1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Biểu trưng trong ca dao đồng bằng sông cửu long

142 0 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biểu trưng trong ca dao đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả Đoàn Thị Phương Lam
Người hướng dẫn PGS - TS. Nguyễn Văn Nớ
Trường học Đại học Đồng Tháp
Chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2015
Thành phố Đồng Tháp
Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 6,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiếp thu thành tựu nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi thực hiện để tải nghiên cứu 8iểu trưng trong ca dao Đông bằng Sông Cửu Long khảo sát nhỏm chất liệu biểu trưng là từ chỉ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

|G DAL HQC DONG THAP

DOAN TH] PHUONG LAM

BIEU TRUNG TRONG CA DAO

DONG BANG SONG CUU LONG

(KHAO SÁT NHÓM CHẤT LIEU BIEU TRUNG LA TU CHI HINH ANH TU NHIEN

VA VAT THÊ NHÂN TAO)

NGUOI HUONG DAN KHOA HOC PGS - TS NGUYEN VAN NO

Đồng Tháp - 2015

Trang 3

‘Voi tỉnh cảm chân thảnh, tối xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS - TS Nguyễn Văn Nớ, người đã hết lòng giúp đỡ và hưởng dẫn tối tận tỉnh trong suốt thời gian lam luận văn tốt nghiệp

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô Phỏng Đảo tạo Sau Đại học - Trường Đại học Đằng Tháp, đặc biệt 14 cdc thay cô chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam vả quý thấy cõ thinh giảng đã nhiệt tỉnh giảng day vả giúp đỡ

tôi trong suốt quả trình học tập, thực hiện đề tải

Xin gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình và tất cả bạn bè, đồng nghiệp đã luôn dành cho tôi sự quan tâm khích lệ vả chia sé trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

“Tác giả luận văn

Đoàn Thị Phương Lam

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực nếu sai sót tôi hoàn

toàn chịu trách nhiệm

'Tác giá luận văn

Đoàn Thị Phương Lam

Trang 5

4 MUC LUC

Chương 1 NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYỀTM LIÊN QUAN s14

1.1 Biểu trưng và những khái niệm liên quan

1.2 Tổng quan về ca dao Đồng bằng Sông Cửu Long

1.3 Các biện pháp tạo nghĩa biểu trưng

1.4 Các khái niệm “tự nhiên”, “vật thể nhân tạo”

1.5, Tiểu kết chương 1

xu

<n BT

Chương 2 NGHĨA BIỂU TRƯNG CỦA TỪ CHÍ HÌNH ẢNH TỰ" NHIÊN

RONG CA DAO DONG BANG SONG CUU LONG

2.1 Bức tranh tông quan về từ chỉ hình ảnh tự nhiêt

3.1.1 Thống kê, phân loại

2.1.2 Tân số xuất hiện

3.1 Bức tranh tổng quan vẻ từ chi vat thé nhan tao we 14

3.1.1 Thống kê, phân loạ 74

Trang 6

3.1.3 Cách thức xây dựng biểu trưng của vật thể nhân tạo 76

3.1.4 Nội dung biểu trưng của vật thế nhân tạo

3.2 Nghĩa biểu trưng của hệ thông vật thể nhân tạo

3.2.1 Nghĩa biểu trưng của vật thể nhân tạo thuộc nhóm vật đụng

sinh hoạt Hci Ciacci sic OD

3.2.2 Nghĩa biểu trưng của vật thể nhân tạo thuộc nhóm công cụ

"ẽ

3.2.3 Nghĩa biểu trưng của vật thể nhân tạo là những công trình

Trang 7

PHAN MO DAU

1 Lý do chon đề tài

Ca dao là viên ngọc quỷ trong kho tảng văn học dân gian nói riêng và văn hóa dân gian Việt Nam nói chung Chính vì vậy đã có rất nhiều công trình nghiên cửu về ca đao Việt Nam Nghiên cửu ca dao, người ta có thể tiếp cận từ nhiễu góc

độ khác nhau, trong đỏ đảng chú ý là những nghiên cửu từ góc nhìn văn hỏa dân gian và ngôn ngữ học Trong phạm vi ngôn ngữ học việc nghiên cứu ca dao nói riêng vả thơ ca nói chung xưa nay thường được xem xét từ mặt cắt

(ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) Vả những nghiên cứu ấy đã mang lại những thành qua ding kể trong việc làm sáng tô cải hay, cái đẹp của ngôn ngữ ca đao nói riêng

và thơ ca nói chung,

Tuy nhiên nếu chỉ xem xét ca dao thuần túy về mặt câu trúc thì chưa đủ

Nhắc đến ca dao, người ta không thể không nói đến cách nói “bóng gió” mang

tỉnh chất liên tưởng Những hinh ánh như con cỏ, mái đình, lũy tre, cây đa, bến nước, trắng sao, mây núi xuất hiện rất nhiều Biểu trưng của các từ ngữ trong ca dao đã góp phần tạo nên sức sống lâu bền cho những áng ca dao bất hi cua dan

tộc Vi vậy, nghiên cửu ngôn ngữ ca dao, không thể không chủ ý đến các biểu

trúc ngôn ngữ

trưng Việc nghiên cứu biểu trưng của các từ ngữ trong ca dao sẽ góp phan lam

sảng tö nhiều vấn đề của thi pháp học nói chung và thi pháp trong ca dao nói

riêng

Biểu trưng thực chất là các tín hiệu thắm mỹ xét từ góc nhìn ngôn ngữ học

Dưới hình thức là một loại thơ dân gian thỉ ca dao mang đặc điểm của một tác phẩm nghệ thuật ngôn tử, cẩn được tiếp cận dưới góc độ thắm mỹ, nhằm khám phá những khía cạnh hình tượng, biểu tượng, các tin hiệu nghệ thuật như các tác phẩm văn chương khác Vì vậy nghiên cửu biểu trưng trong ca đao cũng sẽ góp

phần làm sáng tò những vấn đề vẻ tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thâm mỹ,

Bên cạnh đỏ, ca dao Đông bằng Sông Cửu Long nang đậm đặc điểm ngôn ngữ với những đặc trưng, đặc điểm riêng của người dân vủng sông nước Từng hình ảnh được tác giả dân gian sử dụng làm biểu trưng rất phong phú, phan nào

phản ánh tâm tư, tỉnh cảm, văn hóa, tính cách của người dân đông bằng

Trang 8

Xuất phát từ những vấn để như trên chúng tôi chọn đẻ tài "Biểu trưng trong

ca dao Đồng bằng sông Cửu Long” (khảo sát nhóm chất liệu biểu trưng là từ chỉ hình ánh tự nhiên nhiên và từ chỉ vật thể nhân tạ) làm đỗi tượng nghiên

éu trưng này trong ca dao Đồng

cửu, nhằm góp thêm một cách nhin về nhóm

bằng Sông Cửu Long

2 Lịch sử vấn để

Biểu trưng, nhất là biểu trưng trong ca dao Việt Nam đã được nhiều nhà nghiên cứu ngữ văn quan tâm Nhìn lại lịch sử nghiên cứu biểu trưng và biểu trưng trong ca dao Việt Nam, có thể tạm phân thành hai xu hướng: Xu hướng truyền thống tiếp cận theo hướng văn hóa dân gian, chỉ nghiên cứu các sự vật hiện tượng được đùng để biểu trưng trong ca dao; và xu hướng gần đây nghiên cứu sâu hơn về biểu trưng cùng những khái niệm liên quan bằng góc nhìn ngôn ngữ học

Bàn về những biểu trưng cụ thé trong ca dao Việt Nam nói chung và ca dao

Đồng bằng Sông Cửu Long nói riêng có rất nhiều bải viết, chẳng hạn Ý nghĩa biểu trưng của hệ biểu tượng con sé trong ca dao người Liệt của Nguyễn Thi

Duyên [6], Biểu tượng "nước" trong thơ ca đân gian và thơ ca hiện đại các dân tộc ít người của Nguyễn Thị Thanh Lưu [26] Bên cạnh đó, nhiều tác giả đã

nghiên cứu sâu về hình ảnh thiên nhiên trong ca dao, đảng chủ ÿ cỏ Thiền nhiên trong ca dao của Nguyễn Thị Kim Ngân [29], Thiên nhiên trong ca dao trữ tình Nam Bộ của Trần Thị Diễm Thủy |S0] hay Thiển nhiên trong ca dao trừ tình đồng bằng Bắc Bộ của Đăng Thị Diệu Trang [52] Những công trình này đều đã

để lại những dấu ấn riêng và chủ yếu tiếp cận vấn để tử góc độ văn hóa dân gian

Nghiên cứu biểu trưng trong ca dao theo hướng tiếp cận văn hóa dân gian

có công trình Thể giới động vật trong ca dao cổ truyền người Liệt của Đỗ Thị Hoa (Din theo [56, tr.8]), Tác giá đã miễu tả khá chỉ tiết các đặc điểm hình thái biểu hiện của thể giới đông vật trong ca đao, hệ thông hỏa các từ ngữ định danh

động vật và các dạng kết cấu, các thủ pháp nghệ thuật chú yếu của các bải ca dao

có hình tượng loài vật Tác giả cũng đặt ra vả tìm hiểu cách ứng xử với mỗi trường xã hội và tự nhiên được phân ánh vào thể giới động vật trong các bải ca

Trang 9

đao có hình tượng loài vật, đồng thời cổ gắng phân tích những cơ sở hiện thực tạo nên các giá trị biểu trưng của thế giới động vật trong ca dao cổ truyền của người Việt và giải mã các giá trị biểu trưng của các lớp, các loài vật cụ thế được phản ánh vio ca dao Hay Trần Văn Nam trong công trình Biểu trưng trong ca đao Nam Bộ [28] đã nêu được đặc trưng cơ bản của các biểu trưng trong ca dao Nam

Bộ đông thời bước đầu chỉ ra được một số khác biệt so với ca dao Bắc Bộ Điển

hình là khác biết giữa biểu trưng cẫu trong ca dao Bắc Bộ và Nam Bộ

Song song đỏ, trong những năm gần đây, việc nghiên cứu biểu trưng trong

ca dao Việt Nam xuất phát từ góc nhìn ngôn ngữ học xuất hiện ngày cảng nhiều Đảng chú ý có các công trình của Trương Thị Nhân trong luận án phó tiến sĩ Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ các tín hiệu thâm mỹ - không gian trong ca dao [36] tap trung tìm hiểu đặc điểm các tín hiệu thẳm mỹ trong ca dao từ phương diện ngôn ngữ học Những đặc điểm và giá trị vẻ biểu trưng cũng được tác giá nghiên cứu

và phân loại một cách có hệ thống Theo đó, mối quan hệ với ngôn ngữ tự nhiên - chất liệu của văn học, tin hiệu thấm mỹ lả tín hiệu chưa chuyển mã, tin hiệu nguyên cấp Có thể nhận diện và nghiên cứu tin hiệu thẩm mỹ dưới các đặc trưng tỉnh đẳng cấu, tính tác động, tỉnh tái hiện, tính biểu cảm, tính biểu trưng, tỉnh trửu tượng và cụ thẻ, tính truyền thông vả cách tân, tính hệ thống, tỉnh cấp đỏ

Nguyễn Thị Ngọc Điệp trong luận án tiến sĩ ngữ văn Biểu tượng nghệ thuật

trong ca dao truyền thủng người Liệt [9] đã bước đầu tiễn hành phân loại, miêu tả

và tìm hiểu hệ thống biểu tượng nghệ thuật trong ca dao từ nhiều phương diện như: nguồn gốc và con đường hình thành biểu tượng, sự vận đông của biểu tượng trong từng chỉnh thể đơn vị hoặc nhôm đơn vị ca dao Công trình nghiên cứu cũa tác giả đã góp phẫn nghiên cứu sâu sắc hơn vẻ thí pháp ca dao, về đặc trưng của các loại ca đao Công trình AfØI sổ biểu trưng trong ca dao Việt Nam (nhóm chất liệu là thế giới các hiện aượng thiền nhiên) của Nguyễn Thùy Vân [56] Công trình đí sâu khảo sát nhóm chất liệu ding lim biéu trưng là các từ chỉ thể giới các hiện tượng tự nhiên trong ca dao người Việt Theo tác giả *Biểu tưng được hiểu

là cách lẫy một sự vật, hiện tượng nào đó để biểu hiện, ước lệ một cái gì đó khác mang tỉnh trừu tượng Khi một sự vật, hiện tượng có gid trị biểu trưng thỉ nỏ sẽ

Trang 10

gợi lên trong nhận thức người bản ngữ sự liên tưởng khá bền vững Biểu trưng bao giở cũng gắn với văn hỏa tậc người với địa văn hỏa vì quá trình biểu trưng hóa chju sự chỉ phối của mỗi trường tự nhiền và hoàn cảnh xã hội" |S6 tr 137] Cũng trong công trình này, tác giả đã chỉ ra vẫn đề tỉnh đa nghĩa của biếu trưng

Ở một mức độ nhất định, luận án đã khảo sát và chỉ rõ tỉnh đa nghĩa của biểu

trưng trong quả trình mô tả vả phân tích giá trị biểu trưng của các tử ngữ biểu thị

thế giới thiên nhiên như các từ ngữ biểu thị thế giới thực vật, động vật và các hiện tượng tự nhiên Theo đó, tính đa nghĩa của biểu trưng phản ảnh lỗi tư duy, nhân thức động và linh hoạt của người Việt cũng như phản ảnh đặc trưng văn hóa hết sire da dang và phong phú của dân tộc Việt sinh sống trên các vùng miễn khác

nhau của đất nước Việt Nam

Có thể thấy rằng, nghiên cứu biểu trưng trong ca đao, nhất là nhỏm chất

liệu biểu trưng lả từ chỉ hình ảnh tự nhiên được nhắc đến nhiễu với những công trình nghiên cứu đài hơi; trong khi biểu trưng trong ca dao Đồng bằng Sông Cửu Long, nhất là nhỏm chất liệu là từ chỉ vật thể nhãn tạo chưa được nghiên cứu

chuyên sâu, bải bản Tiếp thu thành tựu nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi thực hiện để tải nghiên cứu 8iểu trưng trong ca dao Đông bằng Sông Cửu Long (khảo sát nhỏm chất liệu biểu trưng là từ chỉ hình ảnh tự nhiên và vật

thể nhân rao) theo hướng tiếp cận ngôn ngữ học, với bước đầu nghiên cứu ý nghĩa biểu trưng của các từ ngữ chỉ hình ảnh tự nhiên và vật thể nhân tao trong ca

dao Đông bằng Sông Cứu Long Để tránh trùng lặp với các công trình đã công bố

trước đó, chúng tôi tập trung vào những biểu trưng mang đâm đặc trưng văn hóa Đồng bằng Sông Cửu Long, trong đó chú ý nhiễu hơn ở nhóm từ chỉ vật thể nhân tạo Hy vọng kết quả của luân văn sẽ góp phẫn làm sáng tỏ hệ thống nghĩa biểu trưng, tiếp cận với cái hay, cái đẹp của ca dao Đông bằng Sông Cửu Long

3, Đối trựng và phạm vi

3.1 Đổi tượng nghiễn cửu:

Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là các ý nghĩa biểu trưng của các

kghiên cứu

từ ngữ chỉ hình ảnh tự nhiên và vật thể nhân tạo trong ca dao Đồng bằng Sông

Cửu Long

Trang 11

3.2 Phạm vì nghiên cứu:

Là các bải ca dao được in trong quyền “Văn học dân gian Đồng bằng Sông

Cửu Long” của Khoa Ngữ văn, Trưởng Đại học Cần Thơ, xuất bản năm 1997

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu:

‘Thong qua việc thông kẻ, phân loại các từ ngữ biểu thị các hình ảnh tự nhiên

và vật thể nhân tạo trong ca dao Đồng bằng Sông Cứu Long, luận văn tìm hiểu ý nghĩa biểu trưng của chúng 'Tử đó xây dựng nền một bức tranh toàn cảnh vẻ giá trị biểu trưng của các tín hiệu chỉ các hình ảnh tự nhiên và vật thể nhân tạo được sir dung trong ca dạo Đồng bằng Sông Cửu Long Qua đó, góp phần làm sáng tỏ những đặc điểm văn hóa, tâm thức ngôn ngữ cũng như tư duy liên tưởng của

người đân vùng đồng bằng sông nước

4.2 Nhiệm vụ nghiên cửu:

Luận văn hướng đến 4 nhiệm vụ chỉnh:

Xác lập khung lý thuyết liên quan đến vấn để biểu trưng nỏi chung vả biểu trưng trong ca dao Đẳng bằng Sông Cừu Long nỏi riêng

‘Thing kê, phân loại các từ ngữ dùng biểu thị các hinh ảnh tự nhiên vả vật thể nhãn tạo trong ca đao Đồng bằng Sông Cứu Long; qua đỏ xác định các đơn vị

từ vựng “xuất hiện nhiễu”, được sử dụng với ÿ nghĩa biểu trưng thuộc hình ảnh tự

nhiên và vật thể nhân tạo trong ca dao Đồng bằng Sông Cửu Long

Miêu tả phân tích các ý nghĩa biểu trưng được thể hiện qua các tử ngữ biểu

thị các hình ảnh tự nhiên va vat thể nhân tạo trong ca dao Đồng bằng Sông Cứu Long,

“Xác định ý nghĩa, giả trị thẫm mỹ của các tử ngữ dùng làm biểu trưng trong

ca dao Đông bằng Sông Cửu Long, qua đó làm rõ được đặc trưng văn hóa tư duy của người Đông bằng Sông Cửu Long qua hệ thống ÿ nghĩa biểu trưng

S Phương pháp nghiên cứu

3.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:

Trang 12

Luận văn tập hợp ngữ liệu, tải liệu nghiên cửu lý luận vẻ những vấn đề có liên quan, cũng như những hướng tiếp cân đa chiều, giúp có cải nhìn toàn điện vả

sâu sắc về vấn để nghiên cứu

5.2 Phương pháp thông kế:

Từ kết quả thống kê, phân loại, khảo sát tần số của các từ ngữ chỉ hình ảnh

tự nhiên và vật thể nhân tao dùng lảm biểu trưng trong ca dao Đồng bằng Sông Cửu Long Qua đó, nhận biết được vị trí của biểu trưng trong thể loại ca dao, trong tâm thức dân gian, nhận biết đâu là những biểu trưng được ưa chuộng, phổ biển nhất

5.3 Phương pháp miêu tả:

Luận văn đi vào quan sát miều tả ngôn ngữ như một hệ thống- cấu trúc ở mọi bình diện, cấp đô, thuộc tính cúa các đơn vị ngôn ngữ, những mỗi liên hệ, quan hệ, cách thức tô chức và trật tự tôn tí của chúng theo quan điểm hoặc trưởng

phái (quan điểm truyền thống, cấu trúc, cải biển tạo sinh, tẳng bậc, chức năng trỉ nhận)

3.4 Phương pháp phân tích ngữ nghĩa:

Luận văn tiến hành phân tích nghĩa biểu trưng của các từ chỉ hình ảnh tự nhiên vả vật thẻ nhân tạo trong ca dao Đẳng bằng Sông Cửu Long dựa vảo mỗi

quan hệ bình diện hệ thống — cấu trúc vả binh diện hoạt động, chỉ ra sự khác nhau giữa nghĩa bản thể và nghĩa liên hội, nghĩa sự vật ~ logic và nghĩa biểu trưng, sự biển đổi ý nghĩa theo cả trục đồng đại và lịch đại Qua đó, thấy rõ hướng nghĩa biểu trưng của từng yếu tố dựa trên những đặc điểm tương đồng và khác biệt

5,Š Phương phúp so sánh, đổi c

Từ việc khảo sát các hình ảnh tự nhiên và vật thể nhân tạo dùng làm biểu trưng trong ca dao Đẳng bằng Sông Cửu Long nói chung chúng tôi so sánh với ca dao giữa khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long và ca dao các vùng miễn khác; hoặc đổi chiếu với các hình anh ding làm biểu trưng, biểu tượng văn hóa của các nước

trên thế giới

3.6, Phương pháp tiếp cận ký hiệu học liền ngành:

Trang 13

Cĩ thể thấy rằng, đối với khoa học nghiên cứu về biểu tượng trong khoa

học xã hội vá nhân văn, tiếp cận liên ngảnh là một hưởng đi bắt buộc Bởi mỗi biểu tượng đều cĩ ý nghĩa riêng tuỳ thuộc vào mơi trường tồn tại của nĩ, nĩi cách

khác, ý

thuộc vào bối cảnh và thời điểm mả nĩ ra đời, và tắt nhiên, mục đích sử dụng của

nghĩa của mỗi biểu tượng phụ thuộc vảo nền văn hố sản sinh ra nĩ, phụ

nĩ cũng thay đơi tuỷ thuộc vảo các yếu tố trên Do đĩ, ý nghĩa mả chúng ta tìm ra

trong quá trình nghiên cứu các biểu trưng, các biểu tượng trong ca dao Đồng bằng Sơng Cửu Long chỉnh là bản sắc, là đặc tính văn hỏa được thể hiện thơng qua

ngơn ngữ biểu tượng

Bên cạnh đĩ, mỗi quan hệ giữa ký hiệu học với văn hĩa là một mỗi quan

hệ đặc biệt: Các ký hiệu hình thành nên ngơn ngữ biểu tượng và ngơn ngữ biểu tượng lại chính là sự biểu đạt của văn hĩa thơng qua các ký hiệu, Nghiên cửu biểu

trưng trong ca dao Đồng bằng Sơng Cứu Long chúng ta thấy hình ảnh tự nhiên và vật thể nhân tạo gắn chặt với mơi trường sống qua cách nghĩ, cách trí nhận về thế giới của người đân Đồng bằng Sơng Cửu Long Mỗi trường sống một mặt lá đối tượng để ca dao phản ánh, ca ngợi; mặt khác với tư cách biểu trưng - đĩ lại là phương tiên nghệ thuật để thể hiện nội dung

6 Đồng gĩp của luận văn

6.1 FỄ mặt lý luận:

Từ kết quả thống kê tần số xuất hiện, phân tích của các từ chỉ hiện tương,

cảnh vật thiên nhiên trong ca dao (mưa, giĩ, trăng, sao, sơng, núi ) và vật thể nhân tạo (con đơ, áo, gương, lược ) trong ca dao Đơng bằng Sơng Cửu Long, đè tải sẽ gĩp phần lâm sáng tỏ thêm ý nghĩa biểu trưng vả giá trị biểu trưng của

những từ ngữ được sử dụng trong ca dao Đồng bằng Sơng Cứu Long Qua kết quả thơng kê, phân tích, miêu tả và đối sánh với văn hĩa các vùng miễn, các nước trên thé giới, luận văn chỉ ra một bức tranh tộn cảnh, với hệ thống ý nghĩa về biểu trưng phong phú của các từ ngữ chỉ hình ảnh thiên nhiên trong ca dao Ding bằng Sơng Cứu Long; đỗng thời phản ánh, thể hiện cách suy nghĩ, cảm nhân về

cuộc sống, những đặc trưng văn hĩa của người đản Đồng bằng Sơng Cứu Long

6.3 LẺ mặt thực tiễn

Trang 14

‘Tir két qua nghiên cứu, để tải chỉ ra một hướng tiếp cận khoa học, tìm hiểu cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ văn chương, nẵng cao giá trị ca dao, góp phần nâng

cao chất lượng giảng dạy ngữ văn nói chung và ca dao nói riêng Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của đề tải cũng sẽ đóng gồp nhất định trong việc giữ gin vả phát

huy văn hóa dân tộc

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mỡ đầu, Kết luận, Tải liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn

sm 3 chương:

Chương Ì: Những cơ sở lý thuyết liên quan đến đẻ tài

Chương 2: Nghĩa biểu trưng của từ chí hình ảnh tự nhiên trong ca đao

Đồng bằng Sông Cứu Long

Chương 3: Nghĩa biểu trưng của từ chỉ vật thể nhân tạo trong ca dao Đồng, bằng Sống Cửu Long

Trang 15

NOI DUNG

Chương 1

NHUNG CO SO LY THUYET LIEN QUAN DEN DE TAIL

1,1 Biểu trưng và những khái

Ngôn ngữ là một hệ thông tin hiệu đặc bi

người, vừa là phương tiện tư duy vừa có chức giao tiếp xã hội Trong ngôn ngữ

iệm liên quan

và quan trọng bậc nhất của loài

học có khía cạnh tâm lý học, ngôn ngữ có vai trò nhiễu nhân tổ: xã hội, tâm lý, dân tộc Qua nghiên cửu ngôn ngữ tâm lý sẽ thấy được đặc điểm tâm lý của

công đồng người bản ngữ, vả qua đó sẽ thấy được trong ngữ nghĩa của mỗi ngôn ngữ tự nhiên đều hâm chứa một cách nhìn thế giới của mỗi cộng đẳng bán ngữ đó

đối với sự vật, hiện tượng xung quanh họ Như vậy có thể nói, ngôn ngữ chính là

linh hôn của dân tộc Qua ngôn ngữ, mỗi công đồng bản ngữ thể hiện được thế

giới nội tâm của minh; đồng thời, thế giới nội tâm, lối tư duy cũng lâm ngôn ngữ

phát triển Sự khác nhau về thể giới quan vả văn hóa dân tộc, vùng miền đã tạo

nên “bức tranh ngôn ngữ thể gi

ở bể mặt ngữ nghĩa đơn thuần thôi chưa đù ma cần trí nhân nó ớ tẳng ý nghĩa sâu

đầy mâu sắc Tuy nhiên, nếu chỉ xét ngôn ngữ

hơn thông qua các nghĩa biểu trưng

1.1.1 Khái niệm biểu trưng

Biểu trưng (symbole; tiếng Pháp và symbol; tiếng Anh) là một khái niệm khá quen thuộc và được sử dụng trong nhiều ngành khoa học, Nó có nguồn gốc từ

tiếng Latin (symbolus) nghĩa là dấu hiệu Cũng có thuyết cho rằng

chit symbol bit nguồn từ động từ Hy Lạp “Symballo” có nghĩa là “ném vào một

vị trí", "liên kết”, “suy nghĩ vẻ", “thoả thuận”, “ước hẹn” v.v Ở Việt Nam, thuật ngữ nảy được dịch la biễu trưng hoặc biểu tượng Tuy nhiên, Nguyễn Văn Nớ cho

tầng: "8iểu trưng và biểu tượng không đồng nhất Nghĩa biểu trưng mang tỉnh

lâm thời, nghĩa là ở những ngữ cảnh khác nhau nỗ có thế có nghĩa khác nhau;

còn biểu tượng có tỉnh cô định" [40, tr-41] Chùng tôi đồng tình với quan niệm này, khi cho rằng biểu trưng vả biểu tượng về cơ bản có sự khác nhau

Nói đến nghĩa biểu trưng là nói đến nghĩa ngữ cảnh, có tỉnh chất lâm thời,

và tất nhiên, một hình ảnh có thể dùng làm biểu trưng cho một số nét nghĩa nhất

Trang 16

định; trong khi, nói đến biểu tượng là nói đến nghĩa cỗ định, một cách hiểu thắng

nhất Chẳng hạn nói hình ảnh “con cò” là biểu tượng cho người nông dân, "hoa"

là biểu tương cho người con gái Bởi khi những hình ảnh này khi xuất hiện một

minh, chúng ta vẫn cỏ thể hiểu được ý nghĩa của chủng Mặt khác, chúng ta

không thể nói hình ảnh “ánh trăng” là biểu tượng cho nỗi buồn, hình ảnh "nủi

non" là biểu tượng cho sự hiểm trở mả chỉ có thể gọi chúng là những biểu trưng Bởi hình ảnh “ảnh trăng” bên cạnh có nghĩa biểu trưng là nỗi budn, trong một số trường hợp cỏn biểu trưng cho người con gái, cho thời gian, cho không gian bày tỏ tỉnh yêu Vì vậy, trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chí khảo sát các hình ảnh tự nhiên và vật thể nhân tạo với tư cách là các biểu trưng Tuy nhiên, có đối chỗ vì tôn trọng “chữ dùng” của tác giả, chúng tôi vẫn giữ nguyên

từ "biểu tượng” nhưng nó được hiểu là biểu trưng

Biểu trưng có hai mặt

~ Cái biểu trưng: được biểu hiện ra bằng hình ảnh, âm thanh, hình khối,

đã bị chia cất và có thể tái hình thành Mọi biểu tượng đều chứa đựng đấu hiệu bị đập vô: ÿ nghĩa của biểu tượng bộc lộ ra trong cải vừa là gãy vỡ vừa là nỗi kết

những phần của nỏ đã bị vỡ ra” 4, tr 23]

Trang 17

Với tư cách là một hệ thông ký hiệu, ngôn ngữ cũng là những biểu trưng Chất liệu biểu trưng là cái nằm bên ngoài; vật mà nỏ biểu trưng lại nằm sâu trong

nội tâm Ngôn ngữ biểu trưng là ngôn ngữ dùng đẻ diễn đạt kinh nghiệm nội tại;

nó hẳu như lã sự thể nghiệm cám quan đó; nó lã một vật não đó do ảnh hưởng của thể giới vật lý tác đông đến chúng ta Ngôn ngữ biểu trưng lã một loại ngôn ngữ

mà thé giới bên ngoài là biểu trưng cho thể giới nội tại; là biểu trưng cho linh hỗn

và tâm linh,

Có nhiều quan niệm khác nhau về biểu trưng Theo Erich Fromm biểu trưng có ba loại (dịch giả dùng chữ “tượng trưng”); tượng trưng mang tính chất

tập quán; tượng trưng mang tính chất ngẫu nhiên và tượng trưng phổ biến Theo

đó, tượng trưng mang tỉnh chất tập quán lä ngôn ngữ sử dụng hàng ngày Giữa cái biểu trưng và cái được biểu trưng của loại tượng trưng nảy không có mồi quan hệ nội tại Tượng trưng mang tính chất ngẫu nhiên cũng thể Trong khi đó, tượng

trưng mang tỉnh chất phổ biến thì giữa cái tượng trưng vả cái mà nó đại diện có mối quan hệ nội tại Tượng trưng phố biến lá loại tượng trưng mả quan hệ giữa

cái biểu trưng vả cái được biểu trưng nhất trí với nhau trong nội tại chữ không,

phái ngoại tại Tượng trưng phố biến bám rễ sầu trong thân thể, ÿ thức và tâm linh

của mỗi người nó không giới hạn một cá nhân hay nhóm người nào Tuy nhiên

có điều cẫn phải thấy rằng, trong các nền văn hỏa khác nhau, một sỏ tượng trưng

có ý nghĩa khác nhau (Dẫn theo [40, tr-43-44))

Còn Jacques Pohl thi cho ring: “Biéu trưng nói chưng là một vật kích thích được liên kế: với những đổi tượng nào đó một cách võ đoán” (Dẫn theo (40,

tr45])

Trong quyên *Ý nghĩa vẻ cấu trúc ngôn ngữ”, Wallace L Chafk cho rằng:

“Biểu trưng là khi một cải gì đó trong thể giới tr tưởng và khái niệm biển thành một cải gì đó có khả năng trở thành cải cầu bắc qua cái vực ngăn cách vật phát

vd vat shu” (Din theo [40; tr.45])

Khi đề cập đến biểu trưng, các nhà nghiên cứu của thể giới và Việt Nam còn dùng khái niệm "biểu tượng” vả cũng đã đưa ra nhiều cách hiểu về thuật ngữ này Jean Chevalier và Alain Gheerbrant cho rằng: “7 bản chát của biểu tượng,

Trang 18

nó phá vỡ các khuôn khổ định sẵn và tập hợp các thái cực lại trong cùng một ý niệm Nó giống như mũi tên bay mả không bay đứng im mà biển áo, hiển nhiễn

mà không nằm bắt được Ta sẽ cần phải dùng các từ để gợi ra một hay nhiều ý

nghĩa của một biểu tượng" |4, tr.14]

Hay nói như Georges Gurviteh: "Cac biéu tượng tiết lộ mã chè giấu và ch

giấu mà tiết lổ" [4, tr 14]-

‘Theo quan niệm của Ereud: *8iễu tượng diễn đạt một cách gián tiếp bỏng giỏ và ít nhiễu khó nhận ra niễm ham muốn hay các xung đột Biểu tượng là mỗi liên kết thẳng nhất nội dung rõ rệt của một hành vì, một tự tưởng mọi lời nói với

ÿ nghĩa tiém dn ctia ching” (4, 24]

Đối với C G Jung, ông cho rằng: “Biểu tượng không phải lả mớt phủng

dụ, cũng chẳng phải một dẫu hiệu đơn giản, mà đúng hơn là một hình ánh thích hợp để chí ra đúng hơn cả cải bản chất, tạ mơ hỗ nghí hoặc của tâm lính" |4, tr24]

Nói như vậy, bản chất của biểu trưng là khó xác định, sự hiểu biết về nó

đương nhiên còn tủy thuộc vảo sự từng trải và kinh nghiệm vốn có của mỗi cả

nhân cũng như trình độ nhận thức của từng người Không những thế, việc “giải mã” tìm ra ý nghĩa của biểu trưng cũng phải tỉnh đến thói quen, phong tục, tập

quán của các nền văn hoa trong từng cộng đồng dân tộc khác nhau Điễu bi an

vẫn luôn còn nguyên ven và mơ hỗ về mặt ý nghĩa nếu như biêu trưng chưa

được “giải mã” Một biểu trưng thường có nhiễu nghĩa và ngược lại một ý nghĩa lại có nhiều biểu trưng cùng biểu thị

Vậy, có thể hiểu biểu trưng là những hình ảnh tượng trưng được phô bảy

khiến người ta có thể cảm nhận một giá trị trừu xuất nảo đó đang tiém an trong

lòng cúa nó

Õ Việt Nam, khi để cập đến biểu trưng, các nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra nhiễu cách hiểu về thuật ngữ này Nguyễn Đức Tôn có quan niệm như sau: “Biểu trưng là lấy một sự vật và hiện tượng nào đỏ để biểu hiện có tính chất tượng trưng trúc lệ một cái gì đó mang tỉnh trừu tượng Đó là một hiện tượng khả phổ

biển và quen thuộc đối với các dân tộc và phần ảnh quan niệm ngây thơ dân gian

Trang 19

của một tộc người khi được cổ định hỏa trong ngôn ngữ Khi một sự vật, một hiện tượng có giá trị biểu trưng thì nó được gợi lên trong ý thức người bản ngữ sự liên

tưởng khá bên vững" [Š, tr.19

Hoảng Trinh cũng nêu lên quan niệm của minh về biểu trưng như sau:

*Biểu trưng là một sự vật mang tính chất thông điệp được dùng để chỉ ra một cải

ở hên ngoài, theo một quan hệ tước lê, tức v đoán (không tắt yếu) giữa sự vật trong thông điệp và sự vật bên ngoài" (53 t.84-85] Và ông khẳng định; “rong văn học, biểu trưng là một loại ký hiệu mang tính chất một hình thể từ ngữ cũng như ẩn dụ, hoàn dụ, phúng dụ " 153, tr.891

Cũng bản về lý thuyết biểu trưng (tác giả dùng từ "biểu tượng"), Phạm Thu

Yến một mặt phân biệt giữa biểu tượng và ấn dụ, một mật thừa nhận “út nhiềm

sự phản định ranh giới giữa biểu tượng và ấn dụ, biểu tượng và so sánh cũng có 3ý nghĩa nương đối không thể có sự phân định hoàn toàn rành mạch giữa một số biểu tượng và ẩn dụ Vĩ hiển nhiên biễu tượng chỉnh là ân dụ được sứ dụng ở mật

độ cao mang tính quy ước” (59, tr.87] Cũng theo tác giả việc sử dụng biểu tượng, được quy định bởi bản chất thể loại thơ ca dân gian, gắn với đặc điểm địa lý sinh

hoạt, với tâm lý mỗi dân tộc Tác giá đã nêu lên các nguồn gốc của biểu tượng: từ nghi lễ, tử thể giới vật thể bao quanh con người mà quan trọng là vật thể tự nhiên,

từ điển có, điển tích văn học

Đỗ Hữu Châu thì đề cập đến biểu trưng ở tầng sâu hơn, đó là biểu trưng nghệ

thuật: "Ngưởn gốc của ngôn ngữ không có gì khác chính là sự sử dụng những yêu

tố, những chỉ tiết của đời sống hiện thực vào mục dich thẩm mỹ Khi đi vào tác

Theo Nguyễn Thủy Vân: *Kñi tim hiểu khát niệm của biểu trưng, chúng ta

không thẻ hạn hẹp nó trong một cách hiểu được: biểu trưng được diễn tả bằng từ ngữ, nhưng từ ngữ chỉ diễn tả những hình ảnh, không diền đạt được tất cả ý

Trang 20

nghĩa của biểu trưng Chẳng hạn như hình ảnh hoa sen: hoa thơm, không gỉ đẹp

bằng sen, lá xanh, bông trắng, nhị vàng v.v Còn biểu trưng hoa sen: biểu trưng

của Phật giáo, tỏa sen: bản thể đức Phật, giác ngộ (hoa sen nghìn cánh), thanh khiết như sen trắng, sen xanh" |56, tr.19]

Trong ca dao Việt Nam nói chung, ca dao Đồng bằng Sông Cửu Long nói riêng, biểu trưng nỏi một cách đơn giản là dũng cái A để nói cái B Chẳng hạn,

cấp biểu trưng "cá chậu - chim lỗng" biểu trưng cho cánh tủ túng của một ai đó, trong ca dao kết cấu cá chau- chim Jong thường biểu trưng cho người con gái có chông mà không hạnh phúc,

Tiếp thu những ý kiến nêu trên, chúng tôi đồng tỉnh với Nguyễn Thủy Vân khi hiểu về biểu trưng trong ca dao như sau: “Biểu trưng là từ hoặc cum tie trong câu ca đao có khả năng khái quát hóa cho một sự vật, hiện tượng nhất định và nó được xác định cỏ giá trị trong ÿ thức hệ của mỗi không gian lịch sử văn hỏa ngón ngữ xác định " [S6, tr.20]

Theo cach hiểu nảy, đối tượng được để cập đến là từ vả các cụm từ, nhưng không phái từ hoặc cụm từ não cũng được coi lả biểu trưng, mả chỉ là từ hoặc cụm từ phải có tính khải quát hóa, nói lên hàm nghĩa sâu xa của đối tượng đang được đẻ cập Vì thế, nghĩa biểu trưng, bản chất chỉ tồn tại trong nhận thức của

con người, nhờ cơ chế liên tưởng mà tìm ra những đặc điểm, thuộc tỉnh tương

đồng giữa các sự vật, hiện tượng thuộc các phạm trủ khác nhau Như vậy biểu

trưng trong ca dao phải là những từ hoặc cụm từ được sử dụng nhiễu lần trong

những tình huống khác nhau nhưng lại lả những tử hoặc cụm từ để hiểu, dễ liên

tưởng và đôi khi có gắn với điển tích văn học nảo đó Biểu trưng trong ca dao có

tính lâm thời, tức lả ở các thời điểm và ngữ cảnh khác nhau thi sé cỏ những cách hiểu khác nhau Biểu trưng trong ca dao có thể hiểu là một thực thể có sự đồng hóa và dị hóa, nỏ không phải lä sự cỗ định hoặc một nguyên mẫu chuẩn mực nao

đó

1.1.2 Những khái niệm liên quan

1.1.3.1 Khải niệm tin hiệu ngón ngữ

Trang 21

Tin hiệu là một yếu tố vật chất kích thích vào giác quan của con người làm cho người ta trí giác được và thông qua đó biết về một điều gì khác ở ngoài vật đó Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu, nó khác với những hệ thống vật chất

khác không phải la tin higu, ching han, kết cấu của một cái cây, một vật thể nước,

đá, kết cầu của một cơ thế sống v.v Các yếu tố của những hệ thống vật chất

không phải là tin hiệu có giá trị đối với hệ thống vì có những thuộc tính vật thể tự nhiên của chủng Cái biểu hiện trong ngôn ngữ là hình thức ngữ âm, còn cái được biểu hiện là khải niệm hay đối tượng biểu thị

Khi nghiên cứu biểu trưng, người ta đặc biệt chú ý đến tính đa trị, tính độc lập tương đối và giá trị đồng đại và lịch đại của ngôn ngữ Trong các hệ thống tin hiệu khác, mỗi quan hệ giữa cái biểu hiện vả cái được biểu hiện có tính chất đơn trị, nghĩa là mỗi cái biểu hiện chí tương ứng với một cái được biều hiện Ở ngôn ngữ không hoàn toàn như vậy Trong ngôn ngữ, có khi một cải hiểu hiện tương ứng với nhiễu cái được biểu hiện khác nhau, chẳng hạn, các từ đa nghĩa và đồng

âm, có khi nhiều cái biểu hiện khác nhau chỉ tương ứng với một cái được biểu

hiện, chẳng hạn, các từ đẳng nghĩa

Mặt khác, vì ngôn ngữ không chỉ là phương tiên giao tiếp và phương tiện

tư duy mã còn lả phương tiện biểu hiện tỉnh cảm, cho nên mỗi tín hiệu ngôn ngữ,

ngoài nồi dung khải niệm cỏn cỏ thể biểu hiện cả các sắc thái tình cảm của con

người nữa Các hệ thống tín hiệu nhân tạo khác thường được sáng tạo ra theo sự

thoả thuân của một số người, do đó hoàn toàn có thể thay đổi theo ý muốn của

con người Ngược lại, ngôn ngữ có tỉnh chất xã hội, có quy luật phát triển nội tại

của minh, không lệ thuộc vào ý muốn của cá nhân Bất cứ ngôn ngữ nào cũng là

sản phẩm của quá khứ để lại Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp vả tư duy của những người cùng thời mả còn là phương tiện giao tiếp và tư duy cửa những người thuộc các thời đại khác nhau, các giai đoạn lịch sử khác nhau

Trong quan niệm của ký hiệu học hiện đại, ngôn ngữ được coi là một dạng điễn hình của các loại kỉ hiệu mang màu sắc biếu trưng Đó chính là một hệ thống, các tín hiệu (symbols), bởi vì tương ứng với một cái biểu hiện cụ thể bao giờ

cũng có một cái được biểu hiện đi kẻm Xét theo nguồn gốc và bản chất của ngôn

Trang 22

ngữ với tư cách là một hiện tượng của hânh vi con người thì ngôn ngữ mang

tính cụ tượng (iconicity), vì có thể tỉm ra được các lý do khác nhau cho mối quan

hệ giữa cái biêu hiện vả cái được biểu hiện trong một hệ thống ngôn ngữ Tuy nhiên, nếu xét trong bình điện sử dụng thì người ta không quan tâm nhiều lắm

đến bản chất có lý do của mỗi quan hệ nảy mả chỉ quan tâm đến các giá trị (giá trị

xã hội) trong khi sử dụng của hệ thống kỷ hiệu này mả thôi Trong diện đồng đại

của vấn để, người ta có thể trừu tượng hoá tính cụ tượng của ngôn ngữ và thay

vào đó là tính biểu trưng hay tính phủ hiệu của mỗi một yếu tổ của hệ thống ngôn

ngữ

Bằng các đặc điểm tâm lý và văn hoá, những mốt thời thượng, những ý nguyện và những mưu đỗ chỉnh trị con người đã tạo nên sự vật và hiện tượng nhân tạo, để từ đó có được các hình ảnh biểu trưng mang nội dung thông điệp không còn đơn giản nữa Như vậy, biểu tượng là những hình ảnh nhân tạo thể hiện những khát vọng ý chí, những đặc điểm dân tộc tỉnh hoặc những hình ảnh cá thể được xã hội thừa nhận Vì đặc điểm của các ký hiệu biểu trưng là phụ thuộc

vào quy định của một nhóm người hay của cộng đồng người nên các cấu trúc về

hình thức của biểu trưng thưởng phức tạp và đa điện hơn so với các ký hiệu triệu

chứng

Giá trị của các biểu trưng cũng phải thông qua những quy ước của e ống

đồng hoặc của nhóm xã hôi đề thực hiện chức năng thông báo trong công đồng hoặc trong nhóm xã hội Do đặc điểm cấu trúc của các biểu trưng là phụ thuộc

vảo các điều kiện vật chất vả tâm linh của môt cộng đồng hoặc một nhóm xã hội nên mặt biểu hiện của biểu trưng bao giờ cũng mang tỉnh nhất quản vả cụ thẻ,

được hình tượng hoá theo tâm lý Mặt được biều hiển của biểu trưng thưởng mang đặc điểm tâm lí của nhóm xã hội hoặc công đồng hay một thông điệp chính trí, hay các thông điệp của mặt đời thường mà trong thời điểm đỏ công đồng thường ưa nói về nd, hoặc được thịnh hành trong một thời điểm cụ thể

Nội tóm lại, mặt được biểu hiện của biểu trưng khác mặt được biểu hiện cửa triệu chứng do nó thường mang tính khái quát và trừu tượng hơn

Trang 23

- rio rấp trước ngõ —› cắm vào

~ cờ đỏ sao vâng —» giành độc lập bằng chiến đấu

~ các từ láy có "om, ôm, ong " —› chỉ về các sự vật có dáng tròn, cong; hoặc chỉ trang thai Luan quan

1.1.2.2 Khải niệm tín hiệu thâm mỹ

Ngôn ngữ là yếu tổ thứ nhất cúa văn học, như màu sắc đối với hội họa, âm thanh đối với âm nhạc, hình khối đối với kiến trúc Nói cho cũng, văn học là nghệ thuật của ngôn từ, Những nhà văn lớn đều là những nhà ngôn ngữ trác tuyệt

Trong sự sáng tạo của nhà văn, sự sáng tạo về ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng

và ngôn ngữ trở thành hệ thống tín hiệu thắm mỹ Cũng trong lao đông nghệ thuật

của nhà văn có một sự lao tâm khỏ tứ về ngôn ngữ và các nhà nghiên cứu đã thừa nhận tín hiệu thắm mỹ là yêu tố thuộc hệ thông phương tiện biểu hiện của nghệ

thuật

Khải niệm tín hiệu thắm mỹ cũng được các tác giả để cập đến trong một số

nghiên cứu Ở đây chúng tôi tiếp thu cách hiểu của Nguyễn Thị Vân Anh trong,

*Tỉn hiệu ngôn ngữ thẩm mỹ trong ca dao Nam Trung Bộ" như sau: "Tỉn hiệu

thấm mỹ là tin hiệu thuộc hè thống các phương tiện được lựa chọn và sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật nhằm biểu hiện nội dung thắm mỹ Tỉnh thẩm mỹ của

các tin hiệu thẳm mỹ biểu hiện ở sự thẳng nhất biện chứng giữa nội dung và hình thức, giá trị nghệ thuật và giá trị tư tướng nằm ở cả nội dung và hình thức của tin higu" (1, 1.5]

Tim hiéu tin higu tham my trong van chuong nghia la chiing ta di tim quan

hệ của tín hiệu thẩm mỹ với tín hiệu ngôn ngữ, nguồn gốc vả cách thức cấu tạo

của tín hiệu thâm mỹ

1.1.3.3 Môi quan hệ giữa biểu trưng và tin hiệu thẩm mỹ

Theo Nguyễn Thị Vân Anh “Uí: thể của các tin hiệu thẩm mỹ trong văn chương không phải ở chỗ miễu tả, biểu hiện trực tiếp đối tượng mà ở chỗ gợi ra

các “biếu hiện” hết sức phong phú, sâu sắc vẻ đối tượng Tin hiệu thắm mỳ ca dao nói riêng ngay từ đâu, mỗi quan hệ giữa cái biểu trưng — cải được biểu trưng.

Trang 24

đã mang tỉnh ước lệ - giản tiếp cho nên ÿ nghĩa thẩm mĩ, hình tượng nghệ thuật

chỉ hiện ra trong ÿ thức, trong trưởng liên tưởng của các chú thể giao tiếp" [\,

trŠ] VỀ khả năng miều tả những cải vô hình trong thể giới hữu hình, tín hiệu

thắm mỹ văn chương cũng tỏ rõ lợi thế hơn hẳn các tin hiệu thâm mỹ khác

Tín hiệu thắm mỹ ca dao là sự kết hợp giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời

thưởng có cả “văn bản” tạo hình vả văn bản biểu hiện Ca dao là sản phẩm của quản chúng, đó chính là điểm xuất phát để tín hiệu thm mỹ ca dao mang những đặc trưng riêng so với các tín hiệu vật chất khác Vì thể, nó có phẩn hỗn nhiên,

mộc mạc hơn

Quá trình lưu truyền của ca đao có thé làm cho những tín hiệu thẩm mỹ ca đao sâu sắc hơn vẻ nội dung, trau chuốt hơn về nghệ thuật ngôn từ nhưng cũng có

thể làm cho chúng bị thay đôi, bị phá vỡ Như vậy có thể thấy, từng năm tháng,

từng địa phương từng nhóm người, từng cá nhân tiếp thu tin hiệu thẩm mỹ ca

dao, ghi nhớ tín hiệu thẩm mỹ ca dao, lưu truyền tin hiệu thấm mỹ ca đao đều "in

dấu ân” vào nó, lâm cho nó biến đôi

1.1.2.4 Quan hệ giữa nghĩa biểu trưng và nghĩa gốc

Khi bản về mỗi quan hệ giữa nghĩa biểu trưng và nghĩa gốc, nhiều nha nghiên cứu quen dùng thuật ngữ “biểu tượng" Theo Trần Văn Sảng: “Để (ao nên

các biểu tượng, nghĩa đen, nghĩa biểu vật của các từ ngữ, các kỷ hiệu sẽ không được khai thác, ớ đây, chủ yêu nghĩa bóng, nghĩa biểu cảm của ngôn ngữ, của ký:

hiệu được phát huy tác dụng “Trồng đông" là biểu tượng văn hoá Liệt Nam;

“chú gà trắng" là biểu tượng của văn hoá Pháp thì từ ngữ "trống đồng" "gà

Khi khoa học về biểu trưng hình thành và phát triền, có rất nhiều quan điểm khác nhau đưa ra nhằm lý giải về ý nghĩa của biểu trưng và vai trò của nó trong.

Trang 25

đời sống con người Một cách chung nhit, theo Doan Tién Lye trong “Lita: Tir biểu tượng văn hỏa đến biểu tượng ngôn ngữ" (tác giả dùng từ “biểu tượng") thi:

*Biểu tượng là khái niệm dùng đề chỉ một thực thế bao gồm hai mặt: mặt tủn tại

cảm tính trong hiện thực khách quan hoặc trong sự tướng tượng của con người

(cái biểu trưng) và mặt ÿ nghĩa cỏ mỗi quan hệ nội tại, tắt yếu với mặt tôn tại

cảm tỉnh đó nhưng không bị rắt gọn trong những đặc điểm bản thể của sự tổn tai này (cái được biểu trưng)"{25]

Biểu tượng văn hỏa là những thực thể vật chất hoặc tỉnh thần (sự vật, hành động, ý niệm ) có khả năng biểu hiện những ý nghĩa rộng hơn chỉnh hình thức

cảm tính của nó, tồn tại trong một tập hợp hệ thống đặc trưng cho những nền văn

hóa nhất định: nghỉ lễ, hành vi kiêng ky, thắn linh

Còn biểu tượng ngôn từ với tư cách là các biêu trưng nghệ thuật (biến thé loại hình của biểu tượng văn hóa) cấu tạo lại thông qua tin hiệu ngôn ngữ trong văn học Biểu tượng văn hóa và biểu tượng ngôn từ là mỗi quan hệ cấp bậc trong quá trình biểu tượng văn hóa di sâu vào các lĩnh vực nghệ thuật để ở đỏ những ý

nghĩa biểu trưng tiếp tục được lưu giữ vả phát triển trở nên phong phủ hơn Cũng chỉnh bởi điểu nảy mã có hiện tượng gọi lả sự biển đổi ÿ nghĩa biểu trưng Nghĩa

la, dù có nguồn gốc tử các biểu tượng văn hóa, khi thức hiện chức năng thẩm mỹ trong một tác phẩm văn học, các biểu trưng nghệ thuật được cấu tạo lại, tổ chức

lại trong môi quan hệ với các nhân tố của quá trinh giao tiếp đặc biệt như một

hoạt động sáng tao Các nhà văn, nhà thơ dựa trên những mỗi quan hệ hoặc bỗ

sung, hoặc tương phán, hoặc đăng cấu để tô chức các tin hiệu thảm mỹ hướng tới

việc khắc hoạ nổi bật hình tượng nghệ thuật, cũng từ đỏ mả thể hiện một lỗi tư duy nghệ thuật riêng, một phong cách sáng tạo riêng

1.2 Tổng quan về ca dao Đồng bằng Sông Cứu Long

Đồng bằng Sông Cứu Long là phan dat cuối cùng của Tổ quốc, nơi có điều kiện khí hậu thuận lợi, đất đai màu mỡ, thường được nhắc đến như là kho lương

thực của cả nước Đời sống vật chất phong phú, sung túc Nhưng khi nói đến chuyện văn chương thí phủ, phần đất phía cực Nam nảy it được nói đến so với những vùng phía Bắc Điều này tương đối để hiểu, Lịch sử văn minh Việt Nam,

Trang 26

Đẳng bằng Sông Cứu Long chỉ được trên dưới bốn thế kỷ, nên đóng góp của cư

dân vùng này vảo kho tàng văn chương giới hạn, khiêm tổn nêu đem so sánh với

chiều đài văn hiển bốn ngàn năm chung của cả dân tộc Lý giải cho vấn đề này,

Nguyễn Văn Ba trong bai nghiên cứu “Ca đao, dân ca, kinh Xáng, Cửu Long"

cho ring: “Sie,

bằng Sông Cứu Long một phần còn do việc ghi chép chưa đây đủ, hệ thông hóa

lạn, khiêm tốn của văn chương truyền khẩu ở khu vực Đẳng

chưa hoàn hảo nên chưa được phố biển sâu rộng trong dẫn gian Dù vậy, ngoài

tính chất thừa kế và phát huy, những gì còn tân tại đến ngày nay đã cho thấu

nhiễu điễu mới lạ, thẻ hiện tính chất đặc thà của môi sinh cùng với đời sông dân

cw trong vùng Cả dao,dân ca vùng Đẳng bằng Sông Cứu Long, một cách tống quát, là đề tài khả rộng lớn, bao hàm nhiễu lĩnh vực khác nhau” [3] Trong đó, yếu tổ thiên nhiên sông nước, sông ngòi chẳng chịt đã trờ thành “nét riêng” đặc sắc không thể tron lẫn của ca dao Đồng bằng Sông Cửu Long

1.3.1 Giới thuyết ca dao Đẳng bằng Sông Cứu Long

“Trong luận văn này, ca đao Đồng bằng Sông Cửu Long được hiểu là những bài ca đao có nội dung phản ánh về vùng đất, con người Đồng bằng Sông Cửu Long; những bải ca dao được tác giá dân gian sinh sống ở phia Tay Nam Bộ sáng

tác, lưu truyền cũng như những bải ca dao được tìm thấy, sưu tầm ở các tính,

thành khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long; hay nói cách khác, những bải ca dao được in trong quyên `Văn học dân gian Đồng bằng Sông Cửu Long”

1.2.2 Đặc điểm nội dung ca dao Đẳng bằng Sông Cứu Long

Nhin chung, đề tài ca dao Đồng bằng Sông Cửu Long khá đa dạng, phản

ảnh phong phú, đây đủ cảnh vật thiên thiên, vùng đất, con người cùng tắt cả các

mặt của đời sống, tâm tư, tình cảm của người dân vùng đồng bằng sông nước Nội dung ca đạo Đồng bằng Sông Cửu Long chủ yếu xoay quanh 4 mảng chính: quê hương đất nước, lao động sản xuất, đời sống tình cảm, phong tục tập quán và tâm

lý xã hội Trong đó, mảng nội dung phân ánh đời sống tình cảm chiếm số lượng

lớn nhất Điểu này phần nào lý giải đặc điểm tính cách con người Nam Bộ nỏi chung, vùng Đồng bằng Sông Cửu Long nói riêng có lỗi sống chuông tỉnh nghĩa,

cởi mở, hòa đồng và nhu cẫu chia sẻ tình cảm là rắt lớn

Trang 27

1.3.3 Ngôn ngữ và kết cẫu ca dao Đẳng bằng Sông Cửu Long

Ngôn ngữ của ca dao Đồng bằng Sông Cứu Long mang đậm những dấu ấn riêng vẻ vùng đất, vẻ lịch sử văn hoá và con người Mặt khác, nó cỏn mang rõ dấu ấn của sự giao lưu văn hoá giữa các dẫn tộc trên vùng đất nảy Kháo sát ca

dao Déng bing Sông Cửu Long, chủng tôi nhận thấy các yếu tổ ngôn từ mang

đâm sắc thải địa phương Chính sự tham gia của các từ ngữ địa phương đã góp

phân giúp chúng ta hiểu thêm về cá tinh, về tâm hồn của những con người ở vùng

đất cực nam Tổ quốc Bùi Thị Tâm trong bai “Những đặc điểm ngôn ngữ của ca đao Đồng bằng Sông Cửu Long" nhân định: “Hệ thống ngồn từ được sử dụng trong ca dao Đẳng bằng Sông Cửu Long là những ngôn từ đã được hội tụ từ nhiều dụng tiễng nói địa phương khác nhau mà người Việt từ các nơi ở miễn

ngoài mang tới, cộng thêm với sự tiếp xúc vay mượn giữa tiểng Liệt mới du nhập

vào với ngôn ngữ cúa các tộc người sinh sống ở đây Trải qua thời gian dải sử dụng đã có sự chọn lọc, biển đổi về mặt phát âm cũng như từ ngữ, và được bả sưng thêm khá nhiễu lớp từ mới đẻ hình thành một hệ thẳng ngôn tir mang những nẻt đặc thù riêng của vùng đắt này” [48, tr2]

Nét đặc trưng riêng của ngôn tử dùng trong ca dao Đồng bằng Sông Cửu Long được nhìn thấy rõ nhất là sự phong phú và đa dạng của lớp từ ngữ mang sắc

thai địa phương, Đỏ là những từ ngữ chỉ dia danh, địa hình trong ca dao như: tử chỉ sông rạch (rach, xẻo, ngọn, doc, bung, láng, lung, trap, dớn, gảnh, xáng, vũng,

rong, tit, lach, kénh, bau )

Vùng đất Đồng bằng Sông Cửu Long được coi là vũng đất có nhiều kênh rạch chẳng chịt, đất đai phì nhiêu, cây cối xanh tốt bỗn mủa Do vậy, những tir ngữ có liên quan đến sông nước, đến cây trái, đến các phương tiện đi lại trên sông, phương tiện đánh bắt trên sông, đến sự chuyển động của dòng nước đều có nét riêng, độc đáo của vùng đất này

Nói đến vốn từ ngữ mang những nét riêng trong ca đao Đồng bing Sỏng Cửu Long, còn phải kể đến những từ ngữ mang dấu dn của sự giao lưu văn hoá

giữa các dân tộc Những từ ngữ này được giữ nguyên hoặc biển đổi cho phù hợp với cách phát âm của người đân nơi đây như: nhả rườn, khan rin, khan bang long,

Trang 28

sầu riêng, tàu hủ, hủ tiểu, cù lao, cẳn xé, bao tử, hột xoàn Cách nói cö ngữ điệu đặc trưng như: đặng không, nghen, thiệt tỉnh , đặt ở cuối mỗi câu ca đạo góp phân tạo nên một sự thân tình cởi mở trong giao tiếp

Tạo nên những nét đặc trưng của ca dao vùng đất Đồng bằng Sông Cửu

Long còn là những hỉnh ảnh, những công thức từ ngữ được dùng như là những

mô thức Những hình ảnh cũng như những công thức tử ngữ đều xuất phát từ hiện

thực cụ thể của vùng đất Đồng bằng Sông Cửu Long, chúng đều thể hiện rõ những nét riêng của vùng đất nảy, Việc sử dụng các yêu tổ tử ngữ lặp đi lặp lại nhiều lẳn, mang những hình ảnh tiêu biểu điển hình, tạo nên các công thức cổ định, các công thức này lại chứa đựng sẵn một nội dung nhất định ndo diy tao niên những mô thức trong ca dao Trong ca dao Đồng bằng Sông Cửu Long, ngoài các mô thức chung của ca dao cả nước còn có những mỏ thức mả mới chỉ nghe không thôi người nghe đã biết chic chin edu ca nảy thuộc về vùng đắt Đồng bằng Sông Cứu Long Đỏ lả các công thức như'" ngõ ra" ẳ

nước ròng"

Mỗi một công thức đều được dùng với một nội dung cụ thể của nó và đều thể hiện rõ nét riêng của ca đao Đồng bằng Sông Cứu Long

Các công thức tử ngữ lại thưởng đi đôi với với các hình ánh, mả các hình

ảnh đỏ lại xuất phát từ thực tế của vủng đất vả thường gắn với những thỏi quen

sinh hoạt cũng như tập quán của con người vùng Đồng bằng Sông Cứu Long như; công thức “thân em” thường gắn với hình ảnh của * trải xoài", “trai ban trôi”,

“bong gon‘, “ed vô lở" Những hình ảnh nây không có trong ca dao Bắc Bộ Trong ca dao Đồng bằng Sông Cửu Long, những hình ảnh an dụ, hoặc hình ảnh dũng để so sánh thường là những yếu tổ mới, những yếu tỗ này lấy tử thực tể

cuộc sống Sự đổi chiếu, so sánh giữa các hình ánh cũng rất riêng: Muỗi - sáo thôi

¡ địa - bánh canh; chim kêu - hát bội; cá lội - mắm nêm Những hình ảnh ẩn dụ trong ca dao của vùng đắt Đông bằng Sông Cửu Long cũng là những hình ảnh mới Tuy những hình ảnh ấn đụ này chưa đạt đến tính biểu trưng cao độ như

những hình ánh " thuyền bến *, “con cỏ” trong ca dao Bắc Bộ nhưng cũng đã phản ánh được những tâm tư tình cảm của con người Đẳng bằng Sông Cửu Long.

Trang 29

Các ngôn tử và hình ảnh được chọn lựa đẻ sử dụng trong các câu ca và bài

ca, khi tham gia vào mỗi cấu trúc cụ thể nhiều khi không còn giữ nguyên nghĩa

đen, nghĩa cơ bản, hay là nghĩa gốc của nó mà chúng thường có một nghĩa mới,

đỏ là nghĩa biểu trưng Các tử ngữ và các hình ảnh khi được chọn lựa, kết hợp với

nhau tạo nên một ngữ cảnh cụ thể và trong ngữ cánh đỏ chúng được hiểu theo một nội dung ngữ nghĩa mới, ngữ nghĩa mới này cỏn được gọi là “nghĩa tiem an”

Ý nghĩa bên trong của câu ca dao chỉ được xuất hiện khi các từ ngữ đã được thực

hiện bằng con đường biểu trưng hoá thông qua các biện pháp nghệ thuật Cuộc sống của người dân vũng Đông bằng Sông Cửu Long có những nét đặc thù so với cuộc sống của những người đân ở các vùng khác trên đất nước ta Chúng ta có thể nhân ra điều đó qua câu ca dao sau

Chiểu chiều con nước lên cao,

Thuyền anh cặp bến, cẳm sào thăm em

Có thể nói, các hình ảnh ấn dụ và những hình ảnh so sánh trong ca đao

Đồng bằng Sông Cửu Long đều là những hình ảnh được sáng tao từ những hình

ảnh thiên nhiền, từ các công cụ lao động: Ghe, bản, trái khổ qua, cây sú, nhành

mai, bông sen, bông súng con cá, cây đờn, cái khăn, củ lao, .Tim hiểu về ca dao Đồng bằng Sông Cứu Long, chúng ta nhận thấy nghệ thuật ẩn dụ và so sánh được

sử dụng nhiêu, nhất lả trong những câu ca dao thể hiện tình yêu, và tâm trạng cám xúc So với ca dao Bắc Bộ, những hinh ảnh của ca đao Đẳng bẳng Sông Cửu Long ít được trau chuốt, gọt giữa:

Bau có chẳng như cá vỏ lở, Tương tư nhớ bậu, đật đờ năm canh

(20, 344]

Trang 30

Nhiễu từ ngữ được sử dụng trong ca dao Đông bằng Sông Cứu Long có

tính chất khẩu ngữ, kết hợp với cách nói bộc trực thắng thắn tạo nên một sắc thái riêng trong cách thể hiện của con người Đồng bằng Sông Cửu Long Nhiễu câu ca

dao sử dụng thắng khẩu nạữ trong đời sống sinh hoạt hàng ngảy, thứ tiếng nổi cu

thể, thắng đuột, phóng tủng, trẻ trung, di đóm và chân thực:

trau chuốt đường như không thể hiện hết tình cảm của họ Vỉ thể, họ dùng thể loại

hỗn hợp nhiễu hơn Thể thơ ở ca dao Đồng bằng Sông Cửu Long không mang dạng thái những khuôn mẫu gò bó cứng nhắc, mà trở nên linh hoạt uyễn chuyển, sinh động, tự nhiên như lời ăn tiếng nỏi hảng ngảy, như từ sâu thâm tâm tư vả

cuộc sống khoảng đạt của con người mà tạo nên:

Đêm năm canh, ngủ

Huệ không sương phải héo, anh mảng sẩu nàng anh phải hư

(20, tr 384] 1.3 Các biện pháp tạo nghĩa biểu trưng trong ca dao Đồng bằng Sông Cửu

trưng cấp thấp Còn có một hình thức biểu trưng cao hơn đó là biểu trưng,

nghệ thuật do ngữ cảnh mang lại Cũng giống như các thể loại nghệ thuật ngôn tir khác, ca dao cũng có nhiều biện pháp tạo nên nghĩa biểu trưng Biểu trưng dựa vào mỗi quan hệ liên tưởng, như: so sảnh, an dụ, hoán dụ; biểu trưng dựa vào mỗi quan hệ kết hợp như: điệp ngữ, tương phản, khoa trường Ngoài ra, những đặc

điểm “ngoại hình" như: vằn, nhịp và kết cấu sóng đôi, công thức, mô- tip hinh

ảnh cũng góp phần tạo nghĩa biều trưng của ca dao Trong luận văn nay, chủng tôi đi sâu kháo sát ba biện pháp liên tưởng: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ; đồng thời,

Trang 31

khảo sát 2 cơ chế: lựa chọn và kết hợp Các cơ cl

hiện đồng thời, đan xen trong một bài ca dao góp phần tạo nghĩa biểu trưng,

1.3.1 Biện pháp liên nrỗng

1.3.1.1 Biện pháp sơ sánh

So sánh là lối đối chiếu hai hay nhiều đổi tượng có một hay nhiều dấu hiệu giống nhau về hình thức bên ngoài hay tính chất bên trong Cách nói này nhằm

mục đích, miêu ta, đánh giá hoặc biểu lộ tỉnh cám về đổi tượng được nói đến So

biện pháp nảy có thể xuất

sánh là một hình thức rất phổ biễn trong lời ăn tiếng nỏi hàng ngày, bởi gì đấy là cách giúp người nghe hiểu điểu mình muốn biểu đạt một cách nhanh chóng Trong văn chương, so sánh là một biện pháp tạo hình, gợi cảm Nói đến văn chương là nói đến hình thức này Định Trọng Lạc cho rằng: *Ngón ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ của sự liên hội và so sánh nghệ thuật là đôi cánh giúp chúng ta bay vào thể giới của cái đẹp, của nướng tượng hơn là đến ngưỡng của logic học”

J2L, tr.192] Tác dụng chủ yếu của so sánh là miêu tả đổi tượng bằng hình ánh cụ thể, nhưng đồng thời bao gồm cả giái thích, đánh giá và biểu lộ tỉnh cảm Cấu trúc so sánh thường gặp trong ca dao lã: so sánh trực tiếp và so sảnh song hành

‘Trong eau trúc so sánh trực tiếp có hai dạng:

Cấu trúc so sánh triển khai, nghĩa là câu lục nêu lên định để cỏ tỉnh chất

khái quát: A như B (A vả B lả hai đối tượng khác loại) Cỏn câu bat là B` nêu rõ

đặc tính nào đấy của B theo dấu hiệu tương đồng

Vidụ: Đita như rễn liu din (A như B)

Nước cháy mặc nước ta dầu lấy nhau (B')

(20, 11.388) Nếu chỉ vi đối ta như thể con tằm mà không có sự triển khai tiếp theo, chắc chắn người nghe sẽ thấy khó hiểu, không rõ con Tắm ớ đây được nhắn mạnh với đặc điểm gỉ Vì vậy B` đã triển khai rõ rằng cùng ăn một lá cùng nằm một nong để diễn tả một cách đặc sắc phù hợp với việc bộc lộ tỉnh cảm của đôi lứa yêu nhau

Cấu trúc so sánh tường hỗ bổ sung, ở kết cấu nảy không có mệnh đề triển khai mã nêu lên một hoặc hai đối tượng củng lúc so sánh với nhiều sự vật khác

Trang 32

nhau Các sự vật nảy có nét tương đồng hoặc đối lập nhau Trong cấu trúc so sánh

bố sung này, sự liệt kê, điệp ý có tác dụng nhắn mạnh đặc điểm tương đồng hoặc

đối lập của các sự vật, cái này bổ sung cho cái kia mà không cần có sự giải mã

hoặc triển khai

So sánh song hãnh: Đây lä một kiểu so sảnh chim, giữa hai về không có tử

liên từ * như”, * là", * như thé”,

Vidu: Bao giờ cầu nọ hắt quây,

Thi qua voi bau đứt dây cang thưởng

[20.341] Giữa hai vé (A) (bức tranh thiên nhiên), nêu lên những đặc điểm có tính

Sn định mang tính quy luật của thiên nhiên va về (B) (bức tranh tắm trạng) có nét

tương đồng tạo nên một sự so sánh ngằm (nhưng chưa hẳn là ân dụ vì chú thể

chưa ẩn di hoàn toàn) Sự so sánh này làm tăng sức mạnh của lý lẽ được nêu ra,

tạo nên sức mạnh của đòn bay nghệ thuật

So với so sánh trực tiếp thỉ so sảnh song hành tạo điều kiện cho sự liên

tưởng rộng rãi hơn, kích thích sự phát triển của tri tuệ vả tỉnh cảm nhiễu hơn

So sánh giúp ta nhận thức sâu sắc hơn phương tiện nảo đỏ của sự vật, hiện tượng Nhở so sánh mả các khải niệm, đặc điểm, thuộc tỉnh trừu tượng trở nên rõ

răng dễ hiểu So sánh là biện pháp tạo hình giúp cho bai ca tang tỉnh chất tượng

hình nghệ thuật:

Vi dụ: Em như nút, anh như khuy,

Như thúy Kiều với Kim Trạng biệt lỉ sao đành

(20, 396} Như vậy, bằng biện pháp so sánh, các hình ảnh được dũng để so sánh vẫn còn ít nhiều moi liên hệ với hình ánh được hướng đến, chưa gợi ra cho người đọc thấy được tẩm khái quát của nghĩa biếu trưng mả các hình ảnh đỏ mang lại Tuy nhiên, những hình ảnh nếu được lựa chọn là những hình ảnh truyền thống, tiêu biểu và ding lập di lap lại nhiều lần thì sẽ trở thành biểu trưng

1.3.1.2 Biện pháp ấn đụ

Trang 33

Ân dụ là hình thức chuyển nghĩa dựa trên cơ sở liên tưởng về nét giống nhau của hình dáng, màu sắc, tính chất, phẩm chất hoặc chức năng của các đối tượng khác loại Ản dụ khác với so sánh ở chỗ chỉ giữ lại về được so sánh Nếu ở

so sảnh, đối tượng thực vẫn giữ vi trí chủ yếu trong câu, phẫn để so sảnh chỉ là

một bộ phận thử yếu, thi ấn dụ, đối tương thực không xuất hiện mã ẩn đi, phần để

so sảnh do đồ trở thành bộ phân chủ yếu Cù Đình Tú cho ring “An du ld eich ed

nhân lâm thời lấy tên gọi biểu thị đổi tượng này dùng đẻ biểu thị đổi tượng kia dựa trên cơ sở của môi quan hệ liền tướng về nét tương đẳng giữa hai đối tượng”

154, tr.179]

Xét về mặt cấu trúc, ấn dụ có các dạng: ấn dụ bằng danh từ, an dy bing

tính từ, ấn dụ bằng đông từ, an dụ cá câu Xét về mặt liên tưởng, ấn dụ chia làm

bốn loại: lấy cái cụ thể biểu thị cái trừu tượng, lấy cái cụ thể biểu thị cái cụ thể,

lẫy cái trừu tượng biểu thị cái trừu tượng, lẫy cái trừu tượng biểu thị cái cụ thé Còn theo Hoàng Trình, ân dụ có các loại: ấn dụ vẻ liên hệ giữa cái cô trí giác và

cải cỏ trí giác; ấn dụ về cái võ trĩ liên hệ với cái vô trí, ấn dụ về cái võ trí liên hệ với cải có trì giác, ẩn dụ cỏ tỉnh chất vật thể vẻ cái có trí giác liên hệ với cái vô trí, ẩn dụ có tỉnh chất tinh thắn vẻ cái có trì giác liên hệ với cái vô tri [53, tr.69] Cén Ca Dinh Tú, dựa trên cơ sở cấu tạo cúa ân dụ là sự liên tưởng tương đồng

giữa hai đổi tượng khác loại, phân loại dựa trên những nét giống nhau Theo ông,

những nét tương đồng thưởng được đủng để cầu tạo nên ẩn dụ là: tương đồng về mâu sắc, tương đông về tính chất, tương đông về trạng thái, tương đồng về hành

đông, tương đồng về cơ cấu [54, tr.L80-|81]

Ý nghĩa của ẫn dụ trong ca dao được hiểu là ÿ nghĩa nhận thức, ý nghĩa

thấm mỹ và ÿ nghĩa biểu cảm Từ biện pháp ân dụ đưa đến cho ta một nhận thức

mới, một lỗi tư duy mới vẻ sự vật Vì là một lỗi nói dn, ví von, không nêu rõ đổi tượng nên ấn dụ thường cỏ tinh phiém chi hoặc ám chỉ Cách nói cia an du có

phân bóng gió, xa xöi Chính vì thể, ấn dụ có thé dat trong nhiêu hoàn cánh khác

nhau mã vẫn hợp Nó mang tính khái quát đến một mức độ nhất định Biên pháp

ẩn dụ giúp cho tác giá dân gian diễn tả được những điều thằm kín, thậm chi những điều khó nói nhất, khó điển đạt nhất bằng những hình tượng nghệ thuật

Trang 34

vừa khái quát vừa giảu chất thơ Đây được xem lâ công cụ đắc lực để tạo nghĩa

biểu trưng

Ví dụ: Gió đưa trăng thời trăng đưa gió

Trăng lặn rỗi giỏ biết đưa ai?

{20, 11.403}

lớ”, “trăng” để miêu tả một sư vật, hiện tượng

Câu ca dao dùng hình anh “

tự nhiên bình thường, tồn tại xung quanh con người Ở đây, tác giả dân gian mượn hình ảnh “gió”- “tảng” nhưng không để nói chuyện giỏ, trăng mà nói chuyện con người

Trong đặc điểm của loại hình nghệ thuật sáng tác theo phương thức trữ tình, cải dong lại trong lòng người tiếp nhận không chỉ ở chỗ sự vật ấy được phản ảnh ra sao mà quan trọng là tình cảm, trạng thái tâm hồn của con người thể hiện như thể nào qua cách phản ánh ấy

'Theo khảo sát, ẩn dụ chính là biện pháp chính được sử dụng để hình thành

nên những biểu trưng trong ca dao Đồng bằng Sông Cửu Long Điều quan trọng

là làm thế nảo chúng ta tìm ra được mối dây liên hệ, lý giái được nguyên nhân hình thành nên những biểu trưng ấy bằng kiến thức ngôn ngữ vả liên ngành

1.3.1.3 Biện pháp hoán dụ

Hoan dy cing lá một biện pháp tạo hình dựa trên mỗi quan hệ liên tưởng

Nếu so sánh và ẩn dụ được cầu tạo dựa trên mối quan hệ liên tướng về nét tương

đồng thì hoán dụ dựa vào mỗi quan hệ liên tưởng có thực, liên tưởng logic khách quan giữa hai đối tương */oán dự tư từ là cách cả nhân lâm thời lấy tên gọi cúa

đối tượng này dùng để biểu thị đổi tượng kia dựa trên mỗi quan hệ liên tưởng

logic khách quan giữa hai đối tượng” [54, tr.191] Nói một cách đơn giản, hoán

dụ là biên pháp lẫy tên gọi A của sự vat a để gọi tên cho sự vật B, C, D vì giữa A,

B, C, D tuy không giỗng nhau nhưng có một quan hệ gần nhau nào đó về không gian hay thời gian, Hoán dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa vào quy luật liên

tưởng tiếp cận VỀ mật hình thức, biện pháp hoán dụ cũng giống như ấn dụ là chỉ phô bảy một vẻ Về mặt nội dung, hoán dụ được hình thành dựa trên cơ sở liên

Trang 35

tưởng về mỗi quan hệ logic khách quan giữa đối tượng được biểu hiện và đổi

tượng biểu hiện

Trong ca đao nói chung, ca dao Đồng bằng Sông Cửu Long nói riêng biện

pháp hoán dụ được sứ dụng cũng dựa trên các phương thức như: quan hệ giữa bộ

phan và toàn thể; dựa trên quan hệ giữa vật chứa vả vật bị chứa hay lượng vật

chất được chứa; giữa đỗ dủng hoặc dụng cụ vả người sử dụng hoặc ngảnh hoạt động sử dụng dụng cụ đó; quan hệ giữa cơ quan chức năng và chức năng, giữa tư thế cụ thể và hành vị hoặc trạng thái tam — sinh ly di kèm; giữa tác giả hoặc địa phương và tác phẩm hoặc sản phẩm của họ hoặc ngược lại Tuy nhiền, biểu trưng được hình thành từ biện pháp này trong ca dao không nhiễu,

1

của nó Tuy nhiễn, nói theo Ch Bally thi giữa cách dùng ngôn ngữ hảng ngày và

Cơ chễ tạo biễu trưng trong ca dao Đồng bằng Sông Cửu Long

đến văn học, không thể bó qua yếu tố ngôn từ- phương tiện chủ yêu

ngôn ngữ của nhà văn, có một vực thẩm không qua được Cái “vực thắm” đó bao ham khoảng cách giữa nội dung ngữ nghĩa của những đơn vị ngôn ngữ thông thưởng với nội dung cúa ngôn ngữ nghệ thuật Trong bài Giá ứrị biểu trưng nghệ

thuật của vật thẻ nhân tạo trong ca dao cồ truyền Uiệt Nam, Trương Thị Nhàn cô

để cập ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ liên hội “Nguồn góc của ngôn ngữ liên

hội chính là việc sử dụng những yêu tổ, những chỉ tiết của đời sống hiện thực vào

mục đích thâm mỹ Đi vào tác phẩm, dưới dạng ngôn tir, những yếu tổ những chi

tiết Ây sẽ không còn là bản thân nó như trong thực tại mà trở thành hình thức cho một nội dung ý nghĩa mang tỉnh khải quát, vượt ra ngoài phạm ví ngừ nghĩa

thông thường của yếu tổ ngôn từ được sử dụng, ta gọi là ý nghĩa biểu trưng nghệ

thuật" [18, tr 104-105] Nghĩa biểu trưng nghệ thuật là nghĩa thuộc văn bản, được hình thành trong văn bản, do những mỗi quan hệ nhất định của hệ thống văn bản

quy định Việc chỉ ra được giá trị biểu trưng cũng như quả trình biểu trưng hóa

nghệ thuật- quá trình tạo nghĩa mới, nghĩa biểu trưng nghệ thuật của những yếu

tố, những chỉ tiết hiện thực cũng chính là một trong những cách tiếp cận có hiệu quả đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm, các thể loại văn học

Trang 36

Dựa vảo tấn số xuất hiện và khả năng biểu trưng hỏa của các hình ảnh,

cũng trong bài viết trên, Trương Thị Nhàn đã chỉ ra rằng, cách thức xây dựng

biểu trưng trong ca dao chủ yêu dựa vào hai cơ chế: cơ chế lựa chọn và cơ chế kết hợp, với ba biện pháp liên tưởng phổ biến: so sánh, ẩn dụ và hoán dụ Chúng tôi

tiếp thu cách hiểu này và vận dụng vào việc phân tích, xác định nghĩa biểu trưng

một số bài ca dao cụ thé trong ca dao Đông bằng Sông Cứu Long

1.3.2.1 Cơ chế lựa chọn

Nguyên tắc của sự lựa chọn trong ngôn ngữ nghệ thuật là phải đảm bảo khả năng liên tưởng cho một hình thức vat chất cụ thể về nội dung và tỉnh than trừu

tượng cần được biểu đạt Sự lựa chọn các vật thể vào mục đích biểu trưng của ca

đao có yêu cầu riêng của nó Trước hết đó là cái quen thuộc, cái gần gũi cái dễ wip, dé thay, dé hình dung đối với cá người đọc và người nghe ca dao Có hiện tượng nỗi bật về tần số xuất hiện cũng như giá trị biểu trưng của một số vật thẻ Lại cỏ những hiện tượng vật thể chí xuất hiện một lần và cả những vật thể hoàn

toản vắng mặt

Đi vào biểu trưng cho một nội dung ngữ nghĩa cụ thể nào đó, vật thể được

lựa chọn phải đảm bảo mang những nét thuộc tính khách quan tương đồng với cái

được đối chiếu, so sánh, biểu hiện, vẻ hình thức công dụng, phạm vi sử dụng

cũng như phạm vi của mối liên hệ với đời sông tình cảm con người Sự phong

phú, đa dạng của những vật thể được bản tay con người tạo ra, với những thuộc

tính cũng đa dạng, liên quan đến khả năng và trình độ tạo lập của con người, mỗi

vat thể trong những lẫn xuất hiện khác nhau, có thể biểu hiện được nhiều nét nghĩa khác nhau, có khi là ngược chiều nhau, kiểu áo- “áo rách”, “áo lành”; nhà-

“nhà ngôi”, "nhà rạ”

Vi dụ: Afmthau chùi sáng, để xuống ván cái xeng,

Em đừng chê anh áo rách quân phèn,

Con nhà ruộng rẫy: có liền hơn ai?

(20, 1.427]

Trong đó, hinh ảnh “chiếc áo” vốn bao đời là vật dụng cả nhân quen thuộc, khó thể tách rời, nó không đơn thuẫn đẻ chỉ trang phục mả còn tượng trưng cho.

Trang 37

diện mạo, cái vẻ bé ngoài của con người Trong bài ca dao, “ao rich vai" có thể là

hình ảnh miễu tả thực nhưng cũng có thể hiểu là biểu trưng cho sự nghèo khó,

sang hèn

Một điều kiện quan trọng chỉ phối sự lựa chọn của ca dao người Việt nói

chung va ca dao Đỗng bằng Sông Cứu Long nỏi riêng lá điều kiện về dân tộc, lịch

sử, xã hội, liên quan đến đời sống tâm lÿ- tỉnh cảm của người lao động qua nhiễu

thời đại: tập quán sinh hoạt, trình độ tư duy, quan niệm đạo đức, điểu kiện sinh hoạt và lao động sản xuất Tại sao chọn cái do làm vật trao gửi trong tình yêu, con thuyền để nói đến thân phận của người phụ nữ, tại sao lai chọn cái đình, ngôi chủa để đã phá thói vô luân thường đạo lý đều có cơ sở lịch sử, dân tộc và xã hội của nó

1.3.2.2 Cơ chế kết hợp

Tham gia vào câu trúc tuyển tính của văn bản tác phẩm, mỗi yếu tổ ngôn ngữ phải phủ hợp với những yếu tổ còn lại của cá cấu trúc ấy theo nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống, bao gồm kha ning cộng hưởng, điều chính vẻ mặt ngữ

nghĩa giữa các yếu tổ thuộc văn bản

Nỗi bật lên trong đỏ là vai trỏ của những yếu tố miêu tả Những yếu tổ miêu tả đi kèm các vật thể nhân tạo trong ca dao thường không có giá trị tái hiện vật thể, ma thiên về giá trị biếu cảm Thể giới của ca dao là thể giới tinh cam, cua

những ước vọng về hạnh phúc, tỉnh yêu Các yếu tố miêu tả thường mang màu

sắc câm xúc, bao gồm những trạng thái, mức độ của tình cảm, cảm xúc: con

thuyền “ngã nghiễng”, “bơ vơ”, ngơ ngắn”, “nhớ sông”, “nhớ bến”, cái áo “xông hương”, cái chan “loan”, mâm *son”, đũa *ngọc” Những yểu tố

dụng “khoanh vùng” phạm vỉ biểu vật cua tir, vửa mở rộng phạm vi biểu niệm và nhất là đồng thời có tác dụng đưa vật thể nhân tạo vào thể giới của đời sống tỉnh

thắn, làm cho chúng mang những mảu sắc, ý tưởng mới

Bên cạnh đó, việc sử dụng các biện pháp liên tưởng đan xen, thong qua

việc sử dụng những yếu tổ liên kết như “là”, “như”, “khác gì”, 'coi bằng”, “chẳng,

hơn”, "còn hơn và nhiều kiểu so sảnh ngầm khác, đặt vật thể nhân tạo trong,

Trang 38

tương quan với những nhân tố thuộc con người cũng lả cách để các vật thể nhân

tạo trở thành những biêu trưng nghệ thuật

Cấu trúc sóng đôi, sóng ba giữa những yếu tổ có cùng phạm vi biểu vật, biểu niệm cũng lä một trong những nhân tố quan trọng hình thành nên nghĩa biểu

trưng nghệ thuật cho những yếu tổ thuộc cấu trúc Bên cạnh đỏ, việc xuất hiện trong những mô- típ, công thức quen thuộc đã mang lại nghĩa biểu trưng phong

phú cho các vật thể nhân tao ca dao Đẳng bằng Sông Cửu Long

1.4 Các khái niệm “tự nhiên”, *vật thể nhân tạo”

“Trong luận văn, chủng tôi sử dụng khải niệm “tự nhiên” và “vật thể nhân

tạo” tương đổi nhiều lẳn Trong phẩn nảy, chúng tôi thiết nghĩ cần nên thống nhất

về phạm vi giới hạn của nó, Theo đó, “tự nhiên” được hiểu là những sự vật, hiện tượng liên quan đến hiện tượng tự nhiên, vat thé va try va liên quan đến địa hình Voi cách hiểu như thễ, đồng vật và thực vật không thuộc đối tượng khảo sát của luận văn này Còn “vật thể nhân tạo” được hiểu nôm na là những gỉ đo con người tạo ra và có thể tạo ra, bao gồm: vật dụng phục vụ sinh hoạt, di chuyến, vat ding

để sản xuất và những công trình kiến thiết

1.8 Tiểu kết chương 1

Nhin chung, những cơ sỡ lý thuyết có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến

để tài la rat nhiều Trong khuỗn khổ luận văn sẽ không thể nảo giới thiệu đây đủ,

phân tích một cách thấu đáo, chất chế các lý thuyết ấy Nhưng tựu chung, chủng

tôi muốn đề cập đến hai cơ sở lý thuyết chính, gồm: lý thuyết về biểu trưng và

những nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ ca dao Đông bằng Sông Cửu Long Đó

cũng lả đổi trong nghiên cứu chủ yếu của luận văn Từ việc tìm hiểu được thói

quen sử dụng ngôn ngữ, những hình ảnh, cấu tử được sử dụng trong mot bai ca đao Đẳng bằng Sông Cửu Long cùng những với việc nghiên cứu, tìm hiểu những kiến thức văn hóa, liễn ngảnh để tìm ra những tầng sâu ý nghĩa biểu trưng mả tác gid din gian muốn hướng tới Qua đây, chúng tôi hy vọng tìm được những mỗi

dây liên hệ, những “minh chứng” tương đối xác thực về mặt ngôn ngữ và nội

dung hơn là việc tiếp cận nội dung, ý nghĩa của bài ca dao theo hưởng văn học đân gian

Trang 39

“Từ thưở xa xưa, con người sông trong mối quan hệ chặt chẽ, hải hỏa với tự

nhiên Họ phải đối phó vả tân dụng thể giới tự nhiên để tổn sinh Sự tác đông qua lại đó đã tạo nên nền văn hóa riếng ở từng dân tộc, từng vùng miễn Quá trình này

để lại nhiều dấu ấn trong nếp nghĩ, lỗi sống Cùng với tắt cả các dân tộc trên thế

giới, hình ảnh tự nhiên đã đi vào tâm thức ngôn ngữ của người Việt, với những nội dung và biểu hiện phong phủ Điễu này thể hiện rõ nét trong các sáng tác đân

gian Khảo sát ca dao Đông bằng Sông Cửu Long, chất liệu biểu trưng là hình ảnh

tự nhiên xuất hiện tương đối phong phủ, với 34 hinh ảnh Nó bao gồm cả những

vật thể hữu hình, con người có thể nhận biết, cầm, năm ; vả những hiện tượng

siêu nhiễn, võ hình, chỉ cô trong tâm tưởng Nhóm chất liệu này được dùng biểu

trưng cho rất nhiều vấn để về mỗi quan hệ nhân sinh Trong cuộc đấu tranh sinh tổn, con người thật nhỏ bé khi đứng trước thiên nhiên Đấy được coi như những

chướng ngại, thứ thách mả con người phải vượt qua Những hình ánh như sóng, giỏ, nủi cao, bién rộng, sông dài thường được dùng với nét nghĩa biểu trưng

như thế

lại chuyến tải những nội dung ý nghĩa khác nhau

2.1.1 Thẳng kê, phân loại

Trong số 34 hình ảnh và nhóm hình ảnh tự nhiên thống kẻ được trong ca

ảnh), hiện tượng tự nhiên (7 hình ảnh) Tuy nhiên, cũng còn rất nhiều hình ảnh

mang tính “hai mang”, nghĩa là khó phân biệt chúng một cách rạch rồi cũng như xếp chúng thuộc nhóm nào (9 hình ảnh) Đó là những hình ảnh tự nhiên mang

Trang 40

tính chất siêu nhiên, trừu tượng Chẳng hạn như: nhóm hình ảnh chỉ phương

hướng “Đông, Tây, Nam Bắc", nhóm hình ánh chỉ bốn mùa “Xuân, Hạ, Thu,

Đông”, hay “đương gian”, “âm phủ”, “ông thần”, “ông tơ, bà nguyệt” thì đơn

nhóm các hình ảnh tương tự, gẩn gũi hay có mỗi quan hệ với nhau thành một

*tiểu mục” Ching hạn như các hình anh “ao, muong, ving, bau ” di cing nhau;

“núi (sơn), non” đi cùng nhau Theo đó, ta được bảng thống kê sau:

Địahình | Vậtthế [ Hiệntượng [Khó xác định tựnhiên | vũtrụ | tựnhiễền

Số lượng 10 8 7 9

2.0.2 Tan sỗ xuất hiện

Khảo sắt ca dao Đông bằng Sông Cứu Long, chúng tôi thống kê được tổng

công 583 bài ca dao có xuất hiện hình ánh tự nhiễn Trong đó có một số hình ảnh

tự nhiên có tân số xuất hiện cao và được dùng với nghữa biểu trưng rất phong phủ

Đó là các hình ảnh như: nước, trời, giỏ, sông, đắt, trăng, mưa, nắng Kết quá thông kế được một số hình ảnh tự nhiên có tẫn số xuất hiện cao như sau:

6 |Ao, mương vũng, bầu |32 5.4856

kinh, rạch, gảnh, bung, dia

Ngày đăng: 17/06/2023, 19:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Vân Anh (2014), Tín hiệu ngôn ngữ thẩm mỹ trong ca dao Nam Trung Bộ (Luận án tiến sĩ Ngôn ngữ học), Trường Đại học KH- XH&amp;NV- Đại học Quốc gia TP Hỗ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín hiệu ngôn ngữ thẩm mỹ trong ca dao Nam Trung Bộ
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Anh
Nhà XB: Trường Đại học KH- XH&amp;NV- Đại học Quốc gia TP Hỗ Chí Minh
Năm: 2014
15.Lý Tùng Hiếu (2012), Ngón ngữ văn hỏa vàng đất Sài Gòn và Nam Bộ, Nxb Tổng hợp TP Hỗ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngón ngữ văn hỏa vàng đất Sài Gòn và Nam Bộ
Tác giả: Lý Tùng Hiếu
Nhà XB: Nxb Tổng hợp TP Hỗ Chí Minh
Năm: 2012
16.Nguyễn Duy Hinh (2005), [ăn minh Đại Việt, Nxb Văn hóa - Thông tin &amp; 'Viện Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ăn minh Đại Việt
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2005
17.Nguyễn Thị Ngân Hoa (2005), Sự phát triể trang phục trong ngôn ngữ thơ ca Liệt nam, Luận án Tiễn sĩ, Viên Ngôn ngữ học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triể trang phục trong ngôn ngữ thơ ca Liệt nam
Tác giả: Nguyễn Thị Ngân Hoa
Nhà XB: Viên Ngôn ngữ học
Năm: 2005
18.Vũ Thị Thu Hương (tuyển chọn) (2007), Ca đao Liệt Nam những lời bình, NXb Văn hóa- Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca đao Liệt Nam những lời bình
Tác giả: Vũ Thị Thu Hương
Nhà XB: NXb Văn hóa- Thông tin
Năm: 2007
19.Nguyễn Xuân Kinh (2006), Thi pháp ca dao, Nxb Khoa học Xã hội, Hả Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp ca dao
Tác giả: Nguyễn Xuân Kinh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2006
20.Khoa Ngữ văn, Trưởng Đại học Cần Thơ (1997), [ăn học dân gian Đẳng bằng Sông Cứu Long, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ăn học dân gian Đẳng bằng Sông Cứu Long
Tác giả: Khoa Ngữ văn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
31.Định Trọng Lạc (1994), 99 phương tiện và biện pháp tụ từ tiếng Liệt, NXb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phương tiện và biện pháp tụ từ tiếng Liệt
Tác giả: Định Trọng Lạc
Nhà XB: NXb Giáo dục
Năm: 1994
33.Hỗ Liên (2008), Một hướng tid} Nam, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một hướng tid} Nam
Tác giả: Hỗ Liên
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2008
24.Lê Đức Luận (2009), Cẩu trúc ca dao trừ tình người Việt, Nxb Đại Học Hud, Hud Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩu trúc ca dao trừ tình người Việt
Tác giả: Lê Đức Luận
Nhà XB: Nxb Đại Học Hud
Năm: 2009
25.Đoàn Tiên Lực, "Lửa: Từ biểu tượng văn hóa đến biểu tượng ngôn từ”, Tạp chỉ Ngiễn cửu văn hóa. huup/jhue.edu.vw/viispeUid15S/LUA--TLBIEU-TUONG-V AN-HOA-DEN-BIEU-TUONG-NGON-TU/yi nghia của hệ biểu tượngcận văn hỏa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lửa: Từ biểu tượng văn hóa đến biểu tượng ngôn từ
Tác giả: Đoàn Tiên Lực
Nhà XB: Tạp chỉ Ngiễn cửu văn hóa

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  ảnh  chảy-  cối,  sảng-  nia,  thủng-  nia...  để  làm  biểu  trưng  cho  mối  quan  hệ  cộng  sinh,  gắn  bó  của  con người  trong  xã  hội - Biểu trưng trong ca dao đồng bằng sông cửu long
nh ảnh chảy- cối, sảng- nia, thủng- nia... để làm biểu trưng cho mối quan hệ cộng sinh, gắn bó của con người trong xã hội (Trang 101)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w