1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

chương 4 kháo sổ và lập báo cáo tài chính

40 338 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chương 4 Khóa Sổ Và Lập Báo Cáo Tài Chính
Trường học Trường Đại học Kinh tế Tài chính TP.HCM
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại Chương học
Năm xuất bản 2023
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 737,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số gợi ý Trước khi đi vào nghiên cứu nội dung của chương này, bạn có thể trả lời một số câu hỏi bên dưới để tự đánh giá sự hiểu biết của mình về chủ đề tài khoản kế toán và ghi sổ k

Trang 1

Trang 1

Chương 4

KHÓA SỔ VÀ LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH

Chương này giới thiệu công việc kế toán sau khi hoàn thành việc ghi chép trên tài khoản kế toán Người học sẽ tìm hiểu cơ sở dồn tích là nền tảng của quá trình điều chỉnh, khóa sổ để hoàn thành chu trình kế toán và lập báo cáo tài chính

Mục tiêu

Sau khi nghiên cứu xong chương này, bạn có thể:

 Giải thích các nguyên tắc kế toán áp dụng trong việc xác định lợi nhuận trong một thời kỳ

 Giải thích các bút toán điều chỉnh và khóa sổ

 Trình bày các bước hoàn thành chu trình kế toán

 Lập các báo cáo tài chính đơn giản

 Phân tích một số chỉ tiêu cơ bản của báo cáo tài chính

Một số gợi ý

Trước khi đi vào nghiên cứu nội dung của chương này, bạn có thể trả lời một số câu hỏi bên dưới để

tự đánh giá sự hiểu biết của mình về chủ đề tài khoản kế toán và ghi sổ kép:

 Kế toán sẽ ghi nhận và báo cáo doanh thu, chi phí thế nào để tính lợi nhuận khi một giao dịch kinh doanh có thể liên quan đến nhiều kỳ kế toán?

 Cách thức người kế toán kết thúc một chu kỳ kế toán để lập báo cáo tài chính, cũng như mở đầu một chu kỳ kế toán mới?

Kết cấu chương

Các nguyên tắc kế toán

để xác định lợi nhuận

Bút toán điều chỉnh

Lập báo cáo tài chính

 Lập báo cáo tài chính

 Đọc hiểu báo cáo tài chính

 Phương pháp bảng tính

Trang 2

I Các nguyên tắc kế toán để xác định lợi nhuận

Trong chương 3, chúng ta đã tìm hiểu xem các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được kế toán ghi nhận như thế nào: định khoản; ghi vào tài khoản và đối chiếu kiểm tra thông qua bảng cân đối tài khoản Câu hỏi đặt ra là kế toán còn phải thực hiện những công việc gì nữa để có thể đo lường lợi nhuận của kỳ kế toán, cập nhật các ghi chép đến ngày cuối kỳ và lập các báo cáo tài chính để hoàn thành một kỳ kế toán?

Để trả lời câu hỏi này, trước hết chúng ta cần tìm hiểu về những khái niệm và nguyên tắc để đo lường lợi nhuận Những khái niệm và nguyên tắc kế toán này bao gồm nguyên tắc cơ sở dồn tích, khái niệm kỳ kế toán, nguyên tắc ghi nhận doanh thu và nguyên tắc phù hợp

1 Lợi nhuận kế toán và cơ sở dồn tích

Kế toán ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và báo cáo kết quả của chúng Vậy khi nào kế toán ghi nhận một nghiệp vụ? Có hai cơ sở để kế toán ghi nhận các nghiệp vụ:

- Cơ sở dồn tích: Ghi nhận ảnh hưởng của mỗi nghiệp vụ khi nó phát sinh Không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc chi tiền

- Cơ sở tiền (còn gọi là thực thu thực chi): Chỉ ghi nhận các khoản tiền thu vào, chi ra Do đó,

kế toán không dùng các khái niệm khoản phải thu khách hàng, khoản phải trả người bán, khấu hao…

Trong chương 2, chúng ta đã biết cơ sở dồn tích là một nguyên tắc của kế toán hiện hành Điều này xuất phát từ những ưu điểm của cơ sở này so với cơ sở tiền, đặc biệt là với việc đánh giá kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Trong phần dưới đây, chúng ta sẽ làm rõ hơn sự khác biệt giữa hai cơ

sở trên trong một số ví dụ để có thể hiểu hơn nguyên tắc này

Trang 3

Trang 3

Các ví dụ trên cho thấy ưu điểm của kế toán dồn tích trong phản ảnh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thông qua việc phản ảnh đầy đủ hơn doanh thu và chi phí, làm cơ sở để xác định lợi nhuận của doanh nghiệp

Tóm lại, doanh thu, chi phí phải được ghi nhận vào kỳ mà nó phát sinh, và đó chính là cách của kế

toán dồn tích Ngược lại, kế toán trên cơ sở tiền sẽ ghi nhận doanh thu và chi phí trên cơ sở các khoản tiền thực thu, thực chi Hình 4-1 minh họa sự khác biệt giữa hai loại hình kế toán trên

Hình 4-1: Kế toán dồn tích khác với kế toán tiền

Bên cạnh đó, lưu ý rằng cơ sở dồn tích cũng giúp người kế toán thể hiện đầy đủ hơn tình hình tài chính của doanh nghiệp Trong ví dụ 1, nó giúp ghi nhận khoản phải trả người bán, một nghĩa vụ đã phát sinh của doanh nghiệp Trong ví dụ 2, nợ phải thu được ghi nhận vào tài sản, một nguồn lực kinh tế mà doanh nghiệp đã kiểm soát

Với các ưu điểm trên, cơ sở dồn tích được xem là giúp cho việc cung cấp thông tin hữu ích cho người sử dụng để ra các quyết định kinh tế Trên thực tế, cơ sở dồn tích là nguyên tắc kế toán được

áp dụng phổ biến từ lâu tại doanh nghiệp trên thế giới Kế toán cơ sở tiền hiện nay chỉ còn áp dụng trong một số ít trường hợp, chẳng hạn trong khu vực kế toán hành chính sự nghiệp tại một số quốc gia

Công ty Kho Vận Ngoại Thương cho Công ty Thủy Sản Nam Việt thuê kho lạnh với giá 12 triệu đồng/tháng Ngày 2 tháng 1, Cty Nam Việt trả ngay 36 triệu cho thời gian thuê kho từ 1/1 đến 31/3 Giả sử cả hai công ty đều có yêu cầu phải lập báo cáo tài chính hàng tháng

Yêu cầu:

a) Cty Kho Vận Ngoại Thương sẽ báo cáo doanh thu mỗi tháng là bao nhiêu theo 2 trường hợp sau:

 Theo kế toán dồn tích

 Theo kế toán tiền

b) Công ty Nam Việt sẽ báo cáo chi phí mỗi tháng là bao nhiêu theo 2 trường hợp sau:

 Theo kế toán dồn tích

 Theo kế toán tiền

(Bài giải nằm ở cuối chương)

2 Kỳ kế toán

Kế toán dồn tích Ghi nhận chi phí khi phát sinh

Không căn cứ thời điểm chi tiền

Ghi nhận doanh thu khi phát sinh

Không căn cứ thời điểm thu tiền

Kế toán tiền

Ghi nhận các khoản tiền thực thu

là doanh thu

Ghi nhận các khoản thực chi ra

là chi phí

Bài tập thực hành 1

Trang 4

Một doanh nghiệp được lập ra là để thực hiện các hoạt động kinh doanh Giả định hoạt động của một doanh nghiệp là liên tục Không chỉ nhà quản lý, chủ sở hữu và chủ nợ đều muốn biết doanh nghiệp đã hoạt động như thế nào, có hiệu quả không, có trả được nợ không, vốn có được bảo toàn không… trong một thời kỳ nhất định Vì vậy, kế toán phân đoạn thời gian và lập các báo cáo tài chính cho từng kỳ kế toán riêng biệt để bảo đảm rằng thông tin được báo cáo thường xuyên

Kỳ kế toán là khoảng thời gian để kế toán thực hiện một chu trình kế toán gồm các bước: Mở sổ - Ghi sổ - Khoá sổ - Lập báo cáo tài chính Mỗi chu kỳ này phải ngắn hơn thời gian tồn tại của một tổ chức Thường thì người ta qui định độ dài của kỳ kế toán sao cho thuận tiện cho công việc kế toán nhất

Ở hầu hết các nước trên thế giới, kỳ kế toán cơ bản là 12 tháng, không nhất thiết là năm dương lịch,

gọi là niên độ kế toán hay năm tài chính Tất cả các doanh nghiệp đều phải lập Báo cáo tài chính

hàng năm Hầu hết các doanh nghiệp vẫn chọn kỳ kế toán theo năm dương lịch, một số khác sử dụng năm tài chính kết thúc vào một ngày khác Họ thường chọn ngày kết thúc niên độ vào thời gian thấp điểm của các hoạt động kinh doanh Thí dụ, Wal-Mart, Target và nhiều công ty bán lẻ khác ở Hoa Kỳ sử dụng năm tài chính kết thúc vào ngày 31 tháng 1, vì đó là thời điểm hoạt động của họ

“thong thả” hơn sau mùa Giáng sinh và Tết

Luật Kế Toán Việt Nam quy định: “Kỳ kế toán năm là mười hai tháng, tính từ đầu ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 12 năm dương lịch Ðơn vị kế toán có đặc thù riêng về tổ chức, hoạt động được chọn kỳ kế toán năm là mười hai tháng tròn theo năm dương lịch, bắt đầu từ đầu ngày 01 tháng đầu quý này đến hết ngày cuối cùng của tháng cuối quý trước năm sau và thông báo cho cơ quan tài chính biết; Kỳ kế toán quý là ba tháng, tính từ đầu ngày 01 tháng đầu quý đến hết ngày cuối cùng của tháng cuối quý; Kỳ kế toán tháng là một tháng, tính từ đầu ngày 01 đến hết ngày cuối cùng của tháng”

Các doanh nghiệp cũng có thể lập báo cáo tài chính cho các kỳ kế toán ngắn hơn, thường là tháng hay quý (còn gọi là báo cáo tài chính giữa niên độ) Các báo cáo tháng có thể tổng hợp thành Báo cáo tài chính của quý; các báo cáo quý tổng hợp thành báo cáo năm Trong quyển sách này, chúng ta bàn về báo cáo tài chính năm Các nguyên tắc và thủ tục kế toán được thực hiện tương tự cho cả các báo cáo tài chính giữa niên độ

Khái niệm kỳ kế toán bảo đảm rằng thông tin được báo cáo thường xuyên Để đo lường lợi nhuận một cách đáng tin cậy, doanh nghiệp phải cập nhật các tài khoản đến ngày kết thúc kỳ kế toán Hoạt động của một doanh nghiệp là một chuỗi các nghiệp vụ diễn tiến liên tục Có nhiều nghiệp vụ được bắt đầu ở một kỳ kế toán nhưng lại ảnh hưởng đến cả nhiều kỳ kế toán khác như việc mua sắm vật tư, thiết bị, các khoản chi phí trả trước… Yêu cầu lập báo cáo cho mỗi kỳ kế toán riêng biệt đòi hỏi kế toán phải có những kỹ thuật xử lý thích hợp với các loại nghiệp vụ như vậy

Ví dụ 3:

Công ty G thuê nhà với tiền thuê là 120 triệu đồng một năm Tuy nhiên, theo hợp đồng, công ty G phải trả trước tiền thuê nhà hai năm ngay khi bắt đầu hợp đồng thuê là 240 triệu đồng Như vậy, khoản tiền thuê này phải được phân bổ cho hai kỳ kế toán năm Nếu công ty G lập báo cáo hàng quý, số tiền trả trước phải được chia đều cho 8 quý, mỗi quý 30 triệu đồng

Tuy nhiên không phải tất cả các khoản đều có thể phân chia một cách chính xác như vậy cho mỗi kỳ

kế toán Các khoản đầu tư mua sắm nhà xưởng, thiết bị, phương tiện vận tải… là để sử dụng cho hoạt động kinh doanh trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản đó Không thể xác định một cách chính xác rằng một tài sản như vậy sẽ được sử dụng trong bao nhiêu năm và chi phí sử dụng nó trong mỗi kỳ kế toán là bao nhiêu Trong những trường hợp như vậy, kế toán cần phải ước lượng một cách tương đối phần chi phí tương ứng để có thể đo lường lợi nhuận của mỗi kỳ kế toán Và do

Trang 5

Trang 5

phải xác định dựa trên một phần là những ước tính nên lợi nhuận trong các báo cáo của kế toán được xem là những số liệu có ý nghĩa gần đúng hơn là các số liệu chính xác

3 Nguyên tắc ghi nhận doanh thu

Theo nguyên tắc dồn tích, doanh thu được ghi nhận khi phát sinh chứ không căn cứ vào thời điểm

mà doanh nghiệp thu được tiền Những dấu hiệu nào để nhận biết sự phát sinh của một khoản doanh thu phải ghi nhận, khoản doanh thu được ghi nhận với số tiền bao nhiêu? Nguyên tắc ghi nhận doanh thu đưa ra câu trả lời cho các nhà kế toán về những câu hỏi trên

Thời điểm phát sinh

Trong hầu hết các trường hợp, doanh thu phát sinh khi doanh nghiệp chuyển giao hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng, doanh nghiệp đã thực hiện xong mọi điều khoản được đòi hỏi trong thỏa thuận bán hàng, có thể bao gồm cả việc vận chuyển hàng hóa cho khách hàng Như vậy, thời điểm cung cấp hàng hóa, dịch vụ là thời điểm ghi nhận doanh thu, không phụ thuộc vào việc khách hàng đã trả tiền hay chưa Trong ví dụ 2 ở trên, công ty A ghi nhận doanh thu vào năm 20x0 mặc dù tiền chỉ được thu vào năm 20x1

Các khoản tiền doanh nghiệp đã nhận nhưng chưa cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng thì không phải là doanh thu Chỉ khi việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ được thực hiện, doanh thu mới được ghi nhận cùng với sự giảm đi của nghĩa vụ cung cấp hàng hóa và dịch vụ

Giá trị được ghi nhận

Về số tiền của khoản doanh thu được ghi nhận, thông thường doanh thu là giá bán của sản phẩm, hàng hóa đã bán và dịch vụ đã cung cấp cho khách hàng

1 Công ty Saigon Tourist nhận thực hiện tour du lịch Hàn Quốc cho đoàn khách gồm giảng viên Khoa Kế Toán – Kiểm Toán trường Đại Học Mở và người thân của họ Ngày 25 tháng 6 năm 20x1, khách hàng trả phí trọn gói là 520 triệu đồng Chuyến du lịch được thực hiện từ ngày 3 đến ngày 11 tháng 8 năm 2011

Kế toán của công ty sẽ ghi nhận doanh thu vào thời điểm nào: Ngày 26 tháng 6 năm 2011 hay tháng 8 năm 2011? Tại sao?

2 Giả sử để giành được một khách hàng mới, công ty đã chấp nhận thực hiện một dịch vụ cho khách hàng này với giá chỉ 350 triệu trong khi giá thông thường của dịch vụ này là 400 triệu Trong trường hợp này, kế toán của công ty ghi nhận doanh thu là bao nhiêu?

(Bài giải nằm ở cuối chương)

4 Nguyên tắc phù hợp

Kế toán ghi nhận doanh thu, chi phí và đo lường lợi nhuận, kết quả hoạt động của doanh nghiệp, bằng việc so sánh doanh thu với chi phí Để lợi nhuận được đo lường một cách hợp lý, việc ghi nhận

doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau

Nguyên tắc phù hợp hướng dẫn người kế toán:

 Xác định tất cả các chi phí phát sinh trong mỗi kỳ kế toán và đo lường các chi phí đó;

 Làm cho chi phí phù hợp với doanh thu trong mỗi kỳ kế toán

Bài tập thực hành 2

Trang 6

Thuật ngữ phù hợp chỉ mối liên hệ chặt chẽ và tương thích giữa các khoản chi phí phát sinh với

doanh thu tạo ra từ các khoản chi phí phát sinh đó Làm cho chi phí phù hợp với doanh hàm ý là sự

so sánh chi phí với doanh thu nhằm xác định lãi hay lỗ một cách hợp lý

Trong ví dụ 1 ở trên, việc ghi nhận chi phí thuê nhà vào năm 20x0 của công ty A đảm bảo sự phù hợp giữa chi phí và doanh thu; lý do là khoản tiền thuê nhà này đóng góp vào việc mang lại doanh thu năm 20x0 của công ty A

II Các khoản điều chỉnh và các bút toán điều chỉnh

Yêu cầu lập các Báo cáo tài chính định kỳ đòi hỏi kế toán phải cập nhật các tài khoản đến ngày kết thúc kỳ kế toán Công việc của kế toán không thể dừng lại ở việc ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh như đã nói đến ở chương 3 Điều này xuất phát từ những nguyên tắc kế toán được sử dụng

để xác định lợi nhuận đã trình bày trong phần trên

Cuối mỗi kỳ kế toán, một quá trình điều chỉnh cần được thực hiện nhằm hai mục đích:

 Bảo đảm xác định và đo lường đầy đủ doanh thu, chi phí của kỳ (dựa trên nguyên tắc cơ sở dồn tích và phù hợp) Điều này giúp cho việc đo lường lãi (hoặc lỗ) trên báo cáo kết quả kinh doanh Mọi bút toán điều chỉnh đều ảnh hưởng đến một khoản doanh thu hoặc một khoản chi phí

 Đưa các tài khoản về trạng thái sẵn sàng cho việc lập báo cáo tài chính, thông qua việc cập nhật số dư của tài sản và nợ phải trả trên bảng cân đối kế toán Mọi bút toán điều chỉnh đều ảnh hưởng đến một khoản tài sản hay một khoản nợ phải trả

Quá trình điều chỉnh bắt đầu khi kỳ kế toán kết thúc; kế toán đã hoàn tất việc ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào các tài khoản kế toán

Quá trình điều chỉnh đòi hỏi kế toán phải thực hiện các bút toán điều chỉnh Như đã nói ở trên, các

bút toán điều chỉnh giúp đo lường lợi nhuận một cách hợp lý cho mỗi kỳ kế toán và đưa các tài khoản tài sản và nợ phải trả về trạng thái được cập nhật, sẵn sàng cho việc lập các báo cáo tài chính Các bút toán điều chỉnh là đặc trưng then chốt của kế toán dồn tích Hai loại điều chỉnh cơ bản là các

khoản trả trước và dồn tích

Đối với khoản trả trước, giao dịch bằng tiền phát sinh trước khi một khoản doanh thu hay

chi phí đã phát sinh Do đó, bút toán điều chỉnh sẽ phân bổ doanh thu hoặc chi phí vào kỳ thích hợp

 Đối với khoản dồn tích, giao dịch bằng tiền phát sinh sau khi doanh thu và chi phí đã phát sinh Do đó, bút toán điều chỉnh cần ghi nhận một khoản chi phí hay doanh thu theo thời điểm chúng phát sinh

Trong phần dưới đây, chúng ta sẽ tìm hiểu năm loại bút toán điều chỉnh:

Trang 7

Trang 7

1 Chi phí trả trước

Chi phí trả trước là các khoản đã chi ra trong một kỳ kế toán nhưng lại có ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của nhiều kỳ kế toán sau đó Mọi doanh nghiệp, dù lớn hay nhỏ, đều thường phải chấp nhận các khoản chi phí trả trước như thế này và kế toán phải điều chỉnh ảnh hưởng của chúng đến từng kỳ kế toán Ví dụ: trả trước tiền thuê mặt bằng; trả trước phí bảo hiểm hay trả trước chi phí cho các chương trình quảng cáo dài ngày… Cần nhớ rằng chi phí trả trước là tài sản vì nó là lợi ích kinh

tế tương lai mà doanh nghiệp kiểm soát được, nó chỉ trở thành chi phí khi thực sự được tiêu dùng

Ví dụ 4:

Tháng 8 năm 20x1, Công ty Bạch Dương chi ra 360 triệu đồng để trả trước tiền quảng cáo trên truyền hình trong một năm, tính từ ngày 1 tháng 9 năm 20x1 Ngay khi chi tiền trả trước, kế toán đã ghi:

Nợ TK Chi phí trả trước: 360 triệu đồng

Có TK Tiền mặt: 360 triệu đồng Sau khi ghi sổ, cuối tháng 8, tài khoản Chi phí trả trước có số dư Nợ là 360 triệu đồng Suốt tháng 9, tài khoản Chi phí trả trước duy trì số dư ban đầu này Sau một tháng sử dụng dịch vụ quảng cáo, vào ngày 30/9, khoản tiền quảng cáo trả trước đã phải giảm đi tương ứng với phần đã được sử dụng trong tháng Tỷ lệ sử dụng là 1/12 số trả trước và phần chi phí tương ứng phải được ghi nhận vào chi phí hoạt động của doanh nghiệp trong tháng là 30 triệu

Bút toán điều chỉnh chuyển khoản tiền 30 triệu từ Chi phí trả trước (một tài khoản tài sản) vào Chi phí bán hàng Bút toán điều chỉnh là:

Nợ TK Chi phí bán hàng: 30 triệu

Có TK Chi phí trả trước: 30 triệu Sau khi ghi bút toán điều chỉnh, số dư của tài khoản Chi phí trả trước là 330 triệu (= 360 triệu – 30 triệu)

Việc phân tích và điều chỉnh cũng được thực hiện tương tự với các khoản tiền bảo hiểm hay chi phí tiền thuê trả trước Kế toán thường lập bảng kê chi tiết để theo dõi việc ghi nhận và phân bổ từng khoản chi phí trả trước Trong hệ thống kế toán ứng dụng công nghệ thông tin, người ta lập trình để các bút toán điều chỉnh được thực hiện một cách tự động vào cuối mỗi kỳ kế toán

- Vào ngày 1.3.20x1 Công ty TNHH Hải Nam chuyên sản xuất tủ bảng điện đã chi ra 480 triệu để thuê 1 kho hàng nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất từ công ty An Thái với thời gian thuê là 12 tháng Thời gian bắt đầu thuê kho từ 1/4/20x1

- Ngày 9.3.20x1 Công ty đã trả chi phí lãi vay của tháng 3/20x1 cho ngân hàng A là 30 triệu

- Ngày 15.3.20x1 Công ty trả trước 8 triệu trong 12 triệu tiền mua 2 máy điều hòa từ công ty Nguyễn Kim

- Ngày 28.3.20x1 Công ty Hải Nam cũng đã bỏ ra 120 triệu để mua bảo hiểm cháy nổ cho kho hàng vừa thuê với thời hạn 1 năm từ công ty AIG Thời gian bắt đầu tính bảo hiểm là 1/4/20x1

Bài tập thực hành 3

Trang 8

Yêu cầu

a Xác định và hạch toán chi phí trả trước ở các sự kiện phát sinh trên

b Thực hiện các bút toán điều chỉnh vào ngày 30/4/20x1 (nếu có)

(Bài giải nằm ở cuối chương)

2 Khấu hao tài sản cố định

Khấu hao tài sản cố định (TSCĐ) là một minh họa rõ ràng nhất của kế toán dồn tích TSCĐ là những tài sản dài hạn được sử dụng trong hoạt động của doanh nghiệp như đất đai, nhà cửa, thiết bị, phương tiện vận tải và những TSCĐ khác Giá trị và giá trị sử dụng của TSCĐ bị giảm dần đi trong quá trình sử dụng Sự giảm dần giá trị tài sản làm phát sinh chi phí và kế toán phải phân bổ một cách

có hệ thống giá gốc của mỗi tài sản vào chi phí hoạt động của doanh nghiệp trong thời gian sử dụng

hữu ích của nó

Nguyên lý cơ bản để kế toán đối với TSCĐ cũng tương tự như đối với chi phí trả trước Sự khác biệt

đáng kể giữa một khoản chi phí trả trước với TSCĐ là thời gian hao mòn của TSCĐ thường dài hơn,

hầu hết TSCĐ có thời gian sử dụng trong nhiều năm

Ví dụ 5:

Trong tháng 8/20x1, Công ty Hoa Viên đã mua một TSCĐ hữu hình (máy bơm cao áp) với giá gốc

là 240 triệu đồng và đưa vào sử dụng từ ngày 1/9/20x1 Khi mua thiết bị, kế toán đã ghi sổ:

Nợ TK TSCĐ hữu hình 240 triệu

Có TK Phải trả cho người bán 120 triệu Sau khi ghi sổ, tài khoản TSCĐ hữu hình có số dư là 240 triệu Giả sử công ty ước định rằng thiết bị này có thời gian sử dụng hữu ích là 5 năm (60 tháng) và sẽ không còn giá trị thu hồi khi thanh lý Một trong các cách để tính khấu hao là chia đều giá gốc của tài sản cho thời gian sử dụng hữu ích

của nó Cách này được gọi là phương pháp khấu hao theo đường thẳng Với máy bơm nói trên, mức

khấu hao hàng năm là 48 triệu (= 240 triệu : 5 năm); mức khấu hao hàng tháng là 4 triệu (= 48 triệu :

12 tháng)

Giá trị của TSCĐ giảm dần đi trong quá trình sử dụng và tại một thời điểm nhất định sẽ là phần còn lại của nguyên giá sau khi trừ đi số khấu hao lũy kế Để đánh giá tình hình trang bị, sử dụng TSCĐ, tình trạng TSCĐ và ra các quyết định về việc thay thế, đổi mới TSCĐ, nhà quản lý cần tham chiếu

cả ba đại lượng: Nguyên giá, số khấu hao đã thực hiện (gọi là khấu hao lũy kế) và giá trị còn lại Với yêu cầu trên, kế toán sử dụng các tài khoản như sau:

 Tài khoản TSCĐ để phản ảnh tình hình hiện có và tăng, giảm của TSCĐ theo nguyên giá Như vậy, nếu không mua mới hay thanh lý TSCĐ, tài khoản này có số dư không đổi mặc dù giá trị TSCĐ bị giảm dần do khấu hao

 Tài khoản Hao mòn TSCĐ ghi nhận và lưu giữ thông tin về quá trình trích khấu hao và tổng

số khấu hao đã trích của tài sản Số khấu hao lũy kế tăng dần theo thời gian sử dụng tài sản Tài khoản Hao mòn TSCĐ là một tài khoản điều chỉnh giảm theo sau tài khoản TSCĐ Tài khoản TSCĐ có số dư bên Nợ vì vậy tài khoản Hao mòn TSCĐ, một tài khoản điều chỉnh giảm, có số dư bên Có

Trang 9

Trang 9

Để ghi nhận việc trích khấu hao TSCĐ, kế toán sẽ đòi hỏi ghi tăng chi phí và ghi giảm giá trị TSCĐ Tuy nhiên, thay vì ghi Có cho tài khoản TSCĐ hữu hình để thể hiện sự giảm đi trong giá trị TSCĐ,

kế toán lại ghi Có tài khoản Hao mòn TSCĐ

Áp dụng vào ví dụ 5, bút toán khấu hao tháng 9 đƣợc ghi nhƣ sau:

Nợ TK Chi phí khấu hao: 4 triệu

Có TK Hao mòn TSCĐ: 4 triệu Hình 4-2 minh họa sơ đồ tài khoản của ví dụ 5

TK Tài sản TK điều chỉnh giảm TS

TSCĐ HH (máy bơm) Hao mòn TSCĐ (máy bơm) CP khấu hao

SD: 240

SD: 240 SD: 4 SD: 4

Bảng cân đối kế toán trình bày tình trạng TSCĐ bao gồm số liệu về nguyên giá, số khấu hao lũy kế

và giá trị còn lại Vì là một tài khoản điều chỉnh giảm tài sản với số dƣ Có nên số dƣ của tài khoản Hao mòn lũy kế sẽ đƣợc phản ảnh nhƣ là một số âm trên bảng cân đối kế toán (thể hiện bằng số tiền ghi trong dấu ngoặc đơn) Giá trị này sẽ đƣợc trừ khỏi số dƣ của tài khoản TSCĐ, vốn phản ảnh nguyên giá TSCĐ, kết quả là giá trị còn lại (giá trị thuần) của tài sản

Giá trị còn lại = Nguyên giá - giá trị khấu hao lũy kế

Hình 4-3 minh họa cách trình bày TSCĐ trên Bảng cân đối kế toán của công ty Hoa Viên:

Ta có bảng thông tin TSCĐ tính đến 31/12/20x5 của một số công ty nhƣ sau:

Thông tin Công ty A Công ty B Công ty C Công ty D

Trang 10

Thời gian bắt đầu sử dụng 20x1 20x2 20x3 20x4

- Giả sử các tài sản được đưa vào sử dụng vào ngày 1/1 (kỳ kế toán từ 1/1-31/12) và không có

sự thay đổi về nguyên giá trong các năm tiếp theo;

- Công ty sử dụng phương pháp khấu hao đường thẳng qua các năm;

- Khấu hao trong năm 20x5 của công ty D là 79 triệu

Yêu cầu

a Xác định các giá trị còn trống trong bảng TSCĐ

b Xác định giá trị và hạch toán các bút toán trích khấu hao trong năm 20x5 của các công ty

3 Chi phí phải trả

Khái niệm chi phí phải trả đề cập đến các khoản chi phí đã phát sinh nhưng doanh nghiệp chưa trả

Khoản chi phí phải trả là một nghĩa vụ của doanh nghiệp, nên được ghi nhận và báo cáo một khoản

nợ phải trả Khi kỳ kế toán kết thúc, kế toán sẽ nhận diện các khoản chi phí phải trả, ghi các bút toán điều chỉnh để cập nhật các chi phí này cùng với các khoản nợ phải trả liên quan cho việc lập các báo cáo tài chính

Các khoản chi phí phải trả thường gặp trong kế toán là:

 Chi phí phải trả về tiền lương

 Chi phí phải trả về dịch vụ đã sử dụng

 Các khoản chi phí phải trả khác

Chi phí phải trả về tiền lương

Khi doanh nghiệp sử dụng lao động của nhân viên, chi phí tiền lương đã phát sinh Trong nhiều doanh nghiệp, khoản tiền lương này được thanh toán vào đầu kỳ kế tiếp Điều này tạo ra một khoản

chi phí phải trả về tiền lương Tài khoản để theo dõi khoản phải trả nay là Phải trả người lao động

Ví dụ 6:

Theo hợp đồng giữa Công ty Thương mại Minh Hà với nhân viên bán hàng, tiền lương mỗi tháng được chi trả cho họ một lần vào ngày 5 của tháng kế tiếp Nghĩa là đến ngày 5/10 doanh nghiệp mới chi tiền trả lương tháng 9 cho người lao động Vì vậy, cho đến ngày 30 tháng 9, chưa có bút toán chi tiền lương được ghi sổ Tuy nhiên, sẽ không đảm bảo nguyên tắc cơ sở dồn tích và phù hợp nếu không ghi nhận chi phí lương đã phát sinh trong tháng 9 Thiếu sót này dẫn đến kết quả kinh doanh tháng 9 sẽ bị sai lệch Do đó, vào cuối tháng 9, kế toán xác định được tiền lương phải trả cho nhân viên bán hàng trong tháng là 40 triệu nhưng chưa trả, kế toán phải ghi một bút toán điều chỉnh dồn tích:

Trang 11

Trang 11

Sau bút toán điều chỉnh, tài khoản Chi phí bán hàng đã ghi nhận đầy đủ chi phí tiền lương phát sinh trong tháng; tài khoản Phải trả người lao động phản ảnh đúng số nợ doanh nghiệp phải trả người lao động tính đến ngày 30 tháng 9 năm 20x1 Sang tháng 10, khi chi trả lương tháng 9 cho người lao động, kế toán ghi không ghi nhận khoản chi trả này vào chi phí nữa mà chỉ là trả nợ mà thôi:

Nợ TK Phải trả người lao động: 40 triệu

Chi phí phải trả về dịch vụ đã sử dụng

Tiền điện, nước, điện thoại và các loại dịch vụ tương tự mà doanh nghiệp sử dụng hàng tháng thường chỉ được thanh toán vào đầu tháng sau, sau khi nhận được hóa đơn của nhà cung cấp Các khoản chi phí này cần được ghi nhận theo cơ sở dồn tích, nghĩa là vào đúng kỳ mà nó phát sinh, chứ không phải vào kỳ mà nó được thanh toán Bút toán điều chỉnh thường được thực hiện để ghi nhận các khoản chi phí này vào cuối kỳ, trước khi xác định kết quả kinh doanh của kỳ kế toán Tài khoản

được sử dụng trong trường hợp này là Phải trả cho người bán

Có TK Tiền mặt / Tiền gởi ngân hàng: 15

Chi phí phải trả khác

Có nhiều loại chi phí phải trả khác, thí dụ chi phí lãi vay Chi phí lãi vay là chi phí mà doanh nghiệp phải trả cho người cho vay về việc đã sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định Chi phí lãi vay thường thanh toán sau mỗi tháng nên sẽ có trường hợp kết thúc kỳ kế toán nhưng chưa đến hạn thanh toán lãi vay Lúc này chi phí lãi vay phải được ghi nhận trên cơ sở dồn tích bằng một bút toán

điều chỉnh Tài khoản sử dụng trong trường hợp này là tài khoản Chi phí phải trả

Ví dụ 8:

Vào ngày 15 tháng 6 năm 20x1, Công ty Đại Liên vay 1.000 triệu đồng từ ngân hàng với mức lãi suất 1%/ tháng, trả vào ngày 15 hàng tháng kể từ tháng kế tiếp Như vậy, khoản chi phí lãi vay của tháng đầu tiên là 10 triệu sẽ được doanh nghiệp chi trả vào ngày 15/7/20x1 Tuy nhiên, để xác định kết quả kinh doanh tháng 6, không thể không kể đến chi phí lãi vay phát sinh ứng với 15 ngày sử dụng khoản vay trong tháng

Do đó, một bút toán điều chỉnh cần được thực hiện vào ngày 30 tháng 6 để ghi nhận khoản chi phí này cùng với khoản nợ phải trả về lãi vay mà doanh nghiệp có nghĩa vụ phải thanh toán sau đó:

Nợ TK Chi phí lãi vay: 1.000 x 1% x ½ = 5 triệu

Bài tập thực hành 5

Trang 12

Trong tháng 9.20x1, tại Công ty thương mại Hoa Mai chuyên bán máy in, mực in công nghiệp có

tình hình như sau:

a Trả tiền điện thoại, điện, nước trong tháng 8.20x1 là 4.500.000đ

b Chi trả tiền lương tháng 8.20x1 của nhân viên bán hàng là 8.500.000đ

c Trả tiền lãi vay tháng 8.20x1 cho công ty Hoa Phượng là 2.000.000 đ

d Trả tiền thuê cửa hàng và các vật dụng tháng 8.20x1 là 20.000.000đ

e Chi phí điện thoại, điện, nước chung của doanh nghiệp trong tháng 9.20x1 là 5.000.000đ

f Chi phí quảng cáo trong tháng 9.20x1 là 2.000.000đ

g Chi phí tiền lương của nhân viên bán hàng và văn phòng trong tháng 9.20x1 lần lượt là 4.000.000đ và 3.000.000đ

h Chi phí lãi vay ngân hàng trong tháng 9.20x1 là 1.500.000đ

i Mua mực in để tiếp tục kinh doanh là 30.000.000đ

Yêu cầu

Xác định và hạch toán các chi phí dồn tích phát sinh trong tháng

(Đáp án xem ở cuối chương)

4 Doanh thu chưa thu tiền

Doanh nghiệp thường bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ cho khách hàng và cho phép họ trả tiền sau một thời gian nhất định Trong trường hợp này, theo nguyên tắc cơ sở dồn tích, doanh nghiệp sẽ ghi nhận doanh thu ngay khi giao dịch phát sinh mà không chờ đợi đến khi thu được tiền

Bút toán điều chỉnh này được ghi như sau:

Nợ TK Phải thu khách hàng

Có TK Doanh thu

Trên thực tế, tính chất điều chỉnh của bút toán này có vẻ mờ nhạt vì người kế toán thường ghi ngay giao dịch này khi phát sinh, không chờ đến cuối kỳ kế toán Tuy nhiên, về mặt lý thuyết, đây là một bút toán điều chỉnh do cách thức xử lý dựa trên cơ sở dồn tích của nó Bút toán này cũng được thực hiện cuối kỳ trong một trường hợp thực tế sau:

 Trong các doanh nghiệp nhỏ, người kế toán dành thời gian hàng ngày để ghi các giao dịch dựa trên thực thu, thực chi và cuối kỳ mới tập hợp các khoản bán hàng chưa thu tiền và ghi nghiệp vụ này để lập báo cáo tài chính trên cơ sở dồn tích

 Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ qua nhiều kỳ kế toán, việc xác định doanh thu thực hiện cuối mỗi kỳ căn cứ vào mức độ thực hiện trong kỳ

5 Doanh thu chưa thực hiện

Trong một số trường hợp, doanh nghiệp có thể nhận trước tiền của khách hàng, sau đó mới thực hiện việc cung cấp dịch vụ; đặc biệt là các hoạt động cung cấp dịch vụ tính phí theo thời gian như cho thuê nhà, quảng cáo Nguyên tắc ghi nhận doanh thu không cho phép ghi nhận khoản tiền khách hàng trả trước này là doanh thu Doanh nghiệp có nghĩa vụ phải thanh toán khoản nợ này bằng việc cung cấp cho khách hàng một lượng dịch vụ sau đó và chỉ khi công việc được thực hiện xong, doanh thu mới được coi là phát sinh

Trang 13

Trang 13

Việc nhận trước tiền của khách hàng trong trường hợp này làm phát sinh một khoản nợ phải trả gọi

là doanh thu chưa thực hiện Tài khoản Doanh thu chưa thực hiện là một tài khoản nợ phải trả, có

kết cấu tăng bên Nợ, giảm bên Có và số dư cuối kỳ bên Có

Ví dụ 8:

Công ty Hải Thanh cho Nhà máy T thuê văn phòng làm việc bắt đầu từ 1.9.20x1 và yêu cầu trả trước tiền thuê 6 tháng là 120 triệu đồng Ngày 20.8.20x1, Nhà máy T đã chuyển cho công ty 120 triệu đồng Lúc này, công ty Hải Thanh chưa được ghi nhận doanh thu vì thực sự chưa cung cấp dịch vụ cho khách hàng Khi nhận tiền, công ty phát sinh một khoản phải trả và sẽ ghi nhận:

Nợ TK Tiền mặt 120 triệu

Có TK Doanh thu chưa thực hiện 120 triệu

Trên Bảng cân đối kế toán ngày 31.8.20x1 của công ty Hải Thanh, khoản Doanh thu chưa thực hiện được trình bày trong phần nợ phải trả

Ngày 30.9.20x1, công ty Hải Thanh được tính doanh thu của tháng đầu tiên cho thuê và ghi nhận:

Nợ TK Doanh thu chưa thực hiện 20 triệu

Bút toán điều chỉnh trên nhằm phản ảnh doanh thu đã thực hiện trong kỳ và giảm nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với khách hàng Trên Bảng cân đối kế toán ngày 30.9.20x1, số dư khoản phải trả cho Nhà máy T chỉ còn là: 120 triệu – 20 triệu = 100 triệu

Trong giao dịch bán hàng hay cung cấp dịch vụ, có những trường hợp khách hàng ứng trước tiền cho doanh nghiệp Khoản này sẽ được trừ dần vào số hàng được giao hay dịch vụ cung cấp Kế toán

cũng không được ghi nhận doanh thu trên số tiền nhận được mà chỉ ghi nhận như một khoản Người mua ứng trước tiền và chỉ ghi doanh thu trên số hàng đã giao Người mua ứng trước tiền cũng là một khoản phải trả tương tự như Doanh thu chưa thực hiện, mặc dù nó mang tính chất một khoản

công nợ hơn là một khoản dồn tích

Ví dụ 9:

Công ty Giao Linh ký hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý cho khách hàng Y Do thông lệ của dịch vụ này, bên nhận dịch vụ phải thanh toán ngay khi ký hợp đồng 20% giá trị hợp đồng Phần còn lại sẽ thanh toán khi hoàn thành dịch vụ Giá trị hợp đồng giả sử là 200 triệu đồng

Khi nhận tiền ứng trước của khách hàng, kế toán công ty Giao Linh ghi:

Nợ TK Tiền mặt 40 triệu

Có TK Người mua ứng trước tiền 40 triệu

Khi hoàn thành hợp đồng, kế toán ghi:

Nợ TK Người mua ứng trước tiền 40 triệu

Nợ TK Phải thu khách hàng 160 triệu

Hệ thống hóa các loại bút toán điều chỉnh

Trang 14

Về mặt thời gian, có hai trường hợp phát sinh bút toán điều chỉnh: (i) Trả trước: Giao dịch bằng tiền xảy ra trước, bút toán điều chỉnh sẽ ghi nhận sau và (ii) Dồn tích: Bút toán điều chỉnh được thực hiện trước, giao dịch bằng tiền diễn ra sau Có thể tóm tắt cách xử lý trong hình 4-4

TRẢ TRƯỚC (giao dịch bằng tiền xảy ra trước)

TRƯỚC (ghi nhận giao dịch bằng tiền) SAU (bút toán điều chỉnh) Chi phí trả

trước (*)

Trả tiền và ghi nhận tăng tài sản:

Chi phí trả trước Tiền

xxx xxx

Ghi nhận chi phí đồng thời giảm tài sản:

Chi phí … Chi phí trả trước

xxx xxx

Ghi nhận doanh thu đồng thời giảm nợ phải trả:

Doanh thu chưa thực hiện Doanh thu

xxx xxx

DỒN TÍCH (giao dịch bằng tiền xảy ra sau)

TRƯỚC (bút toán điều chỉnh) SAU (ghi nhận giao dịch bằng tiền)

xxx xxx

Trả tiền và giảm nợ phải trả:

Phải trả … Tiền

xxx xxx

xxx xxx

Thu tiền và giảm nợ phải thu:

Tiền Phải thu về …

xxx xxx (*) Khấu hao về phương diện ghi nhận chi phí, cũng tương tự như chi phí trả trước

Về phương diện định khoản, có thể tổng hợp tác động của bút toán điều chỉnh đến các tài khoản bằng bảng 4-5

Loại bút toán điều chỉnh Ghi Nợ tài khoản Ghi Có tài khoản

5 Doanh thu chưa thực hiện Nợ phải trả Doanh thu

Bài tập thực hành 6

Trang 15

Yêu cầu

a Định khoản các sự kiện phát sinh trên của công ty

b Thực hiện các bút toán điều chỉnh vào cuối tháng 10.20x1 (nếu có)

III Các bút toán khóa sổ và kết chuyển

1 Khoá sổ và kết chuyển doanh thu, chi phí

Kế toán đo lường và báo cáo kết quả hoạt động của đơn vị theo từng kỳ kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh chỉ báo cáo lãi lỗ của một kỳ kế toán Kế toán ghi nhận doanh thu, chi phí phát sinh trong mỗi kỳ kế toán Khi kỳ kế toán kết thúc, kế toán so sánh doanh thu, chi phí; xác định kết quả kinh doanh của kỳ và báo cáo cho người sử dụng về ảnh hưởng của nó đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Số dư trên các tài khoản doanh thu, chi phí chỉ liên quan đến một kỳ kế toán và do đó, phải được tất toán vào ngày kết thúc kỳ kế toán Quá trình khóa sổ đưa tất cả các tài khoản doanh thu, chi phí về số không để đo lường lợi nhuận của mỗi kỳ kế toán một cách riêng biệt với tất cả các

kỳ kế toán khác

Để thực hiện quá trình trên, kế toán sử dụng tài khoản “Xác định kềt quả kinh doanh” Các bước khoá sổ và kết chuyển được thực hiện qua các bước:

1 Kết chuyển doanh thu sang tài khoản Xác định kết quả kinh doanh: Ghi Nợ từng tài

khoản doanh thu / ghi Có TK Xác định KQKD: toàn bộ doanh thu phát sinh;

2 Kết chuyển chi phí sang tài khoản Xác định kết quả kinh doanh: Ghi Có từng tài khoản

chi phí / ghi Nợ TK Xác định KQKD: toàn bộ chi phí phát sinh;

3 Xác định kết quả kinh doanh và kết chuyển về tài khoản Lợi nhuận chưa phân phối:

Lãi thuần làm tăng vốn chủ sở hữu và được kết chuyển về bên Có của tài khoản này; ngược lại, lỗ thuần làm giảm vốn chủ sở hữu, do đó được kết chuyển về bên Nợ

Sau các bút toán kết chuyển doanh thu và chi phí, tài khoản Xác định KQKD lúc này lưu giữ lợi nhuận thuần, nhưng chỉ trong chốc lát Vì lãi thuần sẽ được kết chuyển về bên Có của tài khoản Lợi nhuận chưa phân phối

Nợ tài khoản Xác định KQKD

Có tài khoản Lợi nhuận chưa phân phối Nếu lỗ, số lỗ thuần sẽ được kết chuyển ngược lại:

Trang 16

Nợ tài khoản Lợi nhuận chưa phân phối

Có tài khoản Xác định KQKD Các bút toán này tất toán các tài khoản doanh thu, chi phí và cả tài khoản Xác định kết quả kinh doanh Số dư các tài khoản này được trả về số không để khép lại một kỳ kế toán và chuẩn bị cho việc đo lường kết quả kinh doanh của kỳ tiếp theo

Hình 4-6 minh họa sơ đồ tài khoản Xác định kết quả kinh doanh và các bút toán kết chuyển doanh thu, chi phí

Giá vốn hàng bán Xác định kết quả kinh doanh Doanh thu

Bút toán (1): Kết chuyển doanh thu

Bút toán (2), (3), (4): Kết chuyển các chi phí

Bút toán (5a): Kết chuyển lãi (khi doanh thu lớn hơn tổng chi phí)

Bút toán (5b): Kết chuyển lỗ (khi doanh thu nhỏ hơn tổng chi phí)

2 Khóa sổ các tài khoản khác

Quá trình xác định kết quả kinh doanh khóa sổ các tài khoản tạm thời, gồm các tài khoản doanh thu, chi phí và tài khoản Xác định kết quả kinh doanh Khác với những tài khoản tạm thời kể trên, chúng

ta gọi các tài khoản tài sản; nợ phải trả; vốn đầu tư chủ sở hữu là các tài khoản thường xuyên Các tài khoản này không phản ảnh hoạt động kinh doanh của một kỳ kế toán riêng lẻ mà phản ảnh sự tồn tại và biến động của các đối tượng một cách liên tục theo thời gian Các tài khoản này không bị tất toán vào cuối kỳ kế toán Sau thời điểm khóa sổ, số dư cuối kỳ trên các tài khoản này là số liệu được chuyển sang để bắt đầu kỳ kế toán tiếp theo Số dư tài khoản Tiền gởi ngân hàng ngày 31 tháng 12

Trang 17

Trang 17

năm 2010 sẽ là số dư của tài khoản này khi bắt đầu năm 2011 Điều này đúng cho tất cả các tài khoản tài sản, nợ phải trả, Vốn đầu tư của chủ sở hữu và Lợi nhuận chưa phân phối

Vào ngày 30 tháng 9 năm 20x1 tại công ty A có các số liệu tổng hợp như sau:

a Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là 180.000.000đ

b Doanh thu chưa thực hiện là 23.000.000đ

c Giá vốn hàng bán của tháng 9 là 120.000.000đ

d Chi phí quản lý doanh nghiệp

o Chi phí tiền lương 10.000.000đ

o Khấu hao TSCĐ 5.000.000đ

e Chi phí bán hàng

o Chi phí quảng cáo 10.000.000đ

o Chi phí tiền lương 10.000.000đ

Yêu cầu

Thực hiện các bút toán kết chuyển để xác kết quả kinh doanh của công ty A

IV Hoàn thành chu trình kế toán

1 Chu trình kế toán

Chu trình kế toán là một quá trình gồm các bước công việc được kế toán thực hiện trong một kỳ kế toán Công việc kế toán trong một kỳ được thực hiện qua ba giai đoạn liên tiếp được mô tả như sau:

- Đầu kỳ: Mở các tài khoản kế toán và chuyển số dư cuối kỳ trước sang (bước 1) Số lượng

tài khoản được mở vào đầu mỗi kỳ thường nhiều hơn số lượng các tài khoản có số dư cuối

kỳ trước Vì có thể có những tài khoản tài sản và tài khoản nguồn vốn có số dư cuối kỳ trước bằng không (0) nhưng lại có số phát sinh trong kỳ này; những tài khoản doanh thu, chi phí và tài khoản “Xác định kết quả kinh doanh” là những tài khoản không bao giờ có số

dư, nhưng vẫn phải mở để ghi nhận tình hình và kết quả kinh doanh trong kỳ

- Trong kỳ: căn cứ dữ liệu về các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, kế toán sẽ:

o Lập định khoản kế toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh (bước 2);

o Căn cứ định khoản đã lập, ghi nhận ảnh hưởng của nghiệp vụ vào các tài khoản liên quan (bước 3)

- Cuối kỳ:

o Tính số dư chưa điều chỉnh của các tài khoản, đối chiếu kiểm tra (bước 4);

o Điều chỉnh các tài khoản: thực hiện các bút toán điều chỉnh (bước 5);

o Thực hiện các bút toán kết chuyển doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh (bước 6);

Bài tập thực hành 7

Trang 18

1 Đầu kỳ: Mở các

TK và ghi SD

2 Định khoản các NVKT phát sinh

3 Ghi nhận NVKT

PS vào TK

4 Tính SD chưa điều chỉnh của TK

5.Thực hiện các bút toán đ/ chỉnh

6 Thực hiện các bút toán kết chuyển và xác định kết quả KD

7 Tính SD cuối kỳ trên các TK

o Tính số dư cuối kỳ của các tài khoản, đưa các tài khoản về trạng thái sẵn sàng cho kỳ

kế toán tiếp theo (bước 7);

o Lập các Báo cáo tài chính căn cứ vào số liệu trên các tài khoản (bước 8)

Những công việc được thực hiện vào cuối kỳ kế toán cũng chuẩn bị các tài khoản để sẵn sàng cho

kỳ kế toán tiếp theo Hình 4–10 A phác thảo một chu trình kế toán ở mọi doanh nghiệp và mô tả các bước công việc được thực hiện qua ba giai đoạn liên tiếp của một kỳ kế toán Hình 4-10B làm rõ hơn mối quan hệ của từng bước trong chu trình

Minh họa 4–10A: Các bước trong chu trình kế toán

Đầu kỳ Trong kỳ Cuối kỳ

B1 Mở tài khoản

với các số dư đầu

kỳ

B2 Định khoản các nghiệp vụ kinh tế phát

B6 Thực hiện các bút toán kết chuyển và xác

định kết quả kinh doanh

B7 Tính số dư các tài khoản sau khi khóa sổ

B8 Lập các Báo cáo tài chính

Minh họa 4–10B: Sơ đồ các bước trong chu trình kế toán

2 Lập báo cáo tài chính

Trang 19

Trang 19

Sau khi hoàn thành quá trình mở tài khoản, ghi nhận nghiệp vụ, điều chỉnh, xác định kết quả kinh doanh và khóa sổ các tài khoản, số liệu trên các tài khoản đã sẵn sàng cho việc lập các báo cáo tài chính Có thể coi báo cáo tài chính là sản phẩm cuối cùng của một chu trình kế toán

Tài khoản ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và lưu trữ thông tin về sự tồn tại và biến động của từng đối tượng trong suốt kỳ kế toán Cuối kỳ, các thông tin này sẽ được tổng hợp và phản ảnh trên các Báo cáo tài chính Việc sử dụng số liệu trên các tài khoản để lập các Báo cáo tài chính có thể ví như việc “dịch” thông tin đang được thể hiện bằng ngôn ngữ riêng của kế toán trên các tài khoản sang ngôn ngữ thông thường để để thông tin rõ ràng, dễ hiểu hơn, hữu ích hơn với người sử dụng

Căn cứ vào mối quan hệ với các Báo cáo tài chính, có thể xếp các tài khoản kế toán vào hai loại:

Tài khoản thuộc bảng cân đối kế toán: gồm các tài khoản phản ảnh tài sản, nợ phải trả

và vốn chủ sở hữu Số dư trên các tài khoản này vào ngày cuối kỳ là cơ sở để lập bảng cân đối kế toán tại thời điểm đó

Tài khoản thuộc báo cáo kết quả kinh doanh: gồm các tài khoản phản ảnh doanh thu và

chi phí Số liệu trên các tài khoản này là cơ sở để lập báo cáo kết quả kinh doanh của mỗi

kỳ kế toán

Hình 4-11 minh họa quá trình lấy số liệu trình bày trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Bảng cân đối kế toán

Hình 4–11: Minh họa nguồn số liệu lập báo cáo tài chính

BÁO CÁO KẾT QUẢ KINH DOANH

- Giá vốn hàng bán xxx Số kết chuyển từ TK CP lương sang TK Xác định KQKD

- Chi phí bán hàng xx Số kết chuyển từ TK CP vật tư sang TK Xác định KQKD

- Chi phí quản lý xx Số kết chuyển từ TK CP thuê mặt bằng sang TK Xác định KQKD

- Chi phí tài chính xx Số kết chuyển c từ TK CP khấu hao sang TK Xác định KQKD

Cộng chi phí xxxx Tổng cộng các khoản chi phí trên

Lãi (lỗ) thuần xx Số kết chuyển từ TK Xác định KQKD về tài khoản Lợi nhuận

chưa phân phối

Trang 20

BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN

Phải thu của khách hàng xx Số dư cuối kỳ TK Phải thu của khách hàng

Chi phí trả trước xx Số dư cuối kỳ TK Chi phí trả trước

Vật tư xx Số dư cuối kỳ TK Vật tư

TSCĐ hữu hình xxx Số dư cuối kỳ TK Tài sản cố định hữu hình

Trừ: khấu hao lũy kế (xx) Số dư cuối kỳ TK Khấu hao lũy kế

Tổng tài sản xxxx

NGUỒN VỐN

Phải trả cho người bán xx Số dư cuối kỳ TK Phải trả cho người bán

Phải trả người lao động xx Số dư cuối kỳ TK Phải trả người lao động

Vốn đầu tư của chủ sở hữu xx Số dư cuối kỳ TK Vốn đầu tư của chủ sở hữu

Lợi nhuận chưa phân phối xx Số dư cuối kỳ TK Lợi nhuận chưa phân phối

Tổng nguồn vốn xxxx = Tổng nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu

3 Một số đánh giá về doanh nghiệp thông qua báo cáo tài chính

Để đo lường, đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, người ra sử dụng các tỷ số được tính từ các Báo cáo tài chính của doanh nghiệp Một số tỷ số cơ bản được sử dụng trong việc đánh giá doanh nghiệp là:

 Tỷ số thanh toán ngắn hạn

 Tỷ số nợ

 Tỷ số lợi nhuận trên tài sản

 Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu

Tỷ số thanh toán ngắn hạn

Tỷ số thanh toán ngắn hạn được tính bằng cách so sánh tổng tài sản ngắn hạn với tổng nợ phải trả

ngắn hạn

Tỷ số này càng cao thì doanh nghiệp càng tăng khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn Nếu tỷ

số này nhỏ hơn 1, doanh nghiệp sẽ phải đối đầu với việc tìm nguồn để thanh toán các khoản nợ trong năm tới nếu không muốn phải bán bớt tài sản dài hạn để trả nợ Sự gia tăng tỷ suất khả năng thanh toán ngắn hạn cho thấy sự cải thiện trong khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp Tuy

Tỷ suất khả năng thanh toán

Tổng tài sản ngắn hạn Tổng nợ phải trả ngắn hạn

Ngày đăng: 23/05/2014, 15:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4-1: Kế toán dồn tích khác với kế toán tiền. - chương 4 kháo sổ và lập báo cáo tài chính
Hình 4 1: Kế toán dồn tích khác với kế toán tiền (Trang 3)
Bảng cân đối kế toán trình bày tình trạng TSCĐ bao gồm số liệu về nguyên giá, số khấu hao lũy kế - chương 4 kháo sổ và lập báo cáo tài chính
Bảng c ân đối kế toán trình bày tình trạng TSCĐ bao gồm số liệu về nguyên giá, số khấu hao lũy kế (Trang 9)
Hình 4-6 minh họa sơ đồ tài khoản Xác định kết quả kinh doanh và các bút toán kết chuyển doanh  thu, chi phí - chương 4 kháo sổ và lập báo cáo tài chính
Hình 4 6 minh họa sơ đồ tài khoản Xác định kết quả kinh doanh và các bút toán kết chuyển doanh thu, chi phí (Trang 16)
Bảng cân đối KT: - chương 4 kháo sổ và lập báo cáo tài chính
Bảng c ân đối KT: (Trang 18)
Hình 4-11 minh họa quá trình lấy số liệu trình bày trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và  Bảng cân đối kế toán - chương 4 kháo sổ và lập báo cáo tài chính
Hình 4 11 minh họa quá trình lấy số liệu trình bày trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Bảng cân đối kế toán (Trang 19)
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN - chương 4 kháo sổ và lập báo cáo tài chính
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN (Trang 20)
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN  Tại ngày 31 tháng 12 năm 2010                       (Đơn vị tính: triệu đồng) - chương 4 kháo sổ và lập báo cáo tài chính
i ngày 31 tháng 12 năm 2010 (Đơn vị tính: triệu đồng) (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm