Tựu trung tập trung vào 5 điểm cơ bản: Điều kiện rađời nền sản xuất hàng hóa; Hàng hóa và các yếu tố nội tạicủa nó; Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa;Giá cá thị trường và
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
1 Lý luận Các Mác về sản xuất hàng hoá
1.1 Sản xuất hàng hoá
1.2 Hàng hoá và thuộc tính của hàng hoá
1.3 Tiền tệ
2 Sự vận dụng lý luận Các Mác về sản xuất hàng hoá vào phát triển kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay 11
KẾT LUẬN 17
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lý luận C Mác về sản xuất hàng hoá là một trong nhữngnội dung cơ bản của học thuyết kinh tế của chủ nghĩa Mác -Lênin, được cấu thành từ nhiều quan điểm, sắp xếp thành hệthống Tựu trung tập trung vào 5 điểm cơ bản: Điều kiện rađời nền sản xuất hàng hóa; Hàng hóa và các yếu tố nội tạicủa nó; Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa;Giá cá thị trường và giá trị thị trường; Các hình thái giá trị.Trong đó, phát kiến độc đáo nhất chính là tính chất hai mặtbiểu hiện trong lao động sản xuất hàng hóa Nó giúp giải thíchđược bản chất của các thuộc tính hàng hóa, sự phân biệt giữayếu tố bản chất và hiện tượng liên quan đến trao đổi và muabán hàng hóa Nó cũng là nền tảng để giải thích sự ngangbằng về giá trị trong trao đổi Ở tầm khái quát chung, Lý luận
C Mác về sản xuất hàng hoá phân tích đầy đủ về bản chấtcủa tế bào kinh tế trong chủ nghĩa tư bản, bản chất của nótrong quá trình trao đổi mua bán Riêng với nền kinh tế nhiềuthành phần ở Việt Nam , nó là cơ sở lý luận để đòi hỏi đảmbảo tính cạnh tranh, tính công bằng và hoàn thiện thể chếkinh tế, cải thiện vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước Nghiêncứu về Lý luận C Mác về sản xuất hàng hoá sẽ cho chúng tacái nhìn tổng quát hơn về vai trò cũng như hạn chế của nềnsản xuất hàng hoá để từ đó có sự vận dụng hiệu quả vào conđường phát triển kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay
Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Lý luận Các Mác về sản xuất hàng hoá và sự vận dụng vào phát triển kinh
Trang 3tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài
nghiên cứu kết thúc học phần của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận về Lý luận Các Mác về sản xuất hànghoá từ đó rút ra được những vận dụng lý luận đó vào pháttriển kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay
Có thể làm tài liệu nghiên cứu cho các đề tài liên quanđến nghiên cứu về Các Mác cũng như nghiên cứu về nền kinh
tế nhiều thành phần
Trang 4NỘI DUNG
1 Lý luận Các Mác về sản xuất hàng hoá
1.1 Sản xuất hàng hoá
Khái niệm sản xuất hàng hoá
Theo Các Mác, sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức hoạt động kinh tế mà
ở đó, những người sản xuất ra sản phẩm nhằm mục đích trao đổi, mua bán
Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa
Nghiên cứu quá trình lao động tạo ra hàng hóa, C Mác
đã chỉ ra hai điều kiện cho sự ra đời và tồn tại của sản xuấthàng hóa Điều kiện thứ nhất là có sự phân công lao động xãhội Điều kiện thứ hai là có sự tách biệt tương đối về mặt kinh
tế của những người sản xuất Ở điều kiện thứ nhất, khi nhấnmạnh phân công lao động xã hội là điều kiện của sản xuấthàng hóa, C Mác đồng thời chỉ rõ dù có sự phân công laođộng nhưng sản phẩm của lao động không thể trở thành hànghóa nếu không có điều kiện thứ hai Theo C Mác, chỉ có sảnphẩm của những lao động tư nhân độc lập và không phụthuộc vào nhau mới đối diện với nhau như những hàng hóa
Sự ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa đòi hỏi sản xuấtphải mang tính chất tư nhân đó Tính chất tư nhân của sảnxuất không đồng nhất với “chế độ tư hữu”
C Mác đã sớm chỉ ra sự phân biệt sở hữu về mặt pháp lývới chiếm hữu thực tế Sự tách biệt về quyền chiếm hữu vàquyền sử dụng tư liệu sản xuất, tính tự chủ của các chủ thểkinh tế đối với tư liệu sản xuất đã đưa đến sự tách biệt vềquyền chiếm hữu kết quả sản xuất
Trang 5Trên cơ sở nội dung này, khi nghiên cứu sự chuyển biến
từ nền kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa, V I Lênin đãcho rằng sản xuất hàng hóa chính là cách tổ chức của kinh tế
- xã hội, trong đó sản phẩm đều do những người sản xuất cáthể, riêng lẻ sản xuất ra Mỗi người chuyên làm ra một số sảnphẩm nhất định và muốn thỏa mãn nhu cầu của xã hội thì cần
có mua và bán sản phẩm.
1.2 Hàng hoá và thuộc tính của hàng hoá
Hàng hoá là sản phẩm của lao động, có thể thoả mãn nhu cầu nào đócủa con người thông qua trao đổi, mua bán
Theo C Mác, phân tích phạm trù hàng hóa là vấn đề khó khăn nhất.Hàng hóa trong nghiên cứu của ông là hàng hóa giản đơn, nó chứa đựng mầmmống của hàng hóa tư bản chủ nghĩa Ông nghiên cứu bắt đầu từ hàng hóagiản đơn vì chủ nghĩa tư bản cũng ra đời từ nền sản xuất hàng hóa giản đơn
Về mặt lịch sử, khi sản xuất hàng hóa giản đơn diễn ra và phát triển, cùng sựvận động của quy luật giá trị, sự phân hóa người giàu và người nghèo do hoạtđộng kinh doanh sẽ diễn ra Về mặt lý luận, ông nghiên cứu hàng hóa với tưcách là tế bào kinh tế của xã hội để từ đó nghiên cứu toàn bộ cơ thể của xã hội
tư bản Ông giải thích tế bào không đơn thuần là nghĩa đen mà là điểm xuấtphát, là mầm mống, là hình thái nguyên tố đầu tiên của chủ nghĩa tư bản.Thêm vào đó, nghiên cứu hàng hóa để kế tiếp nghiên cứu hai thuộc tính củahàng hóa
C Mác bắt đầu nghiên cứu hàng hóa từ giá trị sử dụng Giá trị sử dụng
đã được C Mác nghiên cứu cả về mặt chất lẫn mặt lượng Theo C Mác, giátrị sử dụng của hàng hóa là tính có ích, là công dụng của một vật, nhờ đó nó
có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người
Với giá trị, C Mác nghiên cứu bắt đầu từ giá trị trao đổi Giá trị traođổi biểu hiện ra là quan hệ về số lượng, là tỷ lệ mà theo đó những giá trị sử
Trang 6dụng loại này được trao đổi với những giá trị sử dụng loại khác Từ việcnghiên cứu giá trị trao đổi, C Mác đưa ra hai giả định: (1) Các hàng hóa traođổi với nhau đều biểu thị cái gì đó chung giống nhau và bằng nhau; (2) Giá trịtrao đổi nói chung chỉ có thể là biểu hiện của một nội dung nào đó Điểmchung ấy là chúng đều là sản phẩm của lao động.
Từ giá trị trao đổi, C Mác đã tìm ra giá trị hàng hóa Giá trị hàng hóa lànội dung bên trong của giá trị trao đổi Nếu gạt giá trị sử dụng của các sảnphẩm lao động qua một bên thì cái còn lại của các sản phẩm lao động là giátrị của chúng, là hao phí lao động kết tinh trong sản phẩm ấy C.Mác đã dàycông phân tích mặt chất và mặt lượng của giá trị hàng hóa Những câu hỏi đolượng giá trị hàng hóa bằng gì, những nhân tố nào ảnh hưởng đến lượng giátrị hàng hóa, những nhân tố đó bị tác động bởi những yếu tố gì,… được giảiquyết triệt để Cũng từ đó, câu hỏi đặt ra cho sự hình thành các bộ phận tronggiá trị hàng hóa được đặt ra Nó được giải quyết và lý giải sự đối lập trongquan hệ lợi ích kinh tế giữa hai giai cấp cơ bản của phương thức sản xuất tưbản chủ nghĩa Nếu không có bước cuối cùng này thì xem như kinh tế C Mácvẫn chỉ dừng lại là sự mô tả phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mà chưaphản ánh được bản chất của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá
Những nhà kinh tế học trước C Mác chưa giải đáp đượccâu hỏi vì sao hàng hóa lại có hai thuộc tính: giá trị và giá trị
sử dụng Bởi họ đều có sự nhầm lẫn giữa lao động tạo ra giátrị sử dụng và lao động tạo ra giá trị hàng hóa, giữa lao độngkết tinh trong hàng hóa và lao động mà người ta có thể chiphối được, mua bán được trên thị trường C Mác là người đầutiên phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất rahàng hóa Ông chứng minh một cách có phê phán tính chấthai mặt ấy của lao động chứa đựng trong hàng hóa Phát hiện
ra tính chất hai mặt của lao động là một cống hiến to lớn của
Trang 7C Mác, là cơ sở vững chắc cho toàn bộ học thuyết giá trị vàcho việc lý giải những hiện tượng phức tạp diễn ra trong thực
tế của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Lao động cụ thể và laođộng trừu tượng là hai khái niệm mới và đóng vai trò cực kỳquan trọng trong toàn bộ hệ thống quan điểm của học thuyếtkinh tế giá trị và giá trị thặng dư
Lao động cụ thể: lao động cụ thể là lao động có ích dướimột hình thức cụ thể những nghề nghiệp chuyên môn nhấtđịnh
Mỗi lao động cụ thể có mục đích, đối tượng lao động,công cụ phương pháp lao động riêng, kết quả riêng Lao động
cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hoá
Các loại lao động cụ thể khác nhau tạo ra những sảnphẩm có giá trị sử dụng khác nhau
Lao động trừu tượng: Lao động trừu tượng là lao động xãhội của người sản xuất hàng hoá không kể đến hình thức cụthể của nó, đó là sự hao phí sức lao động nói chung của ngườisản xuất hàng hoá về cơ bắp, thần kinh, trí óc
Lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hoá
C Mác chỉ ra mối quan hệ giữa tính chất hai mặt của laođộng sản xuất hàng hóa Bất kỳ lao động nào, một mặt, là sựchi phí sức lao động giống nhau của người sản xuất, hay laođộng trừu tượng là lao động tạo ra giá trị của hàng hóa Mặtkhác, bất kỳ lao động nào cũng là sự chi phí sức lao động dướimột hình thái cụ thể, hay lao động cụ thể là lao động tạo ragiá trị sử dụng của hàng hóa Các lao động cụ thể khác nhau
về chất, còn lao động trừu tượng chỉ khác nhau về lượng
Trang 8Từ đây, lao động sản xuất hàng hóa vừa là lao động tưnhân, lại vừa là lao động xã hội Mâu thuẫn giữa lao động tưnhân và lao động xã hội này chính là mâu thuẫn cơ bản củanền sản xuất hàng hóa.
Như vậy, nội dung này được xem là nội dung đóng vaitrò nhân tố cơ bản của học thuyết giá trị của kinh tế chính trịhọc Marx Nó phản ánh bản chất bên trong và những biểuhiện phong phú bên ngoài của phương thức sản xuất tư bảnchủ nghĩa
Lượng giá trị và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá
Lượng giá trị của hàng hoá
Giá trị của hàng hoá là do lao động xã hội, trừu tượngcủa người sản xuất ra hàng hoá kết tinh trong hàng hoá Vậylượng giá trị của hàng hoá là lượng lao động đã hao phí để tạo
ra hàng hoá
Lượng lao động đã hao phí được tính bằng thời gian laođộng, thời gian lao động này phải được xã hội chấp nhận,không phải là thời gian lao động của đơn vị sản xuất cá biệt,
mà là thời gian lao động xã hội cần thiết
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian đòi hỏi đểsản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó trong những điều kiệnbình thường của xã hội với trình độ thành thạo trung bình,cường độ lao động trung bình
Xét về mặt cấu thành, lượng giá trị của một đơn vị hànghoá được sản xuất bao hàm: Hao phí lao động quá khứ + haophí lao động mới kết tinh thêm
Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hoá
Trang 9Một là, Năng xuất lao động: năng xuất lao động là nănglực sản xuất của người lao động được tính bằng số lượng sảnphẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hay số lượng thờigian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
Năng xuất lao động tăng lên sẽ làm giảm lượng thời gianhao phí lao động cần thiết trong một đơn vị hàng hoá, do vậy,năng xuất lao động tăng lên sẽ làm cho lượng giá trị của mộthàng hoá thay đổi theo tỷ lệ thuận với lượng lao động thểhiện trong hàng hoá đó và tỷ lệ nghịch với sức sản xuất củalao động
Các nhân tố ảnh hưởng đến năng xuất lao động gồm:Trình độ khéo léo trung bình của người lao động; mức độ pháttriển của khoa học và trình độ áp dụng khoa học vào quy trìnhcông nghệ; Sự kết hợp xã hội của quá trình sản xuất; Quy mô
và hiệu xuất của tư liệu sản xuất; điều kiện tự nhiên
Cường độ lao động là mức độ khẩn trương, tích cực củahoạt động lao động trong sản xuất
Tăng cường độ lao động là tăng mức dộ khẩn trương,tích cực của hoạt động lao động Tăng cường độ lao động làmcho tổng số sản phẩm tăng lên, tổng lượng giá trị của tất cảhàng hoá gộp lại tăng lên
Hai là, tính phức tạp của lao đông:
Căn cứ vào mức độ phức tạp của lao động mà chia thànhlao động giản đơn và lao động phức tạp
Lao động giản đơn là lao động không đòi hỏi có quá trìnhđào tạo một cách hệ thống, chuyên sâu về chuyên môn, kỹnăng, nghiệp vụ cũng có thể thao tác được
Trang 10Lao động phức tạp là những hoạt động lao động yêu cầuphải trải qua một quá trình đào tạo về kĩ năng, nghiệp vụ theoyêu cầu của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định
1.3 Tiền tệ
Nguồn gốc và bản chất của tiền:
Hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên:
Đây là hình thái ban đầu của giá trị xuất hiện trong thời kì sơ khai củatrao đổi hàng hoá Khi đó, việc trao đổi giữa các hàng hoá với nhau mang tínhngẫu nhiên, người ta trao đổi trực tiếp hàng hoá này lấy hàng hoá khác
Ví dụ: 1A= 2B
Ở đây, giá trị ẩn chứa trong hàng hoá A được biểu hiện ra ở hàng hoá
B, với thuộc tính tự nhiên của mình hàng hoá B trở thành hiện thân của giá trịhàng hoá A Sở dĩ như vậy là bởi vì bản thân hàng hoá B cũng có giá trị.Hàng hoá A mà giá trị sử dụng của nó được dùng để biểu hiện giá trị của hànghoá B được gọi là hình thái vật ngang giá
Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng:
Khi trình độ phát triển sản xuất hàng hoá được nâng lên, trao đổi trởnên thường xuyên hơn, một hàng hoá có thể được đặt trong mối quan hệ vớinhiều hàng hoá khác, hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng xuất hiện
Thí dụ: 1A =2B; Hoặc = 3C; Hoặc = 5D; hoặc = 6E,…
Hình thái chung của giá trị:
Việc trao đổi trực tiếp sẽ trở nên không còn thích hợp khi trình độ sảnxuất hàng hoá phát triển cao hơn, chủng loại hàng hoá phong phú hơn, trình
độ sản xuất lúc này thúc đẩy sự hình thành hình thái chung của giá trị
Thí dụ: 2B; hoặc 3C; Hoặc 5D, hoặc … =1A
Hình thái tiền:
Khi lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội phát triển hơnnữa, sản xuất hàng hoá và thị trường sẽ ngày càng mở rộng, thì tình hình cónhiều vật làm ngang giá chung sẽ gây trở ngại cho trao đổi giữa các địa
Trang 11phương trong một quốc gia Do đó, đòi hỏi khách quan là cần có một loạihàng hoá làm vật ngang giá chung tốt nhất
Chức năng của tiền:
Thước đo giá trị:
Tiền dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng hoá khác
Muốn đo lường giá trị các hàng hoá, bản thân tiền phải có giá trị Đểthực hiện chức năng đo lường giá trị, không nhất thiết phải là tiền mặt, chỉ cần
so sáng với một lượng vàng nhất định một cách tưởng tượng Sở dĩ có thểthực hiện như vậy, vì giữa các giá trị của vàng và giá trị của hàng hoá trongthực tế đã có một tỷ lệ nhất định Cơ sở của tỷ lệ này là thời gian lao động xãhội cần thiết đã hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó
Giá trị hàng hoá được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hoá.
Giá cả hàng hoá như vậy là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trịhàng hoá Giá trị là cơ sở của giá cả Giá cả có thể lên xuống bởi tác động củanhiều yếu tố như:
Gía trị của hàng hoá
Giá trị của tiền
Ảnh hưởng quan hệ cung cầu
Phương tiện lưu thông
Trang 12Khi thực hiện chức năng lưu thông, tiền được dùng làm môi giới choquá trình trao đổi hàng hoá.
Để thực hiện chức năng lưu thông, cần có tiền mặt
Phương tiện cất trữ
Thực hiện phương tiện cất trữ, tiền rút ra khỏi quá trình lưu thông để đivào cất trữ Thực hiện được phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị nhưtiền vàng, tiền bạc Là dự trữ tiền cho lưu thông, sẵn sàng tham gia lưu thông
Phương tiện thanh toán:
Tiền được dùng để trả nợ, trả tiền mua hàng hoá,… Tiền làm phươngtiện thanh toán, thực hiện chức năng thanh toán, có nhiều hình thức tiền khácnhau được chấp nhận
Tiền tệ thế giới:
Khi trao đổi hàng hoá mở rộng ra biên giới quốc gia, tiền làm chứcnăng tiền tệ thế giới Lúc này tiền được dùng làm phương tiện mua bán, thanhtoán quốc tế giữa các nước với nhau Để thực hiện chức năng này, tiền phải
có đủ giá trị, phải là tiền vàng hoặc những đồng tiền được công nhận làphương tiện thanh toán quốc tế
Trang 132 Sự vận dụng lý luận Các Mác về sản xuất hàng hoá vào phát triển kinh
tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay
Vận dụng sáng tạo nội dung lý luận về sản xuất hànghoá, Đảng ta đã quyết tâm từ bỏ mô hình kinh tế bao cấp sơcứng, không phù hợp chỉ có 2 thành phần kinh tế: Quốc doanh
và tập thể; không thị trường, không có quan hệ trao đổi muabán theo đúng nghĩa, không có cạnh tranh và không có liêndoanh liên kết kinh tế… Thay thế bằng nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tếtham gia, sử dụng quan hệ hàng - tiền làm phương thức vậnđộng, thực hiện trao đổi mua bán sản phẩm trên thị trườngtheo đúng quy luật giá trị - quy luật kinh tế của sản xuất hànghóa Chủ trương này đã đạt được những thành công lớn trong
sự phát triển kinh tế hơn 20 năm qua
Cạnh tranh là quy luật vốn có của sản xuất và lưu thônghàng hóa - một động lực mạnh trong kinh tế thị trường Cạnhtranh thúc đẩy sản xuất hàng hóa và thị trường phát triển từthấp đến cao, từ đơn điệu đến phong phú Cấm đoán cạnhtranh là thủ tiêu mất một động lực mạnh của sản xuất hànghóa
Liên doanh liên kết giữa các thành phần kinh tế, giữakinh tế trong nước với kinh tế ngoài nước, là sự cần thiết, xuấtphát từ yêu cầu phát triển sản xuất, mở rộng kinh doanh Liêndoanh liên kết còn nhằm mục tiêu nâng cao tiềm lực vốn, kỹthuật, sức mạnh trong cạnh tranh và khả năng sản xuất kinhdoanh của từng đơn vị xí nghiệp, các chủ thể tham gia liêndoanh liên kết đều có lợi, làm giàu chính đáng cho mình, cho