1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ VÀ KIỂM SOÁT TIẾNG ỒN

99 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ô Nhiễm Không Khí Và Kiểm Soát Tiếng Ồn
Tác giả Robert Jacko, Timothy La Breche
Người hướng dẫn Ths. Hồ Văn Sơn
Trường học Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất
Chuyên ngành Kỹ thuật môi trường
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ô nhiễm không khí là sự hiện diện của các chất rắn, chất lỏng hoặc chất khí trong không khí ngoài trời với số lượng gây hại hoặc gây bất lợi cho người, động vật, thực vật, tài sản hoặc ảnh hưởng không tốt đối với việc hưởng thụ cuộc sống và tài sản.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT

MÔN: Kỹ thuật môi trường

BÀI TIỂU LUẬN

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện nhóm 4:

Ths: Hồ Văn Sơn 1, Vương Duy Hưng

Lớp: Lọc hóa dầu B-K54 2, Lê Thanh Lam

3, Trương Bích Mạnh

4, Lê Văn Quân

5, Nguyễn Thanh Sơn

6, Đoàn Mạnh Thành

7, Trịnh Thị Minh Thư 8,Nguyễn Quang Tuấn

9, Doãn Anh Tuấn

10, Nguyễn Hữu Tuần

Hà Nội, ngày tháng 3 năm 2012

Trang 2

CHƯƠNG 4

Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ VÀ KIỂM SOÁT TIẾNG ỒN

ROBERT JACKO và TIMOTHY LA BRECHE

Sở Xây dựng, Đại học Purdue, West Lafayette, Indiana

Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ

Ô nhiễm không khí là sự hiện diện của các chất rắn, chất lỏng hoặc chất khí trong không khíngoài trời với số lượng gây hại hoặc gây bất lợi cho người, động vật, thực vật, tài sản hoặcảnh hưởng không tốt đối với việc hưởng thụ cuộc sống và tài sản Ô nhiễm không khí bêntrong nhà ở hoặc những nơi công cộng được thảo luận ở phần chất lượng không khí ởchương 5, "các tình trạng khẩn cấp về môi trường và biện pháp ngăn chặn " của Pedro M.Armenante, James P Mack trong cuốn Kỹ thuật Môi trường, tái bản lần thứ 6: Phòng chống

và ứng phó các căn bệnh do nước, thực phẩm, đất, và không khí ô nhiễm gây nên Cácthành phần của không khí sạch được thể hiện trong Bảng 4.1 Các tác động của không khí ônhiễm ảnh hưởng bởi thành phần và nồng độ của chất gây ô nhiễm và tương tác giữ chúngcũng như tốc độ và hướng gió, độ ẩm, ánh sáng mặt trời, lượng mưa, cũng như thay đổiứng theo nhiệt độ không khí, các phản ứng quang hóa, chiều cao mà tại đó chất gây ônhiễm được thoát ra, và độ nhạy cảm của từng yếu tố và vật liệu cụ thể của chất gây ônhiễm đơn lẻ và kết hợp Ô nhiễm không khí không phải là một hiện tượng mới gần đây Nó

Trang 3

đã được công nhận như là nguồn gốc của sự khó chịu trong nhiều thế kỷ như khói, bụi vàmùi khó chịu Các giải pháp của bất kỳ vấn đề ô nhiễm không khí là phải tránh chuyển chấtgây ô nhiễm đến nơi khác, trước khi xử lý hoàn toàn chất gây ô nhiễm

Bảng 4.1: Thành phần của không khí sạch và khô, gần mực nước biển:

Ảnh hưởng tới sức khỏe

Con người sống phụ thuộc vào không khí Chúng ta thở khoảng 35 lb không khí mỗi ngày

so với mức tiêu thụ 3 đến 5 lb nước và 1 ~ lb HF (khô) của thực phẩm Ô nhiễm trong khôngkhí có thể đặt một gánh nặng rất lớn lên trên hệ thống hô hấp và góp phần tăng bệnh suất

và tử vong, đặc biệt là các cá nhân nhạy cảm trong dân số chung Các hạt bụi lớn hơn 3micron đường kính có khả năng xâm nhập vào trong các thùy phổi phế quản, các hạt nhỏhơn (ít hơn 3 micron) xâm nhập vào trong các phế nang, vùng ngực hoặc dưới ngực củađường hô hấp, gây ra nhiều ảnh hưởng có hại Ảnh hưởng sức khỏe do các bệnh về phổi do

ô nhiễm không khí được thảo luận trong Chương 3: "Kiểm soát các loại bệnh do nguyên

Trang 4

nhân không khí và đất đai" bởi Nabarun Dasgupta cuốn Kỹ thuật Môi trường, tái bản lần thứsáu: Phòng chống và ứng phó các căn bệnh do nước, thực phẩm, đất, và không khí ô nhiễmgây nên

Một số yếu tố chủ yếu gây Ô nhiễm không khí được đưa ra trong Bảng 4.2 Các bệnh do ônhiễm không khí có các triệu chứng đặc trưng là ho và đau họng, kích thích mắt, mũi, họng,đường hô hấp, và căng thẳng về tim Các biểu hiện thời tiết tiêu biểu là thường có sương

mù, nhiệt độ đảo ngược, và không có gió Hiện nay, rất khó để thành lập một hệ thống giámsát quy định cấp độ mà các chất gây ô nhiễm cụ thể trở thành một mối nguy hiểm về sứckhỏe, nhưng ta có thể tìm thấy các mẫu không khí co thành phần vượt mức cho phép trongkhông khí ở mọi nơi xung quanh Các yếu tố khí tượng, các mẫu chuẩn, tần suất và cácphương pháp đo lường, bao gồm cả tính chính xác và độ chính xác của chúng, tất cả cácyếu tố tham gia vào việc tính dữ liệu Tuy nhiên, tiêu chuẩn để bảo vệ sức khỏe cộng đồng

là cần thiết và đã được thành lập (Xem Bảng 4.5 thông qua 4,7 sau chương này)

Cần lưu ý rằng trong khi hút thuốc lá ta đã góp phần gây bệnh hô hấp do ảnh hưởng củaviệc hút thuốc, các yếu tố như hút thuốc, ô nhiễm không khí, khí hậu, tuổi tác, giới tính, vàcác điều kiện kinh tế xã hội ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh hô hấp trong dân số chung Phơinhiễm nghề nghiệp cũng đóng góp đáng kể trong một số trường hợp Tuy nhiên, hiệu ứng

có thể được giảm thiểu bằng các kỹ thuật và kiểm soát cá nhân Trường hợp kiểm soát kỹthuật không đầy đủ, mặt nạ có thể cung cấp sự bảo vệ tốt nếu dung loại phù hợp và nồng độcủa chất gây ô nhiễm không khí trong phạm vi cho phép, cung cấp trang bị, duy trì, và thực

sự được sử dụng Tuy nhiên, mặt nạ không bao giờ nên được coi là một thay thế tươngđương với việc kiểm soát kỹ thuật Mà chỉ nên được sử dụng sau khi xem xét kỹ lưỡng kiểmsoát kỹ thuật đã xác định rằng quá trình sửa đổi và kiểm soát kỹ thuật là hoàn toàn khôngkhả thi hoặc các nguy cơ đối với sức khỏe con người gắn liền với sự thất bại của một kiểmsoát kỹ thuật là quá nhiều

Ảnh hưởng đến kinh tế

Các chất ô nhiễm trong không khí gây thiệt hại thiết bị, tài sản, và các cơ sở, ngoài chi phí y

tế tăng lên, bị mất tiền lương, và thiệt hại cây trồng Lưu huỳnh và ô nhiễm formaldehyde tấncông mái nhà bằng đồng và sơn kẽm Thép ăn mòn nhanh hơn 2 - 4 lần ở khu vực đô thị và

Trang 5

công nghiệp do độ ẩm, sulfat, clorua, và ô nhiễm amoni Các thiết bị liên lạc điện tử thôngthường trở nên không đáng tin cậy trừ khi dịch vụ thường xuyên, quần áo vải, cao su, nhựa,

và da bị suy yếu, sơn, chì bị cấm trong xây dựng nhà nhưng vẫn được sử dụng trong cácứng dụng công nghiệp nhất định, bị suy thoái bởi hydrogen sulfide và dầu sơn dioxide lưuhuỳnh và các bề mặt xây dựng và các vật liệu (đặc biệt là đá cacbonat dioxide lưu huỳnh) vàcác tác phẩm nghệ thuật bị ăn mòn và xấu đi Ngoài ra, các hạt (bao gồm cả khói thuốc) tại ônhiễm không khí gây ra xói mòn, tăng tốc độ ăn mòn, và quần áo đất, các tòa nhà, xe hơi, vàcác tài sản khác, cần làm sạch thường xuyên hơn và các thiết bị không khí trong nhà lọc cầnthay thường xuyên hơn Ozone làm giảm tuổi thọ hữu ích của cao su và chất đàn hồi khác,tấn công một số sơn, làm bay mầu thuốc nhuộm, và phá hoại hàng dệt may Đọc phần :

"tính toán về sự giảm chất lượng Vật liệu" sau chương này

Một lò phản ứng quá nóng, van an toàn mở ra, và 4 ~ HF lb dioxin thải ra trong 30 phút vào khí quyển Khoảng 50 người đã được nhập viện, 450 trẻ em xuất hiện bệnh ngoài da, 200 gia đình (735 người) đã được sơ tán, và 40.000 loài động vật bị ô nhiễm đã tử vong (Conserv News , Tháng 12 /

1, 1976, pp 8 –9; Associated Press, Seveso, Italy, July 10, 1977) Ô nhiễm đất và thảm thực vật trên

272 mẫu Anh loại bỏ và thiêu hủy Đến tháng Bảy năm 1977, nhiều gia đình đã được rửa sạch và 500 người đã sẵn sàng để được nhận Không có bệnh hoặc các triệu chứng như chloracine (viêm da) và làm tăng khả năng Đột quỵ tim mạch [P Bertazzi et al., Am J Epidemiol , 129, 1187 (1989).]

Trường hợp ung thư liên quan đến bụi phóng xạ vượt quá so với tuổi thọ của dân số của châu Âu

và Liên Xô được ước tính ở mức 800.000 - 950.000 (R H Nussbaum) Bình luận về “Health Effects from Radiation,” Environ Sci Technol (July 1988) Nguy cơ thực tế vẫn chưa được biết đến Số lượng tử vong do ung thư vượt quá ước tính ở mức 17.000 (T G Davis, “Chernobyl: The Aftermath,” J Environ Health , (March/April 1989): 185 –186.) Có khả năng 150.000 người phải chịu một số loại bệnh tuyến giáp, trong đó 60.000 là trẻ em,trong đó 13.000 người bị bệnh rất nghiêm trọng .Ước tính 6000 công nhân bị bệnh (F X Clines, “A New Arena for Soviet Nationalism: Chernobyl,” New York Times , Tháng 12 / 30, 1990, p 1.) Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế xác nhận tháng 5 năm 1991 Đồng thời có ý kiến cho rằng chủ yếu gây hại là do lo lắng và căng thẳng chứ không phải là bệnh lý."Mười năm sau khi Chernobyl", Ann Med., (Tháng 4 năm 1996) Ung thư tuyến giáp tăng đáng kể trong khu vực của Nga, Belarus, Ukraine, và Bryansk.Sự nhiễm bẩn phóng xạ của Gỗ và sản phẩm của nó ", J Bảo vệ môi trường Phóng xạ , 55 (2), (2001): 179 – 86.] Ô nhiễm gỗ và phân phối các sản phẩm chiếu xạ, chẳng hạn như đồ gỗ và gỗ sau đó có thể sẽ dẫn đến gia tăng tiếp xúc với bức xạ

Trang 6

Địa điểm Số người chết Số người mắc

165 130 200-400 152,168

2 -

Không thể xác định , hậu quả dài hạn

-

-350 150

Có thể do khí SO2 và sự oxy hóa các hạt bụi

Gia đình và do sương mù

Gia tăng ô nhiễm Gia tăng ô nhiễm Lượng SO2 trung bình tăng cao (tối đa 1.5 ppm) Gia tăng ô nhiễm và sự khuếch tán

Nguyên chưa xác định Được cho là do sự cháy bãi rác thành phố

Dioxin, xuất hiện không mong muốn trong quá Trình sản xuất 2,4,5-T và hexachlorophene — một loại

vi khuẩn

Rò rrit methyl isocyanate từ nhà máy sản xuất thuốc trừ

sâu

Do nổ và cháy

Bảng 4.2: Một số thông tin ô nhiễm

Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (EPA) đã thông báo rằng cần thiết định kỳ đánh giá chi phí

và lợi ích của Đạo luật Không khí sạch (CAA) Những đánh giá này đã xem xét lại và được

Trang 7

xem là có tiềm năng.Trong một đánh giá hồi cứu của các chi phí và lợi ích của CAA từ năm

1970 và 1990, lợi ích tạo thu nhập trung bình là 22,2 nghìn tỷ USD (năm 1990 đô la) đãđược ước tính Chi phí tuân thủ trong cùng thời kỳ ước tính đạt 0,5 nghìn tỷ USD.Lợi ích cụthể bao gồm trong các ước tính như sau:

- Nông nghiệp; thặng dư dòng do việc giảm ozone, $ 23 tỷ

- Chỉ số IQ (chỉ số thông minh, bị mất điểm IQ + trẻ em với chỉ số IQ <70 điểm), $ 399

tỷ

- Viêm phế quản mãn tính, 3,3 nghìn tỷ USD

- Giảm tỷ lệ tử vong do giảm hạt vật chất, 16,6 tỷ USD

Tất cả các giá trị này là giá trị trung bình và phạm vi có sự không chắc chắn do liên quan vớiước tính mỗi tham số khác nhau Ví dụ, 5 % "thấp" lợi ích liên quan với thời gian của 1970đến 1990 là 5,6 nghìn tỷ đồng, trong khi 95 % "cao" lợi ích là 49,4 nghìn tỷ USD Các chi phíliên quan đến việc tuân thủ các CAA dễ dàng thành tiền và có độ biến thiên ít hơn nhiều bởi

vì chúng chủ yếu liên quan đến thiết kế thiết bị kiểm soát ô nhiễm, mua, và bảo trì

Kiểm soát chi phí khác bao gồm chính sách phát triển, thực thi quy định, và quy định giámsát ô nhiễm, tất cả đều được chi trả bởi các cổ đông, khách hàng, và người nộp thuế

Chi phí cá nhân hàng ngày của ô nhiễm không khí có thể được đếm theo từng loại thuốc đểđiều trị triệu chứng y tế ô nhiễm không khí cũng như ngày làm việc bị mất và giảm năng suất

và chất lượng của cuộc sống

Ảnh hưởng đến thực vật

Đã ý kiến đề xuất rằng thực vật được sử dụng như các chỉ số chất gây ô nhiễm hiện có vì độnhạy cao với chất gây ô nhiễm cụ thể nhất định Hydrogen fluoride, lưu huỳnh dioxit, khói,ozone, và ethylene là một trong các hợp chất có thể gây tổn hại cho các nhà máy Sương

mù đô thị có khả năng chứa carbon monoxide, bồ hóng, bụi và ozone từ phản ứng của ánhtrên oxit nitơ, hydrocacbon, và các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi Đánh giá thiệt hại cho thấymất mát ở đây là rất đáng kể, mặc dù các yếu tố khác như độ màu của đất, nhiệt độ, ánhsáng, và độ ẩm cũng ảnh hưởng đến việc sản xuất Ozone đã được chỉ ra suy giảm cáccánh rừng và gây thiệt hại cho nhiều sản phẩm nông nghiệp khác Trong số các cây trồng bịảnh hưởng là cây ngô (New Jersey), cây cam (Florida), hoa lan (California), và hoa trang tríkhác nhau, cây bóng mát, cây thường xanh, cỏ linh lăng, ngũ cốc, thuốc lá, cam chanh, raudiếp (Los Angeles), và nhiều loại cây khác nữa Tại Tiệp Khắc hơn 300 mi2 của rừng

Trang 8

thường xanh đã được báo cáo bị hư hỏng bởi khói bụi Sương mù ở Los Angeles là do việcphản ứng quang hóa các oxit nitơ, hydrocarbon và oxy Trong trường hợp địa hình và khítượng học địa phương ức chế sự phân tán , sương mù có thể tích tụ với nồng độ không tốtcho con người Sương mù quang hóa cũng đã được báo cáo ở New York, Nhật Bản,Mexico City, Madrid, Vương quốc Anh, và các khu vực tắc nghẽn khác với lưu lượng xe cơgiới cao Các đám mây nâu xuất hiện do dư thừa NOx, ưu tiên hấp thụ ánh sáng từ quangphổ màu xanh dương - màu xanh lá cây Sương mù có mầu nâu là do sự kết hợp giữa cácmầu và nó có thể làm giảm tầm nhìn và thẩm mỹ.

Tổn thương cho cây trồng do ozone có thể nhận biết qua một số biểu hiện như xuấthiện các khoang đốm, đốm và trắng xen kẽ , các vết bỏng trên các loài cây lá kim, và ứcchế sự tăng trưởng Peroxyacyl nitrate (PAN) gây tổn thương cho cây có các biểu hiện nhưcác lớp bong, lớp bạc, hoặc vàng úa trên mặt dưới của lá Tổn thương do dioxide lưu huỳnhbiểu hiện là các khoang trắng và hoại tử giữa các tĩnh mạch, ức chế sự tăng trưởng, vàgiảm năng suất Tổn thương do Hydrogen florua có biểu hiện tip lá cây và biên lá bị vàng úa,thu hẹp, ngừng tăng trưởng đột ngột, và giảm năng suất Xem them phần "Acid Rain (Mưaaxít)" sau chương này

Ảnh hưởng đến động vật

Muối fluor đã gây ra tổn thương hệ xương gia súc trong khu vực muối flor bị hấp thụ bởithảm thực vật mà động vật ăn phải Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm trên động vật chothấy tác dụng gây hại khi cho động vật khi cho chúng tiếp xúc ở mức độ thấp các chất nhưozone, chất oxi hóa, và PAN Chì, Asen cũng liên quan đến việc ngộ độc ở cừu, ngựa vàgia súc Tất cả chim hoàng yến và 50% về các loài động vật tiếp xúc với khí hydro sunfuatrong sự cố ở Poza Rica, Mexico (xem Bảng 4.2) đã được báo cáo là đã tử vong Cácnghiên cứu về tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong đang được tiến hành để xác định tác độngthực tế của chất gây ô nhiễm không khí trên động vật

Tính thẩm mỹ, khí hậu, và ảnh hưởng liên quan

Trang 9

Trong phạm vi các cộng đồng có liên quan, khói, bụi và sương mù, có thể dễ dàng nhìn thấyảnh hưởng của chúng và đã gây ra mối quan tâm lớn nhất Chúng giảm tầm nhìn, việc chekhuất tầm nhìn cũng là một trong những nguy cơ cao gây tai nạn cho con người khi dichuyển trên không , đường bộ và đường thủy Chúng làm bẩn các bức tượng, quần áo, cáctòa nhà, và các tài sản khác làm tăng chi phí của cá nhân và tập thể và đồng thời ảnh hưởngmạnh mẽ việc người dân để các xuất các ý kiến đòi hỏi các hành động bảo vệ môi trườngcủa chính phủ và ngành công nghiệp Vấn đề giải quyết ô nhiễm không khí thường làm tănggiá thành sản phẩm đối với người tiêu dùng, nhưng nếu không giải quyết ô nhiễm sẽ gâyhậu quả còn tốn kém hơn nữa

Ô nhiễm không khí, do tự nhiên hay nhân tạo đều ảnh hưởng đến khí hậu Bụi và các hạt vậtchất khác trong không khí là các nhân nhưng tụ qua đó tạo thành các giọt nước và do đóđóng một vai trò trong việc tăng tuyết rơi và lượng mưa Mây mù, bụi, khói và bồ hóng làmgiảm lượng bức xạ mặt trời đến bề mặt trái đất Sol khí thải từ máy bay phản lực đã ngănchặn một số tia mặt trời

Một số khí có mùi ảnh hưởng đến sự hưởng thụ cuộc sống và tài sản Trong một số trườnghợp, một số cá nhân sẽ có ảnh hưởng nghiêm trọng đối với vấn đề trên Các chất khí có liênquan bao gồm hydro sunfua, lưu huỳnh điôxit, aldehyt, phenol, polysulfides, và một số olefin.Thiết bị kiểm soát ô nhiễm không khí là chất ô xi hóa hấp thụ nhiệt và carbon có sẵn để loại

bỏ hoặc kiểm soát các hợp chất cần ngăn chặn

Ảnh hưởng của khí Dioxit Cacbon và một số khí khác đối với vấn đề ấm lên toàn cầu Năng lượng ánh sáng được truyền đến trái đất với hình thức các bức xạ có bướcsóng ngắn, chúng bị bề mặt trái đất hấp thụ và phản xạ trở lại bầu khí quyển là bức xạ hồngngoại có bước sóng dài hoặc dưới dạng năng lượng nhiệt (Bức xạ cực tím có tác dụng rất ít

về sự nóng lên của trái đất) Tuy nhiên, carbon dioxide, methane, chlorofluorocarbons(CFC), những đám mây và hơi nước trong khí quyển, và các oxit nitơ có xu hướng ngăngcác tia này phản xạ, gây ra một sự phản xạ nhiệt trở lại trái đất và gây sự nóng lên của bầukhí quyển, đại dương, và bề mặt trái đất và được gọi là hiệu ứng nhà kính của trái đất TheoEPA, carbon dioxide tạo nên 49% hiệu ứng nhà kính, so với 18% methane, CFC 14%, oxitnitơ 6%, và các loại khí khác 13% Theo các ước tính khác thì tỉ lệ ảnh hưởng của các chấtnhư carbon dioxide 57%, CFC 25%, 12% khí mê-tan, và khí nitrous oxide 6 % Sự tác độnglien tục của các chất này còn tùy thuộc vào nồng độ của từng chất trong khí quyển vì tất cả

Trang 10

các loại khí gây hiệu ứng nhà kính có các mức ảnh hưởng khác nhau đối với sự nóng lêncủa trái đất Một số hợp chất nhân tạo là loại khí gây hiệu ứng nhà kính gây ảnh hưởngnghiêm trọng hơn rất nhiều so với các hợp chất khác trong tự nhiên Ví dụ như chất Nitơoxit, được tạo ra cả trong tự nhiên và do nhân tạo, chúng có ảnh hương gấp 310 lần so vớikhí cacbonic Hydrofluorocarbon (HFC) 23, một chất làm lạnh nhân tạo, có ảnh hưởng gấp11.700 lần chất carbon dioxide.

Các ngành công nghiệp, nhà máy điện, và lượng khí thải do ô tô và việc đốt cháy các nhiênliệu hóa thạch và đốt rừng góp phần tăng lượng khí carbon dioxide và các khí khác vào khíquyển Các nguồn cung cấp dioxide carbon là các nguồn nằm ngoài lượng do tự nhiên tạo

ra trong quá trình hô hấp và phân hủy Khí mê-tan được sản xuất bởi sự phân hủy của chấthữu cơ trong đất ngập nước, ruộng lúa, động vật nhai lại và mối mọt, cháy rừng và đốt gỗ,bãi rác, và khí khai thác và sử dụng Nguồn chlorofluorocarbon bao gồm các chất làm lạnh,dung môi, và sản xuất xốp nhựa Nguồn của các oxit nitơ bao gồm đốt than và các nhiên liệuhóa thạch khác, phân bón phân hủy, đất và hoạt động của vi khuẩn trong đất Một số khíkhác cũng có ảnh hưởng nhưng với mức độ ít hơn là carbon monoxide và dioxide lưuhuỳnh

Các hiệu ứng ấm lên của các chất khí trong bầu khí quyển đã bù đắp phần nào cho hiệu ứnglàm mát của sương mù, bụi, khói, bụi than, và bụi từ các vụ phun trào núi lửa ngăn chặn vàlàm giảm bức xạ mặt trời đến trái đất Tuy nhiên, sự bay hơi từ các dòng nước ấm trong đạidương và các dòng nước ở khu vực khác và bề mặt đất do hiệu ứng nhà kính gây ra sẽđược tăng lên, khi thảm thực vật thực hiện quá trình thoát hơi nước sẽ làm mát bầu khôngkhí Lượng bốc hơi tăng lên cũng sẽ gây ra sự gia tăng lượng mưa ở một số khu vực Ngoài

ra, các đại dương, mưa, và sự phát triển rừng và thảm thực vật xảy ra quá trình quang hợp

có thể hoàn toàn loại bỏ hoặc hấp thụ số lượng đáng kể của khí carbon dioxide Những quátrình loại bỏ carbon dioxide từ môi trường thường được gọi là quá trình hấp thụ carbondioxide Các khu rừng rừng mưa nhiệt đới là những nơi hấp thụ số lượng lớn khí carbondioxide, và sự hủy diệt của chúng đã gâp ra đồng thời hai hệ quả là bổ sung thêm lượng khícarbon dioxide vào khí quyển và loại bỏ một kho lưu trữ carbon

Mặc dù đã có sự đồng thuận giữa các quốc ra trong việc làm giảm khai thác các khu rừngnhiệt đới đồng thời thực hiện việc trồng rừng trên toàn cầu Tuy nhiên, việc trồng ngay một tỷcây/một năm trong 10 năm đã được ước tính là chỉ có thể hấp thụ khoảng 1 đến 3% lượng

Trang 11

khí carbon dioxide tạo ra bởi hoạt động của con người tại Hoa Kỳ Các nhà phân tích củaliên bang đã đạt đến kết luận tương tự Họ ước tính rằng việc trồng 20 triệu cây mỗi năm cóthể hấp thụ lên đến 67% lượng khí thải carbon dioxide hàng năm của quốc gia trong cácđiều kiện tốt nhất.Mặc dù cây cối hấp thụ carbon dioxide và giải phóng khí oxy vào khôngkhí, lưu trữ carbon trong gỗ, cây hoàn toàn trưởng thành không những tích trữ cũng khôngphát thải carbon Cuối cùng, cây hàng năm tăng trưởng gần bằng sự mất và phân hủy củacác nhánh và lá Còn có nhiều lý do sinh thái học và thẩm mỹ mà chúng ta cần lưu trữ cáckhu rừng nhiệt đới.

Cuối cùng, sự cắt giảm lớn trong việc sử dụng dầu và đốt than đá góp phần giảm đáng kểlượng khí thải carbon dioxide Bảo tồn năng lượng và sử dụng nhiều hơn các nguồn tàinguyên tái tạo như thủy điện, năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng địa nhiệt,năng lượng sóng và năng lượng sinh khối, trong khả năng cho phép , đồng thời có thể làmgiảm sự gia tăng sự ấm lên toàn cầu Tuy nhiên, các vấn đề trên không phải không có vấn

đề của chúng đồng thời liên quan đến cả tính khả thi kỹ thuật.Thế hệ năng lượng hạt nhânmới sẽ không thải ra khí thải nhà kính, nhưng vấn đề chính trị cũng như mối quan tâm antoàn đã ảnh hưởng việc áp dụng rộng lớn công nghệ trên tại Hoa Kỳ Kết quả đã mở rộngviệc sử dụng các nhà máy điện nhiên liệu hóa thạch.Việc ảnh hưởng của khí thải carbondioxide sẽ tăng lên trong nhiều năm tới nếu các nguồn năng lượng thay thế không đượcphát triển

Lò phản ứng hạt nhân thế hệ mới như hệ thống pebble bed ( Sỏi ) cung cấp khả năng antoàn nội tại và thậm chí phân cấp hệ thống điện Nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng nếu quátrình sản xuất được xem xét khi so sánh hạt nhân với các hệ thống năng lượng nhiên liệuthan, ảnh hưởng thực tế đối với sức khỏe con người thì việc sử dụng than để sản xuất điệnnăng đã ảnh hưởng lớn hơn nhiều trong lịch sử so với sản xuất hạt nhân Những phân tíchnày xem xét đến chu kỳ sản phẩm từ khai thác nguyên liệu để cung cấp điện Khi tính cả đếnnguy hiểm khai thác và chế biến nhiên liệu là yếu tố nguy cơ liên quan với sản xuất điệnthan, thì các việc chọn sử dụng năng lượng hạt nhân là an toàn hơn

Ngoài ra nhiệt độ tăng, hiệu ứng có thể xảy do việc gia tăng các khí gây hiện tượng nhà kínhbao gồm các thay đổi trong mưa, tuyết, và gió có ảnh hưởng đến nông nghiệp, tổng lượngmưa, độ ẩm, độ ẩm của đất, và tần suất bão Mùa đang ngày càng được kéo dài Tan băngvùng cực sẽ làm tăng mực nước biển

Trang 12

Mặc dù có nhiều sự không chắc chắn , nhưng theo “ biến đổi khí hậu năm 2001: Cơ sởkhoa học “, và “ Biến đổi khí hậu 2007: Cơ sở khoa học vật lý “, thì mức độ carbon dioxide

và sự nóng lên toàn cầu đang gia tăng Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học tin rằng sự thật vàgiả định vẫn còn chưa đủ các bằng chứng thuyết phục để dự đoán Một công bố gần đâytrên tạp chí khoa học chỉ ra rằng trái đất đã thực hiện một chu kỳ nóng lên kể từ năm 1800

và việc gia tăng sử dụng nhiên liệu hóa thạch bắt đầu vào khoảng năm 1950 không có ảnhhưởng đến việc các dòng sông băng rút ngắn Hơn nữa, nhiệt độ không khí ở bắc cựcdường như có tương quan tốt với các hoạt động năng lượng mặt trời, trong khi sử dụnghydrocarbon không có tương quan đến vấn đề này Một nhà vật lý thiên văn của Trung tâmvật lý học thiên thể Smithsonian Harvard nhận xét rằng "các ngành khoa học tốt nhất hiệnnay đã cung cấp bằng chúng cho việc cắt giảm nhanh chóng dioxide carbon " và tin rằngcon người tạo ra sự nóng lên toàn cầu là tương đối nhỏ và làm chậm phát triển", đây cũng làthỏa thuận về sự cần thiết để duy trì và cải thiện chất lượng môi trường và bảo tồn tự nhiên

Ảnh hưởng của ozon và cloroflurocarbon (CFC ) Yếu tố toàn cầu khác là lớp ozon ở

phía trên khí quyển (tầng bình lưu), khoảng từ 8 đến 10 dặm ở phía trên bề mặt của tráiđất.Nó có tác dụng che chở trái đất bằng cách lọc và hấp thu các tia bức xạ tử ngoại có hạicủa mặt trời Ozon được hình thành một cách tự nhiên do sự tác động của ánh sáng mặt trờiđến các phân tử oxi Khi ở các lớp khí quyển tầng thấp(tầng đối lưu ) có chứa các chất CFC

và halon ( một hợp chất có gồm có brom,clo và cacbon ) dịch chuyển lên trên tầng bình lưunhờ hòa trộn với dòng không khí, ở đó chúng vẫn còn bền vững về mặt hóa học trongkhoảng thời gian 400 năm Khi nó tiếp xúc với các tia bức xạ mặt trời CFCs giải phóngnguyên tử clo và các khí khác phản ứng với ozon ở tầng bình lưu làm giảm đi lượng ozonsẵn có dung để ngăn chặn sự phá hoại của các tia bức xạ từ ngoại Người ta cho rằnglượng clo trong một phân tử CFC có thể phá hủy hàng chục ngàn phân tử ozon Brom pháhủy gấp clo 40 lần Oxit nito cũng tham gia quá trình phá hủy tầng ozon Các nguồn oxit nitobao gồm phân bón hóa học, vi khuẩn trong đất, các vụ cháy rừng và các nhiên liệu hóathạch

Sụ phá hủy tầng ozon do các chất CFC, halon và các hợp chất khác làm cho các tia bức xạ

tử ngoại mặt trời xuống trái đất nhiều hơn, nó có thể là nguyên nhân gây ung thư da, đụcthủy tinh thể làm thay đổi khí hậu cũng như cuộc sống của các loài động thực vật Lượngbức xạ mặt trời nhiều hơn cũng có thể gây ra hiện tượng thừa ánh sáng và giết chết các

Trang 13

sinh vật phù du, một nguồn thức ăn chính cho cá, hải cẩu, chim cánh cụt và cá voi Hậu quảtiếp theo của sự giảm lượng sinh vật phù du trong đó bao gồm tảo sẽ làm giảm việc hấp thuCO2 Đó là nguyên nhân làm tăng lượng CO2 trong khí quyển, làm cho trái đất nóng lên vàlàm giảm sự sống của các sinh vật thủy sinh, nguồn thức ăn cho chúng ta như đã được cảnhbáo trước.

Lượng clorofluocacbon còn lại trên tầng bình lưu khoảng 75 đến 110 năm Vì nó gây ảnhhưởng đến sức khỏe và môi trường biện pháp xử lý đề ra là dần dần thôi không dùng cácsảng phẩm có chứa CFC và halon trên khắp thế giới Các sản phẩm đó bao gồm các chấtlàm lạnh ( điclo diflo metan hay Freon ), các dung môi công nghiệp,sơn dễ bay hơi, sự sảnxuất các chất dẻo,bình phun sol khí cũng chứa một lượng CFC Lượng CFC không sử dụngnữa sẽ khuếch tán vào các sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ Brom từ halon được dùng chủyếu trong thiết bị dập lửa và và các chất chống cháy, thuốc xông đất cũng phá hủy nôngnghiệp do nó phản ứng với clo trong điều kiện không có ánh sáng mặt trời, metyl clorua vàcacbontetraclorua cũng góp phần vào vấn đề này Các hệ thống làm lạnh hiện nay sử dụngCFC, cái mà sẽ giải phóng lượng CFC trong tương lai nếu có cách chứa đựng,tái chế và cáccách kiểm soát khác Phương pháp đưa ra là thay lượng CFC bằng lượnghydroclorofluocacbon (HCFCs) mặc dù nó có hại như CFCs nhưng nó có thể tái chế được

Sự tác động của toàn cầu bắt đầu từ năm 1987, nghị định thư về các chất làm suy giảm tầngozon được kí kết với sự tham gia của 32 quốc gia, với một mục tiêu chung là giảm 50 %lượng CFC và halon đã sử dụng ở năm 1986.Tháng 5 năm 1989 đại diện của Cộng đồngkinh tế châu Âu (EEC) và 81 quốc gia khác bao gồm cả Mỹ và Canada đồng ý đến năm

2000 sẽ không sử dụng CFC,nếu có thể,cũng như không sử dụng lượng halon,cacbontetraclorua và metylclorofom.Tháng 6 năm 1990,các bộ trưởng môi trường của 93quốc gia họp tại Luân Đôn và tán thành việc dần dần thôi không sử dụng CFC và các chấthóa học khác liên quan đến CFC gồm halon,cacbontetraclorua,vào cuối thể kỷ 20 và không

sử dụng metyl clorua năm 2005 HCFC cũng sẽ thôi không sử dụng nữa từ năm 2000 đến2040

Ozon cũng được hình thành ở tang đối lưu mở rộng lên trên khoảng 8 dặm Tại đó NO, hơi

ga và các hidrocacbon khác thoát ra từ nhà máy lọc dầu, động cơ xe, các dung môi và sẵnsang phản ứng với ánh sáng mặt trời và tỏa nhiệt Tuy nhiên EPA cho rằng ozon ở tầng khíquyển thấp gần mặt đất không thay thế được cho lượng ozon bị mất ở tầng khí quyển caohơn Ozon ở gần mặt đất có thể gây ra rối loạn chức năng của phổi, kích thích màng nhầy

Trang 14

của mắt, mũi họng cũng như phá hủy cây cối và mùa màng.Trong điều kiện ổn định,sự tácđộng qua lại của ozon là nguyên nhân gây ra sương mù và làm giảm chất lượng bề mặt sơn,sợi tổng hợp và nhựa.

Mưa axit (lượng mưa có tính axit) Quá trình giải phóng N2, SO2 và SO2, cũng như cácchất gây ô nhiễm không khí, đưa vào trong khí quyển nơi mà chúng tác động với ánh sángmặt trời và hơi nước bị ngưng tụ lại thành mưa axit trong vài dặm gần nguồn thải.Khái niệmnày bao gồm mưa, tuyết, mưa tuyết, sương màu và các đám mây có chứa axit sulfuric,axitnitoric,và axit cacbonic, cũng như sự kết tủa khô trực tiếp.Ở vùng phát ra một lượng lớn cácchất thải, các chất thải ngưng tụ lại trên mức giới hạn diện tích làm xuất hiện mưa axit nhưvùng đông bắc hoa kỳ, phía đông Canada, các vùng phía đông nam, trung tây, phía tây vàcác vùng có núi đá lớn, tây âu Scandinavia, đông âu cũng bị ảnh hưởng.Ở Newyork và bắcNewyork các báo cáo ghi lại là do 60-70 % axit sunlfuric, 30-40 % là do axit nitoric Mỗi tỉ lệtương đối trên chỉ ra các nguồn ô nhiễm chính.Các nguồn SO2, NO,CO2 chính là do quátrình đốt cháy nhiên liệu than và dầu, từ các nhà máy lọc dầu, và các lò luyện kim Nguồn

NO chủ yếu là do các dịch vụ điện, các lò hơi và động cơ xe NO từ động cơ xe, bốc cháy ởnhiệt độ cao không chỉ tham gia 1 phần vào quá trình quang hóa trong sương mù mà còn rơixuống trái đất dưới dạng axit được hòa trộn với hạt mưa

Các ống khói cao trong nhà máy thải ra các chất ô nhiễm và trong dòng không khí ở trên cóthể di chuyển trong không khí được rất xa nhờ sức gió, thường là từ Tây sang Đông Hoakỳ.Các nguồn SO2 tự nhiên như các hoạt động núi lửa, đại dương, sự phân rã của thực vậttrong môi trường kị khí, phân bón,và của các động vật trong gia đình cũng góp 1 phần tạothành lượng SO2 Tuy nhiên nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe và phức lợi công cộng làphức tạp và rất khó xác định Tuy nhiên không xuất hiện bất kì một mối đe dọa đáng kể nàotới sức khỏe con người mặc dù vấn đề này được tranh luận

Khoảng một nửa lượng SO2 trên thế giới được ghi nhận là do các nguồn tự nhiên Nguồnaxit trong thiên nhiên chủ yếu là cacbon dioxit Lượng mưa axit tự nhiên thường biến đổitrong khoảng pH từ 5.4 đến 5.7 ( có thể có lượng pH thấp hơn như đông bắc hoa kì theochương trình lắng đọng axit quốc gia năm 1978 đến 1984) và có thể đạt giá trị từ 4.0 đến 4.6hoặc thấp hơn ) Trong khi một tán rừng có thể làm giảm độ acid và ammonia, các hạtbụi trong không khí có thể, một phần, trung hòa axit Như đã lưu ý, lượng mưa có tínhaxit góp phần vào sự suy thoái của tòa nhà, tượng đài và bức tượng, vật liệu lợp, và xe ô tô

Trang 15

Người ta cũng tin ảnh hưởng xấu đến cây (chủ yếu là cây lá kim ở độ caolớn),có thể cây trồng và thảm thực vật khác Ozone trên mặt đất cũng được báo cáo làmột nguyên nhân chính gây suy giảm rừng Lượng mưa có tính axit có thể tạm thời mang lạilợi ích cho một số thực vật. Tuy nhiên, giai đoạn thứ hai của mưa axit có thể giết chết các visinh vật cố định đạm và gây ra sản xuất giảm, và sau đó tử vong, như độ axít thâm nhậpvào đất và hệ thống rễ. Canxi vàmagiê cần thiết cho sinh trưởng của cây, được lọc

từ đất. Nhômtrong đất cũng trở thành có sẵn cho sự hấp thu dinh dưỡng Tỷ lệ canxi vàmagiê /nhôm giảm, làm suy yếu cây và gốc tăng trưởng như nhôm độc hại tích lũy trongrễ.Tính nhạy cảm với côn trùng và nhấn mạnh do hạn hán, lạnh, và tăng nhiệt Quản lýrừng, khí hậu, dinh dưỡng đất, và địa lý học cũng có thể giữ một vai trò

Mưa axit cũng ảnh hưởng xấu đến hồ, suối, độ pH có thể được giảm xuống dưới 5.0, với kếtquả sản xuất cá giảm.Sự phân hủy hữu cơ góp phần vào độ axit hồ Sự axit hoá và khửkhoáng của đất gây ra đầu vào cao hơn nhôm và các kim loại độc hại khác để hồ vàsuối. Tình trạng này là rõ ràng hơn trong một hồ nước hoặc nước ngầm khi khảnăng đệm của nó và rằng đất xung quanh (độ kiềm và canxi) được giảm hoặc kiệt sức. Điềunày dẫn đến việc phát hành của các kim loại độc hại cho nguồn cung cấp nước, đặc biệt

là nông cũng cung cấp nước. Cũng có thể là tích tụ trong cá, như, ví dụ, tăng mức độ thủyngân, cadmium, nhôm và kẽm từ 10 đến 100 lần mức bình thường

Biện pháp kiểm soát nên bắt đầu với khử lưu huỳnh than tại các địa điểm khai thác khoángsản, giảm nguồn, chẳng hạn như lưu huỳnh dầu cao và các nhà máy đốt than, và với cácoxit nitơ từ các xe có động cơ Giảm hơn nữa có thể đạt được bằng cách khử lưu huỳnh khíthải và sử dụng lọc khí và thiết bị kiểm soát khí thải khác Việc sử dụng nhiên liệu thaythế, lưu huỳnh thấp, cũng như thủy điện, hạt nhân và năng lượng mặt trời, cũng nên đượcxem xét Ứng dụng của vôi hoặc đá vôi hồ và lưu vực sông của họ chỉ là một biện pháp tạmthời,một giải pháp lâu dài phải được tìm thấy

Mưa axit là chỉ có một khía cạnh của ô nhiễm không khí Khí thải độc hại đòi hỏi phải kiểmsoát bao gồm các chất ô nhiễm độc hại không khí (HAPs) chẳng hạn như chì, thủy ngân,

được loại bỏ hoặc giảm đến mức vô hại

Trang 16

NGUỒN GỐC VÀ PHÂN LOẠI Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ

Các nguồn ô nhiễm không khí có thể là nhân tạo, chẳng hạn như động cơ đốt trong, hoặc tựnhiên, chẳng hạn như các nhà máy (phấn hoa) Các chất ô nhiễm có thể là ở dạng của cáchạt bụi, bình xịt, và các loại khí hoặc vi sinh vật Bao gồm thuốc trừ sâu, mùi vị, và cáchạtphóng xạ trong không khí

Hạt dao động từ ít hơn 0,01 1000μm * kích thước, chúng nhỏ hơn 50μm Khói thuốc nóichung là nhỏ hơn 0,1 micromet kích thước bụi than hoặc các hạt carbon Những hạtdưới 10μm có thể xâm nhập vào đường hô hấp dưới, hạt nhỏ hơn 3μm đến các môtrong phần sâu của phổi. Các hạt hơn 10μm được loại bỏ bởi các sợi lông ở phía trước mũi.Bao gồm bụi và vô cơ, hữu cơ, xơ, và các hạt nonfibrous.Aerosol thường hạt 50 micromet để ít hơn 0.01μm kích thước, mặc dù chúng ít hơn sovới đường kính 1μm.Khí bao gồm cácloại khí hữu cơ như hydrocacbon, aldehyt và xeton vàcác loại khí vô cơ (oxit nitơ và lưu huỳnh, khí carbon monoxide, hydrogen sulfide,ammonia, và clo)

Nguồn gốc nhân tạo

Ô nhiễm không khí ở Hoa Kỳ là kết quả của công nghiệp hóa và cơ giới hóa. Cácnguồn chính và các chất gây ô nhiễm được thể hiện trong Bảng 4.3. Nó cóthể được nhìn thấy rằng khí carbon monoxide là chất gây ô nhiễm chủ yếu tính theo trọnglượng và động cơ xe là đóng góp lớn, tiếp theo là quá trình công nghiệp và sản phẩm nhiênliệu đốt. Tuy nhiên, trong điều khoản của nguy hiểm, nó không phải là tấn chất gây ô nhiễm

là quan trọng nhưng độc tính hoặc gây tổn hại có thể được thực hiện bằng cách đặcbiệt pollu trọng phát hành. Chì đã giảm đáng kể nhất, do việc sử dụng nonleaded xăng.Nông nghiệp phun thuốc bảo vệ thực vật, vườn cây ăn quả nóng thiết bị, khíthải từ various quá trình thương mại, cao su từ lốp xe, sương mù từ loại làm mát phuntháp, và sử dụng các dung môi và hóa chất làm sạch hộ gia đình thêm vào ô nhiễm tải. Khíthải độc hại gây ô nhiễm và số phận của chúng trong môi trường cần tiếp tục nghiên cứu.Các hạt bụi, khí, và hơi mà tìm thấy cách của họ vào không khí mà không bị thông hơi thôngqua một chồng được gọi là khí thải không bền Chúng bao gồm uncon-trolled phát

Trang 17

hành từ quá trình công nghiệp, bụi đường, và bụi từ xây dựng và trang trại trồng trọt. Nhữngcần được kiểm soát tại nguồn trên một cá nhân cơ sở Bếp lò gỗ đóng góp đáng kể ô nhiễmkhông khí Đây là loại ô nhiễm là một mối đe dọa sức khỏe tiềm năng cho trẻ em với bệnhhen suyễn và người cao tuổi vấn đề về phổi mãn tính. Gỗ sử dụng bếp lò cóthể được hạn chế Bếp lò được thiết kế lại để giữ cho tình trạng ô nhiễm không khí ở mứcchấp nhận được.

Văn phòng phẩm nhiên liệu đốt cháy

Qui trình công nghiệp

Xử lý và tái chế chất thải

Loại khác

Cacbon monoxit ( hàng triệu tấn )

12.013.114.516.014.517.317.818.218.619.019.419.820.220.220.319.9

4.64.57.38.57.07.47.45.55.96.25.65.55.96.15.45.4

9.87.57.05.24.95.25.24.74.64.54.64.64.63.53.63.6

7.13.22.31.91.91.81.71.11.11.11.21.21.21.11.11.2

7.95.38.38.08.916.08.211.28.77.07.19.77.311.212.29.0

Nito oxit ( hàng triệu tấn )

1.92.63.53.94.4

10.110.511.310.010.5

0.80.50.60.80.8

0.40.20.10.10.1

0.30.20.20.30.7

Trang 18

10.510.910.810.911.111.010.810.410.410.2

0.80.80.70.80.70.80.80.70.80.8

0.10.10.10.10.10.10.10.10.10.1

0.30.40.30.30.20.40.30.50.40.3

Hợp chất hữu cơ dễ bay hơi ( VOCs) ( hàng triệu tấn )

1.92.12.32.42.62.62.52.62.62.62.72.72.72.62.5

0.70.71.01.61.41.41.01.11.11.01.01.11.00.90.9

3.23.33.52.02.12.11.81.91.91.91.91.91.41.41.4

2.01.00.81.01.00.91.01.01.01.01.01.10.40.40.4

10.28.59.78.09.08.48.38.18.08.28.58.47.78.27.4

Sunfua dioxit ( hàng triệu tấn )

0.10.10.20.60.70.80.90.91.01.01.01.01.01.01.1

23.522.721.420.019.819.920.319.819.519.218.916.216.316.716.7

7.14.73.82.42.02.01.91.71.71.61.61.61.41.51.5

aaaaaaaaa0.10.1aaaa

0.1aaaaaaaaaaaaaa

PM10 ( hàng triệu tấn )

Trang 19

1.41.21.11.21.11.11.21.21.11.21.11.11.21.21.11.1

0.90.90.90.90.80.80.80.90.90.90.80.80.80.60.60.6

0.30.30.30.30.30.30.30.30.30.30.30.30.30.30.30.3

49.726.726.426.325.027.924.026.726.426.325.027.924.030.231.532.0

0.40.40.40.40.40.40.40.40.4

0.90.90.90.90.80.90.90.80.8

0.50.50.50.40.50.50.30.40.4

0.20.20.20.30.30.20.20.20.2

5.65.45.25.15.74.96.16.56.4Chì ( hàng ngàn tấn )

172.0130.260.518.12.61.00.4aaaaaaaa

9.76.14.20.90.90.80.80.60.60.50.50.50.50.50.5

10.610.34.30.50.50.50.50.50.50.50.50.50.50.50.5

26.411.43.92.52.32.42.52.31.92.02.22.32.32.32.3

2.21.61.20.90.80.80.80.80.80.80.80.60.60.60.6

bbbbbbbbbbbbbbb

Amicron (micron) là 1/1000 mm, hoặc 1/25, 000 của một inch Các hạt của 10 micron và lớn hơn kích thước có thể được nhìn thấy bằng mắt thường

Trang 20

a Lượng khí thải ít hơn 0,05 triệu tấn mỗi năm ngắn (ít hơn 0,05 nghìntấn ngắn mỗi năm trong trường hợp phát thải chì).

b không có lượng khí thải tính toán

Lưu ý: Dữ liệu được tính toán khí thải ước tính, PM10, PM2.5 = hạt vật chất, đường kính các hạt nhỏ hơn 10 và 2,5 micromet

Nguồn: Văn phòng Kế hoạch chất lượng không khí và tiêu chuẩn quốc tế ước tính khí thải chất gây ô nhiễm, 1900-1998,EPA 454/R-00-002, Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ, Research Triangle Park,

NC, tháng 3 năm 2000

Các cuộc thảo luận của ô nhiễm không khí thường xuyên bỏ qua các nguồn tự nhiên Chúngbao gồm bụi, phấn hoa thực vật và cây, khí thải trên cây, vi khuẩn và bào tử, khí và bụi từcác đám cháy rừng và cỏ, thuốc xịt đại dương và sương mù, este và các tecpen từ thảmthực vật ,ozon và khí nitơ từ tro, sét và các loại khí (SO2, HCl, HF, H2S) từ núi lửa, phóng

xạ tự nhiên, và các vi sinh vật như vi khuẩn, bào tử, khuôn mẫu, hoặcnấm từ sâu thực vật. Hầu hết trong số này là ngoài tầm kiểm soát hoặc có ý nghĩa hạn chế.Ozone được tìm thấy trong tầng bình lưu ở độ cao bắt đầu tại 7 đến 10 dặm Các nguồn tựnhiên chủ yếu của ozone trong khí quyển thấp hơn nguồn sét, loại thải ô nhiễm khôngkhí, trong số lượng nhỏ, phản ứng liên quan đến các hợp chất hữu cơ dễ bayhơi đượcphát hành bởi các khu rừng và thảm thực vật khác Ozone cũngđượchình thành tự nhiên trong bầu khí quyển phía trên bởi một phản ứng quanghóa với bức xạ mặt trời UV

Các loại ô nhiễm không khí

Các loại chất gây ô nhiễm không khí cùng họ với các loại vật liệu gốc được sử dụng trongđốt cháy hoặc các quá trình, tạp chất chứa trong nó, việc phát xả hiện tại, và các phản ứngtrong không khí Xem bảng 4.3 Chất gây ô nhiễm sơ cấp là chất được tìm thấy trong khôngkhí mà vẫn giữ nguyên dạng ban đầu được xả ra từ ống khói, ví dụ như lưu huỳnh dioxit,nito dioxit, các hydrocacbon Chất ô nhiễm thứ cấp là một dạng tồn tại trong không khí củacác sản phẩm các phản ứng hóa học như phản ứng phân hủy, oxi hóa, quang hóa, ví dụnhư khói quang hóa

Những vật liệu dễ cháy nhất gồm các hydrocacbon Nếu sự cháy của các chất này ví dụ nhưxăng, dầu hay than mà không hoàn toàn, các hydrocacbon không cháy, khói, cacbonmonoxit, và có thể còn có các andehit, axit hữu cơ với lượng nhỏ sẽ được giải phóng

Trang 21

Việc sử dụng bộ biến mô xúc tác ô tô để kiểm soát sự phát xả cacbon monoxit vàhydrocacbon gây ra sự tăng phát xả sunfat và axit sunfuric, nhưng điều đó được coi có thểchấp nhận được việc loại bỏ chì khỏi xăng, trong một số nguyên nhân, dẫn đến việc thaythế mangan cho mục đích phụ gia chống kích nổ, với hậu quả rò thoát của hợp chấtmangan, cũng là chất độc tiềm tàng.

Các tạp chất có trong các nhiên liệu hydrocacbon (than và dầu), như lưu huỳnh, hóa hợp vớioxi tạo ra SO2 khi cháy Khí SO2 sau đó có thể tạo thành axit sunfuric và các hợp chấtsunfat tồn tại trong không khí Oxi của nito, từ sự cháy ở nhiệt độ cao trong sản xuất điện vàcác nồi hơi công nghiệp và các phương tiện có động cơ (trên 1200oF – 649oC), phần lớngiải phóng khí NO2 và NO florua và các tạp chất khác có thể được đưa ra ngoài với khínóng ống khói ( vai trò của các oxit của lưu huỳnh và nito gây ra mưa axit sẽ sớm đượcnhắc đến trong chương này)

Chất oxi hóa quang hóa* được tạo ra trong tầng khí quyển thấp hơn (tầng đối lưu) như kếtquả của phản ứng của oxit nito với các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi vói sự có mặt của bức

xạ mặt trời, như những ghi chép trước đây Ozon có thể góp phần gây ra khói, các vấn đề

hô hấp, và gây thiệt hại tới mùa màng và rừng ( như những phát biểu trước đây)

Của những nguồn cần lưu ý, các quá trình công nghiệp là nguồn chủ yếu của các chất hữu

cơ dễ bay hơi (các hydrocacbon), với sự vận chuyển là nguồn góp phần lớn nhất tiếp theo.Việc đốt nguyên liệu tại chỗ của các nhà máy và các loại phương tiện có động cơ là nguồnchủ yếu của khí nito oxit Ozon, thành phần chủ yếu của khói hiện đại, là chất oxi hóa quanghóa đo được hiện nay, chiếm khoảng 90 phần trăm toàn bộ (xem trang 9 của Ref 23) Ozon

và các dạng sản phẩm quang hóa khác thường được tìm thấy gần nguồn các tiền chất

LẤY MẪU VÀ ĐO ĐẠC

Cơ quan chính quyền địa phương và của bang góp phần vào hệ thông kiểm tra chất lượngkhông khí quốc gia EPA EPA tập trung vào tiêu chuẩn chất lượng không khí xung quanhquốc gia- hạt vật chất bay trong không khí, lưu huỳnh dioxit, ozon, và chì- tại hơn 4000 vị trítrên kháp Hoa Kỳ

Trang 22

Phuong pháp lấy mẫu không khí được sử dụng để phát hiện và đo đạc khói, hạt, axit lắngđọng, và chất gây ô nhiễm thể khí Thiết bị lựa chọn và sử dụng và vị trí của chúng được xácđịnh bởi vấn đề đang được nghiên cứu và mục đích được được đáp ứng những mẫu tiêubiểu tự do từ các chất gây ô nhiễm bên ngoài phải được thu thập và đọc hoặc phân tích tiêuchuẩn hóa để thu được số liệu có giá trị Các thông tin khác về môi trường và các yếu tố khítượng cần để giải thích chính xác số liệu đã chọn thiết bị lấy mẫu liên tục có thể được chọnvới yêu cầu lớn độ chính xác của thiết bị cần được làm rõ để bảo đảm rằng nó sẽ thực hiệncông việc với khả năng và sự bảo đảm tối ưu nhất các dụng cụ đáng tin cậy sẽ tạo điều kiệncho việc kiểm tra các thông số không khí xung quanh, như danh sách trong bảng 4.4 cácdụng cụ khác như cho độ chắn sáng, hydrocacbon, và lưu huỳnh cũng có giá trị.

Bảng 4.4: Các phương pháp đo lường đối với các thông số của chất lượng không khí xung

quanh

Chất gây ô

SO2 Xung huỳnh quang tia tử ngoại, đo ánh sáng ngọn lửa, đo màu, bộ lấychuẩn ống pha loãng hoặc thấm đẫm.

CO Thùng khí hồng ngoại không đo màu và xác định kích cỡ pha loãng,máy lọc khí tương quan.O3 Phép đo phổ tia cực tím phát quang hóa học của pha khí, máy phát UVozon và máy đo phổ UV hoặc bộ lấy chuẩn chuẩn độ pha khí GPT

Sunfat,nitrat ống góp khối lượng cao và phân tích hóa học- phân giải chất lắng vàphép phân tích đo màu

a 10 μm hoặc các hạt nhỏ hơn.

b tât cả các hạt huyền phù Loại, kích cỡ, và thành phần là quan trọng

c không yêu cầu thông thường để đo ở đây nếu O3 được đo.

Một hệ thống kiểm tra chất lượng không khí liên tục cho kết quả đo các khí ô nhiễm mộtcách chọn lọc,các hạt bụi và điều kiên thời tiết trên một phạm vi địa lý rộng có thể ngay lậptức thu thập thông tin và đưa ra cảnh báo khi mức chất lượng không khí xung quanh hay sự

Trang 23

bốc mùi tăng lên vượt quá mức tiêu chuẩn cho phép Trong hệ thống này mỗi trạm kiểm tra

sẽ gửi dữ liệu đến một trung tâm thu dữ liệu hàng giờ theo đường dây điện thoại hay các hệthống liên lạc khác Người coi dữ liệu ở hiện trường luôn duy trì hàng tuần và kiểm tra,đàotạo các cán bộ nhân viên kỹ thuật chủ yếu để phối hợp và nghiên cứu sự hoạt động của toàn

bộ hệ thống kiểm tra và xác nhận dữ liệu là một điều cần thiết cho việc đưa ra các phươngpháp hợp lý thời gian dữ liệu thực hợp lệ

Dữ liệu của sự kiểm tra định lượng không khí có thể được sử dụng để đo chất lượng môitrường không khí và làm theo đúng với tiêu chuẩn quốc gia, phát hiện ra những nguồn viphạm chất lượng không khí chính ở đia phương, ngay lập tức cung cấp thông tin khắp cảnước bằng hệ thống cảnh báo,cung cấp dữ liệu chất lượng không khí trong một thời gian dài( để đáp ứng nhu cầu của nhà nước và các tư nhân như lập kế hoạch về môi trường , phântích sự tác động ảnh hưởng đến môi trường, xác định rõ nồng độ ô nhiễm môi trường dàihạn và xu hướng trong một quốc gia và cung cấp thông tin về chất lượng không khí chonhân dân

Một hệ thống kiểm tra chất lượng không khí liên tục đòi hỏi phải sử dụng quá trình phân tíchmột cách liên tục của một bản thiết kế để đo nồng độ các chất trong môi trường ô nhiễmkhông khí đã được chỉ định theo phương pháp tham khảo của EPA hay các cách thức tươngđương EPA chỉ định phân tích mức độ ô nhiễm không khi sau khi xem xét một cách tổngquát các dữ liệu thực nghiệm do các nhà chế tạo cho trang thiết bị của họ Chỉ có thiết bịphân tích mới đưa ra những phương pháp tham khảo hay các cách thức tương đương cóthể được sử dụng trong hệ thống kiểm tra chất lượng không khí ở môi trường xung quanh

để xác định chất lượng của không khí Điều này thật sự là cần thiết để đảm bảo rằng phép

đo là chính xác và hiệu quả.Bằng cách đo thúc đẩy tính đồng nhất và so sánh các dữ liệu đểxác định chất lượng không khí của mỗi quốc gia

EPA đã chỉ định một chương trình chi tiết để kiểm tra chất lượng không khí môi trường xungquanh cho nhà nước chính quyền địa phương và các nhà công nghiệp Trong chương trình

là các chương trình dữ liệu chính thức đảm bảo chất lượng, một thiết kế hệ thông kiểm tra,máy đo (mẫu không khí vào) đặt tại chỗ, một phương pháp phân tích và các dữ liệu cầnđược báo cáo EPA chỉ định hàng ngày cùng một chỉ số ô nhiễm không khí được biết đếnnhư là chỉ số mức độ ô nhiễm chuẩn (PSI) sử dụng chung trong việc so sánh chất lượngkhông khí Các giá trị PSI được đưa ra bàn luận và tóm tắt trong bảng 4.7

Trang 24

Các loại máy phân tích thường được sử dụng để đo các thông số chất lượng của không khí

ở môi trường không khí được tóm tắt trong bảng 4.4 Máy phân tích liên tục dung pha khí đobằng các thiết bi điện tử dùng nhiều hơn so với phương pháp phân tích hóa học ướt vi nóchính xác và đáng tin cậy hơn Tuy nhiên không phải tất cả các cơ quan pháp luật, những cánhân ở mỗi một địa phương có đủ nguồn lực hay cần thiết những thiết bị tinh vi, các thiết bịkhác cũng được đề cập đến ở chương này

Lấy mẫu hạt trong môi trường không khí

Các phép đo cần được tiến hành nhiều hơn trong khu vực các hạt bụi có kích thước phân tử(dưới 10^-3 micromet) nhận ra các hạt kim loại,sulfat và nitrat là chủ yếu.Các hạt cũng cóthể được thu thập lại và kiểm tra các tính chất gây đột biến của nó.Trong tất cả các hạt xungquanh môi trường thiết bị lấy mẫu, các mẫu có thể tích lớn thường được sử dụng ở Mỹ mặc

dù có sự biến đổi các thiết bị liên tục ngày càng được sử dụng.Các thiết bị khác cũng đượcứng dụng cho việc thu thập các hạt bụi có kích thước khác nhau

Mẫu có thể tích lớn đi qua máy đo với một tốc độ cao (40-60cfm) qua một bộ lọc giấy đặcbiệt sau khoảng thời gian 24h.Bộ lọc được cân trước và sau khi cho tiếp xúc với khôngkhí,và sự chênh lệch khối lượng chính là phương pháp đo các hạt vật chất lơ lửng trong(PM) bằng thiết bị đo vi mô trên một mét vuông diện tích bộ lọc Các hạt bụi có thể đượcphân tích về khối lượng, kích thước hạt, (thường là từ 0.1 đến 50 micro mét), thành phầncấu tạo ( như các hạt benzen , nitrat chì và sulfat và tính phóng xạ Sụ chọn lựa kích thướchạt ở đầu vào có thể được gắn vào thiết bị lấy mẫu,và mẫu có thể được chia thành hai phần

sử dụng nguyên tắc va chạm,những hạt có kích thước trên và dưới 2-3 micro mét Có nhiều

sự quan tâm đến các hạt có kích thước 10 micro mét hay các hạt nhỏ hơn (PM10) vì khichúng xâm nhập sâu vào đường hô hấp chúng có nhiều khả năng gây ra các tác động có hạiđến sức khỏe

Sự lấy mẫu thể tích cao là tài liệu tham khảo phương pháp EPA.Đo lưu lượng không khí làrất quan trọng Một lỗ được thiết kế để gắn áp kế dùng để đo lưu lượng của dòng

Thiết bị lắng đọng bao gồm bộ phận rung để làm lắng các hạt bụi,các buồng lắng hay thùnglắng.Các đĩa lắng, tấm hay khay được phủ lên một lớp kim loại và các giấy dính đứng yêncác hạt bụi được thu thập lại để đưa ra ngoài.Các khung giấy dính thẳng đứng hay dạng

Trang 25

hình trụ được phủ một lớp keo dầu(vazolin) có thể cho biết nguồn gốc của các chất gây ônhiễm Các lượng bụi lắng thường được báo cáo bằng miligam trên một mét vuông diện tíchtrong một tháng cũng co thể đo tính phóng xạ của các hạt bụi.

Thiết bị lấy mẫu khói tự động tập hợp lại tất cả những chất lơ lửng trên một bộ lọc cái màđược đưa vào 1 cách tự động theo khoảng thời gian đã được đạt từ trước(mở rộng ra là trênmột khoảng thời gian) Tính mờ đục của chất lắng hay các vết đen trên băng truyền tải hay

hệ số khuếch tán ánh sang từ một nguồn chuẩn là cái để đo sự ô nhiễm không khí Thiết bịnày cung cấp tín hiệu điện ở đầu ra một cách liên tục có thể truyền xa để gửi thông tin vềcác hạt bụi Do vậy dữ liệu luôn sẵn có để dùng không gây chậm trễ cho các phòng thínghiệm phân tích của bộ lọc Thiết bị này chủ yếu dùng để xác định tình trạng bụi bẩn củakhông khí và không cần đo chính xác tổng các hạt lơ lửng có trong mẫu không khí

Thiết bị thu quán tính hay li tâm hoạt đông thu gom theo nguyên tắc xoáy Các hạt có kichthước lớn hơn 1 micro mét bị thu gom lại mặc dầu thiết bị đạt hiệu quả nhất trong việc thuthập các hạt có kích thước đường kính hơn 10 micro mét

Thiết bị va chạm tách các hạt bằng cách gây ra dòng khí để làm thay đổi đột ngột hướng củadòng khí qua thiết bị Thiết bị va chạm ướt được dùng để thu gom các hạt bụi có kích thướcnhỏ, thiết bị va chạm khô dùng để thu thập các hạt có kích thước lớn Trong thiết bị va chạmkhô, một bề mặt riêng được thiết kế để các hạt va chạm và bám chặt vào bề mặt

Trong các tầng của thiết bị va chạm, vận tốc của dòng khí khác nhau có thể phân loại vàthu các hạt bụi có kích thước khác nhau trên một mặt nghiêng hiển vi đặc biệt Các hạt cókích thước từ 0.7 đến 50 micro mét được thu gom lại

Các thiết bị lấy mẫu dùng sa lắng nhờ tĩnh điện hoạt động dựa trên sự ion hóa sử dụng mộtđiên cực platin Các hạt có kích thước nhỏ hơn 1 micro mét bị gom lại trên một điện cực đốidiện sau đó được đưa ra ngoài để kiểm tra, nếu có mặt các chất khí dễ cháy thì có thể ảnhhưởng đến kết quả

Các thiết bị tính toán các hạt nhân để đo số lượng các chất hạt nhân ngưng tụ trong khíquyển Đó là một tài liệu hữu ích cho các nhà phê bình thời tiết Một mẫu không khí được lấyvào thông qua 1 thiết bị, tăng dần độ ẩm lên 100 % và giãn nở đoạn nhiệt với sự ngưng tụ

Trang 26

tổng hợp có mặt trong đó Các hạt phân tán ánh sáng tỉ lệ với sộ giọt nước được đếm bằngmột ống nhân quang Nồng độ của các hạt ngưng tụ có thể đạt được từ 10 đến 1000000 hạttrên cm3 Các hạt nhân ngưng tụ là kết quả của quá trình ngưng tụ tự nhiên và nhân tạo baogồm sự ô nhiễm không khí Tổng số hạt trên 5000 là đặc trưng riêng của khu vực thành thị.

Thiết bị lấy mẫu các hạt phấn hoa thường sử dụng 1 lớp bề mặt được phủ một lớp keo dầu

ở một chỗ cố định ở một nơi thích hợp Các mặt nghiêng được đưa vào tiếp xúc khoảng 24h

và các hạt phấn hoa được đếm bằng kính hiển vi.Xem chương 2 kiểm soát và lấy mẫu cỏphấn hương

Lấy mẫu không khí

Lấy mẫu không khí yêu cầu cần tách không khí hay khí được lẫy mẫu từ khí hiện tại Điềukiện nhiệt độ và áp suất trong mẫu được thu thập phải đảm bảo chính xác Áp suất của hỗnhợp khí bằng tổng các áp suất riêng phần, mỗi khí đều có áp suất riêng phần của nó Thểtích riên phần của mỗi khí trong cùng một điều kiện áp suất cũng có tính cộng Nồng độ củakhí được ghi dưới dạng ppm và ppb thường là tính theo thể tích hơn là tính theo khối lượng

Sự lấy mẫu thích hợp và sự giải thích kết quả yêu cầu cần phải có năng lực, kinh nghiệm vàkiến thức và các điều kiện trong khí được lấy mẫu và một sự hiểu biết những hạn chế củacác thí nghiệm kiểm tra Các trang thiết bị tự động và thủ công cho quá trình lấy mẫu khí vàphân tích nói đến ở phần sau

Máy phân tích huỳnh quang: thiết bị này đo hàm lượng SO2 bằng phương pháp hấp thụtia cực tím Các xung điện của các tia cực tím hội tụ qua một bộ lọc lấy dải giảm dần khi đưadần nguồn sáng ra ngoài, bước sóng hẹp có dải từ 230 đên 190 nm đưa thẳng đến buồngphát quang Không khí xung quanh chứa SO2 được đưa vào liên tục qua buồng này nơi màtia cực tím kích thích phân tử SO2 thay đổi, phát ra những tính chất đặc trưng, sự phân hủyphóng xạ diễn ra Các bức xạ này chỉ định cho khí SO2 đi qua một bộ lọc thứ 2 và đi lên trênmột ống nhân quang nhạy cảm Năng lượng ánh sáng vào biến đổi tín hiệu điện thành tínhiệu điện áp ra theo tỉ leek tương ứng với nồng độ SO2 trong mẫu khí Tổ chức y tế thế giới(WHO) Hệ thống kiểm tra môi trường toàn cầu quyết định sử dụng các phương pháp tiếptheo chuẩn độ axit hay hydro peroxyt

Trang 27

Máy phân tích NO bằng phương pháp phát quang hóa học: NO được đo bằng sựphát quang của phản ứng trong pha khí của NO và O2 Phương pháp kĩ thuật này cũngđược dùng để xác định lượng NO2 bằng cách xúc tác làm giảm NO2 trong mẫu khí để địnhlượng NO Mẫu không khí lấy vào qua một ống mao dẫn vào trong buồng chứa ở 25 độ Ctrong môi trường chân không Lượng ozon phóng điện để tạo thành O2 cũng được đưa vàobuồng chứa.

Kết quả của sự phát quang từ phản ứng giữa NO vào O3 được tìm ra bởi một ống nhânquang ở một nhiệt độ ổn định và bộ lọc bước song Một hệ thống van tự động mở theo mộtchu kỳ làm trệch hướng mẫu khí đi qua buồng xúc tác than hoạt tính để biến đổi NO2 thành

NO trước khi đưa vào buồng phản ứng Mẫu đo được từ quá trình chuyển đổi được gọi làNOx.Vì nó bao gồm nguồn NO ban đầu cộng với nguồn NO được sinh ra từ quá trình biếnđổi NO2.Sự khác nhau giữa dãy NOx và NO được báo cáo là NOx Động lực chủ yếu đượcthực hiện với việc chuẩn độ pha khí sử dụng lượng O2 và NO tiêu chuẩn với ống thấm NO2

Máy phân tích ozon bằng phương pháp phát quang hóa học: Ozon được tìm bằngphương pháp phát quang pha khí, sử dụng phản ứng giữa etylen và ozon (O3).Mẫu khôngkhí được lấy vào buồng pha trộn với tốc độ là 1 lít/ phút.Ở đấy nó được trộn với khí etylenvới tốc độ dòng chảy là 25 cc/ phút.Kết quả của sự phát quang từ phản ứng giữa etylen vớiozon trong môi trường xung quanh

Bộ lấy mẫu băng chất bẩn: Chất bẩn có thể được biểu thị như RUDS ( hệ số phản xạ của một đơn vị bụi bẩn che khuất) một RUDS được định nghĩa như hệ số phản xạ quang học 0,01 gây ra bởi 10000 feet không khí đi qua 0,786 in2 (vòng tròn đường kính 1-in) của giấy lọc bơm chân không kéo không khí để lấy làm mẫu qua bộ lọc băng các hạt nhỏ tập hợp lại một chỗ trên dải các dải được đẩy một cách tự động với chu kì 2h, tốc độ dòng khí

là 0,445 cfm Máy lọc được sử dụng với nguồn sáng, thừa nhận ánh sáng với bước sóng khoảng 400 nm để đo tham chiếu ánh sáng, thông tin này có thể được gửi tới màn hình Chu

kỳ thời gian lấy mẫu và tốc độ dòng không khí được chọn lựa để thỏa mãn với tiêu chuẩn ASTM (xã hội mỹ cho kiểm tra và vật liệu)

Bộ lấy hệ số bằng mẫu của khói bụi: Bộ lấy mẫu băng có thể được thiết kế để đo hệ

số truyền ánh sáng đúng hơn là hệ số phản xạ nó được sản xuất chất bẩn đo y hệt như

Trang 28

COH, một chỉ số của nồng độ chất gây ô nhiễm, cách thức được EPA ưu tiên Cách thức có

bề ngoài tương tự như trước kia ngoại trừ tế bào quang điện phía dưới dải băng Sử dụng ánh sáng trắng điều đó là tất yếu để tái phân vùng tự động (rezeno) các thiết bị gần mỗi vệt bẩn để bù sự thay đổi độ dầy dải băng Việc bù được thực hiện bởi thiết bị điện tử bán dẫn

Bộ lọc tự động lấy mẫu băng không khí cũng được sử dụng để kiểm tra một số chất khí Bộlọc băng đặc biệt được sử dụng để đo hydro sunfua, florua và các khí khác Các vệt đượctạo ra bởi chất khí gây ô nhiễm được coi như được xử lý hóa học và được đánh giá sử dụngphương pháp hệ số phản xạ hoặc hệ số truyền

Nhiều cách đo này cho khói hoặc tính chắn sáng được di chuyển trở lại nguồn (ống khói)nơi tiêu chuẩn thực thi hơn có thể áp dụng giấy phép hoạt động công nghiệp có thể cầnphải có sự trang bị bộ kiểm tra độ chắn sáng điện tử bộ kiểm tra này đo độ truyền ánh sáng

từ nguồn tới cảm biến xuyên qua ống khói (làm giảm đi) hoặc biến thiên độ truyền sáng quaống khói (nhấp nháy) Người kiểm tra có thể điều tra hồ sơ hoạt động và duy trì nhật kí suốtquá trình kiểm tra

Sắp xếp lấy mẫu

Việc thu thập các mẫu ống khói, như tro bay và phát xả bụi, đòi hỏi bộ lọc đặc biệt với trọnglượng đã biết và một sự đo đạc thể tích khí lấy mẫu mẫu có thể được thu thập ở cùng tốc

độ và những khí thông thường đi lên qua ống khói Việc đạt được trọng lượng phân chia bởi

tàn tro bay thoát ra từ ống khói, thường gren/ft3 Khi một loạt các mẫu được thu thập hoặc đo

đạc thành công, một chuỗi các bộ lấy mẫu được sử dụng cùng nhau Nó có thể gồm bộ lấy

mẫu vòi phun, một loạt va chạm, chuỗi đóng băng, bộ lọc giấy theo khối lượng, đồng hồ đo

độ khô khí, nhiệt kế và bơm

Một bộ phận chung của thiết bị cho bộ lấy mẫu ống khói nồi hơi và lò nung là bộ máy Orsat.Bằng việc đưa mẫu khí ống khói qua ba dung dịch khác nhau, phần trăm cacbon dioxit,cacbon monooxit, và oxi trong thành phần khí nhiên liệu sẽ được xác định Phần nhiên liệucòn lại trong hỗn hợp thường được thừa nhận là khí nito Phương pháp đặc biệt được dùng

để kiểm tra các khí khác và kim loại

Trang 29

Chất chỉ thị vật liệu có thể được đặt ở trong ống khói để chỉ ra sự ảnh hưởng của nguồn chấtgây ô nhiễm tới các vũng xung quanh Chất chỉ thị có thể là vật liệu huỳnh quang, chấtnhuộm, hoặc một hợp chất có thể thực hiện phóng xạ, một chất hoặc hóa chất đặc biệt, hoặcvật liệu tạo mùi đặc trưng Phương pháp chỉ thị có thể được sử dụng ngược lại, tìm ranhững nguồn các hạt gây ô nhiễm môi trường, yêu cầu không có nguồn gây nhiễu.

Đo đạc tính bền vật liệu

Ảnh hưởng trực tiếp của chất gây ô nhiễm có thể được theo dõi bởi sự bộc lộ của các vậtliệu khác nhau tới không khí ở việc chọn lựa trạm giám sát Sự biến tính của vật liệu đượcxác định cho sự chọn lựa chu kì theo thang chia từ 1 tới 10, với 1.0 đặc trưng cho sự biếnchất tối thiểu và 10,0 cho nghiêm trọng nhất, như sự liên hệ tới mẫu biểu trưng sự biến chấttối thiểu vật chất bộc lộ và điều kiện xác định gồm có sự ăn mòn thép, làm nhạt màu công

màu các công trình xây dựng (nhạy cảm với ozon), nhuộm màu các công trình xây dựng

bạc, làm hư hỏng nilon, rạn nứt cao su ( rạn nứt theo chiều sâu), làm hỏng đồ da, làm rỗ đồđồng, và những hiện tượng khác Các mẫu được bộc lộ ra cho việc chọn lựa chu kì, như đốivới cao su, 7 ngày một lần, bạc 30 ngày một lần, nilon là 30 hoặc 90 ngày một lần, cotton 90ngày một lần, thép 90 ngày hoặc 1 năm một lần, kẽm, 1 năm một lần cây bụi, cây và cácloại thực vật khác nhạy cảm với các loại chất gây ô nhiễm có thể cũng được kiểm tra ảnhhưởng của chất khí gây ô nhiễm

NHÂN TỐ MÔI TRƯỜNG

Viêc xử lí hành vi thải chất gây ô nhiễm ra khí quyển được đưa ra với việc phá hủy các nhân

tố môi trường khác nhau và phức tạp với yếu tố khí hậu và địa hình Khí hậu gồm vật lí, hóahọc và động lực học của khí quyển và bao gồm nhiều ảnh hưởng trực tiếp khác của khíquyển tới mặt đất, đại dương, và cuộc sống địa hình ám chỉ cả hai đặc điểm mặt đất do tựnhiên và nhân tạo chất gây ô nhiễm có thể tích tụ lại hoặc phân tán ra, tùy thuộc vào tự

Trang 30

nhiên và mức độ quá trình vật lí của sự vận chuyển, phân tán, di chuyển và những biến đổihóa học diễn ra Bởi vì tính phức tạp trạng thái chất gây ô nhiễm trong khí quyển, điều đó làquan trọng để phân biệt gữa hoạt động tầm ngắn cấp I của chất gây ô nhiễm (tất cả các chấtrắn lơ lửng, sunfua dioxit) có ảnh hưởng vi khí tượng học, và chất gây ô nhiễm tầm xa cấp II( ozon, mưa axit), ảnh hưởng khí hậu diên rộng.

Trong phạm vi của bài này, mục đích không phải chỉ ra một công nghệ hiểu biết hoàn chỉnhcủa tất cả nhân tố khí hậu và địa hình phức tạp nhưng đã chỉ ra rõ ràng mối liên hệ với cácchất khí gây ô nhiễm của các quá trình quan trọng hơn

Khí tượng

Các yếu tố khí tượng có ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng nhất trong sự phân tán chất ônhiễm không khí là tốc độ và hướng gió, bức xạ mặt trời, sự ổn định, và lượng mưa Vì vậy,điều quan trọng là đang tồn tại và sẽ tiếp tục tồn tại đường cơ sở của dữ liệu khí tượng,cácyếu tố này để giải thích và dự đoán những yếu tố có thể xảy ra ô nhiễm khí thải không khí

Dữ liệu về độ ẩm, nhiệt độ, tốc độ và hướng gió và lượng mưa nói chung là có thể tìm thấythông qua cơ quan thời tiết của chính phủ The National Weather Service (formerlyU.S.Weather Bureau), Asheville, North Carolina, là một nguồn chủ yếu của thông tin Nguồntiềm năng khác của thông tin là sân bay địa phương, trạm trung chuyển dịch vụ thời tiết, căn

cứ quân sự, tiện ích công cộng và cụm công nghiệp, và các trường cao đẳng và các trườngđại học

Gió: Gió là sự chuyển động của không khí so với bề mặt của trái đất Mặc dù nó theo bachiều, nhưng thường chỉ có các thành phần ngang được biểu thị khi được sử dụng bởi vìcác thành phần theo chiều dọc là rất nhỏ hơn nhiều so với thành phần theo chiều ngang.Chuyển động này xuất phát từ sự nóng lên không đồng đều của bề mặt trái đất và không khílân cận, mà lần lượt đưa đến sự ngang trong nhiệt độ và áp suất Sự biến thiên áp suất (áplực gradient) tạo lên sự mất cân bằng trong lực tác dụng để không khí từ nơi áp suất caođến nơi áp suất thấp Sự nóng lên không đồng đều của bề mặt xảy ra trên độ lớn khác nhaucủa không gian,kết quả là tại những độ lớn khác nhau không khí chuyển động có trật tự (lưuthông) trong bầu khí quyển Tóm lại, trong thứ tự giảm dần tầm quan trọng, đó là:

Trang 31

1 Lưu thông sơ cấp hoặc phổ biến (toàn cầu) kết hợp với sự chuyển động giữa cácvùng nhiệt đới và vùng cực của bán cầu.

suất (cao va thấp) được phát triển bởi sự phân tán khác nhau của khối lượng đất va nước

hạn như gió thung lũng, gió biển và đất liền

Đối với một khu vực cụ thể, sự ảnh hưởng của những lưu thông khác nhau thiết lập hànggiờ, hàng ngày, và sự thay đổi theo mùa trong tốc độ và hướng gió Ở khía cạnh khác,nguồn và sự phân tán của nguồn của nguồn ô nhiễm, tần số phân phối hướng gió sẽ chobiết hướng khu vực mà các chất ô nhiễm thường xuyên di chuyển tới Nó là cơ sở để trìnhbày dữ liệu của gió tại một vị trí đồ họa trong biểu đồ gió, một ví dụ trong số đó thể hiệntrong hình 4.1

Hình 4.1 Ví dụ về biểu đồ gió trong một khoảng thời gian theo mùa, theo tháng hoặc năm Các vị trí

can biểu đồ cho thấy hướng gió thổi Tổng chiều dài can hình thang là tỉ lệ phần trăm thời gian, trong thời gian gió thổi Chiều dài can các đoạn nói trên được chia là tỉ lệ phần trăm của thời gian gió thổi

từ hướng đó theo tốc độ dặm/h Tốc độ và hướng đi ngang của gió có thể thay đổi theo chiều cao.

Trang 32

Nồng độ của chất ô nhiểm phát ra tỉ lệ nghịch với tốc độ gió Tốc độ gió cao hơn thì sự chiacắt các hạt hoặc phân tử can chất ô nhiễm càng tăng và ngược lại Điều này được hiển thịtrong đồ họa hình 4.2a Do đó, tốc độ gió là một chỉ số về mức độ phân tán của các chất gây

ô nhiễm và góp phần vào việc xác định các khu vực bị ảnh hưởng xấu nhất bởi phát xạ Mặc

dù một khu vực có thể được đặt trong tần số theo hướng gió thổi xảy ra từ một nguồn, tốc

độ gió kết hợp với hướng gió là nguyên nhân làm cho nồng độ chất ô nhiễm sẽ thấp hơn vớihướng khác có tần số và tốc độ gió thấp hơn

Nhỏ hơn về phạm vi so với lưu thông tam cấp đã đề cập, phạm vi của chuyển động cuakhông khí là vô cùng quan trọng trong sự phát tán các chất ô nhiễm Điều này được gọi làphạm vi khí tượng và bao gồm các thời hạn rất ngắn, trên thứ tự của giây và phút, dao độngtrong tốc độ và hướng.Trái ngược với lưu thông có trật tự đã trình bày ở phần trước,khôngkhí chuyển động nhanh chóng và ngẫu nhiên tạo lên sự hỗn loạn của không khí.Bản chấthỗn loạn của gió hiển nhiên là sự cản trở chuyển động nhanh của một cánh gió Nhữngchuyển động không khí cung cấp các cơ chế hiệu quả nhất cho các phân tán hoặc pha loãngcủa một đám mây hoặc chùm các chất ô nhiễm.Sự dao động hỗn loạn xảy ra ở cả 2 hướngngang và dọc Ảnh hưởng của sự phân tán dao động theo hướng gió ngang được thể hiệntrong biểu đồ hình 4.2b

Trang 33

Hình 4.2 (a) Ảnh hưởng của tốc độ gió vào nồng độ chất gây ô nhiễm từ nguồn không đổi; (b) Ảnh

hưởng của thay đổi hướng gió vào nồng độ chất gây ô nhiễm từ nguồn không đổi ( phát xạ liên tục 4 đơn vị / giây )

Chuyển động hỗn loạn được gây ra trong dòng chảy không khí theo hai cách: bởi dòng nhiệtđối lưu mà nguyên nhân từ sự nóng lên bên dưới (nhiệt hỗn loạn) và bởi sự vận động hoặcgió lốc nguyên nhân do sự chuyển trạng thái không theo quy tắc của lớp không khí bên trên,lớp không khí bề mặt trái đất ( nhiễu loạn cơ học ) Nó có thể được dự kiến chung sẽ chuyểnđộng hỗn loạn va lần lượt, khả năng phân tán can bầu khí quyển được tăng cường trongmột khoảng thời gian khi nhiệt lượng mặt trời cao và địa hình không bằng phẳng

Một đặc trưng của gió nên được lưu ý là tốc độ gió thường tăng theo chiều cao ở các cấpthấp hơn Điều này là do giảm chiều cao của hiệu ứng "ma sát kéo" của các tính năng bêndưới bề mặt mặt đất

Trang 34

Tính ổn định và bất ổn định: Sự ổn định của khí quyển là khả năng tăng cường hay ngăn

cẳn chuyển động can không khí theo chiều dọc Trong điều kiện không ổn định chuyển độngkhông khí được tăng cường, và trong điều kiện ổn định chuyển động không khí bị ngăn cản.Các điều kiện được xác định bởi sự phân bố theo chiều cao của nhiệt độ

Trong chuyển động thẳng đứng, phần không khí trung tâm được di chuyển.Do sự giảm ápsuất theo chiều cao, phần trung tâm di chuyển lên cao sẽ bị giảm áp suất và giãn ra Nếuquá trình giãn ra này là tương đối nhanh trên một diện tích lớn để có ít hoặc không có traođổi nhiệt với không khí xung quanh hoặc bởi sự thay đổi trạng thái của hơi nước, quá trìnhđoạn nhiệt khô và phần trung tâm của không khí sẽ được làm lạnh Tương tự như vậy, nếuchuyển xuống phía dưới để tăng áp suất và hệ số kinh nghiệm thì phần trung tâm của khôngkhí sẽ được nung nóng

Tốc độ làm lạnh của một khối không khí khô nóng trong một môi trường khô theo chiều cao

là quá trình đoạn nhiệt khô với tốc độ tương đối vào khoảng -5,4 ˚ F / 1.000 feet (-1 ˚C/100m) Tốc độ (làm lạnh) trung bình là -3,5 ˚ F / 1000 feet (-0,65 ˚ C/100 m) Mối quan hệ nàyđúng ở tầng đối lưu lên đến khoảng 10 km (6 dặm) Nhiệt độ tăng cao hơn mức này trongtầng bình lưu

Sự phổ biến hoặc tốc độ tương đối của môi trường là sự giảm của nhiệt độ theochiều cao có thể tồn tại ở bất kỳ thời gian và địa điểm cụ thể Nó có thể được biểu hiện nếu

sự giảm nhiệt độ theo chiều cao lớn hơn so với -5,4 ˚F /1000 feet, phần trung tâm di chuyểnlên sẽ đạt được nhiệt độ cao hơn môi trường xung quanh Phần không khí trung tâm dichuyển xuống sẽ đạt được nhiệt độ thấp hơn so với môi trường xung quanh Sự di chuyểncủa phần trung tâm sẽ có xu hướng tiếp tục di chuyển theo hướng xác định Trong điều kiệnnày, các chuyển động theo chiều dọc được tăng cường và các lớp không khí được xác định

là không ổn định

Mặt khác, nếu sự giảm của nhiệt độ theo chiều cao nhỏ hơn -5.4˚F/1000 feet, nó có thểđược biểu hiện mà sự di chuyển của phần không khí trung tâm lên trên đạt được nhiệt độthấp hơn so với môi trường xung quanh và sẽ có xu hướng quay trở lại vị trí ban đầu Phầnkhông khí trung tâm di chuyển xuống đạt được nhiệt độ cao hơn so với môi trường xung

Trang 35

quanh và cũng có xu hướng quay trở lại vị trí ban đầu, theo những điều kiện này, chuyểnđộng thẳng đứng đang bị ngăn cản và lớp không khí được xác định là "ổn định."

Cuối cùng, nếu sự giảm của nhiệt độ theo chiều cao tương đương với -5,4˚F/1000 feet, bànchân, phần không khí trung tâm di chuyển sẽ đạt được nhiệt độ bằng với môi trường xungquanh và có xu hướng duy trì ở vị trí đó Điều này được gọi là ổn định trung tính

Sự nghịch chuyển: Đến thời điểm này, sự phân bố nhiệt độ phổ biến trong chiều thẳng

đứng đã được gọi là một tốc độ tương đối, mà chỉ giảm nhiệt độ theo chiều cao Tuy nhiên,theo một số điều kiện khí tượng, sự phân phối như vậy có thể làm tăng nhiệt độ theo chiềucao trong phạm vi của một lớp không khí Điều này được gọi là sự nghịch chuyển và tạothành một điều kiện cực kỳ ổn định

Có ba loại nghịch chuyển phát triển trong bầu khí quyển: bức xạ (bề mặt), lắng xuống (trêncao), và đẩy lên (trên cao)

Bức xạ nghịch chuyển là một hiện tượng phát triển vào ban đêm theo điều kiệncủa bầu trời tương đối rõ ràng và gió rất nhẹ Bề mặt của trái đất được làm mátbởi tái bức xạ nhiệt được hấp thụ trong ngày Tiếp theo, lớp không khí liền kề cũng đượclàm lạnh từ bên dưới cùng với đó lớp không khí bề mặt cũng có sự tăngnhiệt độ theo chiều cao

Sự nghịch chuyển lắng xuống phát triển trong các hệ thống áp suất cao (thường gắn liền vớithời tiết) trong phạm vi một lớp không khí trên cao khi lớp không khí đó lắng xuống để thaythế lớp không khí mà đã trải ra trên bề mặt Sau khi giảm dần, không khí nóng tái bức xạ,nhiệt độ đạt được lớn hơn không khí bên dưới

Một điều kiện có ý nghĩa đặc biệt là nghịch chuyển lắng xuống phát triển với một hệ thống ápsuất cao trong tình trạng trì trệ Trong điều kiện này, gradient áp suất giảm dần làm cho gióthổi rất nhẹ, nguyên nhân là sự biến đổi trong sự di chuyển ngang và phân tán của chất ônhiễm Đồng thời, sự nghịch chuyển lắng xuống ở trên cao liên tục đi xuống, làm ngăn cản(nắp) sự phân tán theo chiều dọc của các chất ô nhiễm Các điều kiện này có thể kéo dài vàingày để và kết quả là các chất ô nhiễm tích tụ lại có thể gây nguy hiểm nghiêm trọng đếnsức khỏe

Trang 36

Các hình thức của sự nghịch chuyển đẩy lên khi một khối không khí có những tính chất vànhiệt độ khác nhau gặp nhau và tương tác để không khí ấm tràn qua không khí lạnh.

Có nhiều ảnh hưởng và đa dạng của điều kiện ổn định và sự nghịch chuyển trên sự vậnchuyển và phân tán các chất ô nhiễm trong khí quyển Nói chung, chuyển động thẳng đứngđược tăng cường trong điều kiện không ổn định và tăng các chuyển động hỗn loạn, do đótăng cường sự phát tán của các chất ô nhiễm Rõ ràng, các điều kiện ổn định có ảnh hưởngngược lại

Đối với khí thải trong sự nghịch chuyển, tùy thuộc vào độ cao của khí thải đối với phân phối

ổn định của lớp không khí hoạt động thấp hơn có thể bị ảnh hưởng theo nhiều cách khácnhau Một mặt, các chất gây ô nhiễm phát ra trong phạm vi can lớp bề mặt chính ( bức xạ )nghịch chuyển bởi khối lượng thấp có thể nồng độ phát triển rất cao và nguy hiểm ở cấp độ

bề mặt Mặt khác, khi các chất ô nhiễm phát ra với khối lượng ở mức cao trong phạm vi của

sự nghịch chuyển bề mặt, sự ổn định của không khí có xu hướng duy trì các chất gây ônhiễm ở mức độ này, ngăn không cho nó đến gần bề mặt Tuy nhiên, sau khi mặt trời mọc

và tiếp tục bức xạ làm bề mặt trái đất và không khí liền kề nóng lên, sự nghịch chuyển là “đốt cháy” Một khi đạt tới điều kiện này, các lớp không khí thấp trở nên không ổn định và tất

cả các chất gây ô nhiễm đã tích lũy ở mức độ trên cao được nhanh chóng phân tán xuống

bề mặt Hoạt động đó được gọi là sự xông hơi có thể dẫn đến nồng độ cao trong một thờigian Xem hình 4.3

Lượng mưa: Lượng mưa tạo thành một quá trình làm sạch hiệu quả các chất ô nhiễm trong

bầu không khí trong ba cách: sự rửa trôi hoặc sự lọc của các hạt lớn bởi giọt mưa rơi hoặcbông tuyết ( rửa trôi ), sự tích tụ của các hạt nhỏ trong sự hình thành các giọt nước mưahoặc những bông tuyết trong mây (mưa rơi), và loại bỏ các chất ô nhiễm khí bằng cách phântán và hấp thụ

Quá trình hiệu quả và phổ biến nhất là rửa trôi của các hạt lớn,đặc biệt là ở tầng dưới của khí quyển, nơi mà hầu hết các chất ô nhiễmđược phát tán Hiệu quả của các quá trình khác nhau phụ thuộc vào mối quan hệ phức tạpgiữa các thuộc tính của các chất ô nhiễm và các đặc tính của lượng mưa

Trang 37

Địa hình

Các tính năng địa hình của một khu vực bao gồm cả hai yếu tố tự nhiên (ví dụ, các thunglũng tự nhiên, đại dương, sông, hồ, lá) và nhân tạo (ví dụ, thành phố, cầu, đường giaothông, kênh mương) các yếu tố phân phối trong khu vực Những yếu tố này,có ảnh hưởngtrực tiếp đến các chất ô nhiễm trong bầu khí quyển Ý nghĩa chính của địa hình là ảnhhưởng đến các yếu tố khí tượng Như đã nêu trước đây, những thay đổi trong phân phối củakhối lượng đất và nước phát sinh các loại lưu thông

Hình 4,3 Sự thay đổi ban ngày và ban đêm của sự pha trộn thẳng đứng (Nguồn:

Trang 38

M I Weisburd, Field Operation and Enforcement Manual for Air Pollution, Vol

1:Organization and Basic Procedures, U.S Environmental Protection Agency, Office of Air

Programs, Research Triangle Park, NC, 1972, p 1.24.)

Đặc biệt là lưu thông địa phương hoặc phạm vi nhỏ rất phát triển Những lưu thông này cóthể đóng góp một cách thuận lợi hay không thuận lợi đến sự di chuyển và phân tán của cácchất ô nhiễm

Dọc theo một bờ biển trong suốt thời gian gradient áp suất yếu, sự nóng lên dữ dội của bềmặt đất, như trái ngược với sự nóng lên ít hơn của bề mặt tiếp giáp với nước, sự phát triểnmột cách khác biệt giữa nhiệt độ và áp suất tạo ra một sự lưu thông không khí trên đất liền.Lưu thông này có thể mở rộng đến một khoảng cách nội địa đáng kể Vào những lúc hệthống áp suất cao trong tình trạng trì trệ, việc di chuyển và phân tán các chất ô nhiễm đãđược giảm đi rất nhiều, thời gian buổi chiều ngắn làm tăng luồng không khí cũng có thể ngănchặn sự tích tụ các chất ô nhiễm quan trọng

Trong khu vực thung lũng, đặc biệt là vào mùa đông, bề mặt nghịch chuyển dữ dội đượcphát triển bởi các hệ thống thoát nước xuống dốc của không khí lạnh bởi các bức xạ làmmát bề mặt thung lũng Các khu vực thung lũng phía dưới là khu dân cư và công nghiệp hóa

có thể là khu vực để tích lũy quan trọng của các chất ô nhiễm trong những thời gian này.Tăng độ gồ ghề của bề mặt được tạo ra bởi sự phân bố rộng rãi của các tòa nhà khắp thànhphố có thể tăng cường đáng kể sự hỗn loạn của luồng không khí của thành phố, qua đó cảithiện sự phân tán của các chất ô nhiễm phát ra Nhưng cùng một lúc bê tông, đá, và các tòanhà gạch và nhựa đường của thành phố hoạt động như một hồ chứa nhiệt bức xạ nhậnđược từ mặt trời trong thời gian ngày Điều này, cộng với nhiệt từ không gian ban đêm nónglên trong thời gian tháng mát mẻ của năm, tạo ra sự khác biệt giữa nhiệt độ và áp suất giữathành phố và khu vực xung quanh nông thôn để lưu thông địa phương vào trong thành phốđược phát triển Lưu thông có xu hướng tập trung các chất ô nhiễm trong thành phố Hiệntượng này gọi là hiệu ứng đảo nhiệt đô thị

Các khu vực ở phía đầu gió của các dãy núi có thể mong đợi có thể có mưa thêm do tăng

sự giãn nở, và làm mát của khối không khí chuyển động với kết quả của sự phát tán của độ

ẩm có sẵn Lượng mưa gia tăng làm cho khả năng loại bỏ các chất ô nhiễm tăng lên

Rõ ràng rằng các đặc tính địa hình có thể có nhiều và đa dạng ảnh hưởng đến các yếu tốkhí tượng và hoạt động của các chất ô nhiễm trong khí quyển

Trang 39

KHẢO SÁT Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ

Cuộc khảo sát ô nhiễm không khí của một khu vực có địa hình thông thường và khí tượngđặc trưng là một bước đầu tiên cần thiết có ý nghĩa trước khi nguồn tài nguyên không khí có

kế hoạch quản lý và chương trình có thể được thiết lập Cuộc khảo sát bao gồm đánh giánguồn phát tán và lấy mẫu chất gây ô nhiễm và mạng lưới khí tượng, bổ sung bằng cácnghiên cứu nhân khẩu học cơ bản, yếu tố kinh tế, sử dụng đất, và xã hội

có thể được thực hiện thông qua tổng khối lượng chất ô nhiễm và các nguồn tài nguyên khíquyển cho lưu lượng không khí Bảng 39 đã được phát triển để hỗ trợ trong tính toán củacác số liệu và các các loại của chất gây ô nhiễm đang hoạt động, nó cũng có thể được sửdụng để kiểm tra thông tin nhận được qua tìm hiểu riêng, bảng câu hỏi, các cuộc gọi điệnthoại, báo cáo của chính phủ, và kỹ thuật và khoa học chương 40 Các nguồn thông tin bổsung của các tập tin khiếu nại của các sở y tế, cơ quan, thành phố trực thuộc Trung ương và

tư nhân, công bố thông tin, trường đại học nghiên cứu, phòng làm việc nhà nước và địaphương báo cáo hoạt động và kết quả điều tra giao thông cũng điều tra dân số nhà ở địaphương và doanh số bán hàng xăng dầu Phần lớn vật chất này có thể được điều tra nhờvào điện tử thông qua Internet Dữ liệu về nồng độ các chất ô nhiễm chính, ví dụ, có sẵnthông qua hệ thống thông tin Retrieval Aerometric (AIRS) tại www.epa.gov/airs

Trang 40

Lấy mẫu không khí

Thiết bị lấy mẫu không khí và khí tượng học được đặt trong một đơn vị khảo sát có sự thayđổi, tùy thuộc vào các nhân tố như diện tích vùng, địa hình, mật độ dân số, khu công nghiệp,nhân lực và lợi ích kinh tế một vài trạm cũng đủ cung cấp những thông tin cần thiết

Những vị trí lấy mẫu đặc biệt đặc trưng cho cả một khu vực hoặc cho sự kiểm tra dựa trên

sự chọn lựa trên cơ sở mục tiêu, phạm vi, và giới hạn kinh tế; khả năng hoạt động quanhnăm (thời gian dài, ổn định), khả năng sử dụng năng lượng điện có sẵn, số lượng và kiểuthiết bị sẵn có, vấn đề thời gian, cán bộ có sẵn để hoạt động trạm; thời tiết của một vùng, địahình, các cản trở liền kề, sự bố trí thiết bị theo chiều cao và bề rộng; và vấn đề thợ máy lấymẫu, không gian can thiết, bảo vệ thiết bị và vị trí, rủi ro có thể, quan điểm công chúng đốivới chương trình EPA có thể tham gia giám sát và chỉ đạo vị trí Sự chú ý cẩn thận cũnggiúp làm giảm độ lệch và biến số của sự lấy mẫu như kích thước lấy mẫu, tốc độ của việclấy mẫu, hạn chế về thiết bị và việc thu thập, hạn chế trong phân tích

Sự phân tích và nghiên cứu cơ bản

Sự nghiên cứu cơ bản bao gồm nghiên cứu mật độ dân số và dự báo, phân tích sử dụngđất, vẽ bản đồ, nghiên cứu về kinh tế và đưa ra đề xuất, kể cả sự công nghiệp hóa, hệ thốnggiao thông, thể chế xã hội, sức khỏe môi trường và xem xét kĩ thuật, mối liên hệ liên bang,trong bang, và sự quy hoạch địa phương, và các nhân tố liên quan Liên hệ với các cơ quan

kế hoạch khác có thể có ích trong việc tìm kiếm những thông tin cần thiết sẵn có

Khi tất cả số liệu từ bảng tóm tắt phát tán khí xả, sự lấy mẫu không khí, việc nghiên cứu cơbản được tổng hợp, phân tích, đánh giá, một bản báo cáo sẽ được đưa ra Bước phân tích

có thể bao gồm việc tinh toán để làm rõ mức độ phát tán chất gây ô nhiễm ra ngoài khíquyển như thế nào và sự ảnh hưởng do chúng gây ra với điều kiện hiện nay và sự phát triểntrong tương lai

Các mô hình toán học có thể được phát triển hoặc những mô hình thương mại có sẵn có thểđược dùng, căn cứ theo giả thuyết nào đó và những số liệu tổng hợp, mứ độ ô nhiễm có thểđược đưa ra dưới sự phát tán khí ô nhiễm khác nhau, địa hình, và điều kiện thời tiết ngân

Ngày đăng: 17/06/2023, 15:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w