào cũng đẳng căn "
(Ca dao)
* Căn cử vào từ chỉ quan hệ so sánh có các kiểu như:
~ Kiểu 1: A như (tựa như, đường như ) B
“Thí dụ:
“Thân cm như cá lia tha
Ra xông mắc lưới vào địa mắc câu”
(Ca đạo)
~ Kiểu 2; A báo nhiều B bẩy nhiêu
“Thí dụ:
“Qua cẩu ngô nón trông cẩu:
Cầu bao nhiều nhịp dạ xẩu bảy nhiều "
(Ca dao)
Trang 19- Kiểu 3: A là B,
“Thí dụ:
+ “Trằu ăn là nghĩa
Thuốc xia la tinh
D6i om phụ mẫu sanh mình dé thieomg”
Các đối tượng nằm trong hai về là khác loại nhưng lại có nét tương đồng nào
đó, tạo thành cơ sở cho so sánh Nếu nét giếng nhau này thể hiện ra cụ thể bằng từ ngữ (cơ sử giống nhau) thi ta có so sánh nỗi: nếu nét giếng nhan này khẳng thể hiện
ra cụ thể bằng từ ngữ th ta có so sánh chim
So sánh ni:
*Từ xã nhìn lại, cây gạo sửng xững nhưc một thấp đèn khổng lỗ”
(va Ta Nam)
Nét tung dong giita “céy gao" (thuc vat) vei “rip dén khéng 16” (vit thé
nhân tạo) được thể hiện cụ thể qua từ “dừng vững”:
So sánh chìm:
*Thương ai ri lại nhớ di, Mat em nhự thẻ nượng khoai mới trắn)
(Ca dao)
Vẻ mặt lí thuyết, so sánh nỗi ít gợi lên sự liên tưởng so với so sánh chìm vì
nết giống nhau (cơ sở so sánh) đã được thể hiện cụ thể Ví dụ, sự giống nhau giữa
“cấy gạo” và "tháp đền " chính là sự to lớn, vững chăt và đã được miều tả qua từ
“vừng xững”, "khống lẢ*", Nhưng nét giống nhau giữa gương mặt buỗn hã của
người con gái khi thương nhớ người yêu được so sãnh với “nương Áhaai mới
Trang 20được nghĩ đến: "héa da”, "vàng vọt”, "ú đột”, "tần tạ”, “xơ xác”
Để so sánh đạt hiệu quả cao, đồi hỏi phải đạt những yêu cầu san:
~ Hình ảnh so sánh nên cụ thế: vì so sảnh chủ yếu là để cụ thể hóa đổi tượng
so sánh Chính vì thể chiều so sánh tu từ trừu tượng đến cụ thể phổ biến hơn chỉ
Tắm lòng của người đân Tây Nguyên đối với cách mang được hình dung thật
eu thé như cân dong đo đếm được qua sự so sánh với nước sông Pa Cô
~ Hình ảnh so sánh nên quen thuộc, gần gũi: đó là những hình ảnh sự vất,
hiện tương mà người ta biết rũ những đặc trưng, thuộc tính cơ bản của chúng và mỗi khi được nhắc đến nó tát hiện ngay trong đầu Những hình ánh so sánh trong
thành ngữ, tục ngữ, ca dao cho ta thấy rõ điều đó, Ví dụ:
“Thân em nhựư thể họa lài
“Thân em nhự giểng giữa đàng “
“Thân em nhự thể
n tài,
*Thân em nHư tắm lụa đào "
~ Hình ảnh xo sánh nên hop If sự liên tưởng phát hiện ra nết giẳng nhau giữa
các đối tượng khác loại mang tính chủ quan của người dùng, nhưng nét giống nhau
đó phải hợp lí thì người ta mới chấp nhận và tấn thưởng
- Hình ảnh so sánh nên tiêu biểu: hình ảnh sơ sánh nếu như có các dẫu hiệu
đặc trưng, tiêu biểu thì để nhận biết được
- Hình ảnh so sánh nên biểu cảm: mọi so sánh tu tữ đều thể hiện ít nhiều thái
độ, tình cảm, cách đánh giá của người dùng
Trang 21t5
- Hình ảnh sa sánh nền có tính thẩm mĩ: so sánh không chỉ đúng mà còn cin
phải thóa mãn nhu cấu thắm mĩ, gợi lên những xúc cảm nghệ thuật
1.1.3 Chức năng và phạm vì sử dụng của sơ sánh tự từ
1.1.3.1 Chức nẵng của sở sảnh tụ từ
“So xánh có bai chức năng là nhận thức và biểu cám Tuy nhiên, có thể nói, thể manh của so sánh là chức năng nhận thức Biện pháp này giúp cho ngưởi nói viết
diễn đạt được một cách xinh động cụ thể, hình ảnh: thể hiện sự nhận thức về đối
tượng được nói đến cũng như thái độ tình cảm đối với đổi tượng đó
“Thí dụ:
“Dai ta nue thé con ong
‘Con qudn con quyt con trong con ngoài”
(Ca dao)
“Tác giá không chí đơn thuẫn miêu tả đặc điểm của con ong mà muốn nhắn
mạnh khía cạnh quần quýt, gẳn gũi của con ong “con quấn con quýt con trong con ngoài” để diễn tá một cách đặc sắc, phù hợp với việc bộc lô tình cảm của đôi lứa
~ Trong lời nói hàng ngày có những cách nói vĩ von rất hay, rất có hình ảnh, rất
thẩm thía Dân gian sử dụng biện pháp tu tử so sánh một cách sáng lạo trong thành
ngữ, tục ngữ
“Thí dụ:
*“Trằng như tuyết” “đen như mực”, "khóc như mưa”, “gly như mắm”, °nhanh
như sóc”, "vui như tễt”, “đẹp như tiên", "hiển như bụt”, "béo như lợn”, “nhãn như khi”, “chạy như vịt", “hôi như cú”
“Chẳng già vợ trẻ là tiên
Vợ già chẳng trẻ là duyên nợ mẫn"
Trang 22tăng cường sức mạnh bình giá
Các hình ánh so sảnh thưởng được phát tiến để phát huy thêm sức biểu hiện Thí dụ:
“Sư nghiệp của chúng ta giống như rừng đương lên, đầy nhựa sống và ngày càng lớn nhanh chóng Đi sâu vào từng nhóm cây, từng cây chúng ta thấy có
những cây của chúng ta còn có bệnh, cong queo, chưa phải tốt lắm, nhưng phải thấy
những cây ấy có sức vươn lên bởi vì nó có rừng che chở và tắt cả những cây còng
~ Trong thơ ca, so sánh tu từ kếp thường được sứ dụng để nêu lên một cách tí
giác mới mẻ, hoàn chính vẻ đổi tượng bằng những hình ánh ngày càng trở lền
phong phú đâm nết sâu sắc hơn
“Thí dụ:
“Anh x em nhự bướm sự hoa, Ahự Thúy Kiểu xà Kim Trọng, Bá Nha xa Từ KĨ"
(Ca đáo)
Trang 231.2 Vài nết về ấn dy tu tir
1.2.1 Về khái niệm
Nếu như so sánh là biện pháp tu từ được thực hiện đưa trên mỗi quan hệ liên
tưởng tương đồng giữa các đối tượng thì ấn dụ là một hình thức chuyển nghĩa dựa
trên cơ sở liên tưởng về nét giống nhau của hình dang, màu sắc, tính chất phẩm
chất hoặc chức năng cúa các đối tượng khác loại
'Cần phân biệt giữa ấn dụ tu từ và ẩn du tử vựng:
Ân dụ từ vưng mang tính xã hội và có nét nghĩa cổ định như
chua”, "trái tìm lạnh lùng”
Ân dụ tù từ mang tính chất cá nhân và có nghĩa lâm thời:
“ẩn đây mặn mới hỏi đào
Vườn hẳng đã có ai vào hay chưa"
"Mãn hỏi tà đão xin thưa Vườn hẳng có lỖi nhưng chưa di vào”
“Tạm thời tong bài ca dao này thì “ân” chí người con trai, “Bao” chi ng
con gái và ý nghĩa của bài ca do là người con trai muốn tỏ tình, đò hỏi xem người con gái đã có chỗ nào kết mỗi trăm năm hay chưa? Nếu ta tách rời ra khỏi bài ca
dao may thì nó lại mang một ý nghĩa khác,
,Có tắt nhiều khái niệm về phép ân dụ:
Phạm Thu Yến trong “Những thể giới nghệ thuật ca dao”, Nsh Giáo Dục, 1998 thì “Án dụ là phương thức tụ từ dựa trên cơ sở đông nhất hai hiện
tượng tương tự, thể hiện cái này qua cái khác mà bản thân cái được
ẩn đi một cách kín đáo An dụ là phương pháp chuyển nghĩa theo nguyễn tẮc tương
đẳng của hiện tượng, sự vật theo những dấu hiệu khác nhau” [54, tr68 Và nếu như
xo sánh là sự cụ thể hóa nhận thức và tình cảm đổi với đổi tượng thì ở ấn du, phương nhấp chuyển nghĩa thông qua những sự vật cú thể lại khá quất hóa, trừu tượng hóa
một vẫn để nào đó, đông thời đưa ra một thể thống nhất mới của hình tượng nghệ
thuật, tao nến những trường nghĩa mới
Theo tic
lên thì được
Trang 24“Tác giá Đình Trọng Lạc trong *99 phương riện và biện pháp ru từ tiểng Việt”,
Nah Giáo Dục 1994, thì lại cho rằng: “Ân dụ là sự định danh thứ hai mang ý nghĩa
hình tượng đựa trên sự tương đồng huy giống nhau (có tính chất hiện thực hoặc tưởng
tường ra) giữa khách thể (boác hiệu tượng hoạt động tính chất) A được định danh với
"khách thể (hoặc hiện tượng, hoạt động tính chất) B có tên gọi được sang ding cho A” (17,52)
“Thí dụ:
Giá đành trong nguyệt trên smây
Hoa sao hoa khéo doa day hdy hoa”
(Nguyễn Du) Hoa (B) mang ý nghĩa ấn dy, chi người phụ nữ có nhan sic (A)
Dao Thin trong “Từ ngôn ngữ chung đến ngân ngữ nghệ thuật”, Nxb Khoa
học Xã Hội, 1998, lai cho rằng: “Ân dụ cũng là một lối so sánh dựa trên sự giống
nhau về hình đáng, màu sắc, tính chất, phẩm chất hoặc chức năng của hai đối tượng
Nhưng khác với so sánh dũng lỗi song song hai phần đổi tượng và phẩn so sánh bên
cạnh nhau, ân dụ chỉ giữ lại phần để so sánh Trong lỗi s sánh, đối tượng thực vẫn
giữ địa vị chủ yếu trong câu, phần dé so sánh chỉ là bộ phặn thứ yêu Lối ẩn dụ thì
không thể Vì ở đây đối tượng thực không xuất hiền đã bị dn đi, chỉ còn vẻ đùng để
ở ti) cho niên phu này nghiễm nhiễu giữ địu vị ch yêu trơng cụ: nổ thay thể
cho đối tượng thực” (41 tr.34] Cũng đo tính chit dé ma trong lỗi so sánh thì vẻ để
so sinh thưởng là sản phẩm đùng để diễn tả hoàn chỉnh nội đung ÿ nghĩa của câu, còn trong lỗi ấn dụ thì về so sánh (gọi là ấn dụ) chỉ mới là yêu tổ đùng làm tên gọi
"Thí dụ:
Khi nhận định về tình hình của quãn địch cũng như tình hình của ta trong
những ngày đầu kháng chiến, Hỗ Chí Minh viết:
“Thể địch như lửa, thể ta nhự nườc Nước nhất định thing line"
Giữa dẫu chấm là hai câu khác nhau về so sánh và ấn dụ Câu trên dùng lỗi so sánh “mhư nước” và “như lứa” là hai thành phần tạo nên nghĩa cho cầu: còn câu
dưới đùng lỗi ẩn dụ “Nước và lứa” hãy giờ nghiễm nhiên trở thành thể ta và thể
Trang 2519
dich, trở thành đối tượng đề tiếp tục diễn tả mà không phái là cái kết thúc như trong
câu trên
Nguyễn Văn Nở trong “Phong cách học tiếng Việt”, Nxh Đại học Cần Thơ,
2013 đưa ra khẩi niệm: “Ấn dự tụ từ là biện pháp lấy tên gọi biểu thị đổi tượng này
để chỉ đổi tương kia dựa vào nét tương đẳng về hình dáng màu sắc, trang thii,
phẩm chất hoặc chức năng của các đối tương khác loại" [34, tr.140]
“Thí dụ:
“Tưởng nước giỗng sâu nổi sợ đây dài
Ai ngờ giẳng cạn tiếc hoài sợi dây”
(Ca dao)
Ch Dinh TY trong “Phong cách học và độc điểm tự từ tiểng Việt”, Nxb Đại học và Trung hoe chuyên nghiệp, 1983, lại cho rằng: "Ấn dụ tu từ là cách cá nhân
lâm thời lẫy tên gọi biếu thị đổi tương này dùng để biểu thị đối tượng kia dựa trên
ối quan hệ liên tưởng về nét tương đồng giữa hai đổi tượng” (50, tr 279]
“Thí dụ: Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản có câu:
'Giai cdp ne sin tạo ra những người đào huyệt chôn chính nó”
Giai cắp công nhãn và những người dào huyệt vốn là những đổi tượng khác
loại nhưng ta có thể liên tướng đến một nét tương đẳng nào đấy giữa hai đối tương này: cũng làm việc chôn vùi Theo quan hệ liên tường nét tương đồng như thế, Mác
và Ẳngghen đã lâm thời dùng “người đào huyết” để biểu thi “giai cấp công nhân " Gisi cấp công nhân muốn chôn vùi giai cấp tr sản để tự mình vướn lên thành giai
cấp lãnh đạo,
Như vậy, Ấn dụ tu từ là một phương thức tu tử dựa trên co sé liên tướng về niết iổng nhau của hình đáng mầu sắc, tính chất phẩm chất hoặc chức năng của các đối tượng khác loại Xét về mặt nội dung ẩn dụ cũng giống như so sánh nghĩa là cin
phải liên tưởng để rút ra nét tương đẳng giữa hai đổi tượng Xét về mặt hình thức,
ẩn dụ chí phô bày một đổi tượng - đổi tượng dùng đẻ biểu thị - còn đối tượng định
nói đến thì dấu đi, ấn đi, không phổ ra như sơ sánh tu tử
cơ sở của
Trang 26
1.2.2 Câu tạo của din đụ tụ từ
1.3.2.1 Về mặt hình tuắc
An du tu tir khác với sơ sánh tu từ ở chỗ nó chi phô bày một đổi tượng = doi
tượng dùng để biểu thị - còn đổi tương định nói đến được biển thị thì dấu đi, ẩn đi
không phô ra như so sánh tụ từ:
"Đôi tạ làm ban thong dong
"Như đôi dita ngọc nằm trong mâm vàng:
Bởi chưng thẫy mẹ nói ngang
Cho nén đa ngọc mẫm vàng xa nhau”
(Ca dao)
"đũa ngọc” và "mâm vàng” ở hai câu đầu là hình ánh so sánh:
đôi ta như "đầu ngọc và mâm vòng ° rất tương xứng đẹp đôi Nhưng ở hai câu sau
đã trớ thành hình ảnh ẩn dụ: "đũa ngọc và mâm vàng ” giờ đây chính là người con
trai và người con wai trong bãi ca dao
Riing anh e6 vợ hay chưa?
_Mà sao ăn nói giố đưa ngọt ngào
(Ca dao)
~ Ấn dụ bằng động tir
~ Xâm xiấn nối nổi thể thẻ
Ray giờ bè khôa trao chia cho ai
~ Anh gi, đừng vạch vách, bẻ rào,
Vưển quê mới lập quả đào côn non
(Ca dao)
Trang 27~ Ấn dụ cá câu
Tit dy trong tôi bừng nẵng hạ
“Mật tỏi chân lý chối qua tim
Hẳn tôi là một vườn hoa lái
Rất đậm hương wi rén tiẳng chim
(Tả Hữu)
“Từ khi có ánh sáng của lý tưởng cách mạng chiếu roi thì bỗng nhiên tám hồn
và trí tuệ của Tổ Hữu trở nên sảng khoái, sáng suốt minh mẫn như thiên nhiên bừng
nẵng hạ
1.2.3.3 VỀ mặt nội dung
An du tu từ giỗng như so sánh tự từ (do đó người ta gọi là so sánh ngằm), nghĩa là cần phải liên tưởng rút ra nết tương đồng giữa hai đối tượng khác loại
“Cách phân loại truyỄn thắng đựa vàn đặc điểm trừu tượng hay cụ thể cũa hai
đối tượng trong in dy tu từ mà chia làm bổn loại: lấy cái cụ thể biểu hiện cái cụ thể;
ly cai cụ thể biểu hiện cái trừu tượng: lẫy cái trửu tượng biểu hiện cãi cụ thế: lẫy
cái trừu tượng biểu hiện cái trừu tượng
“Theo tác giả Đình Trọng Lạc cấu tạo của én dụ dựa vào hai căn cứ:
* Căn cử vào tử loại (danh tử, động tử hay tính từ) và vào chức nãng (chức
năng định danh, chỉ bộ phận để hay chức năng làm vị ngữ, chỉ bộ phân thuyểu) của
tử ấn dụ, có thể cha ấn dụ ra lầm ba loại: ấn dụ định dành, ấn dụ nhân thức và ẩn dụ
hình tượng Trong đó, ẩn dụ hình tương là nguồn sản sinh ra đồng nghĩa, Hoa khi
dùng để ví người phụ nữ đẹp, khi thì được dùng để ví người tỉnh nhãn đào hoa phong nhã:
“Nang ring khoảng vẳng đêm trưởng
VÀ Rou nền phải đănh đường tìm hoa”
(Nguyễn Du)
'Có khi lại được ding dé vi người có phẩm chất cao đẹp, đ
thấp hèn trong cuộc đời éo le, đẩy nghịch cánh:
Trang 282
*Phượng những tiếc cao, diéu bay liéng
“Ha thường hay héo, có thường tưới”
(Nguyễn Trãi)
Ăn dụ hình tượng là phương thức bình giá riêng có của cá nhân nhà văn Bằng những sắc thái ý nghĩa, bing ý nghĩa hình tượng tìm kiểm được, ấn dụ hình tượng tác động vào trực giác của người nhận và để lại khá năng cảm thu sing tao
+ Căn cử vào những đặc điểm về ngữ nghĩa, ấn dụ được chia ra: ấn dụ của
ngôn ngữ và an dụ của lời nói Ấn dụ của ngôn ngữ với hình ánh đã bị phai mờ,
được xây đựng trên những mối liên hệ liên tưởng khách quan vốn được phản ánh
trong những đấu hiệu him chi mang thông báo hoặc về kinh nghiệm thực tế hàng
ngày của một tập thể ngôn ngữ, hoặc về kiến thức văn hóa — lịch sử của nó Ví dụ:
Biển có nghĩa là vùng nước mãn rộng lớn nói chung trên bể mặt trái đất Do đó bất
cứ khối lượng te lớn (ví như biển) trên một diễn tích rồng đều có thể được gọi là biển: biển lúa biển lửa, biển sương mù dày đặc, biển người dự mít tính Ấn dụ của lời nói với hình ảnh cồn tươi tẫn, được xây dựng trong văn cảnh cụ thể, bao giở cũng gắn với nó, vì những dẫu hiệu hàm chỉ dùng đề cắt nghĩa cách hiểu lại ý nghĩa
ngôn từ phải được đặt trong khuôn khổ của một bở tử vựng nào đó (của câu hoặc của cả vẫn bản) mỗi trở nên rõ, Những hầm chỉ này thưởng là phán ánh không phái
cách nhìn của tập thể mà là cách nhìn của cả nhân vẻ thể giới, đo đố chúng cỏ tính chất chủ quan và ngẫu nhiên so với kiến thức chung
"Thí dụ:
“Tit dy trong tôi bừng nẵng hạ
“Mặt tối chân lý chói qua thm
“Hẳn tôi là mật vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiéng chim”
Trang 29B
mạng chiểu rọi làm tâm hồn trở nễn sảng khoái Hai dòng thơ đẩu được diễn tá
thành ý cơ bản như sau: từ khi có lí tướng cách mạng chiếu doi thì bổng nhiên tâm
hẳn và trí tuệ của tôi trữ nên sáng khoái, sáng suốt, minh mẫn như thiên nhiên bửng
nẵng hạ
“Theo Cù Đình Tú, những mỗi quan hệ liên tưởng tương đẳng thường được
dùng để cấu tạo ấn dụ tu từ là:
~ Tương đồng về màu sắc:
“Dưới trăng quyên đã gọi hè
Đu tường lửa lựu lập lòe đảm bôm
(Nguyễn Du) Lita và hoa lựu có màu sắc như nhau (màu đỏ), lửa biểu thi hoa
* Gữ ngữ hẳn thơm lại tải sinh
Ngôi sao ấy lặn há bình min”
{Tế Hữu]
~ Tương đẳng về hành động:
“Xưa kia nổi nói thẻ thẻ,
Bay giờ bê khóu trao chu cho di”
(Ca dạo)
- Tương đẳng vỀ cơ cầu:
*Bẩy lâu phong kín nhụy đào:
Chẳng cho gió lạt chớ nào quên anh"
(Ca dao)
Trang 3024
1.2.3 Chức năng và phạm vì sử dụng cúa ấn dụ tự từ"
Giá trị của ấn dụ tụ tử một mặt là giá trị chưng mà ẳn dụ tú tử mang lại như
những cách tu tử khác, mặt khác là nói đến các chức năng tiêu biểu của ẩn dụ tu tứ
và phạm vi ứng dung của nó trong các phong cách ngôn ngữ
1.3.3.1 Chức năng của Ấn dụ t tie
“Chức năng nhận thức
Với tính nhanh nhạy đặc biệt rong liên tướng, với khả năng vô hạn trong việc làm xích lại gần nhau những sự vật hiện tương khác nhau, biện pháp ấn dụ đưa đến
cho ta một nhận thức mới, một thẻ thẳng nhất mới những mới quan hệ mới của
hình tượng nghệ thuật, thực chất là đưa đến lỗi tư duy mới về sự vật:
“Tike thay hat gao tim xoan
‘Tdi nỗi đồng điều lại chan nước cà”
Mỗi quan hệ giữa “gạo tám xoun”, (những thứ đáng giá)
“nước cả” (tằm thường) là mỗi quan hệ khập khiểng, không tương xứng Từ nhận thức về mỗi quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng cụ thể được khai thác ở
những khía cạnh đa dang, biến pháp ấn dụ đưa đến sự mở rộng không giới hạn trong
liên tưởng của người tiếp nhận vẻ những sự khộp khiểng trong cuộc đời, vẻ những
sự võ tâm, võ tỉnh, hững hờ của những mối quan hệ giữa con người Ý nghĩa hàm
Ẩn tạo nên giá trị cơ bản mã lâu đài của ẩn dụ nghệ thuật Rõ ràng ấn dụ tạo ra lỗi
tư đuy mới cá về phương diễn miêu tả sự vật cụ thể lẫn những khái niệm trừu
tượng, không định hình, khó đong đếm
d
Trang 312
“Quả đảo tiên một mắt võ còn
Buông lới hỏi bạn lỗi môn ai đi”
(Ca dao)
"Quả đào tiên” là loại quà quý nhưng cái quý nhất là ruột của nó lại mắt đi
rồi, chỉ còn lại cất vỏ mà thôi Nói về một cô gái không căn giữ được cát quý giá
nhất là trình tiết của mình, thiết tưởng ít có cách diễn đạt nào tế nhị, bóng bấy và
hay như thể
Chức năng biểu cảm
'Cấi đọng lại trong lòng người tiếp nhãn không
đánh ra sao mà quan trọng là tình cảm, trang thái tâm hỗn của con người được thé
hiện thể nào qua cách phản ánh ấy Khi lựa chọn đối tương để miêu tá, tác giả đã
phần nào thể hiện tâm trạng, tình cảm của mình vào trong đối tượng
*Tiếc thay cái doi bịt vàng,
em ra dong cam lỡ làng đuyên em”
(Ca dạo)
'Câu ca đao thể hiện tâm trạng tiếc nuối cho một kiếp hoa của tắc giả và tác giá
‘fing muda chín sẽ vôi xố phận của cô gấi không may mẫn này:
An dụ tu tữ là thủ pháp chung của văn học nghệ thuật Ở mỗi loại hình ẩn dụ
mang những đặc điểm riêng tương ứng với loai hình chửa nó Vì vậy ứng dụng của
‘an dy tv từ trong mỗi phong cách ngôn ngữ không phải cửng nhắc, nó được xem
như một nghệ thuật phê biển, tiềm mại và linh hoạt Nếu như thể manh của so sánh
là chức năng nhận thức thì thể mạnh của ẩn dụ là chức nãng biểu cảm Ân dụ lã biện
pháp được ding rộng rãi trong các phong cách Có thể nói, chí có phong cách ngôn net hành chính Ià không dùng biện pháp an dy, còn các phong cách khác đều có
mặt biện pháp tu tử này Ấn dụ là cách nói một ý này bằng một ý khác nỗi bật hơn,
Trang 32trung tất cá mọi khả năng điển đạt bằng ngôn ngữ Xuất phát tử yêu cầu: văn
chương bắt nguồn từ đời sống, phân ánh cuộc sống muôn màu, muôn vẻ, phong,
cách ngôn ngữ văn chương đòi hỏi và cho phép tác gi sử dụng rộng rãi các phương tiên tạo hình biểu cảm Các biện pháp tu từ nói chung và ấn dụ tu từ nói riêng được
xem như những phương tiện quý báu giúp cho nhà văn, nhà thơ sử dụng ngôn ngữ điển đạt về đổi tương một cách ấn tượng và có thẩm mĩ Tỉnh thẩm mĩ trong vẫn
chương thể hiện ở việc xây dựng hình tượng nghệ thuật bằng ngôn ngữ và ấn dụ tu
từ có đủ điểu kiện để thỏa mãn tính sinh đông và thẩm mĩ cho phong cách ngôn ngữ
văn chương Bên cạnh đó, an dụ tu từ làm cho sự điển đạt không dài dòng mà ngắn son, súc tích, đáp ứng được yêu cẩu trong văn chương là lời ít ý nhiễu Trong văn chương cẳn thể hiện sự sáng tạo và ẩn dụ tu tử ứng dụng trung văn chương đem lại nhiễu sắng tạo bắt ngờ Mà sự sáng tạo bắt ngờ đó phù hợp với yêu cầu của xã hội
Phong cách ngôn ngữ văn chương không ol
khuôn mẫu nào, đủ đó là khuôn mẫu độc đáo nhất
“Trong ca đao, ẩn dụ ít khí mang đấu ản cá nhân, mà đa sổ mang dẫu ấn của
công đồng, đấu ấn của tập thể theo khuynh hướng cụ thề hóa cất rữu tượng Trong thơ ca hiện đại, biểu hiện tiếp thư tử ca dạo là điều không tránh khói Tuy vậy, Ẩn dụ
trong thơ ca hiện đại đã rất thành công, rất sáng tạo, bao giờ ấn dụ cũng mang dấu
ẩn của cá nhân, hình ảnh ản dụ luôn mới mẻ, gắn với tên tuôi của tác giá Trong thơ
"văn, Ấn dụ tu tử được sử dụng rông răi như một phương tiện tu từ có khả năng biểu thị đặc trưng của phòng cách tác giả, phong cách dân tộc, phong cách thổi đại Ching hạn như:
Những ấn dụ tu từ ưong tập thơ Từ ấy của Tổ Hữu, như: nắng hạ, mật trời
chân lí, tẩm nắng xuân hồng trời hồng, buổi xuân đào, mũi hương chân lí được lẫy
ip nhãn bất cử một sự lập lai theo
Trang 33
2
tươi sáng, dep dé, am áp, biểu thị lòng khát khao
mãnh liệt với lí tưởng cách mạng ở một chiến sĩ trẻ rất mực yêu đởi
Đã có nhiễu tác giả thành công nhở sử dụng biện pháp ấn dụ Vì vậy, có thể cho ấn dụ tụ từ vữa là công cụ mang đặc trưng của ngôn ngữ tiếng Việt, vừa là công
eu mang nét đặc trưng của tác giá Có nhiễu tác giả đùng thú pháp ẩn dụ như một công cụ để phát hiện và suy luận trong khi có những tác giả dùng hình ánh ấn dụ HỄt se mộc mạc, giản dị nhưng nội dung bi xúc vũng chắc Biện pháo ấn đụ được sir dung trong ca dao nói riêng hay tong các phong cách ngôn ngữ nói chung đều
lay đối tượng rất gần gũi với người Việt Nam, gần gũi với tâm tư tình cám của con
người Việt Nam, gần với truyền thống và nét đẹp văn hóa của người Việt Nam Vì
lẽ đó mà ấn đụ tu từ trong các phong cách ngôn ngữ dù ở dạng này hay dang khác
cũng mang lại một giá trị nghệ thuật thể hiện cái tình hoa và niễm tự hào của kho
tầng ngôn ngữ dân tộc
1.3 Ca đao Đồng bằng sông Cứu Long
1.3.1 Khái niệm về ca dao đẳng bằng sông Cửu Long
© Khai niệm về ca đạo
'Ca dạo là lời ăn tểng nói của nhân dân, chủng có từ lâu đời và đã, đang sẽ tổn tại như một rninh chững lịch sử vẻ quá trình hình thành và phát triển của đân tộc ta
“Theo thuật ngữ Hán ~ Việt thì ca là hát, dao là bài hát không có chương khúc Đương Quảng Hầm định nghĩa “cứ đao là những bài hát ngắn lưu hành trung
đâm gian thưởng tâ tĩnh tình, phong tục của người bình dân Bởi thể, ca dao cũng
được gọi là phong giao” [13, tr15]
“Thuần Phong cho rằng “cử đạo tức là dân ca truyền miệng trong dân gian, hắt
thành nhiễu giọng, đột theo nhiễu thể, điễn tả xư vật, thể tình thói tục và tư tướng của nhân dân ° 136, tr24]
(Cn theo Chu Xuân Diễn "ca dao là lời của các bài hát dân ca đã tước bỏ đi
những tiếng đệm tiếng lầy hoặc ngược lại là những câu thơ có thể "bé" thành
những lần điệu dẫn ca” [6 tr436]
Trang 342
Ca dao là một thể loại văn học dãn gian, đó là những bài có hoặc không có
chương khúc, được nhân đân sáng tác bằng những thể văn vẫn của đâu tộc, thưởng
là thể lục bát Qua đó, thể biện tâm tư, tình cảm của quần chủng nhân dân hay nhằm mục đích phán ánh những vẫn để xung quanh cuộc sống như: phong tục tập quán,
các mỗi quan hệ gia đình và xã hội
Để phân biệt với thuật ngữ dân ca người ta định nghĩa: ca đạo chí phần lời thơ của các bài dân ca (những phẩn lời có kết cầu bền vững dn định, có tính chất trữ
tình, không có những tiếng đệm tiếng láy tiếng đưa hơi ) và những bài thơ truyền
miệng được síng tác theo phong cách trữ tình dân gian truyển thống, cả dao không chỉ là lời hất mà đôi khi còn được dùng như lời nối
* Khái niệm về ca dao đồng bằng sông Cửu Long:
“Từ khái niệm về ca dao tên, ta có thể định nghĩa khái quát về ca dao đồng
bằng sông Cửu Lorlg như sau: ca dao đồng bằng sông Cứu Long là những bài hất có hoặc không có chương khúc, được nhân dân đồng hẳng sông Cứu Long sáng tác dựa trên cơ sở kế thừa của ca dao truyền thông, sáng tác bằng thể văn vẫn của dân tộc Nó thế hiện tâm tư, tỉnh cảm cửa con người đồng bằng sông Cửu Long, phản
ánh những vẫn để phong tục tập quản các mỗi quan hệ gia đình và xã hội của con
người đẳng bẳng sông Cứu Long
Ca dao dang bing sông Cứu Long là vốn quý của ca dao Nam Bồ, một bộ
phân không tách rời của ca dao Việt Nam, được cư dân đông bằng sông Cứu Long
sáng tác được lưu hành trong khu vực và chắc chẵn sẽ còn tổn tại mãi với thởi gian 'Ca dao nói chung và ca dao đồng bằng sông Cứu Long nói riêng tuy không thé
so sánh như một pho lịch sử chính thức nhưng nó có tác dụng như một quyển sử, một mình chứng cho cuộc sống trong chiến đẫu trong xây dựng và trong sinh hoạt
đối thường Ca đạo là thử bia miệng ghỉ lại cá quá trình biển thiên của lịch sứ
Là một hệ phân của ca dao Việt Nam, ca dao đẳng bằng sông Cửu Long - Nam
Bộ cũng như ca đao Bắc Bồ và ca đao Trung Bộ có những đặc điểm chung, bất đầu
tử cội nguễn đất nước, song hành và lớn lên cùng tiễn trinh lịch sử của dân tộc Cả dao đẳng bằng sông Cứu Long - Nam Bộ ngày nay là hình ảnh mới của ca đạo.
Trang 3529
truyền thông đã theo bước chân của những lưu dân Việt trong quá trình khai phá,
định cư và phát triển trên mánh đất đồng bằng sông Cứu Long - Nam Bỏ này Cũng
chính vì thể mà lớp người tham gia vào cuộc hành trình Nam tiến, họ cũng mang theo những thói quen trong sinh hoạt trong văn hóa trong suy nghĩ của họ đến vùng đất mới
Ca dao truyền thống có thế được xem như những hạt giống gieo mắm dé ca đạo đồng bằng sông Cửu Lang hình thành, lớn lên và phát 'Đó là con đường để
cả dao được truyền miệng từ Bắc vào Nam Do 46, ca dao cũng là phương tiên để
thông tin, để liên lạc, nó bang qua mọi không gian, vượt cả thời gian, qua các triễu dai, dé ngày nay ca dao đẳng bằng sông Cứu Long và ca dao các vùng miền khác đù
có mang đặc trưng của mỗi vùng miễn thì ca dao đều có đặc điểm chung nhất Ca
dao đồng bằng sông Cứu Long giếng với ca dao Bắc Bộ và ca dao Trung Bộ ở: để
tài đều thể hiện tình yêu quê hương, đắt nước, trong đó có tinh yêu thiên nhiên, tình
"yêu thương con người và lòng tự hào lịch sử của dân tộc; điểm chung nữa là ca đao
đã phản ánh phong tục tập quán, những nét truyền thống, phản ánh đời sống tình
cảm của nhân dân
Hẳu hết ca đao Việt Nam đều có máng viết về tinh yêu đôi lửa, ca dao đồng
bằng sông Cửu Long cũng không ngoại lệ Đây là một để tài không bao giờ cùng
ti vì bán thên nó luôn rraog nhiễu sắc thái mới mẻ tronis nhì yêu với nhiều chủ đễ: tương tư, ngại ngùng, tö tình, ben ước phụ bạc là những giai đoạn pht triển của
tình yêu và mỗi giai đoạn lại mang những cung bậc, sắc thái riêng biết,
“Tình cảm gia đình biểu hiện trong sinh hoạt và các mỗi quan hệ da dạng cũng
là một phương diễn được ca đao phản ánh, Con người có được xã hội ngày nay phái
đi qua xã hội trước đó, cái xã hội mà vấn để tư do, bình đẳng, thân phân người nông dân và người phụ nữ ít được quan tim, Vi vay, cả đạo côn máng điểm chung là phản ánh xã hội cũ Bên cạnh đó, ca dao ding bing sng Cứu Long còn chứa đựng
thắn lạc quan, yêu đời xen lẫn tiếng cười trào phúng, dí dóm
Xết trên phương điện nghệ thuật, ca dao đồng bằng sông Cứu Long đã sử dụng
những biên phấp nghệ thuật những mô típ không gian thời gian, cẩu tứ, thể thơ,
Trang 36
30
ngôn ngữ và các biện pháp tu từ như ca dao truyền thông Những phương tiện đó
công với tài nghệ của nhân đân khiến cho ca dao có đủ khá nãng phản ánh cuộ sống với tắt cá xự chân thực, đa dạng súc tích gắn gũi với quan niệm và lời an tiếng nói của nhân đân Tuy nhiên, ca dao đẳng bằng sông Cửu Long cũng có những đặc
điểm riêng về nội dung và hình thức nghệ thuật Đó là điểm mẫu chết để ca dao
đồng bằng sông Cứu Long mang điện mạo riêng mang cái nét đặc trưng rất riêng, cũng như khi đọc lên mỗi câu ca đao ta nghe min mặn, ngây ngất đậm đà cái
hương vị phù sa, cái tính chất đồng bằng sông Cứu Long trong đó Ở đây có hương
vị của lá rừng mang đến từ cội nguồn, có vị ngọt thất của hạt gao từ đẳng lúa, hoa
trái từ ruộng vườn, và tắt nhiên có vị muỗi mặn của cửa sông nơi tiếp biển Do đó,
ca đao đồng bằng sông Cứu Lang tự hào đã góp thêm sự phong phủ đa dạng, góp thêm nết đẹp tỉnh tễ, sắc sảo cho kho tầng ca đáo của dân tôc Việt Nam
1.3.2 Vài nét về nội dung của ca dao đẳng bằng sông Cửu Long
Về đại thé, ca dao đồng bằng sông Cửu Long có thể chia ra làm hai lớp Lớp
thứ nhất là lớp ca dao truyền thông được giữ nguyên vẹn phần lời, phần ý thay đổi, thay đổi môi trường điễn xướng, điều kiện diễn xướng hay có sự cài biển cho phù
hợp với người đồng bằng sông Cửu Long từ những bài ca dan truyền thống Lớp thứ
hai được người đồng bằng sống Cứu Long sáng tác, lớp này chiếm một số lượng lớn
và ở đây hình ảnh cơn người đồng bằng sing Ci Long cũng vũng đất đồng bằng xông Cứu Long hiện lên như một bức tranh sinh động Đây là những bài ea dao mới
hoàn toàn về nội dung cũng như cách thể hiện Tuy có hai lớp như thể nhưng ca đạo đẳng bằng xông Cửu Long thông nhất về nội dung, đó là phần lớn xoay quanh các
chủ để về tâm tự, nh căm, suy nghĩ của cơn người đẳng bằng sông Cứu Lang đổi với quê hương đất nước, về quan hệ yêu đương và những suy tư của nam nữ thanh
niên, về tiếng ca tình nghĩa của người lao động trong quan hệ gia định, về những
khúc ca vui buồn của nhân dân trong các mỗi quan hệ khác
Nguyễn Tắn Phát sau khi phân tích để tìm ra đặc trưng riêng của ca dao Nam
Bộ, ông xác định bổn nội đung lớn:
Trang 3731
1 Những cảm nghĩ về quê hương đắt nước
2 Quan hệ yêu đương và những suy tư của nam nữ thanh niễn lao động
3 Tiếng ca tủnh nghĩa của người lao động trong quan hệ gia đình
.4 Những cắm nghĩ của nhân dân trong mỗi quan hệ xã hỏi khác
Céng trình Văn học dân gian đẳng bằng sông Cứu Lang do khoa Ngữ Văn,
“Trường Đại học Cần Thơ sưu tâm ca dào — dân cà đẳng bằng sông Cứu Long chia ra:
1- Quê hương đất nước
2 Lao động sản xuất
3 Đời sống tình cảm
-4 Phong tục tập quán và tâm lí xã hội [16, 315]
Tay theo timg myc đích khảo sát khác nhau của các nhà nghiên cứu, chúng ta thấy
cách sắp xếp về nội dung của ca đạo của các công trình nói trên không giống nhan
1.3.2.1 Quá trình khai phả vàng đắt đồng bằng sông Cứu Long
Lịch sử của vùng đất Nam Bộ luôn gắn liễn với lịch sử khắn hoang gian khổ
của son người Nam Bộ nói chung và đông bằng sing Cin Long ồi riêng
“Vang dit ding bằng sông Cou Long gản liền với quá trình khẩn hoang biết
‘bao gian nan, cục khổ của con người đồng bằng sông Cửu Long
“Trong tiến trình của lịch sử khẩn khoang ấy có những trang miêu tả vùng đất đẳng bằng sông Cứu Long hoang sơ khắc nghiệt, cảnh rừng thiêng nước độc, đầy
những cảm giấc kinh xợ của con người:
~ *U Minh khẩn khổ
“Xung sông sẩu bắt lên rừng cọp tha"
ud ching
= "Cit Mau bhi kot trén bueng
Didi sing su Ibi trén rims cop tn”
~ *U Minh, Rạch Giá, thị quả sơn trưởng
“Dưới sống sẵu lội, trên rừng cọp đua”
Trang 38~ *Anh đi ba bữa anh vẻ
Rừng xâu nước đặc chở hễ ở lâu
Đó là những cánh hoang sơ, khắc nghiệt của một vùng đất mới, vùng đắt chưa có bin tay con người khai phá trải qua biết bao khó khăn gian khổ, với tỉnh thần hãng hái trong công cuộc khai phá vùng đất mới con người mới khắc phục
được mọi trở ngại dé chỉnh phục và cải tạo thiên nhiên Đồng bằng sông Cửu Long
buổi đầu không chỉ hoang sơ, khắc nghiệt mà còn đầy nguy hiểm, ca dao đẳng bằng,
sông Cứu Long đã nói lên được cái hình ảnh của thiên nhiên đồng bằng xông Cứu
Long trong buối đầu khai phá ấy, ẩn sau vé hoang sơ, nguy hiểm còn bộc lộ nỗi sợ
hãi của con người, những dấu dn ấy ban đầu đó mử đầu cho những trang sứ của
đồng bằng sông Cừu Long nó là cái hình ánh cái cám nhận đầu tiên của những con
người mới khi đến chỉnh phục vùng đất mới này Ca dao đồng bằng sông Cửu Long
có cái hay ớ chỗ một mặt thể hiện nỗi kinh sợ của con người trước thiến nhiên
"hoang sơ, mặt khác lại có những cảm xúc hân hoan, tự hào trước sự giàu c trù phổ của thiễn nhiên, con người tư tín đã làm chủ được thiên nhiên Điễu đó tạo nên một
đặc điểm nỗi bật trong ca dao đẳng bằng sông Cứu Long
1.3.2.2 Quê hương đắt nước
Lịch sử đẳng bằng sông Cửu Long là lịch sử đấu tranh giữ nước, mở măng
bờ cõi Cơh người đồng bằng sông Cữu Long tự bào về truyễn thống lịch sử của quế
hương đồng bằng xông Cửu Long
'Ca đạo đồng bằng sông Cứu Long đã ghi lại biết bao chiến công của cha anh trong những cuộc đấu tranh chống giặc cứu nước, hình ảnh con người đồng bằng sông Cứu Long hiện lên trong ca đạo là những con người anh hùng trong chiến đầu,
bảo vệ và xây dựng đất nước, được người đời sau luôn ghỉ nhớ, biết ơn và ca ngợi
~ “Vĩnh Lang có cấp rẳng vàng
“Nhất Bài Hữu Nghĩa nhì Phan Công Thin
~ ” Gò Công anh đũng tuyệt tôi
Ông Trương đám lá tối trời đẳnh Tây.
Trang 393
+ “Ban gie dém đậu sáng ngời
Rạch Gằm, Xoài Mit mudn di rong danh,”
Gai MP Tho may tim mắt phụng
Giặc đắn nhà chẳng vung hue dao."
+ Ai rẻ Tản Khánh Bà Nà
“Mà xem con gái đàn bà đi rơi
Lịch sử đấu tranh của đồng bằng sông Cừu Long với biết bao chiến công
lừng lẫy Từ chiến công của Nguyễn Huệ khi đánh thẳng năm vạn quân Xiêm ở
Roch Gam — Xoài Mút năm 1785 đến chiến thắng giặc Tây của ông Trương Định,
chưa kể đến kháng chiến chống Pháp, Nhật, Mỹ Từ những cuộc đấu tranh chống
iäc cứu nước, người đồng bằng sông Cửu Long đi vào lịch sử, đi vào ca đao như
những hình tượng nghệ thuật
1.3.2.3 Sén vit ving miễn
Vang dit ding bing sing Cou Long nơi nỗi tiếng giàu có về sản vật: trái
cñy bẵn :môa, tôm cá quunnh năm, thiên nhiên tru đãi, mua thuận giố hỏa Và con
người đã mang niễm tự hào vẻ sự trù phú đó của đồng hằng sông Cửu Long vào cả đao Trong ca đạo họ cắt lên tiếng ca về một cuộc sống đẩy đủ, no ấm sung túc, sự thỏa mãn về những thử mà thiên nhiên ban cho con người tơi đây, “Cá tôm xẵn bắt lửa trời sẵn ân”, “Chim kêu như hát bội, cả lội đân tựa mẫm mêm” Ca đạo đồng bằng sông Cứu Long còn thể hiện niễm tự hào vì mỗi địa danh đều gắn liên với một sản vật đặc trưng của đồng bằng sông Cứu Long Vì thế, ca dạo đồng bằng sông
'Cửu Long có những câu đọc lên ta nghe vị ngọt của mía Mỏ Cày, mùi thơm nức của xoài Cái Mơn Hình ảnh ca dao đập vào mắt la cải mầu vàng óng ánh của biển lứa
'Giổng Trôm, cái màu lắp lánh tôm cá và không gian bao la của những cánh đồng cò 'bay thẳng cánh ở Đẳng Tháp
~ "Quê em Đẳng Tháp mênh mông
Xunh tươi bắt ngất ruộng đẳng hao la ".
Trang 40M
+ "Đẳng Tháp Mười cô bay thẳng cánh
“Nước Tháp Mười lắp lánh cá tôm”
~ “Biến Tre giàu mía Mỏ Cày,
Giàu nghâu Thạnh Phú, giàu xoài Cái Mom
Bink Boi biển lúa xông tôm
Bo Trirudng mudi, Gidng Trôm lia wang”
Khi con người chinh phục được thiên nhiên thì thiên nhiên đã ưu đãi cho con
người với sy phong phú vẻ sản vật do con người tạo ra Qua ca đáo đẳng bằng sông
Citu Long, ta dé nhận ra con người ding bing sông Cửu Long là những chủ nhân
thật sự của thiên nhiên và sản vật đồng băng sông Cửu Long Họ là những người
dân nghèo, nhưng siêng năng, giàu ý chí, nghị lực, có tỉnh thắn đấu tranh Có lề, họ
đến vũng đất đẳng bằng sóng Cứu Long định cư, lập nghiệp vì nơi đây có sức lôi cuỗn mạnh mẽ của nguồn tài nguyên còn nhiều tiểm tàng chưa được khai thác, dang chờ những con người thật sự là chủ nhân của vùng đất mới này
Cao dao ding bing xông Cửu Long để cập đến những món ãn gần liễn với
đặc sản của từng vũng, từng địa phương
~ Rau đẳng nẫu với cả trẻ
Ai đến Lục Tinh thì mè không vẻ
~ Muẩn ân bông súng mẫm kho:
Thì về Đẳng Tháp ăn cho đỡ thèm
~ Canh chua điên điển cú lỉnh
An chi mot minh thì chẳng biễt ngon
~ Hồi anh đồng đáy cá kèo
Cho em theo vii déu nghéo cũng tưng.