1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận cao học cth thực chất của bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tiến lên chủ nghĩa xã hội ở việt nam

26 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực chất của bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Trường học Đại học Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chính trị - Quản lý
Thể loại Tiểu luận cao học
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 134,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để làm rõ conđường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong bối cảnh toàn cầu hóa và hộinhập quốc tế hiện nay thì nghiên cứu những cơ sở lý luận và thực tiễn chủyếu ở nước

Trang 1

Sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội và bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa làmột trong những vấn đề lý luận đặc biệt căn bản hiện nay Để làm rõ conđường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong bối cảnh toàn cầu hóa và hộinhập quốc tế hiện nay thì nghiên cứu những cơ sở lý luận và thực tiễn chủyếu ở nước ta là một điều kiện tiên quyết.

Xuất phát từ tầm quan trọng đó, em đã chọn đề tài: “Thực chất của

bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”

để làm tiểu luận kết thúc môn học

Trang 2

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT

NAM 1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ

tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam là một trong những nội dung chủ yếu hợp thành tư tưởng Hồ Chí Minh Ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định lựa chọn con đường phát triển của cách mạng Việt Nam là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến triển lên cách mạng xã hội chủ nghĩa Sự lựa chọn này được Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định trong “Chính cương vắn tắt” năm 1930 do Người soạn thảo Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 1930) khẳng định tính chất cách mạng Đông Dương là cách mạng tư sản dân quyền, sau đó chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa

Trong điều kiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủnghĩa, thì ở Việt Nam phải xây dựng chủ nghĩa xã hội như thế nào? Đâychính là vấn đề đặc điểm Việt Nam khi bước vào thời kỳ quá độ, về xácđịnh những điều kiện, biện pháp, cách làm và bước đi, mà theo Chủ tịch HồChí Minh, là hết sức quan trọng, đòi hỏi nhiều nỗ lực sáng tạo TheoNgười, đặc điểm to nhất của Việt Nam trong thời kỳ quá độ là từ mộtnước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, không kinh quagiai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Đặc điểm bao trùm này quy định loạihình phát triển của Việt Nam lên chủ nghĩa xã hội là loại hình “phát triểnrút ngắn” theo phương thức quá độ gián tiếp Ở đây, có hai điểm đáng lưu ý:

Trang 3

Một là, đối với Việt Nam, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, khôngqua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa là một tất yếu Không qua chế độ tưbản chủ nghĩa, bởi đó là một chế độ áp bức, bóc lột và nô dịch con người.Song, không qua tư bản chủ nghĩa không có nghĩa là vứt bỏ, là phủ địnhsạch trơn mọi thành tựu của văn hóa và văn minh, mọi tiến bộ khoa học -

kỹ thuật mà loài người đã đạt được trong tư bản chủ nghĩa Việt Nam ởđiểm xuất phát thấp, từ xã hội thuộc địa, nửa phong kiến đi lên càng phải chútrọng khai thác, vận dụng những tri thức, những thành tựu đó trong thực tiễnxây dựng chế độ mới

Hai là, “tiến thẳng” lên chủ nghĩa xã hội chỉ với nghĩa là bỏ qua chế

độ tư bản chủ nghĩa Với hoàn cảnh, điều kiện và trình độ của Việt Nam,

“tiến thẳng” lên chủ nghĩa xã hội đòi hỏi phải tiến dần, từ từ, từng bướcmột, cố gắng đi nhanh cho kịp với thế giới, nhưng phải đúng quy luật, khôngthể chủ quan, duy ý chí, không thể đốt cháy giai đoạn, làm bừa, làm ẩu

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hình dung tính chất phức tạp và lâu dài của

sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, vì việc cải tạo xã hội cũ,xây dựng xã hội mới không chỉ là về vật chất mà còn là cải tạo tư tưởng, gạt

bỏ những gì cũ kỹ, lạc hậu, những thói hư, tật xấu kìm hãm sự phát triển.Người cho rằng, xây dựng chủ nghĩa xã hội là một cuộc đấu tranh cáchmạng phức tạp, gian khổ và lâu dài Một chế độ này biến đổi thành chế độkhác là cả một cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt và lâu dài giữa cái xấu vàcái tốt, giữa cái cũ và cái mới

Từ đó, Người xác định toàn diện các nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa (bao gồm cả đạo đức, tư tưởng, tinh thần, lối sống), đào tạo cán bộ, phát triển khoa học - kỹ thuật, phát triển giáo dục, xây dựng con người mới Mấu chốt của vấn đề kinh tế là phát triển lực lượng sản xuất Mấu chốt của vấn đề chính trị là giữ vững chế độ, bảo vệ thành quả cách mạng, thực hành và phát huy dân chủ,

Trang 4

xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân Mấu chốt của vấn đề xã hội là bảo đảm công bằng xã hội, hướng vào sự phát triển con người và xã hội Mấu chốt của vấn đề văn hóa là xây dựng con người mới, đạo đức, và lối sống mới.

1.2 Cơ sở thực tiễn nghiên cứu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam

Nhiều năm liên tục chúng ta áp dụng máy móc mô hình chủ nghĩa xã hội Xô - viết để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ

Đó là học hỏi kinh nghiệm của Liên Xô với sự khái quát thành 9 quy luật xâydựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ mà Hội nghị các đảng cộng sản

và công nhân các nước xã hội chủ nghĩa họp ở Mát-xcơ-va năm 1957 đã thông qua Có thể thấy, 9 quy luật đó được phản ánh trong văn kiện các Đại hội III, IV, V của Đảng Cộng sản Việt Nam Mặc dù cũng đạt được những thành tựu nhất định trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhưng chúng ta đã áp dụng máy móc mô hình chủ nghĩa xã hội Xô-viết vào Việt Nam mà nội dung của nó là không thừa nhận sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường, coi kế hoạch là đặc trưng quan trọng nhất của kinh tế xã hội chủ nghĩa; không thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần, coi kinh tế quốc doanh và tập thể là chủ yếu, muốn nhanh chóng xóa bỏ sở hữu tư nhân, xây dựng nền kinh tế khép kín, hướng nội, thiên về phát triển công nghiệp nặng, chủ yếu dựa vào lợi thế

về lao động, tài nguyên, đất đai và nguồn viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa đi trước; thi hành chế độ phân phối theo lao động trên danh nghĩa, nhưng thực tế là bình quân, cào bằng, ít quan tâm tới lợi ích cá nhân; thực hiện chế độ bao cấp tràn lan, tạo ra tâm lý thụ động, ỷ lại vào Nhà nước, không phát huy được tính năng động và tích cực của người lao động Gắn liền với việc áp dụng máy móc chủ nghĩa xã hội Xô- viết vào Việt Nam là những sai lầm về lãnh đạo và quản lý Đó là những sai lầm nghiêm trọng

và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và tổ chức

Trang 5

thực hiện, đặc biệt là bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội, chạy theo nguyện vọng chủ quan.

Qua đây, ta có thể rút ra một số nhận xét sau:

Một là, trong quá trình vận dụng học thuyết Mác - Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và kinh nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội của các nước xã hội chủ nghĩa vào thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn vận dụng sáng tạo, thậm chí mạnh dạn bổ sung thêm quy luật công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa Hai là, Đảng Cộng sản Việt Nam rất chú ý đến đặc điểm xuất phát của đất nước để từ đó định ra đường lối, chính sách Điều đó được thể hiện rõ ở các Đại hội II, III, IV và V Ba là, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thấy thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam là thời kỳ quá độ lâu dài và do đó, đã nói tới các chặng đường mà Việt Nam phải trải qua

Một số vấn đề rút ra từ tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa

Qua sự phân tích trên, có thể rút ra kết luận là, chúng ta không chỉ phảiđổi mới tư duy về chủ nghĩa xã hội mà còn phải đổi mới tư duy về thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam,nghĩa là phải xây dựng một lý thuyết mới về thời kỳ quá độ

1 Các nhà kinh điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ để tiến lên chủnghĩa cộng sản có rất nhiều con đường khác nhau phụ thuộc vào những điềukiện kinh tế, xã hội và đặc điểm của các dân tộc Từ đó các ông khẳng định,

đi lên chủ nghĩa cộng sản, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa là mộtcon đường phát triển tất yếu, khách quan của nhiều dân tộc có xuất phátđiểm tiền tư bản chủ nghĩa với những điều kiện nhất định

Trang 6

2 Trong bối cảnh hiện nay, rõ ràng nhiều quan niệm về thời kỳ quá

độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội không còn phù hợp; nhiều vấn đềcủa thời đại cần được quan tâm; sự thay đổi một cách tổng thể tươngquan lực lượng, sức mạnh, vai trò trong quan hệ quốc tế đòi hỏi ta cần có

sự thay đổi một cách căn bản tư duy lý luận về quá độ lên chủ nghĩa xã hộitrong bối cánh mới

3 Sau nhiều năm áp dụng mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên

xô và các nước Đông Âu, mặc dù có sự sáng tạo và đã đạt được nhiều thànhtựu nhưng trong bối cảnh hiện nay, quan điểm của Đảng Cộng sản ViệtNam về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã có nhiều điểm đổi mới

Thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam không dùng cụm từ “bỏ quagiai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” mà là “bỏ qua chế độ tư bản chủnghĩa”

Thứ hai, Đảng Cộng sản Việt Nam đề cao đặc điểm xuất phát.Chính xuất phát điểm đặc thù quy định kiểu quá độ của Việt Nam, quy địnhnội dung, nhiệm vụ, hình thức, biện pháp, lực lượng, động lực, độ dài và bướcđi

Thứ ba, xuất phát từ thực trạng bối cảnh thế giới mới: Hệ thống xã hộichủ nghĩa hiện thực đã sụp đổ; chủ nghĩa tư bản có sự điều chỉnh và có sựhoàn thiện mới; phong trào cộng sản và công nhân thế giới đang trong thời

kỳ thoái trào; toàn cầu hóa sâu sắc; những thành tựu mới của cuộc cáchmạng khoa học - công nghệ; sự xuất hiện và vai trò của kinh tế tri thức…

Thứ tư, đặc biệt quan trọng là vấn đề “con người” Chủ tịch HồChí Minh đã nói muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có những con ngườixã hội chủ nghĩa Con người là chủ thể, là mục đích, động lực của thời kỳ quá

độ, vì vậy, cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề con người, xây dựng con ngườimới phù hợp với quá trình phát triển trong thời kỳ quá độ Điều cơ bản đối

Trang 7

với xã hội Việt Nam với xuất phát điểm lên chủ nghĩa xã hội từ xã hội thuộcđịa, nửa phong kiến thì để con người gánh vác được nhiệm vụ của thời kỳquá độ cần phải đặc biệt quan tâm hai khía cạnh dân chủ và kỷ cương Đó làphát huy dân chủ một cách thực sự và đề cao vai trò của pháp luật (xây dựngnhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa) để tạo lập kỷ cương xã hội trongthời kỳ quá độ Những hệ lụy, nguy cơ, thách thức nảy sinh trong đời sốngxã hội ta thời gian qua về cơ bản đều bắt nguồn từ sự “thái hóa, biến chất củamột bộ phận không nhỏ” cán bộ, đảng viên trong quá trình thực thi công vụ.

Trang 8

CHƯƠNG 2.

NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ CON ĐƯỜNG

ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Ngay từ khi ra đời (2-1930), Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác địnhrõ ràng và dứt khoát con đường phát triển của cách mạng Việt Nam, là conđường XHCN Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã có những chỉ dẫn có ý nghĩa rất quantrọng, từ việc đưa ra quan niệm, phương châm, phương pháp, đến việcchuẩn bị những điều kiện để tiến lên CNXH Vận dụng sáng tạo những tưtưởng của Người, qua hơn 30 năm đổi mới, nhận thức của Đảng Cộng sảnViệt Nam về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam ngày càngsáng tỏ hơn Hiện nay, công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế đang đòi hỏiĐảng Cộng sản Việt Nam phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, vận dụng vàphát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để hiệnthực hóa con đường XHCN mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn

Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản là bộ phận quan trọng trong họcthuyết khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, là lý tưởng, mục tiêu của cáchmạng vô sản Lý luận khoa học và lý tưởng cao cả đó được hiện thực hóa từcuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 Mùa Xuân năm 1930, lãnh tụNguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam Đó là kếtquả của sự chuẩn bị các điều kiện cần thiết, sự phát triển của phong trào cáchmạng, sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng cách mạng của Nguyễn ÁiQuốc với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam

Cương lĩnh chính trị đầu tiên được hội nghị thành lập Đảng 1930) thông qua đã nêu rõ mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam là:

(2-“Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”, “để đi tới xã hội cộng sản”(1).Luận cương chính trị tháng 10-1930 nhấn mạnh con đường phát triển của

Trang 9

cách mạng Việt Nam “bỏ qua thời kỳ tư bổn mà tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa”(2) Sự lựa chọn con đường XHCN đã rõ ràng và dứt khoát ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời.

Việt Nam đã trải qua chế độ quân chủ phong kiến hàng nghìn năm và

từ cuối thế kỷ XIX là thuộc địa của đế quốc Pháp Khát vọng độc lập, tự do

và dân chủ là lớn lao và bức thiết Mục tiêu cách mạng mà Đảng đề ratrước hết là giành lại độc lập cho dân tộc, ruộng đất cho nông dân Cáchmạng Tháng Tám năm 1945 do Đảng Cộng sản và lãnh tụ Hồ Chí Minh lãnhđạo đã xóa bỏ chế độ thuộc địa, chấm dứt chế độ phong kiến, mở ra thờiđại mới của dân tộc Việt Nam, thời đại dân tộc độc lập, nhân dân được làmchủ xã hội và cuộc sống, xây dựng xã hội tốt đẹp vì ĐỘC LẬP - TỰ DO -HẠNH PHÚC

Sau Cách mạng Tháng Tám, thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam,nhiệm vụ giải phóng dân tộc vẫn là vấn đề sống còn và vì vậy mục tiêu tiếnlên CNXH vẫn chưa thể đặt ra trực tiếp, mà phải vừa kháng chiến vừa kiếnquốc Trong nhiệm vụ kiến quốc, Đảng và Chính phủ chú trọng phát triển chế

độ dân chủ nhân dân tạo những tiền đề, mầm mống tiến tới CNXH khikháng chiến thắng lợi Năm 1946, trong chuyến thăm chính thức nước Pháp,khi trả lời các nhà báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rõ quan điểm: “Tất cảmọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa Riêng tôi, tôi đã nghiêncứu chủ nghĩa Các Mác Muốn cho chủ nghĩa cộng sản thực hiện được, cầnphải có kỹ nghệ, nông nghiệp và tất cả mọi người đều được phát triển hết khảnăng của mình Ở nước chúng tôi, những điều kiện ấy chưa có đủ”(3)

Những điều kiện cần thiết chưa có đủ đòi hỏi trên con đường phát triểntheo định hướng XHCN, Đảng và chính quyền cách mạng phải cùng vớitoàn dân chủ động tạo dựng những điều kiện: phát triển kỹ nghệ tức lựclượng sản xuất hiện đại để phát triển công nghiệp, nông nghiệp ở trình độcao, đặc biệt là nhân tố con người, phải nâng cao dân trí, xây dựng con

Trang 10

người phát triển toàn diện có trí tuệ và năng lực tự giác xây dựng một xã hộimới Quan điểm của Hồ Chí Minh thật sự là sự khởi đầu nhận thức về xâydựng CNXH xuất phát từ thực tiễn Việt Nam.

Luận cương cách mạng Việt Nam được Đại hội II của Đảng 1951) thông qua đã xác định phương hướng rõ ràng là: hoàn thành giải phóngdân tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến tới CNXH Luận cương nêu rõ:

(2-“nhiệm vụ trung tâm của Đảng là đẩy mạnh việc kỹ nghệ hóa, phát triển kỹnghệ nặng, phát triển thật rộng bộ phận kinh tế Nhà nước, tập thể hóa nôngnghiệp dần dần, thực hiện những kế hoạch dài hạn để gây thêm và củng cố

cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, đặng tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội Nhữngbước cụ thể của giai đoạn này phải tùy theo điều kiện cụ thể của tình hìnhtrong nước và ngoài nước khi đó mà quyết định Song một điều chắc chắn làchừng nào ta chưa chuẩn bị cơ sở kinh tế đầy đủ và chưa làm cho số đôngquần chúng nhân dân nhận rõ chủ nghĩa xã hội là cần thiết, thì chủ nghĩa đóchưa thể thực hiện được Ở Việt Nam, thời gian chuẩn bị đó, so với các nướcdân chủ nhân dân khác, nhất định sẽ lâu hơn, vì ta phải kiến quốc trên cơ sởmột nước nông nghiệp lâu năm bị đế quốc thống trị, tàn phá”(4)

Những điều kiện để tiến lên CNXH mà Hồ Chí Minh và Đại hội II củaĐảng nêu ra phản ánh sự nhận thức đúng đắn về CNXH từ thực tiễn ViệtNam có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn Sau khi miền Bắc được giải phóng,Đảng khẳng định dù hoàn cảnh như thế nào, miền Bắc cũng phải tiến lênCNXH Đó là yêu cầu khách quan bảo đảm sự phát triển của miền Bắc,đồng thời còn là yêu cầu của sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam,thống nhất đất nước Miền Bắc trải qua 3 năm (1954-1957) khôi phục kinh

tế và hoàn thành những nhiệm vụ còn lại của cách mạng dân tộc dân chủnhân dân (cải cách ruộng đất) và cũng là chuẩn bị những điều kiện cần thiết

và phát triển nhận thức để chính thức thực hiện cách mạng XHCN theo Nghịquyết Trung ương 14 (1958) và Nghị quyết Đại hội III (9-1960)

Trang 11

Năm 1956, 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ những quan điểm vềCNXH và phương châm, phương pháp đi tới CNXH có ý nghĩa địnhhướng trong nhận thức của toàn Đảng Người quan niệm: “Chủ nghĩa xã hội

là làm sao cho dân giàu nước mạnh”(5) Đó là tư tưởng rất mới mẻ và sángtạo về CNXH

Về cách thức tiến hành phải tiến dần từng bước lên CNXH, cải tạogiai cấp tư sản cũng cần có cách thức khác, “Ta không thể giống Liên Xô, vìLiên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác”(6) Phải luôn chúý đặc điểm, hoàn cảnh riêng của Việt Nam Hồ Chí Minh cho rằng giai cấp tưsản Việt Nam “họ có xu hướng chống đế quốc, có xu hướng yêu nước”, “nếumình thuyết phục khéo, lãnh đạo khéo, họ có thể hướng theo chủ nghĩa xãhội”(7)

Trong diễn văn khai mạc lớp học lý luận khóa I Trường Nguyễn ÁiQuốc (7-9-1957), Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh việc vậndụng lý luận vào thực tiễn Việt Nam trong cách mạng XHCN Phải nắmvững điều kiện đặc biệt của Việt Nam “là một xã hội vừa mới thoát khỏi áchthực dân, phong kiến, hết sức lạc hậu”

“Trong những điều kiện như thế, chúng ta phải dùng những phươngpháp gì, hình thức gì, đi theo tốc độ nào để tiến dần lên chủ nghĩa xãhội? Đó là những vấn đề đặt ra trước mắt Đảng Cộng sản Việt Nam hiệnnay Muốn giải quyết tốt những vấn đề đó, muốn đỡ bớt mò mẫm, muốn đỡphạm sai lầm, thì chúng ta phải học tập kinh nghiệm các nước anh em và ápdụng những kinh nghiệm ấy một cách sáng tạo Chúng ta phải nâng cao sự tudưỡng về chủ nghĩa Mác - Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phươngpháp chủ nghĩa Mác - Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của ĐảngCộng sản Việt Nam, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của ViệtNam Có như thế, chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triểncủa cách mạng Việt Nam, định ra được những đường lối, phương châm, bước

Trang 12

đi cụ thể của cách mạng xã hội chủ nghĩa thích hợp với tình hình ViệtNam”(8).

Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng XHCN và công cuộc đổi mới

Sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc (1954-1975) và trên cả nướcsau năm 1975 đã bước đầu tạo dựng một xã hội mới với bản chất tốt đẹp

và sức mạnh về mọi mặt bảo đảm giành thắng lợi trong đấu tranh giải phóngdân tộc thống nhất đất nước và bảo vệ Tổ quốc XHCN Đó là điều không thểphủ nhận

Tuy vậy, trong cách mạng XHCN cũng đã phạm phải sai lầm, khuyếtđiểm trong chính sách kinh tế, xã hội dẫn tới khủng hoảng từ năm 1979 Đảngđã kịp thời tự phê bình và chỉ ra những nguyên nhân cần phải khắc phục, đó

là bệnh nóng vội, chủ quan, duy ý chí, giáo điều, chưa nắm vững hoàncảnh, đặc điểm thực tiễn đất nước, chưa nhận thức rõ quy luật khách quan.Đảng đã từng bước đổi mới tư duy lý luận, nhất là tư duy kinh tế, từng bướcsửa đổi cơ chế chính sách cho phù hợp, phát huy tính tích cực của các thànhphần kinh tế, của cơ chế thị trường, chú trọng lợi ích của người lao động,sửa đổi cách thức quản lý nặng về tập trung, hành chính, bao cấp cản trởnhững động lực của sự phát triển Nghị quyết Trung ương 6 khóa IV (8-1979)

là bước đột phá đầu tiên, tiếp theo là Chỉ thị 100 (13-1-1981) về khoán sảnphẩm trong nông nghiệp, Quyết định 25CP, 26CP (21-1-1981), Nghị quyếtTrung ương 8 khóa V (6-1985) và Kết luận của Bộ Chính trị tháng 8-1986 làquá trình khảo nghiệm thực tiễn để đi đến đường lối đổi mới tại Đại hội VI(12-1986)

Đại hội VI của Đảng (12-1986) đề ra đường lối đổi mới toàn diện dựatrên phân tích thấu đáo điều kiện, hoàn cảnh đất nước và nhận thức rõ hơnnhững vấn đề của thời kỳ quá độ lên CNXH, những luận điểm của V.I.Lênin

Trang 13

và Hồ Chí Minh Đại hội VI đã tổng kết những bài học lớn có giá trị lý luận

và chỉ đạo thực tiễn, trong đó nhấn mạnh bài học: “Đảng phải luôn luôn xuấtphát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan Năng lựcnhận thức và hành động theo quy luật là điều kiện bảo đảm sự lãnh đạo đúngđắn của Đảng”(9)

Thực tế điều kiện, hoàn cảnh đất nước là gì? Là điểm xuất phátcòn ở trình độ rất thấp, vẫn là sản xuất nhỏ, manh mún, phân tán Là hậu quảnặng nề của 30 năm chiến tranh giải phóng và lại phải tiến hành chiến tranhbảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây - Nam và biên giới phía Bắc, thực hiện nghĩa

vụ quốc tế giúp Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng và giúp bạn hồi sinhđất nước Các thế lực đế quốc, phản động siết chặt cấm vận và phá hoại chế

độ XHCN ở Việt Nam Đất nước khủng hoảng kinh tế trầm trọng, lạm phátnăm 1986 ở mức cao nhất (774,7%), là một trong những nước nghèo nhấtthế giới, năm 1986 bình quân thu nhập đầu người có 150 USD Tronghoàn cảnh như thế, đổi mới là mệnh lệnh của cuộc sống, là vấn đề sống còn

Để hành động theo quy luật khách quan, trước hết phải nhận thứcđúng đắn các quy luật, nhất là quy luật giá trị và sản xuất hàng hóa thúc đẩysản xuất ra nhiều của cải vật chất Sự kết hợp kế hoạch hóa nền kinh tế vớiyếu tố thị trường với phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế.Quy luật phân phối theo lao động và coi lợi ích kinh tế của người lao động

là một động lực phát triển Đặc biệt phải nhận thức và hành động theo quyluật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất để có bước đi và hình thức thích hợp Đại hội VI của Đảng thẳng thắnnêu rõ: “Kinh nghiệm thực tế chỉ rõ: lực lượng sản xuất bị kìm hãm khôngchỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuấtphát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất”(10)

Ngày đăng: 16/06/2023, 11:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w