Bằng Nhà nước giai cấp thống trị về kinh tế trờ thành giai cấp thống trị về chính trị, ý chí của giai cấp thống trị được thể hiện một cách tập trung và biến thành ý chí Nhà nước, bắt buộ
Trang 2B ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
C hủ b iê n : T hS Đ ỗ V ăn G iai - T hS T rầ n L ư ơ n g Đ ức
GIÁO TRÌNH PHÁP LUẶTĐẠI CƯƠNG
NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT
Hà N ội-2 0 1 0
Trang 3ThS Nguyễn Thị Hồng Thúy: Chương 6ThS Đỗ Văn Giai,
Trang 4Lòi nói đầu
Trong xã hội hiện đại, việc hiểu biết pháp luật để sống và làm việc theo pháp luật của các thành viên trong xã hội là một tất yếu, phù hợp với
sự tiến bộ của xã hội Việc nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về Nhà nước, về pháp luật và một số ngành luật cụ thể trong hệ thống pháp luật Việt Nam có vai trò quan trọng trong việc trang bị những kiến thức pháp lý
cơ bản để tiếp cận nhũng lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội
Để đáp ứng nhu cầu giảng dạy nghiên cứu và học tập trong giai đoạn mới Tập thể tác giả Bộ môn Hành chính pháp chế, trường
Đại học Kinh tế và Quàn trị kinh doanh đã biên soạn “Giáo trình Pháp luật đại cương" Tập giáo trinh này nhàm trang bị cho sinh viên
chuyên ngành kinh tế những kiến thức có tính khái quát, cơ bản về hiện tượng Nhà nước, pháp luật và một số ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, làm cơ sờ để có thể tiếp tục nghiên cứu các môn học có liên quan khác trong chương trình đào tạo
Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng cuốn sách khó có thể tránh khỏi những thiếu sót Tập thể tác giả rất mong độc giả đóng góp ý kiến
để tiếp tục hoàn thiện cuốn sách trong những lần xuất bản tiếp theo
Các tác giả
3
Trang 5MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐÂU 3
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC 6
1.1 Nguồn gốc Nhà nước 6
1.2 Bàn chất, đặc trưng của Nhà nước 14
1.3 Chức năng của Nhà nước 18
1.4 Hình thức Nhà nư ớ c 19
1.5 Kiểu nhà nước 22
CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CHUNG VÈ PHÁP LUẬT 30
2.1 Khái quát chung về pháp luật 30
2.2 Quy phạm pháp luật 39
2.3 Quan hệ pháp luật 45
2.4 Thực hiện pháp lu ật 53
2.5 Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý 59
2.6 Pháp chế xã hội chù nghĩa 67
CHƯƠNG 3: HỆ THỐNG PHÁP LUẬT 76
3.1 Khái quát chung về hệ thống pháp lu ật 76
3.2 Các ngành luật trong hệ thống pháp luật của Việt N am 80
3.3 Hình thức pháp lu ậ t 93
3.4 Văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chù nghĩa Việt N am 94
5
Trang 6CHƯƠNG 4: LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM 104
4.1 Khái quát chung về Luật Hiến pháp 104
4.2 Một số nội dung cơ bản của Hiến pháp năm 1992 109
4.2.3 Chính sách văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ (Điều 30 - 43 Hiến pháp 1992) 120
CHƯƠNG 5: LUẬT HÀNH CHÍNH VIỆT NAM 143
5.1 Khái quát chung về Luật Hành chính 143
5.2 Cơ quan hành chính Nhà nước 151
5.3 Vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính 154
5.4 Quy chế pháp lý hành chính của cán bộ, công chức 165
CHƯƠNG 6: LUẬT DÂN s ự VIỆT N A M 173
6.1 Khái quát chung về Luật Dân sự 173
6.2 Một số nội dung cơ bản của Luật Dân sự Việt N am 181
CHƯƠNG 7: LUẬT HÌNH s ự VIỆT N A M 210
7.1 Khái quát chung Luật hình s ự 210
7.2 Tội phạm và các chế định khác có liên quan đến tội phạm 213
7.3 Hình phạt 225
TÀI LIỆU THAM KHẢO 237
6
Trang 7Trong lịch sù tư tưởng về Nhà nước đó tồn tại nhũng quan điềm khác nhau về nguồn gốc của Nhà nuớc, vì Nhà nước là một hiện tượng
xã hội rất phức tạp Từ thời kỳ cổ đại, trung đại đó có nhiều nhà tư tưởng tiếp cận và đưa ra những kiến giải khác nhau về nguồn gốc Nhà nước và cho đến nay vấn đề nguồn gốc Nhà nước vẫn là vấn đề có nhiều quan điểm khác nhau trong các học thuyết và tư tường ưên thế giới
Nhìn nhận một cách khái quát chúng ta có thể phân chia các học thuyết đó thành hai loại: Học thuyết Mác - Lênin về nguồn gốc Nhà nước và các học thuyết phi Macxít về nguồn gốc Nhà nước
1.1.1 M ột số học thuyết phi Macxit về nguồn gốc Nhà nước
Một số học thuyết phi Macxít khi giài thích nguồn gốc Nhà nước là không dựa ứên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
mà có những cách lý giải khácc nhau, tiêu biểu có các quan điểm sau:
* Thuyết thần học: Theo tư tưởng cùa các nhà thần học thì thượng
đế là người sấp đặt trật tụ xã hội Mọi thứ trên đời do thượng đế sinh ra, Nhà nước cũng vậy đều là sản phẩm cùa thượng đế Thượng đế sáng tạo
ra Nhà nước để duy trờ, đảm bào trật tự chung Do vậy, Nhà nước là lực
7
Trang 8trong việc tạo nền tảng, cơ sở tư tường cho cách mạng tư sản, lật đổ ách thống trị của Nhà nước phong kiến.
Tuy nhiên, học thuyết này vẫn có những hạn chế cơ bản vi nó vẫn giải thích nguồn gốc Nhà nước trên cơ sờ chù nghĩa duy tâm coi Nhà nước lập ra là do ý muốn, nguyện vọng chù quan cùa các bên tham gia khế ước, nó khône giải thích được cội nguồn vật chất và bản chất giai cấp của Nhà nước
Neoài các học thuyết trên, trong lịch sử tư tưởng về nguồn gốc Nhà nước còn có những quan điểm khác như: thuyết bạo lực (Nhà nước xuất hiện là kết quả sử dụng bạo lực của thị tộc này đối với thị tộc khác mà kết quả là thị tộc chiến thắng đặt ra cái được gọi là Nhà nước để nô dịch kè chiến bại); thuyết tâm lý (Nhà nước xuất hiện do tâm lý của người nguyên thùy luôn muốn phụ thuộc vào các thư hình, các aiáo sỹ Nhà nước là tổ chức do các siêu nhân có sử mạng lãnh đạo xã hội tổ chức ra)
Nhìn chung, do nhiều nguyên nhân khácc nhau, các học thuyết trên đây đều giải thích nguồn gốc Nhà nước với tính cách là một hiện tượng xã hội vĩnh viễn, tách rời Nhà nước với quá trình vận động và phát triển của đời sống vật chất xã hội, chua giải thích đúne nguồn sốc, chưa vạch ra được ý nghĩa vật chất và bản chất giai cấp khi aiải thích neuồn gốc Nhà nước và sự tồn tại của Nhà nước
1.1.2 Học thuyết Mác Lênin về nguồn gốc N hà nước
Với quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác - Lẻnin đó chứng minh một cách khoa học răna: Nhà nước và pháp luặt khòne phải là nhữrm hiện tượne xã hội vĩnh cửu bất biến Nhà nước và pháp luật chỉ xuất hiện khi xã hội loài người đó phát triên đến một aiai đoạn nhất định Chủng luôn luôn vận động và phát triển
và cũna sẽ tiêu vong khi nhừne điêu kiện khách quan cho sự tôn tại và phát triển cùa chúng khône còn nữa
Trang 9Như vậy, theo quan niệm học thuyết Mác - Lênin thi Nhà nước là những hiện tượng xã hội tồn tại nhẩt thời trong lịch sử gắn liền với những điều kiện cùa xã hội có giai cấp nó là một học thuyết khoa học chứa đựng các tiêu chuẩn lịch sử, logic và thực tiễn.
a) Chế độ công xã nguyên thúy và tổ chức thị tộc bộ lạc
Che độ công xã nguyên thùy là hinh thái kinh tế xã hội đầu tiên trong lịch sừ nhân loại, đó là một xã hội không có giai cấp, chưa có Nhà nước, nhưng những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời cùa Nhà nước lại nảy sinh trong chính xã hội đó Vì vậy việc nghiên cứu về cụng xã nguyên thủy sẽ là cơ sờ để giải thích nguyên nhân làm phát sinh ra Nhà nước, tạo điều kiện để hiểu rõ bản chất của chúng
Đe tìm hiểu về xã hội cộng sản nguyên thủy trước hết phải xem xét cơ sờ kinh tế và kết cấu xã hội của nó
* về cơ sở kinh tế
Trong xã hội cộng sản nguyên thùy, do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn thấp kém côna cụ lao động thô sơ, năng suất lao động thấp, con rmười chưa có nhận thức đúng đắn về tự nhiên và bàn thân mình Họ luôn luôn mềm yếu hoàng sợ và bất lực trước nhũng tai họa của thiên nhiên, điều kiện sống khắc nghiệt Trong những điều kiện và hoàn cảnh đó con người không thể sống biệt lập mà phải dựa vào nhau cùng chung sống, cùng lao động, cùng hưởng thụ những thành quà lao động chung Chính vi lẽ đó đó dẫn đến cơ sở kinh tế của
xã hội cộng sàn nguyên thùy là che độ sở hữu chung về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động Mọi người dều bình đẳng trong lao động
và hưởng thụ không có ai có tài sàn riêng, không có người giàu kè nghèo, không có tinh trạng người này chiếm đoạt tài sản của người kia Do đó xã hội cộng sàn nguyên thủy là một xã hội thuần nhất chưa
có giai cấp và đấu tranh giai cấp
Trang 10Trong xã hội cộng sản nguyên thủy đã tồn tại quyền lực và hệ thống quản lý các công việc của thị tộc Nhưng quyền lực ừong xã hội cộng sản nguyên thủy chi là quyền lực xã hội chưa mang tính chất giai cấp Quyền lực đó chưa tách khái xã hội mà nó gắn liền với xã hội, hòa nhập với xã hội Quyền lực đó do toàn xã hội tổ chức ra và phục
vụ lợi ích của cả cộng đồng
Để tổ chức và quàn lý thị tộc, đã xuất hiện Hội đồng thị tộc Hội đồng thị tộc là tồ chức quyền lực cao nhất cùa thị tộc bao gồm tất cà những người trưởng thành trong thị tộc không phân biệt nam, nữ Hội đồng thị tộc quyết định những vấn đề quan trọng của thị tộc như: tổ chức lao động sàn xuất, tiến hành chiến tranh, giải quyết các tranh chấp trong nội bộ, tổ chức các nghi lễ tôn giáo,
Những quyết định cùa Hội đồng thị tộc là bắt buộc đối vói tất cả mọi người Nó lĩnh hội với tư cách là sự thể hiện ý chí chung, trong thị tộc chưa cỏ cơ quan cưỡng chế nhưng quyền lực xã hội có hiệu lực cao
và đã thể hiện tính cưỡng chế mạnh mẽ
Hội đồng thị tộc bầu ra người đứng đầu thị tộc như: tù trường, thú lĩnh quàn sự để thực hiện quyền lực và quản lý các công việc chung của thị tộc Những người này có quyền lực rất lớn dựa vào uy tín cá nhân và sự tín nhiệm của các thành viên trong thị tộc Họ không
Trang 11có đặc quyền đặc lợi nào, họ chịu sự kiểm tra của cộng đồng và có thể
bị bãi miễn bất cứ lúc nào khi uy tín không còn và không được toàn thể cộng đồng ùng hộ
Thị tộc là đom vị thấp nhất cùa tổ chức xã hội, là một cộng đồng độc lập, là tế bào cơ sờ cùa xã hội cộng sản nguyên thủy Đen một giai đoạn phát triển nhất định, do tác động cùa chế độ ngoại tộc đòi hỏi các thị tộc phải mờ rộng quan hệ hôn nhân với các thị tộc khác cho nên quá trình phát triển xã hội công xã nguyên thủy đã xuất hiện hình thức
tổ chức cao hơn là bào tộc, bộ lạc và liên minh bộ lạc Bào tộc được kết hợp bởi nhiều thị tộc có quan hệ hôn nhân với nhau Nhiều bào tộc kết hợp thành bộ lạc, ờ giai đoạn phát triển cao hơn nhiều bộ lạc kết hợp thành liên minh bộ lạc Bào tộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc được hình thành trên cơ sờ kinh tế và xã hội giống như thị tộc, tính chất quyền lực và cách tổ chức quyền lực không có gì khác biệt với thị tộc.Tóm lại, trong xã hội cộng sản nguyên thủy đã có quyền lực, nhưng đó là thứ quyền lực xã hội được tổ chức và thực hiện dựa trên
cơ sở cùa những nguyên tẳc dân chủ thực sự, quyền lực xuất phát từ xã hội và phục vụ cả cộng đồng
b) Sụ tan rã của to chức thị lộc và sự xuất hiện Nhà nước
Xã hội cộng sàn nguyên thủy chưa có Nhà nước nhung quá trình vận động và phát triển của nó đã làm xuất hiện những tiền đề vật chất cho sự tan rã của tổ chức thị tộc, bộ lạc và sự ra đời Nhà nước
Trong quá trình lao động sản xuất, con người ngày một phát triền hơn về thể chất, trí lực, cấu trúc các giác quan ngày một hoàn thiện, hiểu biết nhiều hơn về các quy luật tự nhiên và xã hội, tích lũy được nhiều kinh nghiệm sản xuất, luôn tìm kiếm và cài tiến các công cụ lao động Tất cả những yếu tố này đưa đến năng suất lao động tăng lên không ngùng Đặc biệt, khi kim loại được phát hiện và tham gia vào quá trình sản xuất đã làm tăng năng suất lao động, hoạt động kinh tế cùa xã hội trờ lẽn phong phú và đa dạng đòi hoi phái có sự chuyên
11
Trang 12môn hóa vê lao động Vào thời ki cuối cùa chế độ công xã nguyên thủy đã diễn ra ba lần phân công lao động xã hội: 1) Chăn nuôi tách ra khái ưồng trọt; 2) Thù công nghiệp tách ra khái nông nghiệp; 3) Buôn bán phát triển, thương nghiệp ra đời đã tách ra khái quá trình sàn xuất vật chất trực tiếp cùa xã hội.
Sự phát triển của công cụ sàn xuất, sự phân công lao động xã hội làm cho kinh tế đạt được những bước tiến dài, sàn phẩm làm ra ngày một nhiều hcm so với nhu cầu Đã xuất hiện điều kiện chiếm đoạt của cải dư thừa làm tài sản riêng cùa một số người Những người có địa vị trong xã hội như tù trường, thù lĩnh quân sự lợi dụng ưu thế sẵn có của mình chiếm đoạt tài sản của thị tộc, bộ lạc làm tài sản riêng Quá trình
tư hữu tài sản diễn ra, chế độ tư hữu được hình thành
Trước đây do khả năng kinh tế không cho phép và nhu cầu về sức lao động không đặt ra nên tù binh bị bắt trong các cuộc giao tranh giữa các thị tộc, bộ lạc đều bị giết, về sau do sản xuất phát triển, nhu cầu sức lao động tăng tà binh được giữ lại nuôi để bổ sung nguồn lao động và những người có địa vị trong thị tộc đã chiếm hữu và sử dụng vào nhu cầu riêng cùa cá nhân họ
Công cụ sàn xuất phát triển, hoạt động kinh tể theo hướng chuyên môn hóa vì thế sản xuất không nhất thiết phải bàng lao động tập thẻ Chế độ hôn nhân một vợ một chồng xuất hiện, gia đình có cơ cấu nhỏ tách khái gia đình phụ hệ cơ cấu lớn và trờ thành đơn vị kinh
tế tự chù trong sàn xuất, độc lập tài sản, tự định đoạt sản phẩm lao động
Trong quá trình sàn xuất, nhữne người có công cụ tốt, có kinh nehiệm và sức khòe thu được hiệu quà cao ngày càng giàu có Những biến đổi về mặt kinh tế của xã hội cộng sản nguyên thủy làm cho cộng đồng dân cư thị tộc bộ lạc phân hóa thành những bộ phận đối lập nhau
về lợi ích Một số người giàu có chiếm được tư liệu sản xuất, do bóc lột tù binh, và bóc lột những người nghèo khác, đã giành được vị trí ưu
Trang 13thế trong xã hội và trở thành giai cấp bóc lột Những người không có
tư liệu sàn xuất, bị bóc lột, ngày càng nghèo khó trở thành giai cấp bị bóc lột Hai bộ phận dân cư này do quyền lợi đối lập nhau nên mâu thuẫn với nhau ngày càng gay gat và quyết liệt, điều kiện kinh tế - xã hội là cơ sở tồn tại cùa xã hội cộng sán nguyên thùy bị phá vì Đề duy trì trật tự và quán lý một xã hội đã có những thay đổi rất căn bản đòi hỏi phải có một tổ chức và một quyền lực mới khác về chất Tổ chức
đó do giai cấp chiếm được ưu thế về kinh tế tổ chức ra để thực hiện sự thống trị giai cấp, dập tắt xung đột công khai giữa các giai cấp, giữ các xung đột ấy trong vòng một trật tự, bảo vệ lợi ích và địa vị của giai cấp
thống trị Đó là Nhà nước.
Chế độ cộng sản nguyên thùy tan rã, Nhà nước xuất hiện là kết quả cùa sự vận động, phát triển nội tại của xã hội loài người Tiền đề kinh tế cho sự ra đời Nhà nước là chế độ tư hữu tài sản, tiền đề xã hội
là sự phân hóa xã hội thành các giai cấp, các tầng lớp có lợi ích đối lập nhau và mâu thuẫn giai cấp gay gắt không thể điều hòa được
c) Những phương thức hình thành Nhà nước điển hình trong lịch sứ
Do các khu vực trên thế giới có sự phát triển không đồng đều về kinh tế, văn hóa, xã hội, cho nên các Nhà nước đầu tiên ra đời bàng nhiều phương thức khác nhau Sau đây là bốn phương thức điển hình của sự hình thành Nhà nước:
- Phưomg thức hình thành Nhà nước dạng Nhà nước Alen: Nhà
nước Aten ra đời do sự xuất hiện chế độ tư hữu về tài sản và xã hội phản hóa thành giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột ở Hy Lạp cồ đại Những Nhà nước nào được hình thành chù yếu do hai nguyên nhân kinh tế và xã hội như vậy đều được xếp vào cùng một loại thuộc phương thức hình thành Nhà nước thứ nhât Đây là phương thức hinh thành Nhà nước “cổ điển nhất”, "thuần tuý nhất”, “điền hình nhất”
- Phương thức hình thành dạng Nhà nước Rôma: Nhà nước
Rôma là kết qua đấu tranh cùa giới binh dân chống lại giới quý tộc
La-13
Trang 14mã Sau khi Nhà nước Rôma được thiết lập thi giói bình dân lại hòa hợp với giới quý tộc Những Nhà nước nào ra đời theo kiểu như vậy thì được xếp vào nhóm Nhà nước thuộc phương thức hình thành Nhà nước thứ hai.
- Phương thức hình thành Nhà nước dạng Nhà nước Giéc- manh
Nhà nước Giéc- manh hình thành do nhu cầu quản lý những vùng lãnh thổ mới chiếm được từ tay đế chế La- mã sau chiến thắng của người Giéc- manh đối với người La- mã Sự phân hóa giai cấp chi diễn ra sâu sắc khi Nhà nước Giéc- manh ra đời Những Nhà nước nào được thiết lập do nhu cầu cai trị vùng đất mói như vậy được xếp vào nhóm Nhà nước thuộc phương thức hình thành Nhà nước thứ ba
- Phương thức hình thành Nhà nước ở phương Đông cổ đại' Có
thể nói hầu hết các Nhà nước ở phương Đông cổ đại được thiết lập xuất phát từ hai nhu cầu chính Một là: Khai khẩn đất đai, trị thủy làm nông nahiệp, chống thiên tai Hai là: Chống ngoại xâm Còn sự phân hóa xã hội, mâu thuẫn giai cấp chi trở nên rõ rệt và gay gắt sau khi Nhà nước được hình thành Theo các nhà sử học thì Nhà nước xuất hiện
ờ Việt Nam khá sớm khoảng thế ki VI-VII trước công nguyên Nhà nước xuất hiện đầu tiên là Nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng
l ề2ễ Bản chất, đặc trư ng của Nhà nước
* Tinh giai cấp cùa Nhà nước
14
Trang 15Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng Nhà nước chi xuất hiện và tồn tại ừong xã hội có giai cấp và luôn mang bản chất giai câp sâu sắc Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thề điều hòa được Nhà nước trước hết là bộ máy trấn
áp đặc biệt cùa giai cấp này đối với giai cấp khác, là bộ máy dùng để duy tri sự thống trị giai cấp
- Nhà nước do giai cấp thống trị tổ chức ra để làm nhiệm vụ quản
lý và bảo vệ giai cấp thống trị về mọi mặt
- Trong xã hội có giai cấp sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác thể hiện ở ba loại quyền lực: Quyền lực về kinh tế, quyền lực chính trị và quyền lực về tư tưởng (Quyền lực được hiểu là khả năng sức mạnh của người nào đó bắt người khác phải phục vụ mình, phục tùng mình) Bằng Nhà nước giai cấp thống trị về kinh tế trờ thành giai cấp thống trị về chính trị, ý chí của giai cấp thống trị được thể hiện một cách tập trung và biến thành ý chí Nhà nước, bắt buộc mọi thành viên trong xã hội phải tuân theo phù hợp với lợi ích cùa giai cấp thống trị
- Để thực hiện sự thống trị của mình giai cấp thống trị phải tổ chức
và sừ dụng Nhà nước, cùng cố duy tri quyền lực về chính trị kinh tế và
tư tưởng đối với toàn bộ xã hội Nhà nước sừ dụng các cơ quan cưỡng chế như quân đội, cảnh sát, tòa án, nhà tù, đề trấn áp các lực lượng đối địch, bất các giai cấp, tầng lớp khác phục tùng ý chí cùa mình
Trong các xã hội bóc lột, Nhà nước có thuộc tính chung là bộ máy đặc biệt duy trì sự thống trị về kinh tế, chính trị, tu tưởng cùa thiểu số đối với đa số là nhân dân lao động, thực hiện nền chuyên chính cùa giai cấp bóc lột Nhà nước xã hội chủ nghĩa là Nhà nước kiểu mới, là công cụ thực hiện nền chuyên chính và bảo vệ lợi ích cùa giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nhà nước xã hội chù nghĩa
là bộ máy thống trị của đa số với thiểu số
* Tính xã hội của Nhà nước
Trang 16Nhà nước ra đòri và tồn tại ữong xã hội với cơ cấu bao gồm giai cấp thống trị và các tầng lớp giai cấp khác Bản thân giai cấp thống trị cũng chi tồn tại trong mối quan hệ với các giai cấp các tầng lớp dân cư khác Do vậy Nhà nước ngoài tính cách là công cụ duy trì sự thống trị
và bảo vệ led ích giai cấp thống trị, còn phải là một tổ chức quyền lực công, là phương thức đàm bảo lợi ích chung của toàn xã hội Nhà nước không chi phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị mà còn đứng ra giải quyết những vấn đề này sinh từ trong đời sống xã hội Mức độ biểu hiện và thực hiện vai trò xã hội không giống nhau ở những kiểu Nhà nước khác nhau Trong các kiểu Nhà nước bóc lột như Nhà nước chủ
nô, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư bản thì tính xã hội tính giai cấp thể hiện rõ nét, do vậy tính xã hội hay mục đích xã hội của Nhà nước lại mờ nhạt đi Trona kiều Nhà nước xã hội chù nghĩa thì tính xã hội lại được thể hiện rất rõ ràng vì mục đích cùa Nhà nước là phục vụ lợi ích chung cùa toàn xã hội
Từ những kết luận trên có thể đi đến định nghĩa sau: Nhà nước là một to chức đặc biệt cùa quyển lực chinh trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quàn lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội, thực hiện mục đích bảo vệ địa vị cùa giai cấp thong trị trong xã hội.
1.2.2 Đặc trm tg của N hà nước
Mỗi kiểu Nhà nước có bàn chất riêng, nhưng tất cà các Nhà nước đều có những đặc trưng chung, làm cho nhà nước khác với tồ chức thị tộc trong xã hội cộng sản nguyên thủy Những đặc trưng cơ bản đó là:
- Nhà nước thiết lập quyền lực công cộng đặc biệt, không còn
hòa nhập hoàn toàn với cư dân nữa Quyền lực công cộng đặc biệt ở đây là quyền lực Nhà nước mà chù thẻ của nó là giai cấp thống trị về kinh tế, chính trị, tư tườna trong xã hội Đe thực hiện quyền lực này và
để quàn lý xã hội nhà nước có một lóp người đặc biệt chuyên làm
16
Trang 17nhiệm vụ quản lý; họ tham gia vào các cơ quan Nhà nước và hình thành lên một bộ máy cưỡng chế để duy tri địa vị của giai cấp thống trị, bắt các giai cấp khác phải phục tùng theo ý chí của giai cấp thống trị.
- Nhà nước phân chia dân cư theo lãnh thố thành các đơn vị hành
chính, không phụ thuộc vào chính kiến, huyết thống, nghề nghiệp hoặc giới tính, Việc phân chia này quyết định phạm vi tác động cùa Nhà nuớc trên quy mô rộng lớn nhất và dẫn đến việc hình thành các cơ quan trung ương và địa phương cùa bộ máy Nhà nước
- Nhà nước có chù quyển quốc gia: Chù quyền quốc gia mang nội
dung chính trị pháp lý, nó thể hiện quyền độc lập tự quyết cùa Nhà nước về những chính sách đối nội và đối ngoại không phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài Chủ quyền quốc gia là thuộc tính không thể chia cắt của Nhà nước
- Nhà nước ban hành pháp luật và thực hiện sự quàn lý bắt buộc đối với mọi công dân Với tư cách là người đại diện chính thức của
toàn xã hội, Nhà nước là tổ chức duy nhất có quyền ban hành pháp luật Pháp luật do Nhà nước ban hành nên có tính bắt buộc chung, mọi người đều phải tôn trọng pháp luật
- Nhà nước quy định và thực hiện việc thu các loại thuế dưới các
hình thức bắt buộc, với số lượng và thòi hạn ấn định trước Sở dĩ Nhà nước phải đặt ra các loại thuế vì bộ máy cùa Nhà nước là một lớp người đặc biệt, tách ra khái lao động sản xuất để thực hiện chức năng quàn lý; bộ máy đó phải được nuôi dưỡng bằng nguồn tài chính lấy từ khu vực sản xuất trực tiếp Thiếu thuế Nhà nước không thể tồn tại được Nhung mặt khác, chi có Nhà nước mới có độc quyền đặt ra thuế
và thu thuế
17
Trang 181.3ẻ Chức năng của Nhà nước
Chức năng cùa Nhà nước là những phương diện, những mặt hoạt động chù yếu của Nhà nước nhằm để thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước Nhà nước Chức năng của Nhà nước được xác định xuất phát từ
bàn chất cùa Nhà nước, do cơ sở kinh tế và cơ cấu giai cấp của xã hội quyết định
Căn cứ vào phạm vi hoạt động của Nhà nước các chức năng được chia thành chức năng đối nội và chức năng đối ngoại:
- Chức năng đối nội là những mặt hoạt động chủ yếu của Nhà
nước trong nội bộ đất nước Ví dụ: đàm bảo trật tự xã hội, trấn áp những phần tò chống đối chế độ, bảo vệ chế độ kinh tế là những chức năng đối nội của Nhà nước
- Chức năng đối ngoại thổ hiện vai ưò của Nhà nước trong quan
hệ với các Nhà nước và dân tộc khác Ví dụ: phòng thủ đất nước, chổng xâm lược từ bên ngoài, thiết lập các mối bang giao với các quốc gia khác,
Các chức năng đối nội và đối ngoại có quan hệ mật thiết với nhau Việc xác định và thực hiện các chức năng đối ngoại luôn luôn xuất phát từ tình hình thực hiện các chức năng đối nội Đồng thời, kết quả của việc thực hiện chức năng đối ngoại sẽ tác động mạnh mẽ tới việc tiến hành các chức năng đối nội
Để thực hiện các chức năng đổi nội và đối ngoại, Nhà nước sử dụng nhiều hình thức và phương pháp hoạt động khác nhau trong đó
có ba hình thức hoạt động chính là: xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, bào vệ pháp luật Tùy thuộc vào tình hình cụ thể của mỗi nước, các phương pháp hoạt động đề thực hiện các chức năng của Nhà nước cũng rất đa dạng nhưng nhìn chung thì có hai phương pháp chính là thuyết phục và cưỡng chế Trong các Nhà nước bóc lột thì phương pháp cưỡng chế được sử dụng rộng rãi và là phương pháp chù yếu để thực hiện các chức năng cùa Nhà nước Còn trong Nhà nước xã
Trang 19hội chủ nghĩa thuyết phục là phương pháp cơ bản, còn cưỡng chế đirợc
sử dụng kết hợp và dựa trên cơ sờ cùa thuyết phục và giáo dục.1.4 Hình thức Nhà nước
Hình thức Nhà nước là cách to chức quyển lực Nhà nước và những phương pháp để thực hiện quyển lực Nhà nước Hình thức Nhà
nước là một khái niệm chung được hình thành từ ba yếu tố cụ thể: hình thức chính thể, hình thức cấu trúc Nhà nước và chế độ chính trị
- Chính thể quán chù là hình thức trong đó quyền lực tối cao cùa
Nhà nước tập trung toàn bộ hay một phần trong tay người đứng đầu Nhà nước theo nguyên tắc thừa kế (Vua, Quốc vương, Hoàng đế)
- Chính thể cộng hòa là hình thức trong đó quyền lực tối cao của
Nhà nước thuộc về một cơ quan được bầu ra trong một thời gian nhất định (như Đại hội nhân dân ở Nhà nước Aten cồ đại, Nghị viện ờ Nhà nước cộng hòa tư sản, Quốc hội Nhà nước cộng hòa xã hội chù nghĩa)
Chính thể quân chủ được chia thành: Chinh thể quân chù tuyệt đối và chính thể quân chủ hạn chế Trong các nước quân chù tuyệt đối,
người đứng đầu Nhà nước (Vua, Hoàng đế) có quyền lực vô hạn; còn
trong các Nhà nước quân chù hạn chế người đứng đầu Nhà nước chi
nắm một phần quyền lực tối cao và bên cạnh đó còn có một cơ quan quyền lực khác nữa, như Nghị viện trong các Nhà nước tư sàn có chính thể quân chủ (Nghị viện ở Anh, Nhật bàn, Hà Lan, )
Chính thể cộng hòa có hai hình thức chính là cộng hòa dân chù
và cộng hòa quý tộc Trong các nước cộng hòa dân chù quyền tham
gia bầu cử để bầu ra cơ quan đại diện quyền lực cùa Nhà nước quy
19
Trang 20định cho mọi công dân (trên thực tế chi trong Nhà nước cộng hòa dân chù xã hội chù nghĩa thì quyền bầu cừ cùa công dân mới được thực hiện đầy đù, còn trong Nhà nước bóc lột quy định này chi mang tính chất hình thức) Trong các nước cộng hòa quý tộc quyền đó chi quy định đối với tầng lớp quý tộc do pháp luật quy định và bào đàm thực hiện Ví dụ, Nhà nước cộng hòa quý tộc chủ nô Spac thế ki VI - IV trước công nguyên, Nhà nước cộng hòa quý tộc chủ nô La mã cổ đại thế kì VI - I trước công nguyên, hay chế độ cộng hòa quý tộc một số thành phố ờ Châu Âu dưới chế độ phong kiến như Venenxơ, Phơlorenxơ (Italia), Nôpgôrớt, Pơ-scổp (Nga).
Chính thể quân chủ và chính thể cộng hòa có những đặc điềm khác nhau ờ những giai đoạn lịch sừ khác nhau, tùy thuộc vào bản chất giai cấp, nhiệm vụ, mục tiêu của nhà nước, tập quán chính trị, mức độ đấu tranh giai cấp Vì vậy khi nghiên cứu hình thức chính thể của một nước nhất định cần phải gắn nó với những điều kiện lịch sử cụ thề Hầu hết các nước theo chính thể cộng hòa hiện nay đều là dưới hình thức cộng hòa dân chủ với những biến dạng sau: cộng hòa đại nghị, cộng hòa tổng thống, cộng hòa hỗn hợp
Tất cả các nước xã hội chủ nghĩa đều là nhà nước cộng hòa dân chủ được đặc trưng bằng sự tham gia rộng rãi của nhân dân lao động vào việc thành lập cơ quan đại diện cùa mình, cử tri trực tiếp bầu ra các cơ quan quyền lực cao nhất, cử tri cùng toàn thể nhân dân giám sát chặt chẽ hoạt động cùa các cơ quan dân cử, nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia quản lý nhà nước và quản lý xã hội
1.4.2 Hình thức cấu trúc nhà nước
Đây là sự cấu tạo nhà nước thành các đơn vị hành chính lãnh thổ
và xác lập các mối quan hệ qua lại giữa các cơ quan nhà nước, giữa trung ương với địa phương Có hai hình thức cấu trúc nhà nước chủ yếu là: hình thức Nhà nước đơn nhất và hình thức Nhà nước liên bang
20
Trang 21- Nhà nước đơn nhắt là nhà nước có chủ quyền chung, có hệ
thống cơ quan quyền lực và quàn lý thống nhất từ trung ương đến địa phương và có các đơn vị hành chính bao gồm tỉnh (thành phố), huyện (quận), xã (phường) Và có một hệ thống pháp luật thống nhất trên toàn lãnh thổ quốc gia Công dân mang một quốc tịch (Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Balan, Hungari, Pháp, Nhật, )-
- Nhà nước liên bang là nhà nước có từ hai hay nhiều nhà nước
thành viên hợp lại Nhà nước liên bang có chù quyền chung, nhưng mỗi nhà nước thành viên có chủ quyền riêng; có hai hệ thống các cơ quan nhà nước — một cùa nhà nuớc liên bang, một của nhà nước thành viên; có hai hệ thống pháp luật - một của nhà nước liên bang và một cùa mỗi nhà nước thành viên; công dân mang hai quốc tịch (Mỹ, Mêhicô, Ấn Độ, Brazil, Malaysia, Liên Xô trước đây, )
- Còn một loại hình nhà nước khác nữa là nhà nước liên minh Nhà nước liên minh chỉ là sự liên kết tạm thời cùa một vài nhà nước để thực hiện những nhiệm vụ nhất định Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, nhà nước liên minh tự giải tán hoặc có thể chuyển thành nhà nước liên bang (Ví dụ: từ năm 1776 đến 1787 Hợp chủng quốc Hoa Kì là nhà nước liên minh, sau đó phát triển thành nhà nước liên bang), hay các liên minh về kinh tế hiện nay
Tương ứng với hai phương pháp ấy là hai chế độ nhà nước: Chế
độ dân chủ (Chế độ dân chủ chù nô, chế độ dân chủ quý tộc phong kiến, chế độ dân chủ tư sản, chế độ dân chù xã hội chủ nghĩa) và chế
21
Trang 22độ phản dân chủ (chế độ độc tài chuyên chế chủ nô, chế độ độc tài chuyên chế phong kiến, chế độ độc tài phát xít tư sàn).
1.5ế Kiểu nhà nước
1.5.1 Khái niệm kiểu nhà nước
Lịch sử xã hội loài người cho đến nay đã trải qua năm hình thái kinh tế xã hội trong đó có bốn hình thái kinh tế - xã hội có giai cấp và tương ứng có bốn kiểu nhà nước: nhà nước chù nô, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa
Kiểu Nhà nước là tong thể những đặc điểm cơ bản của nhà nước thể hiện bàn chất giai cấp, vai trò xã hội, những điều kiện phát sinh, tòn tại và phát triển cùa nhà nước trong một hình ihái kinh tế xã hội
có giai cấp nhất định.
Các kiều Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư sàn đều có đặc điểm chung là Nhà nước bóc lột, chúng xuất hiện và tồn tại trên cơ sờ của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất là công cụ duy trì và bảo vệ nền thống trị và lợi ích của các giai cấp chù nô, địa chủ phong kiến và giai cấp tư sản Còn Nhà nước xã hội chù nghĩa là kiểu Nhà nước mới dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân
Sự thay thế kiểu Nhà nước diễn ra thông qua cách mạng xã hội
mà kết quả là kiểu Nhà nước sau bao giờ cũng tiến bộ và hoàn thiện hơn kiểu Nhà nước trước
1.5.2 Các kiểu nhà nước trong lịch sử
a) Các kiểu Nhà nước bóc lột: nhà nước chù nô, phong kiến và tư sản
* Nhà nước chù nô
Nhà nước chủ nô là nhà nước đầu tiên trong lịch sử ra đòi khi chế độ thị tộc tan rã Cơ sở kinh tế cùa nhà nước chủ nô là chế độ sờ hữu cùa chù nô đối với tư liệu sản xuất, sàn phâm lao động và người
22
Trang 23nô lệ Trong xã hội chiếm hữu nô lệ có hai giai cấp chính là chù nô và
nô lệ, ngoài ra còn có các tầng lớp thợ thú công và những người lao động tự do khác Chù nô là một bộ phận thiểu số của xã hội nhưng nắm ứong tay toàn bộ tư liệu sản xuất của xã hội, còn nô lệ là lực lượng chủ yếu sản xuất ra của cải vật chất nhưng chi là “công cụ biết nói” trong tay chù nô, phụ thuộc hoàn toàn vào chù nô Tầng lớp thợ thù công và những người lao động tự do có địa vị khác với người nô lệ nhưng vẫn ừong quỹ đạo chi phối cùa chủ nô về chính trị, kinh tế, tư tường.Nhà nước chù nô xét về bản chất là công cụ bạo lực để thực hiện nền chuyên chính cùa giai cấp chủ nô, duy tri sự thống trị và bảo vệ lợi ích cùa chủ nô, đàn áp nô lệ và những nguời lao động khác
Nhà nước chù nô thực hiện bảo vệ cùng cố chế độ sở hữu của chủ
nô đối với tư liệu sản xuất, sản phẩm lao động và người nô lệ, đàn áp
sự phản kháng của nô lệ và các tầng lớp khác bàng bạo lực, cúng cố hệ
tư tường tôn giáo và sử dụng nó để thống trị về mặt tư tưởng đối với
xã hội Trong một chừng mực nhất định, nhà nước chù nô cũng tổ chức một số hoạt động kinh tế như quàn lý đất đai, tồ chức khai hoang, xây dựng và quản lý các công trình thùy nông Nhà nước chù nô tiến hành chiến tranh xâm lược Bằng chiến tranh giai cấp chủ nô thực hiện khát vọng làm giàu, cướp bóc của cải, bắt tù binh bồ sung vào đội quân nô lệ và mở rộng phạm vi thống trị
Bộ máy nhà nước chủ nô ở giai đoạn đầu còn đơn giản, mang nhiều dấu ấn cùa tổ chức thị tộc, chù nô là người lãnh đạo và nhà chức trách, v ề sau bộ máy phát triển hơn trong đó cảnh sát, quân đội, tòa án
là những bộ phận chù yếu cấu thành bộ máy nhà nước
Hình thức chính thể: chủ yếu theo chính thề quân chủ: quân chủ chuyên chế, một số nước có hình thức chính thể cộng hòa
* Kiểu nhà nước phong kiến
Vào giai đoạn cuối cùa chế độ chiếm hữu nô lệ, quan hệ sản xuất dựa trên chế độ sở hữu cùa chù nô đối với tư liệu sản xuất và nô lệ,
23
Trang 24cộng vói sự bóc lột sức lao động của nô lệ đã ữờ nên kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Mâu thuẫn giữa giai câp chủ nô và nô lệ ngày càng trở nên gay gắt, dẫn đến nhiều cuộc nôi dậy cùa nô lệ Lao động cùa nông dân trên ruộng đât của các chứa đât đưa năng suât lao động cao hơn lao động của nô lệ và dần dần thay thê lao động cùa nô lệ; chế độ phong kiến dần dần thay thế chế độ chiếm hữu nô lệ: Nhà nước phong kiến thay thế Nhà nước chù nô Nhìn chung các nhà nước phong kiến ờ châu Âu và một số nước châu á ra đời trên sự tan rã của nhà nước chủ nô Tuy nhiên cũng có quốc gia trong đó nhà nước phong kiến là nhà nước đầu tiên như Triều Tiên, Mông cồ, Việt Nam
và dân tộc Giẻc- manh ờ châu Âu
Cơ sở kinh tế cùa nhà nước phong kiến là chế độ sờ hữu cùa giai cấp địa chủ phong kiến đối với tư liệu sản xuất mà chủ yếu là ruộng đất, người nông dân không có hoặc có rất ít ruộng đất nên phải phụ thuộc vào địa chủ phong kiến Xã hội phong kiến có kết cấu giai cấp phức tạp, địa chủ và nông dân là hai giai cấp chính, ngoài ra trong xã hội còn có tầng lớp thợ thủ công, thuơng nhân, Giai cấp địa chủ phong kiến được chia ra nhiều đẳng cấp với những đặc quyền khác nhau
về sờ hữu ruộng đất, vua hay quốc vương là người có thứ bậc cao nhất trong thứ bậc, đảng cấp của xã hội phong kiến Các đẳng cấp phong kiến ờ châu Âu như công, hầu, bá, tử, nam, đều gắn liền với những mức độ khác nhau về số lượng điền trang, thái ấp mà họ chiếm hữu.Địa vị người nông dân ưong xã hội phong kiến có những ưu thế hơn so với địa vị người nô lệ nhưng chưa có sự khác biệt rõ rệt Nông dân có kinh tế cá thể được sở hữu đối với nhà cửa côna cụ lao độna ruộng đất (thường với số lượng ít) Địa chù phong kiến không có quyền định đoạt tính mạng người nông dân như trong chế độ chiếm hữu nô lệ Người nông dân bị bóc lột dưới hình thức nộp tô bàng hiện vật (thóc gạo, vật nuôi ) hoặc bàng tiền, ngoài ra còn bị cưỡng bức lao dịch cho phong kiến Mức độ phụ thuộc cùa người nông dân vào
24
Trang 25địa chù phong kiến có khác nhau ờ các nước và trong giai đoạn cụ thê của Nhà nước phong kiến.
v ề bản chất, nhà nước phong kiến !à công cụ trong tay giai cấp địa chù phong kiến để thực hiện chuyên chính đối với giai cấp nông dân, thợ thủ công và các tầng lớp lao động khác, là phương tiện duy trì địa vị kinh tế, bảo vệ lợi ích và sự thống trị của giai cấp địa chù phong kiến Nhà nước phong kiến bảo vệ chế độ sờ hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến, duy tri các hình thức bóc lột với nông dân và các tầng lớp lao động khác, đàn áp sự chống đối cùa những người lao động bằng bạo lực và đàn áp tư tường, tuyên truyền hệ tư tưởng phong kiến, nô dịch các tầng lớp lao động bàng hệ tư tưởng tôn giáo và hệ thống tổ chức tôn giáo Nhà nước phong kiến có thực hiện những hoạt động kinh tế nhung với mức độ hạn chế về đối ngoại, Nhà nước phong kiến tiến hành chiến tranh xâm lược mờ rộng đất đai-lãnh thổ, cướp bóc của cải và phòng thủ chống bành trướng, xâm lược
Bộ máy nhà nước phong kiến mang nặng tính quân sự, tập trung quan liêu gắn liền với chế độ đảng cấp phong kiến Các cơ quan mang nặng tính cưỡng chế như: quân đội, nhà tù, tòa án cấu trúc bộ máy nhà nước phong kiến bao gồm: Vua, bộ máy giúp việc nhà vua ờ trung ương (triều đình) và hệ thống quan lại giúp nhà vua ở địa phương
Hình thức chính thể phổ biến nhất của nhà nước phong kiến là chính thể quân chủ với những biến dạng khác nhau: chính thể quân chù trung ương tập quyền, chính thể quân chủ phân quyền cát cứ, chính thể quân chủ đại diện đẳng cấp, chính thể quân chù chuyên chế cực đoan
* Kiểu Nhà nước lư sán
Nhà nước tư sản ra đời do hai nguyên nhân chính về kinh tế và xã hội Quan hệ sản xuất phong kiến chỉ có ý nghĩa tiến bộ trong giai đoạn đầu cùa chế độ phong kiến còn sang giai đoạn cuối thì nó trờ thành lực cản sự phát triển cùa lực lượng sản xuất, vì nhu cầu giài
25
Trang 26phóng sức lao động đà trở nên cấp bách, thế nhưng quan hệ sản xuất phone kiến không thể đáp ứng được nhu cầu đó Mâu thuần giữa quan
hệ sản xuất phong kiến với tính chất xã hội hóa và trinh độ phát triền ngày càng cao của lực lượng sản xuất càng trở nên quyết liệt, đòi hỏi phải được giải quyết Từ mâu thuẫn về kinh tế dẫn tới mâu thuẫn gay gẳt về xã hội giữa địa chủ và nông dân cũng cần được giải quyết, do chế độ bàng phát canh thu tô của địa chủ Ngay trong lòng xã hội phong kiến ờ giai đoạn cuối đã hình thành quan hệ sản xuất tư bàn chủ nghĩa và giai cấp tư sản muốn tiến hành cách mạng tư sản để xoá bò quan hệ sản xuất phong kiến, thiết lập kiểu quan hệ sản xuất mói-quan
hệ sản xuất tư bản chù nghĩa Con đường cơ bản và phổ biến nhất để giành quyền lực chính trị là cách mạng xã hội, thay thế hình thái kinh
tế - xã hội phong kiến, thiết lập chính quyền của giai cấp tư sàn Sự ra đời của nhà nước tư sản ở từng nước còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau về lịch sử, xã hội do vậy có những đặc điểm riêng
Nhà nuớc tư sản là kiều nhà nước bóc lột cuối cùng ừong lịch sử,
là công cụ duy trì nền thống trị của giai cấp tư sản đối với tầng lớp nhân dân lao động
Cơ sờ kinh tế của nhà nước tư sàn là quan hệ sản xuất tư bàn chủ nghĩa dựa trên chế độ tư hữu tư bàn về tư liệu sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư Đối tượng sờ hữu của quan hệ sản xuất tư bàn chù nghĩa chủ yếu là công xường, hầm mỏ, nhà máy, đồn điền với phương thức bóc lột giá trị thặng dư
Cơ cấu giai cấp trong xã hội tư sản gồm hai giai cấp chính là tư sản và vô sàn Nắm trong tav những tư liệu sàn xuất chủ yếu của xã hội, giai cấp tư sản giữ vai ừò thống trị xã hội v ề phương diện pháp
lý giai câp vô sản được tự do nhưng do không có tu liệu sàn xuất phải bán sức lao động và trờ thành người làm thuê cho giai cấp tư sản chịu
sự bóc lột của giai cấp tư sàn Ngoài ra trong xã hội còn có giai cấp nông dân, tầng lớp tiểu tư sàn và tri thức, Tôn giáo trong xã hội tư
26
Trang 27sản có vai trò quan trọng nhưng không còn là quốc giáo như trong xã hội phong kiến, nhà thờ tách ra khái nhà nước, tín ngưỡng là công việc của các cá nhân Nhà nước tư sàn đặc biệt chú trọng truyền bá hệ tư tường tư sản, đảm bào vai trò thống trị của hệ tư tường này trong xã hội, ngăn cản sự phát triển của các tư tưởng tiến bộ và cách mạng.Bàn chất của nhà nước tư sản được thể hiện qua các chức năng cùa Nhà nước tư sản: về đối nội, nhà nước tư sản bảo vệ củng cố quyền sở hữu tư nhân tư bản chù nghĩa đối với tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động xã hội; bảo vệ cùng cố tăng cường nhà nước tư sản; đàn áp nhân dân lao động về tư tường; quản lý kinh tế tư bản chủ nghĩa; tổ chức và quán lý văn hóa, giáo dục, khoa học, kĩ thuật và giải quyết các vấn đề xã hội cấp bách khác, v ề đối ngoại tiến hành các hoạt động bảo vệ đất nước khái sự xâm lược từ bên ngoài; gây chiến tranh xâm lược để mở rộng thuộc địa giành dật lại thị trường và phân chia lại thế giới, gây ảnh hưởng của mình đối với các quốc gia khác và đặc biệt là chống lại sự ảnh hưởng từ phe các nước xã hội chù nghĩa.
Bộ máy nhà nước tư sàn được tổ chức theo nguyên tắc phân chia quyền lực: quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp nhằm tạo
ra cơ chế đối trọng kiềm chế nhau, kiểm soát nhau, v ề cơ cấu có nghị viện, người đứng đầu nhà nước, chính phù, hệ thống các tòa án và chính quyền địa phuơng
Hình thức chính thể có hai loại chính thể quân chủ lập hiến (Anh, Nhật, Bì, Hà Lan) và chính thể cộng hòa dân chù tư sản với các hình thức chính thể cộng hòa tổng thống (Mỹ, Brazin, Colombia, ), Cộng hòa đại nghị (Italia, Áo, Phần Lan, Canada, Án Độ, ), Cộng hòa hỗn hợp (Pháp)
b) Kiểu Nhà nước xã hội chù nghĩa
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là kiểu nhà nước cuối cùng trong lịch
sử xã hội loài người Sự ra đời cùa nhà nuớc xã hội chù nghĩa mang tính tất yếu khách quan phù hợp với quy luật vận động và phát triền
27
Trang 28cùa xã hội Nguyên nhân dẫn đến sự ra đời nhà nước xã hội chủ nghĩa
là những tiền đề kinh tế, xã hội và chính trị xuất hiện trong lòng xã hội
tư bản
v ề mặt kinh tế: Vào cuối thế ki 19, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã bộc lộ rõ rệt tính tri trệ, kìm hãm sự phát triển sản xuất xã hội, không phù hợp với tính chất và trình độ cùa lực lượng sản xuất đã phát triển đến mức xã hội hóa cao Mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và lực lượng sản xuất ngày càng gay gắt đòi hỏi phải có một cuộc cách mạng xoá bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa xác lập quan hệ sản xuất mới phù hợp với lực lượng sản xuất, đó chính là quan
hệ sản xuất dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sàn xuất - quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Đây là tiền đề kinh tế cho sự ra đời nhà nước xã hội chủ nghĩa
v ề mặt xã hội: Do mâu thuẫn giữa giai cấp tư sàn và giai cấp vô sản và những người lao động khác ngày càng gay gắt Giai cấp vô sản ngày càng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng Là đại biểu cho phưcmg thức sản xuất mới, giai cấp vô sản ý thức được vai trò và sứ mạng lịch sử của mình là lãnh đạo quần chúng lao động tiến hành cách mạng xã hội lật đổ ách thống trị của giai cấp tư sàn, giải phóng mình
và các tầng lóp nhân dân lao động khái áp bức bóc lột, thiết lập nhà nước kiểu mới - nhà nước xã hội chủ nghĩa
về mặt tư tường: Các lãnh tụ giai cấp vô sản đã sáng lập ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước kiểu mới có bàn chất khác với kiểu nhà nước bóc lột Cơ sở kinh tế của Nhà nước xã hội chù nghĩa là quan hệ sản xuất xã hội chù nghĩa dựa ữên chế độ công hữu
về tư liệu sàn xuất, giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo nhà nước
và xã hội quyền lực nhà nước thuộc về giai cẩp công nhân và nhân dân lao động Nhà nước xã hội chù nghĩa là công cụ duy trì sự thống trị cùa đa số với thiểu số là giai cấp bóc lột, thực hiện dân chủ với đa số
28
Trang 29là nhân dân lao động, chuyên chính với thiểu số bóc lột, chống đối Nhà nước xã hội chủ nghĩa là bộ máy hành chính, cơ quan cưỡng chế, đồng thời là một tổ chức quản lý kinh tế - xã hội, là công cụ xây dựng một xã hội bình đẳng, tự do và nhân đạo.
29
Trang 30Chương 2
LÝ LUẬN CHUNG VÈ PHÁP LUẬT
2.1 Khái quát chung về pháp luật
2ằi Ế7 Nguồn gốc của pháp luật
Những nguyên nhân làm phát sinh Nhà nước cũng là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời cùa pháp luật Trong xã hội cộng sản nguyên thủy chưa có pháp luật nhưng để giữ gìn sự ồn định và trật tự, đảm bảo cho xã hội tồn tại và phát triển, trong xã hội đã xuất hiện những quy tắc xử sự chung Đây chính là những quy phạm xã hội bao gồm tập quán, các tín điều tôn giáo Trong xã hội chưa có tư hữu và giai cấp thì những quy phạm xã hội này rất phù họp để điều chình các mối quan hệ
xã hội lúc đó, bời vì chúng phản ánh đúng trinh độ phát triển kinh tế
xã hội của chế độ cộng sản nguyên thủy Các quy phạm xã hội đó có đặc điểm:
- Thể hiện ý chí phù hợp với lợi ích cùa toàn thể cộng đồng;
- Điều chinh cách xử sự cùa con người với con người trên tinh thần hợp tác và giúp đỡ;
- Được thực hiện một cách tự nguyện, tuy có sự cưỡng chế nhưng
sự cưỡng chế đó không phải do một bộ máy đặc biệt cùa xã hội mà do toàn thị tộc tổ chức ra
Tuy nhiên, khi chế độ tư hữu xuất hiện và xã hội đã phân chia thành giai cấp có lợi ích đối lập nhau thì những tập quán đó không còn phù hợp nữa, vì tập quán thể hiện ý chí chung và bảo vệ lợi ích cùa mọi thành viên ữong cộng đồng thị tộc, bộ lạc Trong điều kiện lịch sử mới, khi những xung đột về lợi ích của các giai cấp diễn ra gay gắt và
30
Trang 31cuộc đấu tranh giai cấp là không thể điều hòa được, thì cần thiết phải
có một loại quy phạm mới để thiết lập cho xã hội một “trật lự ”, một
loại quy phạm thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, đó là quy phạm pháp luật Hệ thống pháp luật cùa Nhà nước được hình thành dần từng bước, phụ thuộc vào những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể cùa mỗi nước Nhưng nói chung có một số cách thức hình thành nên pháp luật:Lợi dụng địa vị thống trị của mình, giai cấp thống trị tìm cách
vận dụng các tập quán có lợi sao cho những tập quán đó phù hợp với ý chí cùa mình, để phục vụ lợi ích của giai cấp mình Bang sự thừa nhận
của Nhà nước, thông qua con đường Nhà nuớc các tập quán đã bị biến đổi ấy trở thành những quy tác xừ sự có tính bắt buộc chung
Bên cạnh cách thức nói trên pháp luật còn được hình thành thông qua hoạt động cùa cơ quan nhà nước Do tính chất đa dạng và phức tạp cùa các quan hệ xã hội mới phát sinh trong quá trình phát triển của Nhà nước, nên đặt ra yêu cầu phải có những quy tắc điều chinh Vì vậy trong quá trinh hoạt động của mình, Nhà nước đã tiến hành xây dựng những quy tắc xử sự mới trong nhiều lĩnh vực khác nhau Hoạt động này lúc đầu còn đơn giản, nhiều quyết định của tòa án và cơ quan hành chính khi giải quyết những vụ việc cụ thể được Nhà nước thừa nhận và coi là khuôn mẫu, là quy tác xử sự có tính chất bắt buộc Tuy nhiên, cùng với sự hình thành, phát triển, hoàn thiện của bộ máy Nhà nước, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bàn pháp luật nhàm cùng cố chế độ
tư hữu và quy định những đặc quyền, đặc lợi cho giai cấp thống trị.Như vậy, pháp luật là hệ thống các quy phạm do Nhà nước ban hành, thể hiện ý chi của giai cấp thống trị, nó hoàn toàn khác với các quy phạm xã hội khác thể hiện ý chí của tất cả mọi người Pháp luật ra đời cùng với Nhà nước, pháp luật là công cụ mà Nhà nước sử dụng để thực hiện quyền lực của mình, duy tri địa vị và bào vệ lợi ích cùa giai cấp thống trị Nhà nước ban hành ra pháp luật và đảm bảo cho pháp luật được thực hiện Cả hai hiện tượng đều là sán phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp
31
Trang 322.1.2 Bản chất và đặc trưng của pháp luật
a) Bán chất cùa pháp luật
Theo học thuyết Mác-Lênin, pháp luật chi phát sinh, tồn tại và
phát triển trong xã hội có giai cấp Tính giai cấp của pháp luật thể hiện ở chỗ: Pháp luật phản ánh ý chí cùa giai cấp thống trị.
C.Mác và ăngghen khi nghiên cứu về pháp luật tư sản đã kết
luận: “Pháp luật tư sản chằng qua chi là ỷ chí của giai cấp tư sản được đề lên thành luật, cái ỷ chí mà nội dung cùa nó là do điều kiện sinh hoạt vật chất cùa giai cấp tư sản quyết định Nhờ nam trong tay quyền lực Nhà nước, giai cấp thống trị đã thông qua Nhà nưởc để thể hiện ý chí của giai cấp mình một cách tập trung, thống nhất, hợp pháp hóa thành ý chí cùa Nhà nước, ý chí đó được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành Nhà nước ban hành và đảm bảo cho pháp luật được thực hiện, vì vậy pháp luật là nhũng quy tác xử sự chung có tính bắt buộc đối với mọi người.Tính giai cấp của pháp luật còn được thể hiện ở mục đích điều chỉnh cùa các quan hệ xã hội Mục đích cùa pháp luật trước hết là nhằm điều chinh các quan hệ xã hội giữa các giai cấp, tầng lớp trong
xã hội Vì vậy, pháp luật là nhân tố điều chinh về mặt giai cấp các quan hệ xã hội nhằm hướng các quan hệ xã hội phát triển theo một trật
tự phù hợp với ý chí cùa giai cấp thống trị, bảo vệ và củng cố địa vị của giai cấp thống trịứ Với ý nghĩa đó, pháp luật chính là công cụ để thục hiện sự thống trị giai cấp
Bên cạnh tính giai cấp thì pháp luật còn mang tính xã hội Trong quá trình lao động sản xuất con người đã sớm biết điều chình các mối quan hệ của mình một cách có ý thức thông qua các loại quy phạm khác nhau Mặc dù quy phạm pháp luật là loại quy phạm do Nhà nước ban hành nhưng trong nó vẫn chứa đựng những yếu tố mang tính khách quan, quy luật Bời xét cho cùng thì các quy phạm pháp luật là
sự khái quát hóa hệ thống hóa các xử sự hợp lý khách quan được 32
Trang 33nhiều người chấp nhận và thông qua con đường nhà nước nó trở thành pháp luật Bên cạnh đó pháp luật do Nhà nước, đại diện chính thức cùa toàn xã hội ban hành nên ờ mức độ ít hay nhiều, pháp luật còn thể hiện, bảo vệ led ích cùa các giai cấp giai tầng khác trong xã hội Có như vậy, pháp luật mới đi được vào cuộc sống và mang tính thực thi cao.
Như vậy, pháp luật là một hiện tượng vừa mang tính chất giai cấp vừa mang tính chất xã hội, hai thuộc tính này có mối liên hệ mật thiết với nhau Xét theo quan điểm hệ thống, không có pháp luật chỉ thể hiện duy nhất tính giai cấp, cũng không có pháp luật chi thể hiện tính
xã hội Tuy nhiên mức độ đậm nhạt của hai tính chất đó của pháp luật
là khác nhau và thường hay biến đổi tùy thuộc vào điều kiện kinh tế -
xã hội, đạo đức, quan điểm, đường lối và các trào lưu chính trị xã hội trong mỗi nước, ở một thời kỳ lịch sử nhất định
b) Đặc trưng cùa pháp luật
Nhìn một cách tổng quát, pháp luật có những đặc trưng cơ bản sau:
* Tỉnh quyển lực: Pháp luật do nhà nước ban hành và bảo đảm
thực hiện Nói một cách khác, pháp luật được hình thành và phát triển bàng con đường Nhà nước chứ không thể bất kỳ một con đường nào khác Với tu cách cùa mình, nhà nước là một tổ chức hợp pháp, công khai và có quyền lực bao trùm toàn xã hội Vì vậy, khi pháp luật được nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, nó sẽ có sức mạnh quyền lực nhà nước và có thể tác động đến tất cà mọi người Đặc trưng này chi có ở pháp luật Các quy tắc xử sự khác chỉ có thề tác động trong
một phạm vi hẹp, dưới những phương thức "nhẹ nhàng ” hơn và được
bảo đảm bàng dư luận xã hội, chứ không phải bằng quyền lực nhà nước như đổi với pháp luật (trõ những trường hợp đặc biệt được nhà nước quan tâm)
* Tính quy phạm: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự, đó là
những khuôn mẫu, những mực thước được xác định cụ thể không trõu tượng, chung chung Tính quy phạm cùa pháp luật nói lên giới hạn cần
Trang 34thiết mà Nhà nước quy định để mọi người có thể xử sự một cách tự do trong khuôn khổ cho phép Vượt quá giới hạn đỏ là trái luật Giới hạn
đó được xác định ờ nhiều khía cạnh khác nhau như cho phép, cấm đoán, bắt buộc về nguyên tắc, pháp luật phải cụ thể, khuôn phép, mực thước, không thể lạm dụng hoặc tùy tiện Vì vậy, nói đến pháp luật suy cho cùng là phải xét đến các quy phạm cụ thể Nếu không có quy phạm pháp luật được đặt ra thi cũng không thể quy kểt một hành
vi nào là vi phạm, là trái pháp luật Những nguyên tắc: “mọi người được làm tất cả mọi việc trõ những điều mà pháp luật nghiêm cẩm”,
“mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”, được hình thành là dựa
trên cơ sờ của đặc trưng của tính quy phạm cùa pháp luật Chính đặc tnmg cơ bản này đã làm cho pháp luật ngày càng có “tính trội”, hom hẳn đối với các loại quy phạm xã hội trong xã hội văn minh, hiện đại
* Tính ý chí: Pháp luật bao giờ cũng là hiện tượng ý chí, không
phài là kết quà của sự tự phát hay cảm tính Xét về bàn chất, ý chí trong pháp luật là ý chí của giai cấp cầm quyền, ý chí đó thể hiện rõ ờ mục đích xây dựng pháp luật, nội dung pháp luật và dự kiến hiệu ứng pháp luật khi triển khai vào thực tế đời sống xã hội
Trên thực tế chỉ có lực lượng nào nám được nhà nước mới có khả năng thể hiện ý chí và lợi ích của mình một cách tối đa trong pháp luật Một khi ý chí và lợi ích đã được hợp pháp hóa thành pháp luật, thì nó được đàm bảo thực hiện bàng quyền lực nhà nước Vì vậy mọi quá trinh xây dựng, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật đều được diễn ra dưới hình thức cụ thể, theo những nguyên tẳc và thù tục chặt chẽ Đó là kết quả cùa sự tư duy chù động tự giác cùa các nhà tư tưởng, những nhà chức trách Điều này cũng cho thấy rõ sự khác biệt giữa pháp luật với các hệ thống quy phạm khác
* Tinh xã hội: Mặc dù pháp luật có tính nhà nuớc, tính ý chí,
nhưng tính xã hội vẫn là một đặc trưng cơ bàn không thể coi nhẹ Muốn cho pháp luật phát huy đuợc hiệu lực, thì nó phải phù hợp với
34
Trang 35những điều kiện cụ thể của xã hội ờ thời điểm tồn tại cùa nó, nghĩa là pháp luật phải phản ánh đúng những nhu cầu khách quan của xã hội Tuy nhiên, do tính chất phức tạp cùa các mối quan hệ xã hội, pháp luật chì có khả năng mô hình hóa những nhu cầu xã hội khách quan đã mang tính điển hình, phổ biến và thông qua đó để tác động tới các quan hệ xã hội khác, hướng các quan hệ đó phát triền theo hướng đã được nhà nước xác định.
Như vậy, ở đặc trưng này nét khác biệt của pháp luật so với các quy phạm xã hội khác thề hiện ở tính toàn diện và tính điển hình cùa các mối quan hệ xã hội được pháp luật điều chình
Xem xét những đặc trưng cơ bản nói trên của pháp luật càng cho thấy rõ bản chất và sự khác biệt giữa pháp luật với các hiện tượng khác Cả bốn đặc trưng cơ bản đó đều có ý nghĩa quan trọng và nằm trong mối quan hệ bản chất với nhau, không thể chỉ chú trọng điểm này mà coi nhẹ điềm kia
2.1.3 Vai trò của pháp luật
* Pháp luật là cơ sở để thiết lập và cùng cố và tăng cường quyền lực Nhà nước
Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng luôn luôn đi liền với nhau Nhà nước không thể tồn tại nếu thiếu pháp luật và ngược lại, pháp luật cũng không thể phát huy hiệu lực của mình nếu thiếu sức mạnh quyền lực cùa Nhà nước Nhờ nắm trong tay quyền lực Nhà nước, giai cấp thống trị đã thể hiện ý chí cùa giai cấp mình một cách tập trung thống nhất và hợp pháp hóa thành ý chí cùa nhà nước, ý chí
đó được cụ thể hóa trong các văn bàn pháp luật do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành Nhà nước ban hành và bào đảm cho pháp luật được thực hiện, vì vậy, pháp luật là những quy tắc xử sự chung có tính bắt buộc đối với mọi người Với tư cách là một công cụ cực kỳ quan trọng trong tay nhà nước, pháp luật điều chỉnh các quan
35
Trang 36hệ xã hội, tác động tới cơ sở kinh tế và các yếu tố của kiến trúc thượng tầng, hướng chúng phát triển phù hợp với ý chí cùa giai cấp thống trị, bào vệ và cùng cố địa vị cùa giai cấp thống trị Với ý nghĩa đó pháp luật chính là cơ sờ để quyền lực nhà nước được thiết lập, cùng cố và tăng cường.
* Pháp luật là phương tiện để nhà nước quàn lý xã hội
Để quản lý xã hội, nhà nước dùng nhiều phương tiện, nhiều biện pháp khác nhau, nhưng trong đó pháp luật là phương tiện quan trọng nhất Vói những đặc điểm riêng có của mình (tính quyền lực, tính quy phạm, tính ý chí, tính xã hội ) pháp luật có khả nàng triển khai những chủ truơng chính sách của Nhà nước một cách nhanh nhất, đồng bộ và
có hiệu quả nhất trên quy mô rộng nhất Cũng nhờ có pháp luật, nhà nuớc có cơ sờ để phát huy quyền lực của mình và kiểm tra được hoạt động của các tổ chức, cá nhân
* Pháp luật góp phần tạo dựng những quan hệ mới
Xã hội thường có những thay đổi thường xuyên, nhưng về căn bản những thay đổi đó vẫn diễn ra theo những quy luật nhất định mà con người có thề nhận thức được Dựa trên những kết quà và dự báo khoa học, con người có thể dự kiến được nhữna thay đổi diễn ra, những quan hệ mới phát sinh và cần có sự điều chình bằng pháp luật
Từ đó pháp luật được đặt ra để định hướng trước, xác lập nhũng quy định để có thể điều chinh kịp thời các quan hệ xã hội mới phát sinh
* Pháp luật tạo ra môi trường ổn định cho việc thiết lập các mối quan hệ bang giao giữa các quốc gia
Pháp luật luôn có vai trò giữ gìn ổn định và trật tự xã hội Sự ổn định của mỗi quốc gia là điều kiện quan trọng để tạo niềm tin, là cơ
sờ để mở rộng các mối quan hệ bang giao vói nước khác Trong thời đại ngày nay, phạm vi và nội dung của các mối quan hệ quốc tế giữa các nước ngày càng được mở rộng Nhiều vấn đề mới phát sinh đòi hỏi phài có sự hợp tác quốc tế để giải quyết Xuất phát từ nhu cầu đó 36
Trang 37hệ thống pháp luật mỗi nước cũng có những bước phát triển mới Bên cạnh những văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong nội bộ quốc gia thi còn có các văn bản điều chỉnh quan hệ mang tính chất quốc tế.
2.1.4 Chức năng của pháp luật
Chức năng của pháp luật là những tác động chủ yếu của nó tói xã hội nhàm phục vụ lợi ích cho giai cấp thống trị Pháp luật có hai chức năng chủ yểu là điều chinh các quan hệ xã hội và giáo dục ý thức con người
* Chức năng điều chinh các quan hệ xã hội
Không phải tất cả các quan hệ xã hội đều được pháp luật điều chỉnh, mà pháp luật chỉ điều chinh những quan hệ xã hội cơ bản, quan trọng, liên quan tới lợi ích chung của nhà nước và xã hội Sự điều chinh của pháp luật đối vói các quan hệ xã hội được thực hiện bàng cách pháp luật ghi nhận, củng cố và bảo vệ những giá trị xã hội đã đạt được đồng thời định hướng, tạo điều kiện cho các quan hệ xã hội tiếp tục phát triển theo ý chí và nguyện vọng của giai cấp thống trị Đe làm được việc đó, thông thường nhà nước đặt ra các quy phạm khác nhau như quy phạm cho phép, quy phạm ngăn cấm, quy phạm bắt buộc, quy phạm khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các quy phạm
đó được tôn trọng và thực hiện nghiêm chinh
* Chức năng giáo dục
Thông qua việc điều chỉnh các quan hệ xã hội mà pháp luật tác động tới tâm tư, tình cảm của con nguời, hình thành ờ mỗi người ý thức tự giác tôn trọng và thực hiện pháp luật Đó chính là chức năng giáo dục của pháp luật
Hiệu quả giáo dục của pháp luật phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: mức độ hoàn thiện và tính chất tiến bộ cùa hệ thống pháp luật, hiệu lực hoạt động cùa bộ máy nhà nước, sự đồng tình ủng hộ cùa toàn xã hội đối với pháp luật, công tác tuyên truyền, phổ biến giải thích, giáo dục
37
Trang 38pháp luật, công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật, việc xừ
lý các vi phạm pháp luật
Từ sự phân tích trên, có thể định nghĩa: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung, do Nhà nước ban hành (hoặc thừa nhận) và bào đàm thực hiện bằng tất cả sức mạnh của mình và sức mạnh cưỡng chế, thể hiện ý chỉ và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong x ã hội, là công cụ có hiệu lực nhất để điều chinh các quan hệ xã hội trong xã hội có giai cấp.
2.1.5 Các kiểu pháp luật trong lịch sử
Kiểu pháp luật là tổng thể những dấu hiệu, đặc điếm cơ bàn của pháp luật, thế hiện bản chất giai cấp, vai trò xã hội, và những điểu kiện tồn tại và phát triền của pháp luật tương ứng trong một hình thái kinh tể xã hội nhất định Tương ứng với các kiểu nhà nước trong lịch
sử, là bốn kiểu pháp luật đã và đang tồn tại đó là: pháp luật chủ nô, pháp luật phong kiến, pháp luật tư sản, pháp luật xã hội chủ nghĩa
* Pháp luật chù nô: Tương ứng với nhà nước chủ nô là pháp luật
chù nô Cũng như Nhà nước chủ nô, pháp luật chù nô cũng được xây dựng ưên nền tảng kinh tế - xã hội là chế độ sở hữu tư nhân tuyệt đối của giai cấp chủ nô đối với mọi tư liệu sản xuất và của cải làm ra, sự bóc lột và đàn áp dã man của chủ nô đối vói nô lệ — lực lượng lao động chù yếu trong xã hội Tính giai cấp của pháp luật chủ nô thể hiện rõ rệt
ở chỗ pháp luật thể hiện ý chí cùa giai cấp chù nô Tuy vậy pháp luật chù nô cũng đóng vai trò quan ữọng trong tổ chức quản lý xã hội, và dưới góc độ này cũng đóng vai trò tích cực nhất định so với quy phạm
xã hội nguyên thủy Đặc biệt ờ phương Tây cổ đại đã sớm xuất hiện nhiều bộ luật quan trọng, trong đó có bộ luật 12 bảng của Nhà nước La
Mã cổ đại (ban hành khoảng thế kỷ II trước CN) Đó là bộ luật đầu tiên của một xã hội sản xuất hàng hóa có ý nghĩa toàn thế giới cả về phươne diện, nội dung và kỹ thuật lập pháp và còn ảnh hưởng đến các
hệ thốna pháp luật sau này
38
Trang 39* Pháp luật phong kiến: Đây là kiểu pháp luật thứ hai trong lịch
sử nhân loại và hình thành cùng với sự ra đời cùa Nhà nước phong kiến Do tính chất phụ thuộc của pháp luật vào cơ sờ kinh tế xã hội cùa chế độ phong kiến nên pháp luật phong kiến là ý chí cùa giai cấp phong kiến được đề lên thành luật mà nội dung của ý chí đó được quy định bời điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp phong kiến Tuy nhiên, pháp luật phong kiến cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác lập, ghi nhận và phát triển hệ thống quan hệ xã hội mới của hình thái kinh tế xã hội mới tiến bộ hơn so vói pháp luật chủ nô, thúc đẩy
xã hội phát triển
* Pháp luật tư sản: Pháp luật tư sản là kiểu pháp luật bóc lột cuối
cùng trong lịch sử hình thành cùng với sự ra đời của nhà nước tư sản là tấm gương phản ánh cơ sờ kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, pháp luật
tư sản thể hiện ý chí của giai cấp tư sản Tuy không thóat khái những hạn chế của một kiểu pháp luật bóc lột, nhưng pháp luật tư sản kể cả nội dung và hình thức đã đánh dấu một bước phát triển tiến bộ vượt bậc cùa lịch sử nhân loại, ghi nhận kết quả cùa một cuộc cách mạng lớn về các lĩnh vực tư tường tinh thần, về giá trị dân chủ, nhân văn, quyền con người, về khả năng bảo đảm ừật tự, ổn định xã hội, thúc đầy xã hội phát triển nhanh hom
* Pháp luật xã hội chủ nghĩa: Đây là kiểu pháp luật cuối cùng
trong lịch sử và hình thành dần cùng vói sự ra đòi và phát triển của nhà nước xã hội chủ nghĩa, là pháp luật kiểu mới, nội dung của nó hoàn toàn phù nhận chế độ bóc lột, hạn chế và dần đi đến xãa bỏ chế
độ tư hữu, xác lập và ngày càng phát triển quan hệ bình đẳng, tự do, dân chủ bác ái thực sự, những quan hệ hoàn toàn mới giữa con người với con người
2.2 Quy phạm pháp luật
2.2.1 Khái niệm và đặc điểm của quy phạm pháp luật
Trong đời sống, con người luôn có xu hướng thiết lập các quan
hệ với các tổ chức và cá nhân khác Vì vậy, Mác gọi “bàn chất cùa
Trang 40con người là tổng hòa tất cả các mối quan hệ xã hội” Như vậy, có thể
nói cộng đồng là môi trường tồn tại của mỗi cá nhân trong xã hội Khi sống trong cộng đồng, cá nhân phải tuân theo những quy tắc chung nhất định nhàm đảm bảo sự phát triển của cộng đồng Việc phối hợp hoạt động của các cá nhân riêng rẽ có thể thực hiện dựa vào mệnh lệnh
cá biệt hoặc bàng cách mẫu hóa cách xử sự của con người có nghĩa là đưa ra các quy tác xử sự chung làm mẫu để bất kỳ ai khi ở vào những điều kiện hoàn cảnh, điều kiện đã được dự liệu đều phải xử sự nhu vậy Các quy tác xử sự mẫu đó được gọi là các quy phạm xã hội hoặc
có die hiểu Quy phạm xã hội là các quy tắc, khuôn mẫu, những mệnh lệnh xác định do con người đặt ra để điều chinh quan hệ giữa người với người
Trong xã hội có nhiều quy phạm xã hội khác nhau điều chinh các quan hệ xã hội như quy phạm đạo đức, quy phạm tôn giáo, quy phạm tập quán, quy phạm của các tổ chức chính trị xã hội Các quy phạm xã hội khác nhau thì có những đặc tính khác nhau Nhung trong xã hội có giai cấp thì quy phạm pháp luật có vai trò quan trọng nhất đối với việc duy trì trật tự xã hội, tạo điều kiện cho xã hội ồn đỊnh và phát triển
Từ góc độ pháp lý, quy phạm pháp luật được định nghĩa: Là quy tắc xử sự có tinh chất bắt buộc chung, do nhà nước ban hành (hoặc thừa nhận) và bảo đảm thực hiện bằng cưỡng chế Nhà nước, trực tiếp thê hiện ỷ chi và bào vệ lợi ích cùa giai cấp thống trị trong xã hội.
Là một dạng cùa quy phạm xã hội (quy phạm đạo đức, quy phạm của các tô chức chinh t r ị - x ã hội, quy phạm tập quán, quy phạm tôn giáo), quy phạm pháp luật mang hai tính chất chung như các quy phạm
xã hội khác: Là quy tắc xử sự do con người đặt ra để điều chinh quan
hệ giữa người với người; là tiêu chuẩn để đánh giá hành vi đúng, sai cùa con người Bên cạnh đó, quy phạm pháp luật còn có một số đặc trưng riêng sau đây:
40