Xét về khía cạnh lịch sử, Việt Nam có thể nói đó là một dân tộc có một bề dày về mặt văn hóa và lịch sử. Từ thời các triều đại các Vua Hùng cho đến thời kỳ nghìn năm Bắc thuộc, không thể phủ nhận Đại Việt xưa bị ảnh hưởng sâu sắc bởi văn minh văn hóa của quốc gia láng giềng Trung Hoa nền văn minh rực rỡ, tiêu biểu trong văn minh phương Đông. Tuy nhiên sự ảnh hưởng đó không phải là sự tiêu cực mà nó còn là cơ hội để làm cho văn hóa của dân tộc ta càng sâu sắc theo một cách riêng, những thứ mà đã được chắt lọc sau đó làm cho phù hợp với văn hóa của người Việt và vẫn còn tồn tại cho đến tận ngày hôm nay. Những ảnh hưởng sâu sắc đó, không thể không kể đến những ảnh hưởng về tư tưởng tôn giáo như Phật giáo (Bắc Tông), các hệ tư tưởng như Nho giáo, Đạo giáo, các tư tưởng về quản lý,… trong đó Nho giáo vẫn có mức độ ảnh hưởng sâu sắc nhất định cho đến ngày nay, nhất là xét về mặt ý nghĩa trong các hoạt động học tập, nghiên cứu, quản lý nhà nước,.. Nho giáo của Khổng Tử là một học thuyết chính trị đạo đức ra đời và tồn tại đến nay đã hơn 2500 năm. Và khi nhắc đến Khổng Tử, nhắc đến Nho giáo ai trong mỗi người chúng ta cũng sẽ nghĩ ngay đến học thuyết “Chính danh”. Giá trị học thuyết này là rất lớn, không những có ảnh hưởng đến tư tưởng của người dân Trung Quốc qua hàng nghìn năm lịch sử mà còn bám rễ vào các nền văn hoá của các quốc gia trong đó có Việt Nam. Cho đến nay nhiều tư tưởng, quan niệm về xã hội, con người, đạo đức, giáo dục… thể hiện trong học thuyết “Chính danh” của Khổng giáo vẫn còn giá trị và mang tính thời sự. Vì vậy, việc nghiên cứu và trao đổi về những ảnh hưởng của học thuyết này trong xã hội ta hiện nay là việc làm cần thiết, hữu ích.Ngày nay, nhân dân cả nước đang chung tay xây dựng đất nước đi lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong khuôn khổ của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Song, những ảnh hưởng của Nho Giáo đặc biệt là học thuyết Chính danh về căn bản vẫn còn khá mạnh. Ảnh hưởng đó có mặt tích cực có mặt tiêu cực. Tích cực hay tiêu cực là nhìn vào việc tạo thuận lợi hay gây khó khăn cho nhận thức, thích ứng, lựa chọn, sáng tạo trong sự phát triển hòa nhập với thời đại. Vậy vấn đề đặt ra là học thuyết “Chính danh” có giá trị như thế nào trong xã hội hiện nay? Chúng ta có thể vận dụng như thế nào vào tiến trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là trong công tác tuyển dụng cán bộ công chức ở nước ta? Sinh thời, Chủ Tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Để có thể hoàn tất sự nghiệp đổi mới, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” thì việc cần thiết hiện nay chính là xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có chuyên môn, nghiệp vụ, có năng lực công tác và có phẩm chất đạo đức tốt. Để có một đội ngũ cán bộ chất lượng cao thì việc đầu tiên phải chú trọng chính là công tác tuyển dụng. Tuy nhiên, thực tế hiện nay thì công tác này ở nước ta vẫn còn mang nhiều bất cập, phần nhiều vẫn chưa tuyển chọn được người có tài, có đức thực sự để phục vụ đất nước; cán bộ công chức thật sự vẫn chưa là công bộc, là người tớ phục vụ tận tụy cho nhân dân. Chính vì lẽ đó, bản thân đã lựa chọn nghiên cứu: “Học thuyết Chính danh và ý nghĩa của nó nó đối với việc tuyển chọn công chức Việt Nam hiện nay”.
Trang 1MÔN: TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
Câu hỏi: Anh (chị) hãy trình bày học thuyết Chính danh của Khổng Tử và
ý nghĩa của nó đối với việc tuyển chọn công chức Việt Nam hiện nay.
I PHẦN MỞ ĐẦU
Xét về khía cạnh lịch sử, Việt Nam có thể nói đó là một dân tộc có một bề dày
về mặt văn hóa và lịch sử Từ thời các triều đại các Vua Hùng cho đến thời kỳ nghìnnăm Bắc thuộc, không thể phủ nhận Đại Việt xưa bị ảnh hưởng sâu sắc bởi văn minhvăn hóa của quốc gia láng giềng Trung Hoa - nền văn minh rực rỡ, tiêu biểu trong vănminh phương Đông Tuy nhiên sự ảnh hưởng đó không phải là sự tiêu cực mà nó còn
là cơ hội để làm cho văn hóa của dân tộc ta càng sâu sắc theo một cách riêng, nhữngthứ mà đã được chắt lọc sau đó làm cho phù hợp với văn hóa của người Việt và vẫncòn tồn tại cho đến tận ngày hôm nay Những ảnh hưởng sâu sắc đó, không thể không
kể đến những ảnh hưởng về tư tưởng tôn giáo như Phật giáo (Bắc Tông), các hệ tưtưởng như Nho giáo, Đạo giáo, các tư tưởng về quản lý,… trong đó Nho giáo vẫn cómức độ ảnh hưởng sâu sắc nhất định cho đến ngày nay, nhất là xét về mặt ý nghĩatrong các hoạt động học tập, nghiên cứu, quản lý nhà nước,
Nho giáo của Khổng Tử là một học thuyết chính trị - đạo đức ra đời và tồn tạiđến nay đã hơn 2500 năm Và khi nhắc đến Khổng Tử, nhắc đến Nho giáo ai trongmỗi người chúng ta cũng sẽ nghĩ ngay đến học thuyết “Chính danh” Giá trị học thuyếtnày là rất lớn, không những có ảnh hưởng đến tư tưởng của người dân Trung Quốcqua hàng nghìn năm lịch sử mà còn bám rễ vào các nền văn hoá của các quốc giatrong đó có Việt Nam Cho đến nay nhiều tư tưởng, quan niệm về xã hội, con người,đạo đức, giáo dục… thể hiện trong học thuyết “Chính danh” của Khổng giáo vẫn còngiá trị và mang tính thời sự Vì vậy, việc nghiên cứu và trao đổi về những ảnh hưởngcủa học thuyết này trong xã hội ta hiện nay là việc làm cần thiết, hữu ích
Ngày nay, nhân dân cả nước đang chung tay xây dựng đất nước đi lên côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong khuôn khổ của nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa Song, những ảnh hưởng của Nho Giáo - đặc biệt là học thuyếtChính danh về căn bản vẫn còn khá mạnh Ảnh hưởng đó có mặt tích cực có mặt tiêu
Trang 2cực Tích cực hay tiêu cực là nhìn vào việc tạo thuận lợi hay gây khó khăn cho nhậnthức, thích ứng, lựa chọn, sáng tạo trong sự phát triển hòa nhập với thời đại Vậy vấn
đề đặt ra là học thuyết “Chính danh” có giá trị như thế nào trong xã hội hiện nay?
Chúng ta có thể vận dụng như thế nào vào tiến trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội, đặcbiệt là trong công tác tuyển dụng cán bộ công chức ở nước ta?
Sinh thời, Chủ Tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định “cán bộ là cái gốc của mọicông việc”, “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém” Để cóthể hoàn tất sự nghiệp đổi mới, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dânchủ, công bằng, văn minh” thì việc cần thiết hiện nay chính là xây dựng đội ngũ cán
bộ công chức có chuyên môn, nghiệp vụ, có năng lực công tác và có phẩm chất đạođức tốt Để có một đội ngũ cán bộ chất lượng cao thì việc đầu tiên phải chú trọngchính là công tác tuyển dụng Tuy nhiên, thực tế hiện nay thì công tác này ở nước tavẫn còn mang nhiều bất cập, phần nhiều vẫn chưa tuyển chọn được người có tài, cóđức thực sự để phục vụ đất nước; cán bộ công chức thật sự vẫn chưa là công bộc, làngười tớ phục vụ tận tụy cho nhân dân Chính vì lẽ đó, bản thân đã lựa chọn nghiên
cứu: “Học thuyết Chính danh và ý nghĩa của nó nó đối với việc tuyển chọn công
chức Việt Nam hiện nay”.
II NỘI DUNG
2.1 Vài nét về Khổng Tử và hoàn cảnh ra đời học thuyết Chính danh
Khổng Tử tên thật là Khổng Khâu tự là Trọng Ni, người làng Xương Bình,
huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông ngày nay Ông sinh năm 551 Trước Công nguyên thời điểm xã hội Trung Quốc cổ đại loạn lạc, các vua chúa chuyên tâm hưởng thụ hoặcchém giết nhau để xưng hùng, xưng bá Đạo lý nhân luân xáo trộn, vinh nhục không rõrang, thiện ác khó phân biệt
-Vào năm ông 33 tuổi, nước Lỗ loạn lạc, Khổng Tử đến nước Tề, sau đó lại quay
về nước Lỗ, với tài năng và tinh thần ham học cũng như hiểu biết sâu rộng của mình,ông chuyên tâm dạy học và nghiên cứu sách Ông san định Kinh thi, Kinh thư, Kinhdịch, Kinh lễ và soạn Kinh Xuân thu Môn đệ của ông chép lại những lời dạy làmthành bộ “Luận ngữ” Ông hệ thống hóa những tri thức, tư tưởng đời trước và quanđiểm của ông thành học thuyết đạo đức - chính trị nổi tiếng, gọi là Nho giáo Nội dung
Trang 3cơ bản của tư tưởng Khổng Tử gồm có 3 vấn đề cơ bản, đó là: Thế giới quan, luân lýđạo đức và học thuyết “Chính danh”.
Vào lúc sinh thời, Khổng Tử thường nói với học trò rằng “(Ngô) thuật nhi bấttác, tín nhi hiếu cổ” nghĩa là: Ta chỉ thuật lại mà không trước tác, tin vào đạo lý đờixưa Theo các nhà nghiên cứu về Nho giáo và Khổng Tử ngày nay đều cho rằng, trongcác tác phẩm như Kinh Thi, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu, Luận Ngữ… thì chỉ có quyểnLuận Ngữ được xem là đáng tin cậy nhất vì những lời phát biểu của Khổng Tử trongsinh thời mà phần lớn là đàm thoại với học trò của ngài Vậy, do đâu mà Khổng Tử đề
ra học thuyết Chính danh?
Trong thời đại của mình, Khổng Tử nhận thấy tình trạng rối ren, phức tạp của
xã hội phong kiến thời Chu Xã hội mà tôn ti trật tự bị rối ren, đảo lộn Ngài lấy làmtiếc cái thời đầu nhà Chu như Chu Võ Vương, Chu Công… sao mà thời đại tươi đẹp,phong hóa tốt tươi đến thế! Ngài nhìn thấy tình cảnh “tôi thí vua, con giết cha khôngphải nguyên nhân của một sáng một chiều” Mọi sự việc, nguyên nhân đều có cái cớcủa nó Mà cái cớ này không tự dưng mà có mà nó được tích tập dần dần qua thời gian
mà đến một thời điểm nào đó, chúng ta tạm gọi đó là điểm nút thì sẽ xảy ra kịch tínhnhư trên Kinh dịch có câu “Đi trên sương mà băng giá tới” (Lý sương kiên băng chí)
là thuận với lẽ diễn tiến tự nhiên của mọi sự vậy
Khổng Tử thấy tình trạng xã hội thời ngài hỗn loạn đến nỗi “tôi giết vua, congiết cha” là tệ hại lắm rồi, nhưng ngài là người không thích bạo lực, không thích làmcuộc thay đổi triệt để để triệt tiêu cái tệ trên bằng bạo lực cho nên ngài mới đề ra họcthuyết Chính danh nhằm để cải tạo xã hội, giáo hóa xã hội dần dần Bản tính ngàithích ôn hòa, thích giáo huấn dần dần hơn là bạo lực, mà bạo lực chưa chắc gì đã giảiquyết triệt để cái tệ “tôi giết vua, con giết cha” nói trên mà bất quá chỉ thay thế cuộcthí quân này bằng cuộc thí quân khác hoặc vụ giết cha này bằng vụ giết cha khác Bạolực bất quá chỉ giải quyết việc trước mắt, tức thời, chỉ trị được ngọn chứ làm sao trịđược gốc của tình hình trên, chỉ có cuộc cách mạng tư tưởng mới trị được gốc của cái
tệ tôi giết vua, con giết cha nói trên Cũng theo Hồ Thích “Khổng Tử chủ trươngChính danh chính từ, một mặt muốn cổ võ hành động con người một mặt muốn cấmdân làm bậy”
Trang 4Hầu hết các nhà Nho, các nhà nghiên cứu về Nho giáo và Khổng Tử đều thừanhận rằng học thuyết Chính danh là một phát kiến mới của Khổng Tử Do chính ngàiquan sát thấy được tình trạng lộn xộn, mất tôn ti trật tự, trên cho ra trên, dưới cho radưới; vua cho ra vua, tôi cho ra tôi,… nên ngài mới đề ra học thuyết Chính danh để thểhiện mong ước thiết lập trật tự xã hội, danh phận rõ ràng, đưa xã hội từ loạn trị trở lạibình trị như thời đầu Nhà Chu
Thuyết Chính danh được các học trò của Khổng Tử là Mạnh Tử và Tuân Tử bổsung và hoàn thiện; Tuân Tử cho rằng: “mọi vật đều có tên, vật giống nhau thì có têngiống nhau, vật khác nhau thì có tên khác nhau” “Biết thực khác thì có danh khác,cho nên nói thực khác nhau bằng danh khác nhau thì không loạn bao giờ” Thực chất,học thuyết Chính danh không những chỉ có giá trị ở thời ông Nói theo cách nói củahọc giả Nguyễn Hiến Lê khi viết lời mào cho cuốn Khổng Tử đã phát biểu rằng “Triếtthuyết nào cũng chỉ để cứu cái tệ của một thời thôi Muốn đánh giá một triết thuyết thìphải đặt nó vào thời của nó, xem nó có giải quyết được những vấn đề của thời đókhông, có là một tiến bộ so với các thời trước, một nguồn cảm hứng cho các đời saukhông Và nếu sau mười thế hệ, người ta thấy nó vẫn còn làm cho đức trí con ngườiđược nâng cao thì phải coi nó là một cống hiến lớn cho nhân loại rồi.”
2.2 Nội dung học thuyết Chính danh
Học thuyết của Khổng Tử chủ yếu đề cập đến những vấn đề chính trị - xã hội
Vì vậy nó là học thuyết chính trị Tuy nhiên, dưới góc độ tiếp cận và hướng giải quyếtnhững vấn đề chính trị - xã hội, tư tưởng của Khổng Tử lại là tư tưởng về con người,
về đạo đức Hay nói khác học thuyết của Khổng Từ về cơ bản là học thuyết chính trị đạo đức
-Khổng Tử cho rằng mỗi vật và mỗi người trong xã hội đều có một công dụngnhất định Nằm trong mối quan hệ nhất định mỗi vật, mỗi người đều có một địa vị bổnphận nhất định và tương ứng với nó là một danh nhất định Mỗi “danh” điều có tiêuchuẩn riêng Vật nào, người nào mang “danh” nào phải được thực hiện và phải thựchiện bằng được những tiêu chuẩn của danh đó, nếu không phải thì gọi bằng “danh”khác Đó chính là học thuyết “Chính danh” của Khổng Tử - một học thuyết được xem
là quan trọng trong toàn bộ tư tưởng của ông
Trang 5Như đã đề cập ở trên, tư tưởng chính trị của Khổng Tử được thể hiện tập trungnhất trong quan niệm của ông về nhân, lễ, Chính danh và mối quan hệ giữa chúng.Trong đó, nhân là nội dung, lễ là hình thức còn Chính danh là con đường đạt đến điềunhân.
Như vậy, Chính danh không phải là học thuyết độc lập mà nó nằm trong chỉnhthể đức trị (nhân - lễ - Chính danh) Có nhân và lễ thì mới có Chính danh Và khi có
"Chính danh" thì chi phối cái nhân, lễ Con người không có nhân và lễ thì không cóChính danh Vì vậy, để tìm hiểu học thuyết "Chính danh" trước hết ta đi tìm hiểu thếnào là "nhân" và thế nào là "lễ"
Nhân: trong Luận ngữ có nhiều sự giải thích khác nhau về “nhân” tuy nhiên sự
giải thích trong thiên “Nhan Uyên” là bao quát hơn cả, ở đây “nhân” trong quan điểmcủa Khổng Tử là “yêu người” Theo Khổng Tử: "Duy có bậc nhân mới thương người
và ghét người một cách chính đáng mà thôi" (Luận ngữ, Lý nhân, 3) – chỉ có người cóđức nhân thì mới biết “yêu người” và ghét người” Như vậy, “nhân” là yêu người,nhưng “nhân” còn phải biết ghét người nữa Trong Luận ngữ, có chỗ Khổng Tử khôngdùng khái niệm nhân nhưng nội dung lại thấm đượm tình yêu thương cao cả, đối vớiông, nhân chính là đạo lý làm người, vừa thương người (ái nhân), vừa phải giúp người(cứu nhân) Ông cho rằng, khi thi hành điều nhân phái phân biệt thân sơ, trên dưới.Trong quan niệm của Khổng Tử, nhân không chỉ là yêu người ghét người mà còn làðức hoàn thiện con người, “nhân” là đức tính căn bản cần thiết nhất của con người để
tu dưỡng bản thân Đối với người quân tử chữ nhân (tu thân) chính là nền tảng cản bản
để “trị quốc” Khổng Tử cho rằng: “Người quân tử làm việc vì thiên hạ, không nhấtđịnh phải như thế này mới được hoặc như thế kia là không được, cứ hợp đạo nghĩa màlàm” (Luận ngữ)
Đối với Khổng Tử, thái độ của người dân đánh giá chữ nhân của nhà cầmquyền: “Hỏi về điều nhân Khổng Tử nói: Ra cửa phải như tiếp khách lớn, trị dân phảinhư làm lễ tế lớn, điều gì mình không muốn người khác làm cho mình thì mình cũngđừng làm cho người khác Như vậy, trong nước chẳng ai oán giận, trong nhà cũngkhông ai oán giận” (Luận ngữ, XII:2) Có thể thấy học thuyết Nho Gia đã lấy lợi íchcủa dân làm gốc Đây là điểm tiến bộ có ảnh hưởng đến việc trị quốc sau này củaTrung Quốc
Trang 6Lễ: Theo Nho giáo, “lễ” là quy định về mặt đạo đức trong quan hệ ứng xử giữa
người với người Con cái phải có hiếu với cha mẹ, bề tôi phải trung với vua, chồng vợ
có nghĩa với nhau, anh em phải trên kính dưới nhường, bạn bè phải giữ được lòng tin.Theo nghĩa rộng hơn “lễ” bao gồm những nghi thức trong tế lễ, những nguyên tắc về
tổ chức và hành động chính trị, những chuẩn mực về tư tưởng và hành vi của con
người nhằm bảo đảm trật tự và sự yên bình của xã hội “Lễ” còn được coi là đường
lối chính trị gọi là “Lễ trị” xã hội có trật tự được xem là xã hội có lễ, con người có đạođức được đánh giá là con người có lễ: Hiểu lễ là điều kiện để hiểu được thực chất cácphạm trù và các khái niệm khác của học thuyết Khổng Tử Tóm lại, quy chế, kỷcương, trật tự, tôn ti của cuộc sống cùng trong cộng đồng xã hội và lối cư xử hàngngày Theo nghĩa rộng này, “lễ” là cơ sở của một xã hội có tổ chức, đảm bảo phân địnhtrên dưới rõ ràng
Khổng Tử từng nhận định: “Khắc kỷ phục lễ vi nhân, nhất nhật khắc kỷ phục lễ,dẹp bỏ tư dục, trở về với lễ là phát huy điều nhân (Luận ngữ) và "Nhân nhi bất nhân,như lễ hà? Nhân nhi bất nhân, như nhạc hà?" "Một con người nếu thiếu đạo nhân thìlàm sao có lễ được? Một con người nếu chẳng có lòng nhân thì làm sao hiểu được âmnhạc?" (Luận Ngữ) Như vậy, Lễ chính là hình thức của Nhân và Nhân chính là nộidung của Lễ
Lễ giúp người ta phân biệt phải trái, đúng sai, giữ đúng đạo làm người "Trongcái nghĩa rộng, lễ có hàm cái tính chất pháp luật, nhưng lễ thì thiên trọng về cái quy củtích cực Lễ thì dạy người ta nên làm điều gì và không nên làm điều gì; pháp luật thìcấm không cho những điều gì, hễ làm thì phải tội Người làm điều trái lễ thì chỉ bịngười quân tử chê cười, chứ người làm trái pháp luật thì có hình pháp xét xử."
Có thể thấy, Khổng Tử rất coi trọng chữ nhân và chữ lễ của người cầm quyền.Nhân và lễ trong Nho giáo có mối quan hệ biện chứng, lễ là hình thức của nhân chỉ có
lễ mà thiếu nhân thì thiếu nền đạo đức căn bản, lễ chỉ còn là pháp, mà pháp lại chỉ lànhững quy định để phạt tội
Với một tầm nhìn bao quát, rõ ràng trị quốc không thể chỉ có Đức trị và Lễ trị,
mà còn cần cả một hệ thống pháp luật chặt chẽ và đảm bảo công bằng cho nhân dân.Tuy nhiên, nền tảng căn bản cho việc ban hành và thực hiện hệ thống pháp luật chính
là người có nhân đức đặt lợi ích của dân tộc lên trên lợi ích cá nhân
Trang 7Chính danh: Để thực hiện nhân và lễ, Khổng Tử đã nêu ra tư tưởng Chính
danh Chính danh là danh nghĩa và thực chất phải phù hợp với nhau, mỗi sự vậtphải được gọi đúng tên của nó, mỗi người phải làm đúng chức phận của mình, ai ở địa
vị nào, danh phận nào thì giữ đúng vị trí và danh phận của mình, cũng không dành vịtrí của người khác, không lấn vượt và làm rối loạn Trong sách Luận Ngữ có câu:
"Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử - Vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con".Đây là năm mối quan hệ lớn của Nho gia (ngũ luân) : vua - tôi, cha - con, chồng – vợ,anh – em, bầu bạn, mỗi người đều phải hành xử đúng với cái danh mà mình mang.Vua phải có uy thế của vua, phải có tài có đức cho dân kính trọng Bề tôi cũng phảilàm tròn trách nhiệm của mình là trung với vua, một lòng tôn kính tuân lệnh, thậm chísẵn sàng xả thân “cứu chúa” Cha phải ra cha, phải luôn luôn hành xử đúng mựcgương mẫu để con noi theo Con thì phải làm tròn chữ hiếu, kính trọng, vâng lời hếtlòng phụng dưỡng cha,… Những nguyên tắc này đã rất có giá trị để thiết lập một trật
tự xã hội từ trên xuống dưới, từ phạm vi một quốc gia tới phạm vi một gia tộc hay nhỏhơn nữa là một gia đình trong xã hội phong kiến Mỗi người cần biết mình đang ở vịtrí nào trong các mối quan hệ, để biết mình là ai và có cách hành xử đúng đắn Cáchhành xử này phải dựa trên nền tảng đạo đức, hay chữ “nhân” như đã phân tích ở trên.Trong sách Trung Dung có ghi: "Đạt đạo trong thiên hạ có năm điều: đạo vua tôi, đạocha con, đạo vợ chồng, đạo anh em, đạo bạn bè" Với đạo đức là cốt lõi, người quân tửbiết mình là ai trong quan hệ vua - tôi, cha - con, vợ - chồng, anh em, bạn bè Nếu mọingười đều nhận biết như vậy, thì cảnh “tôi giết vua, con giết cha” không còn, xã hộibình trị
Khổng Tử cho rằng thiên hạ bị rối loạn vì vua không ra vua, tôi không ra tôi,cha không ra cha, con không ra con Từ đó, ông đưa ra học thuyết “Chính danh địnhphận” làm căn bản cho việc trị quốc
Cơ sở lý luận của học thuyết Chính danh cũng xuất phát từ nguyên lý của kinhdịch, bao gồm: DỊCH – TƯỢNG – TỪ.
Dịch là sự biến dịch trong vũ trụ.
Tượng là khuôn mẫu, là nguồn gốc cho mọi vật Đó là ý tưỡng (là ý niệm làm
khuôn mẫu cho các vật cụ thể của vũ trụ) “tại thiên thành tượng, tại địa thành hình”
Trang 8Từ là ý niệm chỉ chỉ thể hiện bằng một từ, một tên gọi, đó chính là bản tính của
sự vật Cho nên, vua phải ra vua, tôi phải ra tôi Vua dùng lễ để hành động với bản tínhđược thể hiện bằng ý niệm, tức là bằng tên gọi: Vua - đạo làm vua
Chức danh là Danh (tên gọi, chức vụ, địa vị, thứ bậc) và Phận (phận sự, nghĩa
vụ, quyền lợi) phải phù hợp với nhau Danh không phù hợp sẽ trở thành loạn Danh.
Danh và phận của một người trước hết do những mối quan hệ xã hội quy định (ngũ
luân và ngũ thường) Để Chính danh, nho giáo không dùng pháp trị mà dùng đức trị,
là dùng luân lý đạo đức điều hành xã hội Ý nghĩa sâu xa của chính danh thường thểhiện ở mặt dụng với ba khía cạnh:
+ Trước hết, là phân biệt cho đúng tên gọi Mỗi sự vật cũng như con người phảihiện đúng bản tính của mình, mỗi cái tên bao hàm thái độ, trách nhiệm, bổn phận, đểthực hiện bản tính vốn có của nó Vua phải là tấm gương cho dân chúng noi theo, vuađộc ác, xã hội loạn lạc; vua nhân đức, dân chúng yên bình “Kỳ thân chính, bất lệnhnhi hành, kỳ thân bất chính, tuy lệnh bất tòng” (Luận Ngữ, thiên Tử Lộ); “Vua màngay chính thì không sai khiến người ta cũng làm theo điều phải, còn vua mà khôngngay chính thì có sai khiến người ta cũng không ai theo cả”
+ Thứ hai, phân biệt cho đúng danh phận, ngôi vị. Vua phải ra vua, bề tôi phải
ra bề tôi, cha phải ra cha, con phải ra con Tức là người nào ở vị trí nào thì phải ứng xử
ở vị trí đó, không được lẫn lộn, không được tùy tiện, phải tuân theo phép tắc, quy cũcủa xã hội đã quy định Như vậy, xã hội mới không bị đảo lộn, không bị loạn lạc.Riêng đối với người cầm quyền vua - thiên tử được thay trời cai trị thì càng phải làmđúng danh của mình, như vậy mọi người mới noi theo Đặc biệt, trong việc chính sự(việc nước), điều đầu tiên nhà vua phải làm là lập lại Chính danh, phải xác định vị trí,vai trò, nghĩa vụ và trách nhiệm của từng người để họ hành động cho đúng Khổng Tửcho rằng không ở chức vị ấy thì không được bàn việc của chức vị đó, không đượchưởng quyền lợi, bổng lộc của chức vị ấy
+ Thứ ba, danh mang tính khẳng định chân lý, phân định đúng sai, tốt, xấu.Chính danh không có nghĩa là ngu trung theo kiểu tuyệt đối trung thành theo chủ nhân,thờ một ông vua trước sau không thay đổi cho dù ông vua đó đã mất thân phận làmvua do làm bậy Chừng nào mà vua còn làm tròn thiên mệnh, nhân dân dưới quyền caitrị của vua được hưởng hòa bình và hạnh phúc thì đó là vua hiền, con người vua là
Trang 9thiêng liêng và bất khả xâm phạm Muốn như vậy ông vua phải siêng năng lên nữa đểlàm tròn trách nhiệm của một ông vua Trái lại, nếu đó là một ông vua ác độc, mà sựcai trị hà khắc làm cho nhân dân điêu đứng khổ sở, th́ tức là ông vua ác đó đã đánhmất Chính danh và có thể sẽ bị mất luôn ngôi vua và mệnh trời và nhân dân có quyềnchính đáng nổi dậy, lật đổ ông vua ác độc đó và cử người khác lên thay thế Thay bậcđổi ngôi cũng là do mệnh trời Nếu cuộc khởi nghĩa thành công, một ông vua khác lênthay, thì đó cũng hợp Chính danh và hợp với mệnh trời.
Trong chính trị, Khổng Tử phản đối việc nhà cầm quyền dùng luật pháp, hìnhphạt để cai trị dân. Ông cho rằng, nguyên nhân làm cho xã hội loạn lạc, dân tình khổ
sở là do không “Chính danh”, muốn xã hội ổn định và phát triển thì phải giáo hóa đạođức và thực hiện “Chính danh, định phận” “Chính danh, định phận” là làm mọi việccho ngay thẳng, người nào có địa vị, bổn phận chính đáng của người ấy cứ thế màlàm, trên - dưới, vua - tôi, cha - con, chồng - vợ trật tự phân minh
2.3 Ý nghĩa trong tuyển dụng công chức ở nước ta hiện nay
Là lãnh tụ cách mạng, Hồ Chủ tịch đã thấm nhuần tư tưởng một khi đã cóđường lối cách mạng đúng thì cán bộ là khâu quyết định Người viết "muôn việc thànhcông hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém", "cán bộ là cái gốc của mọi công việc"
Sự thật là mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ đều do cán
bộ nghiên cứu, đề xuất, đồng thời cũng do cán bộ tổ chức, hướng dẫn nhân dân thựchiện Đường lối chính sách của Đảng đúng hay sai, tổ chức thực hiện thành công haykhông đều phụ thuộc vào cán bộ Động lực của mọi cuộc cách mạng là quần chúngnhân dân, mà hạt nhân chủ yếu của nó là lực lượng cán bộ Do đó, ngay từ khi nước tavừa giành độc lập, bắt đầu công cuộc xây dựng đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đãkêu gọi chọn nhân tài kiến quốc: "Kiến thiết cần có nhân tài Nhân tài nước ta dù chưa
có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhântài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều” Người đã rất quan tâm đến việc lựachọn người tài giỏi ra giúp dân, giúp nước và lưu ý đến việc chọn lựa cán bộ côngchức có đủ tiêu chuẩn vào làm việc trong các cơ quan, bộ máy hành chính Nhà nước.Sắc lệnh số 188 năm 1948 và số 76 năm 1950 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành
đã nêu cụ thể các môn thi về chính trị, pháp luật, địa lý, lịch sử và ngoại ngữ vào biênchế Nhà Nước, nhằm tìm ra người tài xây dựng đất nước Các kỳ thi tuyển công chức
Trang 10vào mọi ngạch, bậc của nền hành chính quốc gia đã được thực thi theo quy địnhchung
Xác định được vị trí và vai trò của cán bộ là tiền vốn của đoàn thể - cái gốc củamọi công việc nên Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người cán bộ mẫu mực phải có đức
có tài Những tiêu chuẩn cụ thể của cán bộ công chức Nhà nước theo tư tưởng Hồ ChíMinh là:
1) Phải trung thành với Tổ quốc với cách mạng, chế độ XHCN
2) Có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ giỏi
3) Phải có mối liên hệ mật thiết với mọi người xung quanh
4) Dám phụ trách, dám quyết đoán, dám chịu trách nhiệm, nhất là trong nhữngtình huống khó khăn Thất bại không hoang mang, tự ti
Ngày 13 tháng 11 năm 2008 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam thông qua Luật cán bộ công chức được cũng đã đưa ra các tiêu chuẩn tuyển chọncông chức
Về Căn cứ tuyển dụng công chức: chức tại mục II luật này cụ thể như sau: Điều
35 luật cán bộ công chức quy định việc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào yêu cầunhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế
Về điều kiện đăng ký dự tuyển công chức: Theo điều 36 Luật cán bộ công chứcthì người tham gia dự tuyển công chức phải có một số điều kiện sau: Có văn bằng,chứng chỉ phù hợp; Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; Đủ sức khoẻ để thực hiệnnhiệm vụ…
Về phương thức tuyển dụng công chức: tại điều 37 Luật cán bộ công chức cóquy định: Việc tuyển dụng công chức được thực hiện thông qua thi tuyển, trừ trườnghợp những người cam kết tình nguyện làm việc từ 05 năm trở lên ở miền núi, biêngiới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xãhội đặc biệt khó khăn thì được tuyển dụng thông qua xét tuyển Hình thức, nội dungthi tuyển công chức phải phù hợp với ngành, nghề, bảo đảm lựa chọn được nhữngngười có phẩm chất, trình độ và năng lực đáp ứng yêu cầu tuyển dụng…
Về nguyên tắc tuyển dụng công chức: điều 38 của bộ luật này cũng quy địnhnhư sau: bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật Bảo đảm tính
Trang 11cạnh tranh Tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và vị trí việc làm Ưutiên tuyển chọn người có tài năng, người có công với nước, người dân tộc thiểu số.
Có thể thấy rằng, tiêu chuẩn chung để tuyển chọn công chức ở Việt Nam ta làngười cán bộ vừa phải có trình độ, năng lực chuyên môn phù hợp vừa phải có phẩmchất chính trị và đạo đức tốt Nhưng để tuyển chọn được người vừa có tài vừa có đứckhông phải dễ dàng, khi mà ở đất nước ta vấn nạn “con ông cháu cha”, dùng tiền muachức, mua quyền vẫn là những vấn đề nan giải
Hiện nay vấn đề công chức làm việc theo kiểu “sáng cắp ô đi, tối cắp ô về,không mang lại bất cứ thứ hiệu quả công việc nào” đang được xã hội đặc biệt quantâm Một thực tế rất đau lòng là đội ngũ cán bộ hiện tại của nước ta đang có năng suấtlao động rất thấp và nếu như có cắt giảm khoảng 30% số công chức thì vẫn không ảnhhưởng gì tới công việc hiện tại Điều này thật quá bất hợp lý khi mà người dân laođộng Việt Nam hàng ngày phải làm việc và đóng tiền thuế để nuôi một bộ máy thừathải, cồng kềnh với cả triệu công chức ăn không ngồi rồi
Cũng vì rảnh rỗi, ăn không ngồi rồi đã dẫn đến thực trạng của đội ngũ côngchức phổ biến hiện nay là hiện tượng công chức lấy cắp giờ công, thờ ơ và vô cảm vớiyêu cầu và hoàn cảnh của người dân bằng những hình thức thường xuyên xảy ra là đitrễ, về sớm, ăn sáng trong giờ làm việc, ngủ nướng trong phòng làm việc, mặc chongười dân chờ đợi giải quyết công chuyện
Vậy, nguyên nhân dẫn đến một bộ phận cán bộ, công chức vô dụng là do đâu?Phải chăng ngay từ khâu tuyển dụng cán bộ công chức đã không thực hiện đúng nhưtiêu chuẩn, nguyên tắc đã đề ra Tiêu chuẩn tuyển chọn công chức phải là người có tài,
có đức nhưng đứng trước thực tế là vấn nạn “con ông cháu cha” đang là một vấn đềnhức nhối trong xã hội Việt Nam ngày nay thì những tiêu chuẩn đó chì có thể đặt ra
mà chẳng thể thực hiện được Trước đây khi chưa có thi tuyển, các cán bộ công chứcđược tuyển vào chủ yếu là con em trong ngành Bố mẹ đang và đã làm trong ngànhnào thì khi về hưu con sẽ được thế chỗ mà không cần quan tâm trình độ, năng lực cóphù hợp với chuyên môn hay không Cứ tuyển dụng sau đó cơ quan sẽ cử đi học đểhợp thức hóa sau, đó là lý do mà thời gian trước đây chúng ta không thấy nhưng thôngtin tuyển dụng công chức công khai và rộng rãi, mỗi ngành, mỗi cơ quan tự xem xéttuyển chọn cán bộ công chức cho cơ quan mình Thời gian gần đây, một số cơ quan