Nghiên cứu về chọn lọc cây trội và xác định sản lượng vỏ, sản lượng tinh dầu loài Quế .... Nghiên cứu về chọn lọc cây trội và xác định sản lượng vỏ, sản lượng tinh dầu loài Quế .... Do v
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, luận văn này là kết quả của một phần trong Nhiệm vụ cấp Nhà nước mà tôi là cộng tác viên chính tham gia nghiên cứu và đã được chủ trì nhiệm vụ đồng ý cho sử dụng kết quả này Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề được sử dụng, được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Các thông tin tài liệu trích dẫn trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời cam đoan trên
Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 2016
Tác giả
Lươn Kim C i
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp “Nghiên cứu chọn lọc cây trội, đánh giá khả năng sinh trưởng và tương quan giữa sinh trưởng và tinh dầu của dòng Quế (Cinnamomum cassia Blume) tại huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa”
được hoàn thành theo chương trình đào tạo cao học tại Trường đại học Lâm nghiệp
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, các thầy cô trong Phòng đào tạo sau đại học, các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên tác giả hoàn thành luận văn này Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng
biết ơn sâu sắc tới TS Phạm Minh Toại và TS Lưu Cảnh Trung - người hướng
dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn tác giả từ khi hình thành phát triển ý tưởng đến xây dựng đề cương, phương pháp luận, tìm tài liệu và có những chỉ dẫn khoa học quý báu trong suốt quá trình triển khai nghiên cứu và hoàn thành đề tài
Xin chân thành cảm ơn các anh chị đang công tác tại Viện nghiên cứu Lâm sinh – Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Viện Di truyền Nông nghiệp Đồng cảm ơn tới Ban quản lý khu bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên, các phòng chức năng huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa đã giúp đỡ tôi rất nhiều về tài liệu, nơi thực tập
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của các nhà chuyên môn, bạn bè và người thân trong gia đình đã động viên giúp đỡ tác giả trong quá trình hoàn thành luận văn
Mặc dù đã hết sức cố gắng và nỗ lực, nhưng kinh nghiệm nghiên cứu chưa nhiều, đặc biệt là hạn chế về mặt thời gian trong quá trình nghiên cứu nên luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp để cho luận văn được hoàn chỉnh hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 2016
Tác giả Lươn Kim C i
Trang 3MỤC LỤC
Trang TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Giới thiệu chung về cây Quế 3
1.1.1 Đặc điểm hình thái 3
1.1.2 Đặc điểm sinh thái 3
1.1.3 Thành phần hóa học và công dụng của Quế 4
1.1.4 Giá trị kinh tế 6
1.2 Trên Thế giới 6
1.2.1 Nghiên cứu về chọn lọc cây trội và xác định sản lượng vỏ, sản lượng tinh dầu loài Quế 6
1.3 Ở Việt Nam 10
1.3.1 Nghiên cứu chung về cây Quế 10
1.3.2 Nghiên cứu về chọn lọc cây trội và xác định sản lượng vỏ, sản lượng tinh dầu loài Quế 13
1.3.3 Nghiên cứu về kỹ thuật tạo cây con và gây trồng loài Quế 14
1.4 Thảo luận và xác định vấn đề nghiên cứu 17
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀPHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 19
2.1.1 Mục tiêu tổng quát 19
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 19
Trang 42.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 19
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 19
2.3 Nội dung nghiên cứu 19
2.3.1 Điều tra hiện trạng gây trồng Quế tại Thanh Hóa 19
2.3.2 Nghiên cứu chọn lọc cây trội loài Quế tại Thanh Hóa 19
2.3.3 Đánh giá sinh trưởng của cây ghép trong vườn giống vô tính Quế tại Thanh Hóa 19
2.3.4 Xác định mối quan hệ giữa các đại lượng sinh trưởng với năng suất vỏ và hàm lượng tinh dầu Quế tại Thanh Hóa 19
2.3.5 Đề xuất giải pháp phát triển bền vững loài Quế trồng tại khu vực nghiên cứu 19
2.4 Phương pháp nghiên cứu 20
2.4.1 Quan điểm và cách tiếp cận 20
2.4.2 Phương pháp cụ thể 21
Chương 3 ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 28
3.1 Điều kiện tự nhiên 28
3.1.1 Vị trí địa lý 28
3.1.2 Địa hình 28
3.1.3 Khí hậu 29
3.1.4 Tài nguyên thiên nhiên 29
3.2 Điều kiện kinh tế xã hội 31
3.2.1 Dân số 31
3.2.2 Lao động 31
3.3 Đánh giá chung 31
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Đặc điểm phân bố, gây trồng và phát triển loài Quế tại Thanh Hóa 33
4.1.1 Đặc điểm phân bố loài Quế tại Thanh Hóa 33
4.1.2 Đặc điểm gây trồng và phát triển loài Quế tại Thanh Hóa 34
4.2 Nghiên cứu chọn lọc cây trội loài Quế tại Thanh Hóa 39
Trang 54.2.1 Xác định, lựa chọn cây trội dự tuyển 39
4.2.2 Đặc điểm sinh trưởng của loài Quế tại Thanh Hóa 43
4.2.3 Hàm lượng và chất lượng tinh dầu của loài Quế tại Thanh Hóa 47
4.2.4 Kết quả lựa chọn cây trội 51
4.3 Đánh giá sinh trưởng của cây ghép từ các cây trội trong vườn giống vô tính Quế thanh hóa 52
4.3.1 Tỷ lệ sống của cây trồng trong vườn giống vô tính 53
4.3.2 Sinh trưởng đường kính và chiều cao của cây vô tính 55
4.3.3 Phẩm chất của cây vô tính 58
4.4 Xác định mối quan hệ giữa các đại lượng sinh trưởng với năng suất vỏ và hàm lượng tinh dầu Quế thanh hóa 60
4.4.1 Xác định quan hệ giữa độ dày vỏ (Dvỏ) với đại lượng sinh trưởng 60
4.4.2 Xác định quan hệ giữa hàm lượng tinh dầu với đại lượng sinh trưởng 60
4.4.3 Xác định quan hệ giữa chất lượng tinh dầu với đại lượng sinh trưởng 62
4.5 Đề xuất giải pháp phát triển bền vững loài Quế thanh hóa 63
4.5.1 Đề xuất tiêu chuẩn chọn lọc cây trội Quế tại khu vực nghiên cứu 63
4.5.2 Đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển bền vững loài Quế thanh hóa 63
KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KHUYẾN NGHỊ 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Giải t íc n ĩa
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
4.2 Mật độ trồng Quế ở các xã trong huyện Thường Xuân 35
4.4 Sinh trưởng của Quế ở các xã trong huyện Thường Xuân 43 4.5 Đặc điểm sinh trưởng của các cây trội dự tuyển 45 4.6 Hàm lượng và chất lượng tinh dầu Quế thanh hóa 47 4.7 Các đặc trưng thống kê về hàm lượng và chất lượng tinh dầu 50 4.8 Bảng kết quả lựa chọn cây trội Quế thanh hóa 51 4.9 Tỷ lệ sống của cây con vô tính theo từng dòng cây trội 53
4.11 Các đặc trưng về sinh trưởng của cây vô tính 56 4.12 Phẩm chất của cây vô tính theo từng dòng cây trội 58
4.13 Tham số của phương trình quan hệ giữa độ dày vỏ với đại lượng
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
4.1 Khai thác Quế 1 lần trong chu kỳ trồng tại Xuân Lẹ - Thường Xuân 37
4.3 Một số hình ảnh quá trình thu thập mẫu phân tích 42
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong các loài cây lâm sản ở vùng nhiệt đới thì cây Quế được biết đến như một loại cây đặc sản đa tác dụng, vỏ Quế và các sản phẩm từ Quế của Việt Nam trở nên nổi tiếng trên thế giới Ngoài ra, khả năng sản xuất mới dừng lại ở quy mô nhỏ, vùng gây trồng phù hợp với loài cây này hạn chế trong khi nhu cầu thị trường với sản phẩm từ Quế ngày càng cao đã thúc đẩy việc nghiên cứu cải thiện giống, kỹ thuật gây trồng góp phần nâng cao sản lượng cũng như chất lượng rừng trồng Quế
Ở nước ta, từ khi tiến hành cải cách mở cửa đến nay, nền kinh tế đã có những chuyển biến mạnh mẽ Nhưng cũng từ đó khoảng cách giữa miền núi và đồng bằng, giữa thành phố và nông thôn ngày càng xa Đời sống nhân dân đồng bào các dân tộc miền núi còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn Để giải quyết tình trạng này, Đảng và Nhà nước ta đã và đang tìm mọi cách để đưa các phương thức sản xuất mới áp dụng vào các vùng khó khăn, đưa cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp để người dân có thể thoát nghèo Một trong những cây trồng có thể giúp họ xóa đói, giảm nghèo chính
là cây Quế, đặc biệt là đối với bà con dân tộc các vùng Tiên Yên, Ba Chẽ (Quảng Ninh); Văn Yên, Văn Chấn, Trấn Yên (Yên Bái); Lang Chánh, Thường Xuân (Thanh Hóa); Quế phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp (Nghệ An); Trà My (Quảng Nam); Trà Bồng (Quảng Ngãi) nơi mà cây Quế rất thích hợp với điều kiện tự nhiên
Là một trung tâm lớn về Quế của cả nước, đặc biệt Quế được trồng ở các huyện phía Tây của tỉnh Thanh Hóa (Thường Xuân, Ngọc Lặc, Lang Chánh…) đã nổi tiếng trong và ngoài nước Không những nổi tiếng về chất lượng, Quế được trồng ở các huyện phía Tây của tỉnh Thanh Hóa (Quế thanh hóa) cũng được đánh giá là những giống Quế có hiệu quả và năng suất cao hơn những nơi trồng khác
Tuy nhiên, do khai thác bừa bãi, quá mức, năng suất thấp và giá cả không ổn định đã làm cho rừng trồng Quế ngày càng suy giảm về chất lượng và số lượng Tại Thanh Hóa, từ năm 2000 đến nay do giá Quế rẻ, người dân chỉ tập trung khai thác diện tích Quế còn lại mà lại không quan tâm đến việc trồng mới Do đó, sản lượng
và chất lượng rừng trồng Quế dần dần bị mai một Theo thống kê, đến năm 2013,
Trang 10huyện Thường Xuân chỉ còn 180 ha Quế ở các xã: Vạn Xuân, Xuân Chinh, Xuân Lẹ Tuy nhiên, cây Quế trồng ở các hộ dân mang tính tự phát, cách chăm sóc, khai thác, chế biến chỉ mang tính truyền thống, chưa áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật nên đã làm cho cây Quế suy thoái [56].Quế thanh hóa không những bị suy giảm về diện tích trồng mà còn suy thoái cả về năng suất và chất lượng, hàm lượng tinh dầu giảm Do vậy, nghiên cứu chọn lọc cây trội, phục tráng lại giống Quế thanh hóa nhằm nâng cao năng suất, chất lượng tinh dầu cao và nghiên cứu xác định mối tương quan giữa các đại lượng sinh trưởng với hàm lượng tinh dầu nhằm đưa ra được những dự tính về hiệu quả kinh tế là rất cần thiết Cùng với đó, việc tăng cường công tác bảo tồn loài Quế đang là một nhiệm vụ cấp bách để có thể duy trì nguồn lợi lâu dài, phục vụ cho đời sống của chúng ta và phục vụ cho xuất khẩu
Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài: “Nghiên cứu chọn lọc cây trội, đánh giá khả năng sinh trưởng và tương quan giữa sinh trưởng và hàm lượng tinh dầu của dòng Quế (Cinnamomum cassia Blume) tại huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa” được thực hiện là rất cần thiết và có ý nghĩa
Trang 11C ươn 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Giới t iệu c un về c Quế
1.1.1 Đặc điểm hình thái
- Cây Quế là loài cây thân gỗ, sống lâu năm, ở cây trưởng thành có thể cao trên 15m, đường kính ngang ngực (1,3m) có thể đạt đến 40cm
- Quế có lá đơn, mọc cách hay gần đối, lá có 3 gân gốc kéo dài đến tận đầu lá
và nổi rõ ở mặt dưới của lá, các gân bên gần như song song, mặt trên của lá xanh bóng, mặt dưới lá xanh đậm, lá trưởng thành dài khoảng 18 – 20cm, rộng khoảng 6 – 8cm, cuống lá dài khoảng 1cm
- Quế có tán lá hình trứng, thường xanh quanh năm, thân cây tròn đều, vỏ ngoài màu xám, hơi nứt rạn theo chiều dọc
- Trong các bộ phận của cây Quế như vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều có chứa tinh dầu, đặc biệt trong vỏ có hàm lượng tinh dầu cao nhất, có khi đạt đến 4 – 5%
- Cây Quế khoảng 8 đến 10 tuổi thì bắt đầu ra hoa, hoa Quế mọc ở nách lá đầu cành, hoa tự chùm, nhỏ chỉ bằng nửa hạt gạo, vươn lên phía trên của lá, màu trắng hay phớt vàng
- Quế ra hoa vào tháng 4,5 và quả chin vào tháng 1,2 năm sau Quả Quế khi chưa chín có màu xanh, khi chín chuyển sang màu tím than, quả mọng trong chứa một hạt, quả dài 1 – 1,2cm, hạt hình bầu dục, 1kg hạt Quế có khoảng 2.500 – 3.000 hạt
- Hạt Quế có dầu nên khi gặp điều kiện nhiệt độ, ẩm độ cao sẽ bị chảy dầu mất sức nảy mầm
- Bộ rễ Quế phát triển mạnh, rễ cọc cắm sâu vào lòng đất, rễ bàng lan rộng, đan chéo nhau, vì vậy Quế có khả năng sinh sống tốt trên các vùng đồi núi dốc (Nguyễn Văn Thực và các cộng tác viên, 2012)[1]
1.1.2 Đặc điểm sinh thái
Quế có thể sinh trưởng tốt cả ở miền Nam và miền Bắc Việt Nam Tùy theo ở phía Nam hay phía Bắc mà quế có thể phân bố từ độ cao 200m (ở phía Bắc) cho đến
Trang 12600 – 800m (ở phía Nam), nơi có khí hậu ôn hòa nhiệt độ từ 20 – 290C, độ ẩm không khí cao >85% và chỉ số khô hạn thấp (< 0,3) và có lượng mưa hàng năm cao (2.000 - 4.000 mm)
Quế là cây trung tính, cây quế lúc nhỏ cần có bóng che thích hợp, ở 1 – 2 năm đầu cần độ tàn che 40 – 60% ánh sáng trực xạ Khi lớn lên, mức độ chịu bóng giảm dần và mức độ ưa sáng ngày một tăng, đến năm thứ 3 – 4 thì cây quế hoàn toàn ưa sáng
Quế là cây rất mẫn cảm với nhiệt độ, ở tuổi vườn ươm quế chỉ chịu được nhiệt độ 40 – 450C, cây trên rừng khả năng chịu nhiệt của lá quế có khá hơn 45 –
480C Đặc điểm kém chịu nóng này có thể là nguyên nhân giới hạn vùng phân bố của Quế [58]
1.1.3 Thành phần hóa học và công dụng của Quế
1.1.3.1 Thành phần hóa học:
Hàm lượng tinh dầu trong vỏ Quế khá cao (1 – 4%), còn trong lá và cành non thường thấp (0,3 – 1,8%) Tinh dầu từ vỏ có màu nâu nhạt, sánh, vị cay, thơm, ngọt, nóng, nặng hơn nước; Với thành phần chính là E-cinamicaldehyde (70 - 95%); ngoài ra còn khoảng 100 hợp chất khác Tinh dầu từ lá quế thường có màu nâu đậm
và thành phần chủ yếu cũng là(E)-cinamicaldehyde (60-90%) Hàm lượng
(E)-cinamicaldehyde quyết định chất lượng của tinh dầu quế Tinh dầu quế thương phẩm trên thị trường thế giới đòi hỏi hàm lượng (E)-cinamicaldehyde trong khoảng 75-95% (ISO: >80% (E)-cinamicaldehyde) Ngoài tinh dầu, trong vỏ quế còn chứa tanin, chất nhựa, đường, calci oxalat, coumarin và chất nhầy… [57]
1.1.3.2 Công dụng Quế
* Trong y học:
- Theo nghiên cứu của hội hóa học Hoa Kỳ “Mùi hương của tinh dầu Quế giúp cải thiện trí tuệ con người” Khi ngửi mùi hương này giúp nâng cao sức tập trung, ghi nhớ và xử lý các hình ảnh nhanh và chính xác khi đang làm việc với máy tính
Trang 13- Có tác dụng kích thích tuần hoàn máu, hô hấp tăng lên, kích thích tăng bài tiết, tăng cường co bóp tử cung, tăng nhu động ruột
- Tinh dầu Quế dùng để xoa bóp vùng đau bầm tím do chấn thương, đánh gió khi cảm
- Tinh dầu Quế có tác dụng làm ấm toàn than, khử mùi hôi, trừ cảm cúm, cảm lạnh, tiêu chảy, có tác dụng kích dục, giảm buồn phiền, chống đau cơ
- Quế được coi là một trong bốn vị thuốc rất có giá trị (Sâm, Nhung, Quế, Phụ) Nhục Quế có vị ngọt cay, tính nóng, thông huyệt mạch làm mạnh tim, tăng sức nóng, chữa các chứng trúng hàn, hôn mê mạch chạy chậm, nhỏ, yếu (trụy mạch, huyết áp hạ) và dịch tả nguy cấp
- Tinh dầu Quế có tính sát trùng mạnh làm ức chế nhiều loại vi khuẩn đặc biệt là vi khuẩn tả Ở các nước Châu Âu Quế được sử dụng là thuốc chữa các bệnh đau bụng tiêu chảy, sốt rét, ho và một số bệnh khác (Nguyễn Văn Thực và các cộng tác viên, 2012)[1]
* Trong công nghiệp, thực phẩm:
- Quế được sử dụng một khối lượng lớn để làm gia vị vì Quế có vị thơm, cay
và ngọt có thể khử bớt được mùi tanh, gây của cá, thịt, làm cho các món ăn hấp dẫn hơn, kích thích được tiêu hóa
- Quế còn được sử dụng trong các loại bánh kẹo, rượu như: bánh quế, kẹo quế, rượu quế được sản xuất và bán rộng rãi Bột quế còn được nghiên cứu thử nghiệm trong thức ăn gia súc để làm tăng chất lượng thịt các loại gia súc, gia cầm
- Quế được sử dụng làm hương vị, bột quế được trộn với các vật liệu khắc để làm hương, khi đốt lên có mùi thơm, được sử dụng nhiều trong các lễ hội, đền chùa, thờ cúng trong nhiều nước châu Á nhất là các nước có đạo Phật, đạo Khổng Tử, đạo Hồi
- Gần đây nhiều địa phương còn sử dụng gỗ Quế, vỏ Quế để làm ra các sản phẩm thủ công mỹ nghệ như bộ khay, ấm, chén bằng vỏ Quế, đĩa Quế, đế lót giầy
có Quế
- Một số dân tộc châu Á dùng quả chin và nụ hoa Quế lấy hương thơm làm bánh và ướp chè hay thay nước hoa
Trang 14- Ở Ấn Độ, Quế được sử dụng rộng rãi như một thứ gia vị chủ yếu để chế biến thức ăn
- Gỗ Quế được dùng làm đồ gia dụng và ván ép Người Dao ở miền Bắc và một số dân tộc ở huyện Trà My (Quảng Nam) và Trà Bồng (Quảng Ngãi), (Nguyễn Văn Thực và các cộng tác viên, 2012)[1]
1.1.4 Giá trị kinh tế
Quế là cây đa tác dụng Vỏ và quả Quế dùng làm thuốc, lá và vỏ khô cho tinh dầu và làm gia vị, gỗ dùng trong xây dựng và làm đồ dùng gia đình Đây là loài cây cho hiệu quả kinh tế cao và được trồng ở nhiều nơi
Theo tài liệu thống kê cho thấy: Nếu 1ha Quế sau chu kỳ 15 – 20 năm thu được 1,5 – 2 tấn vỏ trị giá 15 – 20 triệu đồng tương ứng với 10 tấn thóc Để thu được 10 tấn thóc phải canh tác trên 10ha lúa nương (sản lượng lúa nương 1 tấn/1ha/năm) hoặc 20ha sắn hoặc ngô
Tuy nhiên trồng cây trên đất dốc không tiến hành liên tục trong 10 năm được
vì sau 3 – 5 năm lại bỏ hoang rồi mới trở lại canh tác Như sau trong 10 năm 1ha lúa nương chỉ canh tác được 3 – 5 năm và cho sản lượng 3 – 5 tấn thóc
Ngoài ra trồng cây lương thực trên đất dốc liên tục còn làm tăng xói mòn đất, giảm độ phì đất, trong khi đó rừng Quế thuần loài ở 5 – 6 tuổi đã khép tán, dưới tán rừng Quế cây bụi thảm tươi phát triển, đất được bảo vệ và lượng lá rơi rụng có tác dụng cải tạo đất (Nguyễn Văn Thực và các cộng tác viên, 2012)[1]
1 Tr n T ế iới
1.2.1 Nghiên cứu về chọn lọc cây trội và xác định sản lượng vỏ, sản lượng tinh dầu loài Quế
Trên thế giới, Quế được trồng ở Ấn Độ, Indonesia, Trung Quốc Quế Ấn Độ
(được gọi là cây teijat vùng Hindi) có tên khoa học là C.tamala Ness là loài cây nhỏ,
thường xanh Lá của loài cây này có vị nóng như hành và mùi nhẹ như hạt tiêu Lá Quế Ấn Độ được sử dụng rộng rãi trong dân chúng vùng phía Bắc Ấn Độ như một thứ gia vị chủ yếu để chế biến thức ăn cho con người [35]
Vỏ của loài C.tamala là nguyên liệu chính của một loại gia vị có tên gọi là teijat được buôn bán trên thị trường C tamala phân bố ở hầu hết các vùng Himalaya
Trang 15nhiệt đới, cận nhiệt đới và mở rộng đến vùng Đông Bắc Ấn Độ, đến độ cao 2.000m Loài cây này cũng mọc ở Nêpal, Băng La Đét và Myanma Trong thời gian 1994 –
1997, Baruah và Nath đã xác định được 5 taxon của loài Cinnamomum là: C tamala, C bejolghota, C impressinervirum, C supuuratum và 1 taxon chưa biết tên
ở vùng Đông Bắc Ấn Độ (Akahil B và Subhan C Nath., 2004) [32]
Quế In-đô-nê-si-a có tên khoa học là C burmannii Nees hay Quế Java, Quế
Fagot, Quế Padang, Quế Batavia, Quế Korintji, Quế Vera Quế Inđônêsia hay Quế cinamon là vỏ khô của cây Quế C burmannii mọc ở vùng Inđônêsia – Malaysia và được trồng làm hàng hóa ở bán đảo Timor Quế Inđonêsia có phân bố từ mặt biển đến độ cao 2.000m Trung tâm trồng Quế là vùng Padang, ở độ cao từ 500 – 1.300m Một biến chủng của loài này có lá non màu đỏ sinh trưởng ở độ cao hơn trong vùng núi Korintji (còn gọi là Kerinci) Loại này chất lượng tốt hơn và được buôn bán trên thị trường thế giới với tên gọi Quế Korintji (cinnamom and cassia [CRS.PRESS.2004])[38] Trung tâm chính gây trồng Quế là Jambi và Đông Sumatra có diện tích mỗi vùng khoảng 59.490 ha và 28.893 ha với sản lượng 42.590 tấn vỏ Quế Cinamon Hầu hết sản lượng vỏ được xuất khẩu, số lượng dùng trong nước rất ít Năm 1998, Inđônêsia xuất khẩu 36.202 tấn vỏ, thu được 31,7 triệu USD Thị trường nhập khẩu chính là Mỹ, Đức, Hà Lan Khoảng 85 – 90% sản lượng xuất khẩu đều từ Đông Sumatra (M Hasah và cộng sự; Indian cassia -Cinnamomum and cassia, [CRS PRESS, 2004]) [38]
1.2.2 Nghiên cứu về kỹ thuật tạo cây con và gây trồng loài Quế
Ở Inđônêsia hạt Quế được gieo trên luống ở vườn ươm có chiều rộng 1m, trên đó có bón phân và che bóng Hạt được gieo với cự ly 5x5m ở độ sâu 1cm Sau
15 – 20 ngày hạt bắt đầu nảy mầm và khi cây con khoảng 2 tháng tuổi được chuyển vào bầu PE trong đó có hỗn hợp phân bón Ở đây người ta huấn luyện cây bằng cách thay đổi dần độ che bóng Cự ly trồng thường là 1x1m Kích thước hố trồng là
30x30x30 cm với cây con có bầu Ở vùng Sumatra loài Tephrosia candia được
khuyến cáo như loài cây phòng hộ cho Quế Loài cây này được gieo theo hàng với
cự ly 1m trước khi trồng Quế 6 tháng Sau đó Quế được trồng trong hàng Tephrosia
Trang 16candia Cành của cây Tephrosia candia được cắt và rải đều trong diện tích trồng
Quế Quế có thể được trồng xen với lạc và gừng trong 1 -2 năm đầu (Akahil Baruah
và Subhan C Nath, 2004) [32]
Rừng Quế ở đây được chăm sóc như đối với cây rừng Ngoài chăm sóc về lâm sinh và phân bón, tác động duy nhất là tỉa các cành thấp ở thân cây Phân bón được khuyến cáo là NPK với tỷ lệ 15-15-15, liều lượng 40 – 100kg/ha tùy thuộc tuổi cây, nhưng người trồng Quế hiếm khi sử dụng phân bón (dẫn theo Nguyễn Kim Dao, 2004) [46]
Ở Ấn Độ, cây teijat được trồng với cự li 3m x 2m Cây con được gieo trên luống và trồng khi cây 4 – 5 tuổi Khi cây 8 – 10 tuổi được khai thác lá cho đến hàng trăm tuổi Lá già được thu từ tháng 10 – 12 đến tháng 3 năm sau Lá được thu hàng năm ở các cây trẻ, khỏe và luân phiên đối với cây già và yếu Lá thường được
bó thành từng bó, phơi ngoài nắng, rồi đem bán Sản lượng mỗi cây khoảng 9 – 19 kg/năm Trồng teijat là một bộ phận trong hệ thống nông lâm kết hợp ở Ấn Độ (cinnamom and cassia CRS PRESS 2004) [38]
Ở Trung Quốc, Quế Bình là địa phương trồng Quế nhiều nhất tỉnh Quảng Tây với khoảng 40% diện tích đất rừng Cây để trồng rừng kinh tế ở Quế Bình là các loài Quế, Hồi, Long não Mục tiêu trồng Quế ở đây là lấy vỏ, tuy nhiên trong năm đầu, trước khi khai thác tận thu lá lần cuối để cất tinh dầu Trong quá trình trồng có bón 150 – 250g NPK/cây Quế được trồng ở 10 xã của Quế Bình với diện tích 6.800 ha Hàng năm người dân ở đây thu được khoảng 1.000 tấn và 70 tấn tinh dầu Riêng ở xã Đông Hưng đã có 60 ha rừng trồng Quế , 132 ha rừng Bạch Đàn Quế được trồng hỗn giao với Hồi và sau khi khai thác Quế để lại Hồi Hạt giống Quế được thu từ các cây cao to trong vườn của các gia đình tại địa phương và chưa
có chọn lọc giống Cây giống để trồng rừng là cây 2 năm tuổi có chiều cao trên 50
cm Mục tiêu trồng Quế ở đây là lấy vỏ, tuy nhiên trong năm đầu, trước khi khai thác tận thu lá lần cuối để cất tinh dầu Trong quá trình trồng có bón 150 – 250g NPK/cây Ở tuổi 9, Quế có đường kính khoảng 7 – 8 cm, chiều cao khoảng 5 – 6m Đất trồng Quế là đất felarit vàng đỏ có hàm lượng sét cao, tầng đất mỏng, xấu,
Trang 17nghèo dinh dưỡng Quế ở đây thường bị bệnh khô lá với tỷ lệ rất cao Biện pháp xử
lý thường là chặt bỏ các cây bị bệnh… (Nguyễn Kim Dao, 2004) [46]
Ngô Châu, Quảng Tây nơi có khí hậu rất gần với Việt Nam, vì vậy ở đây rất thích hợp với trồng Quế, Hồi, Bạch đàn Tổng diện tích đất lâm nghiệp của Ngô Châu khoảng 924.000 ha trong đó đất trồng Quế là 50.000 ha Quế là một loài cây trồng truyền thống ở địa phương Vỏ Quế và tinh dầu Quế là mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Ngô Châu Công tác chế biến vỏ Quế trước đây thường làm thủ công nay đã chuyển sang tinh chế (dẫn theo Nguyễn Kim Dao, 2004) [46]
Quế ở vùng Ngô Châu được kinh doanh như sau: 5-6 năm sau khi trồng chặt lấy vỏ và lá để bán hay cất tinh dầu Gốc Quế được để lại để kinh doanh quế chồi sau 5-6 năm sẽ cho thu hoạch lần 2 Số chu kỳ tùy thuộc vào điều kiện đất đai và chăm sóc Nếu đất tốt cộng với chăm sóc đầy đủ thì có thể thu hoạch như vậy cho đến khi nào cây sinh trưởng kém mới tiến hành trồng lại Vỏ Quế Ngô Châu được xuất khẩu với tên gọi là Quế Tây Giang
Năm 1970, Trung Quốc có nhập giống Quế thanh hóa của Việt Nam về trồng Cây Quế chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu cây trồng rừng ở Quảng Đông và Quảng Tây Tuy nhiên ở vùng này, Quế vẫn chỉ được trồng bằng cây hạt và chưa chú ý đến công tác chọn giống Ở cả 2 địa phương, Quế được trồng để lấy vỏ và lá Tuy nhiên thu hoạch lá Quế vẫn là chủ yếu, đó là cách lấy ngắn nuôi dài mang lại hiệu quả kinh tế cao và phù hợp với đời sống của bà con dân tộc vùng núi
Như vậy, giá trị của cây Quế không những nó là một loài cây thuốc quý mà còn có thể làm gia vị thực phẩm và phục vụ cho việc sản xuất, chế biến gỗ Ở nhiều nước trên thế giới, điều kiện tự nhiên không thích hợp để trồng Quế nên nhu cầu nhập khẩu ngày càng cao Ở một số nước như Ấn Độ, Trung Quốc, In-đô-nê-si-a đã đầu tư trồng rừng kinh doanh các sản phẩm từ cây Quế từ lâu và mang lại hiệu quả thiết thực Do đó, hiện nay Việt Nam cũng đang áp dụng các biện pháp nghiên cứu kinh doanh rừng trồng Quế mang lại thu nhập cho người dân ở các tỉnh miền núi
Trang 181.3 Ở Việt Nam
1.3.1 Nghiên cứu chung về cây Quế
1.3.1.1 Nghiên cứu phân loại Quế
Ở lĩnh vực nghiên cứu này có lịch sử tương đối dài như đã nêu, tuy nhiên số lượng công trình nghiên cứu không nhiều Về công dụng của các bộ phận trên cây Quế chủ yếu là làm thuốc, giá trị dược liệu của các bộ phận này phụ thuộc vào kỹ thuật khai thác, chế biến vỏ Quế
Về phân loại, mặc dù có một số tác giả như nghiên cứu về phân loại, nhưng nghiên cứu của Trần Hợp (1976, 1984) là tương đối hệ thống và đầy đủ nhất Theo
Trần Hợp, Quế là tên gọi của nhiều loài trong chi Quế (Cinamomum), thuộc họ
Lauraceae với đặc trưng là vỏ có dầu thơm, cay nồng, dùng làm thuốc, hương liệu hay gia vị Tác giả cũng đã thống kê có tới 18 loài với tên gọi là Quế và nơi phân bố của chúng ở trong nước và ở một số nước khác Ngoài ra, tác giả cùng mô tả về đặc
điểm hình thái khác nhau của những loài Quế này và kết luận “Cinamomum cassia
là loài Quế có nguồn gốc tại Việt Nam, là nguyên sản tại Việt Nam nên nó còn có tên gọi là Quế Giao Chỉ” Như vậy, cũng theo Trần Hợp ở Yên Bái là loài Quế có
tên khoa học Cinnamomum cassia
Đỗ Tất Lợi (1985) , thì ở Việt Nam có 3 loài Quế chính là:
- Quế thanh hóa Theo Ness (1838), Lecomte (1913), Chevalier (1919) và
Merril (1935) Quế thanh hóa có tên khoa học là Cinnamonmum loureireii Ness Nhưng Perrot và Eberhadt (1909) cho rằng đây là một biến chủng của loài Cinnamomum obtusifolium Ness Theo các tác giả thì loài này phân bố chủ yếu ở dãy Trường Sơn từ
Bắc Thanh Hóa đến Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Quảng Ngãi
- Quế Trung Quốc hay Quế đơn, Quế bì (Cinnamomum cassia Blume) phân
Trang 191.3.1.2 Nghiên cứu chọn tạo giống
Trong báo cáo về chọn giống có năng suất tinh dầu cao, Lê Đình Khả và cộng sự (2003)[15], cho biết đã chọn 19 cây trội ở rừng trồng 9 và 12 tuổi và thu được kết quả sau: những cây trội được chọn đều có độ vượt trội về diện tích vỏ từ
72 – 102% so với trị số trung bình của đám rừng Trong tổng số 19 cây trội, có 5 cây trội đã được phân tích tinh dầu và 4 cây trội có hàm lượng tinh dầu cao hơn đối chứng (hàm lượng tinh đầu cây trội từ 0,84 – 1,89%, cây đối chứng 0,38%) Tác giả
đã thí nghiệm 3 phương pháp ghép là ghép nối cành, ghép áp cành và ghép mắt, kết quả cho thấy ghép nối cành có tỷ lệ sống cao hơn 2 phương pháp còn lại Đây là công bố đầu tiên về chọn giống Quế theo sinh trưởng và tinh dầu Tuy nhiên không
có những nghiên cứu lý giải tại sao hàm lượng tinh dầu ở đây lại thấp như vậy
Nguyễn Huy Sơn (2006) [22], nghiên cứu chọn và nhân giống Quế có năng suất tinh dầu cao Kết quả bước đầu đã chọn được 79 cây trội với các chỉ tiêu sinh trưởng cao hơn các cây xung quanh từ 9 – 75,7% về đường kính, từ 5 – 54,9% về chiều cao vút ngọn và từ 5 – 63,9% về chiều cao dưới cành Hàm lượng tinh dầu trong vỏ của các cây trội đều đạt từ 2,2 – 5,15%, hàm lượng cinamic aldehyde đạt
từ 89,9 – 98,1% Phương pháp ghép nêm có triển vọng hơn các phương pháp ghép mắt, ghép áp và giâm hom Thời vụ ghép thích hợp vào tháng 10, đường kính gốc ghép từ 0,5 – 0,7cm và vật liệu ghép lấy từ cây 10 -13 năm tuổi cho tỷ lệ sống của cây ghép từ 55,6 – 63,3%
1.3.1.3 Nghiên cứu kỹ thuật trồng và khai thác
Để xác định thể tích vỏ cây đứng trên cơ sở xác lập mối liên hệ đường thẳng bậc nhất rất chặt và không phụ thuộc vào tuổi cây giữa đường kính 1,3m không bỏ (du) và đường kính cả vỏ (d), từ đó tính bề dày vỏ (B1,3 = d – du) theo công thức:
Trang 20Hàm biểu thị tốt nhất cho quy luật sinh trưởng chiều cao vút ngọn (Hvn) là hàm Gompertz:
Hvn = 25 exp [-3,595.exp (-0,1235.A)]
Với sai số của phương trình là ∆% = 4,29 và r = 0,997
Quy luật sinh trưởng thể tích (V) cả vỏ của Quế được biểu thị qua hàm Gompertz:
V = 220 Exp [-10,3175 Exp (-0,1661 A)]
Quy luật biến đổi của suất sinh trưởng thể tích vỏ (Pv) được mô phỏng bằng hàm Meyer:
Từ những phương trình trên đã đi đến nhận xét ở tuổi 8 nếu khai thác Quế đã cho NPV > 0, nghĩa là đã có lãi, tuy nhiên khai thác ở tuổi này số lượng và chất lượng vỏ Quế thấp, vỏ mỏng, hàm lượng tinh dầu thấp
Ở tuổi 25 suất tăng trưởng về thể tích vỏ thấp, Pv nhỏ, quá tuổi này thể tích
vỏ hầu như không tăng nên không có lợi cho người kinh doanh, nghĩa là nên khai thác trước tuổi 25
Nếu khai thác ở tuổi 15 – 16 sẽ giải phóng được quỹ đất, ngược lại khai thác sau tuổi 10 sẽ cho lợi nhuận NPV cao, nhưng chu kỳ dài, vòng quay vốn chậm
Vì vậy, khai thác hợp lý nhất ở tuổi 14 – 18 vừa cho sản lượng và chất lượng cao, vừa quay vòng vốn nhanh, hạn chế được rủi ro trong kinh doanh, phù hợp với khả năng đầu tư và trình độ quản lý của đại bộ phận nông dân hiện nay (Phạm Xuân Hoàn, 1999) [11]
Để lập biểu sản lượng cho rừng trồng Quế thuần loài đều tuổi ở huyện Thường Xuân – tỉnh Yên Bái, dựa vào quan hệ sản lượng vỏ và đường kính và chiều cao lâm phần để xây dựng biểu sản lượng vỏ
Trang 21Từ tuổi lâm phần, đường kính 1,3m; chiều cao vút ngọn có thể tính ra được khối lượng vỏ khô ở từng cấp đất (Phạm Xuân Hoàn, 1995)
Để xác định thể tích và khối lượng khô của từng loại sản phẩm vỏ đã dung phương trình đường sinh để lập biểu sản phẩm quế trồng ở Thanh Hóa Dựa vào đường kính (D1,3) và chiều cao vút ngọn (Hvn) dùng thuật toán đã lập được biểu thể tích vỏ và khối lượng vỏ quế khô (Phạm Xuân Hoàn và Hoàng Xuân Y, 1999)[11]
Uhlig, 1997 đã tiến hành nghiên cứu về cây Quế ở miền Bắc Việt Nam với các nội dung sau:
- Tương quan giữa độ dày của vỏ với đường kính 1,3m của cây
- Tương quan giữa độ dày của vỏ với đường kính trung bình 1,3m
- Quan hệ giữa sản lượng vỏ bình quân với đường kính 1,3m
- Hàm lượng tinh dầu trong vỏ với độ dày của vỏ
1.3.2 Nghiên cứu về chọn lọc cây trội và xác định sản lượng vỏ, sản lượng tinh dầu loài Quế
Ở Việt Nam, phương pháp cấy tiêu chuẩn bình quân là phương pháp có thể
áp dụng được để nghiên cứu sản lượng vỏ trong đó có loài Quế Bởi vì, khi “xác định cây bình quân ở một lâm phần cụ thể thực chất là xác định cây đại diện cho quy luật sinh trưởng ở một vùng có điều kiện sinh thái nhất định có những biện pháp tác động giống nhau” (Vũ Tiến Hinh – 1993)[7] Thực chất phương pháp thể
tích vỏ cũng dựa trên cơ sở lựa chọn cây tiêu chuẩn ở phương pháp xác định cây tiêu chuẩn bình quân
*Nghiên cứu chọn lọc cây trội:
Quế (Cinnamomum cassia BL.) là cây đặc sản có giá trị kinh tế cao Tinh
dầu Quế là nguyên liệu quí trong công nghiệp dược phẩm và thực phẩm Hầu hết các giống Quế đang trồng rừng hiện nay là giống chưa được cải thiện Việc chọn giống và nhân giống Quế có năng suất tinh dầu cao là cần thiết Kết quả bước đầu
đã chọn được 79 cây trội với các chỉ tiêu sinh trưởng cao hơn các cây xung quanh từ 9,0-75,7% về đường kính, từ 5,0-54,9% về chiều cao vút ngọn và từ 5,0-63,9% về chiều cao dưới cành Hàm lượng tinh dầu trong vỏ của các cây trội đều đạt từ 2,2-
Trang 225,15%, hàm lượng cinamic aldehyde đạt từ 89,90-98,10% Phương pháp ghép nêm
có triển vọng hơn các phương pháp ghép mắt, ghép áp và giâm hom, thời vụ ghép thích hợp vào tháng 10, đường kính gốc ghép từ 0,5-0,7cm, vật liệu ghép lấy từ cây
10-13 năm tuổi, tỷ lệ sống của cây ghép đạt từ 55,6-63,3% [58]
*Xác định sản lượng vỏ, sản lượng tinh dầu loài Quế:
Tinh dầu Quế được cất từ lá, vỏ trong đó tinh dầu từ vỏ có chất lượng cao Hàm lượng tinh dầu trong vỏ Quế thay đổi từ 0,5 – 5% và trung bình là 1 -2%, trong lá 0,5 -0,6%, trong cành 0,3 – 0,33% Thành phần chủ yếu của tinh dầu Quế là
cinamic aldehyde với hàm lượng từ 65 – 95%, và tùy theo nguồn gốc, thành phần thì giá trị thay đổi, cho nên khi nói đến tinh dầu Quế phải nói rõ tinh dầu được lấy
từ vùng nào và từ bộ phận nào trên cây (Đỗ Tất Lợi, 1985)[17]
Hàm lượng tinh dầu Quế phụ thuộc vào địa điểm trồng, tuổi cây, thời gian lấy mẫu, các bộ phận trên cây và cả vị trí lấy mẫu trên một cây
Hàm lượng tinh dầu được xác định dựa vào lượng tinh dầu thu được và lượng mẫu nguyên liệu từ mẫu phân tích Xác định hàm lượng cinamic aldehyde: tinh dầu được làm khô nước bằng Natri Sunphat khan Xác định hàm lượng các chất
có trong tinh dầu bằng máy sắc khí SHIMATZU GC9 Dựa trên sắc khí đồ trên máy sắc khí để xác định hàm lượng cinamic aldehyde trong tinh dầu quế
1.3.3 Nghiên cứu về kỹ thuật tạo cây con và gây trồng loài Quế
Cây quế trong rừng tự nhiên thường mọc hỗn giao với nhiều cây lá rộng như re, sau sau, kháo, nhội, mỡ, bồ đề, săng lẻ, bứa Lúc còn nhỏ cây quế cần có che bóng thích hợp mới sinh trưởng phát triển tốt được, nhưng lớn lên là cây ưa sáng hoàn toàn
Những cây quế trong rừng có đủ ánh sáng đều cho vỏ dày nhiều dầu, năng suất
vỏ cao và chất lượng vỏ tốt Cây quế trồng sau 8-10 năm thì bắt đầu ra hoa kết quả, quế ra hoa vào tháng 4, 5 và chín vào tháng 1, 2 có thể thu hái hạt chín trên cây, hoặc thu nhặt quả chín rơi rụng quanh gốc cây mẹ Hạt quế là loại hạt có dầu, khi bảo quản nếu gặp nhiệt độ cao, ẩm độ thấp, ánh sáng mạnh, thì hạt sẽ bị chảy dầu và mất khả năng nảy mầm Trong tự nhiên sự phát tán của hạt quế có thể nhờ chim,
Trang 23động vật ăn quả và thải hạt ra qua đường phân, có thể tái sinh ngay gốc cây mẹ, cũng có thể phát tán theo dòng nước chảy hoặc do chính con người đem hạt quế đi các nơi khác để trồng
Quế cũng có khả năng sinh sản vô tính bằng chiết cành giâm hom, nhưng trong nhân dân khả năng tạo giống bằng chiết cành, giâm hom còn ít được sử dụng do tỷ
lệ cây hom ra rễ còn thấp và giá thành cao
Những cây quế trên 15 tuổi, bắt đầu sinh trưởng ổn định, cho nhiều quả và chất lượng hạt giống ổn định về di truyền, chu kỳ sai quả thường 2 đến 3 năm một lần, nên chọn những cây sinh trưởng và phát triển tốt, tán rộng, cân đối, không bị sâu bệnh và nhất là hàm lượng tinh dầu trong vỏ cao để làm cây lấy giống Vấn đề chọn giống và gây trồng rừng quế là yêu cầu cấp bách hiện nay
Quế mỗi năm có hai mùa sinh trưởng, mùa sinh trưởng chính vào các tháng 2, 3,
4 và mùa sinh trưởng phụ vào các tháng 8, 9 Vào mùa sinh trưởng trớc khi xuất hiện chồi lá non, lượng nước và tinh dầu trong vỏ quế đều tăng lên, vỏ mầm dễ bóc
ra khỏi thân, vì vậy đây cũng là mùa khai thác vỏ quế
* Nghiên cứu một số chỉ tiêu phẩm chất gieo ươm và kỹ thuật bảo quản hạt Quế
Đồng bào Dao, Mường, Thái xưa kia khi yêu cầu giống quế không nhiều, họ chỉ cần đào, bứng các cây con tái sinh trong rừng đem về trồng, về sau do yêu cầu cây giống ngày một nhiều lên, con người đã biết lợi dụng quy luật tái sinh tự nhiên bằng cách xúc tiến tái sinh cây giống ngay dưới gốc cây mẹ và nhờ đó đã tạo được nhiều cây con hơn Những nơi nhân dân gây trồng quế nhiều, nhất thiết phải thiết lập vườn ươm với quy mô từ nhỏ đến lớn để gieo ươm cây giống cho trồng rừng một bản, một xã hay cả một vùng theo quy hoạch
Gieo ươm quế cũng như nhiều loại cây rừng khác, phải chọn đất thích hợp, phải
có dàn che và điều chỉnh ánh sáng, bón phân, thường xuyên chăm sóc cây khi cây còn nhỏ Hiện nay áp dụng kỹ thuật ươm quế có bầu đã đem lại hiệu quả cao, cây giống sau một năm ở vườn thường đạt được chiều cao bình quân 30cm, có 10-14 lá, đường kính cổ rễ từ 0,5-0,7cm
Nguyễn Huy Sơn (2001)[21], đã tiến hành thu hái quả chín từ 30 cây mẹ có tuổi từ 25 - 30 năm, ở rừng trồng của các gia đình ở xã Đại Sơn, Văn Yên, Yên Bái
Trang 24cho kết quả: trọng lượng của quả và hạt Quế có hệ số biến động rất lớn, trung bình 1,0 kg quả có 2.000 quả, nhưng phạm vi biến động từ 1.447 – 2.438 hạt, tỷ lệ nảy mầm ban đầu của hạt Quế đạt khá cao (92,5%); hạt Quế thuộc nhóm hạt ưa ẩm và khó bảo quản, có thể cất trữ trong điều kiện 50C và độ ẩm hạt lớn hơn 40%, sau 9 tháng tỷ lệ nảy mầm vẫn còn đạt 25% Với phương pháp bảo quản này, hạt có thể cất trữ trong thời gian dài hơn nhiều so với phương pháp cất trữ truyền thống của nhân dân địa phương (trộn hạt với cát ẩm bảo quản nơi râm mát, thời gian bảo quản chỉ đạt 2 – 3 tuần)
Hoàng Cầu và Nguyễn Hữu Phước (1991) khi nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu
kỹ thuật, sơ chế và bảo quản vỏ Quế xuất khẩu” đã đưa ra một số kết luận:
- Tuổi cây Quế tăng tỷ lệ thuận với lượng tăng trưởng của vỏ Quế và không nên khai thác Quế dưới 12 tuổi
- Mật độ trồng Quế có quan hệ chặt chẽ với đường kính cây, độ dầy vỏ và hàm lượng tinh dầu của vỏ Quế Với chu kỳ kinh doanh 15 – 20 năm mật độ cuối cùng để lại 600 – 800 cây/ha là thích hợp
- Có thể khai thác vỏ Quế nhiều lần trên 1 cây, mỗi lần bóc 1/4, 1/3 hay 1/2 diện tích vỏ về một phía Tuy nhiên, khai thác chọn theo cấp kính hay khai thác trắng được áp dụng trong sản xuất
- Không nên phơi Quế ra ngoài nắng hoặc gác lên sàn bếp, không để ngoài mưa, sương đêm khi sơ chế Quế Tuy nhiên, các tác giả cũng chưa đưa ra các số liệu chứng minh cho các kết luận trên
Trang 25- Trồng Quế xen cây nông nghiệp: cây nông nghiệp chủ yếu là lúa nương, sắn Phương thức này vừa tận dụng được đất để trồng cây nông nghiệp vừa sử dụng lúa nương, sắn che bóng cho Quế ở giai đoạn ban đầu Mô hình này thường được sử dụng ở Trà Bồng (Quảng Ngãi), Quảng Hà (Quảng Ninh), Văn Yên (Yên Bái)
- Trồng Quế vườn hộ gia đình: Quế được trồng trong các vườn hộ gia đình
có các cây ăn quả Ở đây, cây Quế được chăm sóc đầy đủ nên sinh trưởng nhanh vì thế 2-3 năm đã vượt cao Mô hình thường sử dụng ở Ngọc Lặc, Thường Xuân (Thanh Hóa), Quế Phong (Nghệ An), Tiên Phước (Quảng Nam)
- Quế trồng thuần loại: ở mô hình này Quế được trồng ở mật độ dày sau đó tỉa thưa ở năm thứ 5 để lại rừng Quế thuần loại Ở các vườn đồi vùng Yên Bái thường được trồng theo phương thức này
Về mật độ trồng Quế hiện nay rất khác nhau, có thể 2.000 cây/ha đến 10.000 – 20.000 cây/ha tùy theo địa phương
Quy phạm trồng Quế ban hành năm 2000 (TC ngành: 04 – TCN-23-2000) quy định mật độ trồng từ 2.500 cây đến 3.000 cây/ha Tuy nhiên, trong thực tế mật
độ trồng rất khác nhau Tại các vườn đồi ở vùng Phú Thọ và Tuyên Quang, Quế thường được trồng với mật độ 1.650 – 2.000 cây/ha Quế thường được trồng xen lẫn với cây ăn quả với mật độ từ 300 – 500 cây/ha Ở Thanh Hóa, Nghệ An, trồng dưới tán rừng ở Quảng Nam 1.000 – 2.000 cây/ha; mô hình nông lâm kết hợp ở Văn Yên (Yên Bái) 3.300 – 5.000 cây/ha; ở Trà Bồng (Quảng Ngãi) có nơi trồng đến 20.000 cây/ha Tuy nhiên, ở các vùng trồng thuần loài mật độ trung bình là 3.000 – 5.000 cây/ha
1.4 T ảo luận và xác địn vấn đề n i n cứu
Đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước đối với cây Quế Điều đó thể hiện sự quan tâm không chỉ của các nhà quản lý mà còn thu hút sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học đối với loài cây đặc sản giá trị kinh tế cao này Những nghiên cứu đó tương đối phong phú, toàn diện, về các mặt như xác định đặc điểm nhận biết, phân loại, giá trị sử dụng, đặc điểm phân bố, sinh thái, cũng như những nghiên cứu đề xuất các biện pháp kỹ thuật tạo giống, gây
Trang 26trồng Có thể nói rằng, những nghiên cứu đó thực sự đã cung cấp những thông tin cần thiết mở rộng sự hiểu biết của con người nhằm mục đích kinh doanh lợi dụng loài cây đặc sản này ngày càng tốt
Việc nâng cao năng suất chất lượng Quế thanh hóa có một vị trí quan trọng trong việc đảm bảo nguồn sống, tăng thu nhập cho người dân Mặc dù nghiên cứu
về loài Quế đã phát triển mạnh hơn trong những năm gần đây nhưng những nghiên cứu về chọn lọc cây trội loài Quế vẫn còn rất ít và còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết:
- Chưa có một hệ thống tiêu chuẩn chọn lọc cây trội Quế thanh hóa tại khu vực nghiên cứu
- Tinh dầu Quế thanh hóa có quan hệ như thế nào với các đại lượng sinh trưởng?
- Thiếu sự hỗ trợ cần thiết để đưa quy trình kỹ thuật vào thực tiễn phục vụ gây trồng, chế biến và xuất khẩu sản phẩm Quế thanh hóa
- Cần có giải pháp như thế nào để gây trồng và phát triển bền vững loài Quế thanh hóa?
Ngoài những vấn đề trên, hiện nay ở nước ta nói chung và tại địa điểm nghiên cứu nói riêng vẫn tồn tại nhiều bất cập như một rào cản trong việc phát triển lâm sản ngoài gỗ trong đó có loài Quế thanh hóa Đó là những rào cản về cả phương diện xã hội lẫn kinh tế, trong đó có nhận thức chưa đầy đủ của xã hội về giá trị của lâm sản, chính sách hưởng lợi tài nguyên rừng, chính sách đầu tư xây dựng cơ bản vốn rừng, chính sách tín dụng ngân hàng, chính sách khuyến nông, khuyến lâm, gây khó khăn cho công tác phát triển nguồn tài nguyên này
Do đó, đề tài được thực hiện sẽ góp phần nâng cao năng suất, chất lượng tinh dầu và khai thác tối đa tiềm năng của rừng Quế thanh hóa đem lại, từ đó giúp cho người lao động có kỹ thuật sản xuất hiệu quả, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng
cao đời sống cho người dân đồng bào miền núi, vùng sâu vùng xa
Trang 27C ươn MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .1 Mục ti u n i n cứu
2.1.1 Mục tiêu tổng quát
Lựa chọn được một số dòng/ gia đình Quế thanh hóa cho năng suất và hàm lượng tinh dầu cao, góp phần phát triển và bảo tồn các dòng Quế thanh hóa
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Đề xuất được tiêu chí và chọn lọc được một số cây trội loài Quế thanh hóa
- Đánh giá được khả năng sinh trưởng của các dòng cây Quế trong vườn giống Quế ghép tại Thanh Hóa
- Xác định được mối tương quan giữa các đại lượng sinh trưởng với sản lượng vỏ và hàm lượng tinh dầu Quế
Đối tượn và p ạm vi n i n cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Cây Quế trồng thuần loài tại huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu chọn lọc cây trội, bước đầu đánh giá khả
năng sinh trưởng cây Quế ghép trồng ở vườn giống và xác định tương quan giữa các đại lượng sinh trưởng với sản lượng vỏ và hàm lượng tinh dầu Quế
- Phạm vi về không gian: Huyện Thường Xuân – Tỉnh Thanh Hóa
- Phạm vi về thời gian: Từ năm 2015 đến tháng 9 năm 2016
3 Nội dun n i n cứu
2.3.1 Điều tra hiện trạng gây trồng Quế tại Thanh Hóa
2.3.2 Nghiên cứu chọn lọc cây trội loài Quế tại Thanh Hóa
2.3.3 Đánh giá sinh trưởng của cây ghép trong vườn giống vô tính Quế tại
Trang 284 P ươn p áp n i n cứu
2.4.1 Quan điểm và cách tiếp cận
Quế tại Thanh Hóa chủ yếu được trồng theo hướng kinh doanh lấy vỏ để làm thuốc và gia vị chủ yếu Giá trị của vỏ quế lại phụ thuộc rất nhiều vào hàm lượng tinh dầu và hàm lượng cinamic aldehyde có trong vỏ quế Vỏ quế có hàm lượng tinh dầu và hàm lượng cinamic aldehyde càng cao thì giá trị càng cao Tuy nhiên hàm lượng tinh dầu và cinamic aldehyde giữa các cây, giống là khác nhau, nhiều cây cho sản lượng vỏ cao nhưng lại có hàm lượng tinh dầu và cinamic aldehyde thấp dẫn đến giá trị vỏ không cao, hiệu quả kinh tế không cao.Vì vậy, để nâng cao năng suất
và giá trị Quế tại Thanh Hóa, việc lựa chọn giống Quế dựa vào sản lượng vỏ cao là chưa đủ mà cần phải tuyển chọn căn cứ vào hàm lượng tinh dầu và cinamic aldehyde có trong vỏ quế Do đó, đề tài đã áp dụng hướng tiếp cận kết hợp đồng thời giữa lựa chọn số lượng (chọn giống có sản lượng vỏ cao) và chất lượng (giống
có hàm lượng tinh dầu và cinamic aldehyde cao) để tuyển chọn cây trội của giống Quế ở Thanh Hóa vừa cho sản lượng vỏ cao vừa cho hàm lượng tinh dầu cao làm cơ
sở cho phục tráng, bảo tồn và phát triển nguồn gen Quế Tiến trình thực hiện đề tài gồm các bước sau:
- Điều tra, khảo sát lựa chọn các vùng quế tập trung và các mô hình trồng quế tốt trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
- Điều tra, lựa chọn các cây trội dự tuyển trên cơ sở hình thái và các đại lượng sinh trưởng làm cơ sở cho lựa chọn giống cho năng suất vỏ cao
- Phân tích hàm lượng tinh dầu và thành phần cinamic aldehyde làm cơ sở cho lựa chọn giống có hàm lượng và chất lượng tinh dầu cao
- Đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng của cây Quế trong vườn giống vô tính để đánh giá khả năng thích nghi của cây với môi trường sống và đánh giá sinh trưởng
về chiều cao và đường kính của cây vô tính
- Dựa vào các thuật toán thống kê để xác định mối tương quan giữa các đại lượng sinh trưởng và hàm lượng tinh dầu Từ đó, tạo cơ sở đề ra giải pháp nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng trong thời gian dài, ổn định, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân trồng rừng
Trang 29Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu về chọn lọc cây trội Quế, đánh giá khả năng sinh trưởng và xác định tương quan giữa sinh trưởng và hàm lượng tinh dầu đề tài tiếp cận nhân giống sinh dưỡng cây Quế theo hướng ghép cành/ ghép nêm, sau
đó xây dựng vườn giống vô tính từ các cây ghép
2.4.2 Phương pháp cụ thể
* P ươn p áp điều tra hiện trạng gây trồng Quế tại Thanh Hóa
Điều tra xác định hiện trạng gây trồng Quế tại Thanh Hóa được tiến hành theo các bước và phương pháp sau:
Thu thập các thông tin thứ cấp liên quan:
Làm việc với Chi Cục Lâm nghiệp Thanh Hóa và các trung tâm khuyến nông, khuyến lâm, Phòng Nông nghiệp tại huyện Thường Xuân – tỉnh Thanh Hóa để thu thập các thông tin chung về rừng trồng Quế, làm cơ sở để xác định và lựa chọn các địa điểm để điều tra, phỏng vấn và thu thập số liệu trên hiện trường
Phỏng vấn hộ gia đình:
Mỗi xã lựa chọn từ 10-15 hộ đại diện có rừng trồng Quế để thu thập thông tin và đánh giá hiện trạng rừng trồng Quế Các thông tin thu thập được ghi chép vào các mẫu phiếu phỏng vấn, điều tra đã được thiết kế sẵn (Biểu 01)
Các thông tin thu thập qua phỏng vấn bao gồm từ khâu sử dụng nguồn giống Quế để trồng rừng đến các biện pháp kỹ thuật trồng, chăm sóc, nuôi dưỡng rừng Quế và các kỹ thuật, kinh nghiệm trong việc gây trồng, thu hái, sơ chế, chế biến sản phẩm
Điều tra các ô tiêu chuẩn
Áp dụng phương pháp điều tra trên các ô tiêu chuẩn điển hình, tạm thời để điều tra, đánh giá hiện trạng của các rừng trồng Quế ở các hộ tại các xã được lựa chọn Với mỗi rừng Quế hiện có của các hộ được lựa chọn tiến hành lựa chọn các rừng Quế ở các lập địa trồng khác nhau với các giống trồng khác nhau để lập 1 ô tiêu chuẩn (500m2), cụ thể là 33 ô tiêu chuẩn và thu thập các chỉ tiêu liên quan bao gồm:
- Các đặc điểm về lập địa trồng rừng Quế gồm các chỉ tiêu: địa hình, loại đất, độ dốc, thực bì,
Trang 30- Các biện pháp kỹ thuật đã áp dụng để trồng rừng Quế như: giống Quế đã sử dụng trồng rừng, tiêu chuẩn cây con, kỹ thuật làm đất, xử lý thực bì, mật độ trồng,
kỹ thuật trồng, kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng, …
- Đo đếm sinh sinh trưởng, phát triển của rừng Quế: Xác định tuổi rừng trồng và
đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng bao gồm: số thân/gốc, đường kính thân ở vị trí ngang ngực, chiều cao thân, đường kính tán lá, tình hình sâu bệnh hại ,
- Đánh giá khả năng tái sinh của rừng trồng Quế: Trong mỗi ô tiêu chuẩn lập 4 ô dạng bản, mỗi ô có diện tích 16m2 ở 4 góc của ô tiêu chuẩn để điều tra tình hình tái sinh của Quế Trong mỗi ô dạng bản xác định số lượng cây tái sinh, đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng (H, Dt) và chất lượng cây tái sinh
* Phương pháp điều tra cây phân tán:
Thu thập điều tra số liệu trồng cây phân tán từ UBND tỉnh thanh Hóa về triển khai kế hoạch trồng rừng, những cây đã được ngành chức năng kiểm tra cấp chứng nhận nguồn gốc lô giống, đủ tiêu chuẩn xuất vườn, phục vụ kế hoạch trồng rừng trong thời gian gần đây Từ đó ghi chép lại số liệu về cây phân tán được trồng
tại huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa
* P ươn p áp điều tra, thu thập số liệu sinh trưởng, các thông tin về năn suất vỏ phần thân
Áp dụng phương pháp điều tra trên ô tiêu chuẩn điển hình, tạm thời để thu thập các chỉ tiêu về sinh trưởng và diện tích vỏ của các cây trong các lâm phần trồng rừng Quế Với mỗi lâm phần được lựa chọn để chọn lọc cây trội, lập 3 ô tiêu chuẩn để đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng và diện tích vỏ của các cây trong ô Diện tích mỗi ô tiêu chuẩn là 500m2 (đảm bảo tối thiểu có 30 cây/ô) Đo các trị số D1.3,
Hvn, Hdc bằng thước đo đường kính và thước đo cao Kết quả ghi vào biểu điều tra tầng cây cao (Phụ biểu 02)
Thể tích vỏ phần thân được tính theo công thức S = 3,14 D1.3.Hdc
*Điều tra xác định cây trội dự tuyển
Với mục tiêu là chọn lọc được các xuất xứ Quế tại Thanh Hóa cho năng suất
và chất lượng tinh dầu cao hơn 10% so với trung bình quần thể thì việc chọn lọc cây trội ngoài việc quan tâm đến sinh trưởng và sản lượng vỏ còn cần quan tâm đến
Trang 31hàm lượng và chất lượng tinh dầu Để đạt được mục tiêu này thì các bước để chọn lọc cây trội sẽ được tiến hành như sau:
Bước 1: Xác định lâm phần tuyển chọn cây trội
Ở mỗi xuất xứ xác định lâm phần tuyển chọn cây trội Lâm phần được lựa chọn để tiến hành chọn lọc cây trội phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Thuần loài, đồng tuổi và có hoàn cảnh đồng đều
- Tuổi lâm phần thành thục công nghệ hoặc gần thành thục công nghệ và thành thục sinh học (cây đã ra hoa và kết quả ổn định trong 3 năm trở lên), thông thường đối với loài quế tuổi rừng để chọn lọc cây trội từ 15 – 30 năm
- Các cây trong lâm phần có sinh trưởng từ trung bình trở lên; không bị sâu, bệnh hại và chưa bị khai thác hoặc tỉa thưa
Bước 2.Khảo sát trên toàn bộ lâm phần để lựa chọn cây Dự tuyển và lập ô tiêu
chuẩn để đo đếm các chỉ tiêu chọn lọc
1 Tiến hành khảo sát trong toàn khu rừng để chọn những cây đáp ứng yêu mục tiêu của đề tài Những cây được dự tuyển là cây: Thân thẳng, tán phát triển cân đối, cây có đường kính và chiều cao lớn, chiều cao dưới cành cao, vỏ dầy, đã có khả năng cho ra hoa, kết quả, không bị sâu bệnh, chưa bị khai thác vỏ Những cây này được coi là cây trội dự tuyển Bước chọn lọc này chủ yếu là điều tra bằng mắt để xác định cây thích hợp vì vậy bước này đòi hỏi kinh nghiệm và kỹ xảo rất lớn của Nhà chọn giống Nhà chọn giống càng có nhiều kinh nghiệm và kỹ xảo thì cây trội
dự tuyển càng gần khớp với cây trội chính thức
2 Dùng Sơn đỏ đánh dấu (vòng tròn quanh thân cây) cây Dự tuyển, tiếp đó dùng sơn đánh số cây Dự tuyển theo thứ tự từ bé đến lớn và khoanh tròn số thứ tự Sử dụng GPS xác định toạ độ của cây trội dự tuyển, sau đó đánh dấu vị trị cây trội lên bản đồ địa hình hoặc bản đồ hiện trạng rừng ở tỷ lệ 1/5.000 hoặc 1/10.000 Mô tả lại
vị trí của cây trội dự tuyển (đặc biệt là những địa hình địa vật dễ nhận biết ví dụ: gần cây lớn, gần sông, suối…) Dùng máy ảnh chụp lại hình ảnh của cây trội dự tuyển
3 Lập ô tiêu chuẩn có cây dự tuyển: Ô tiêu chuẩn có diện tích đủ lớn để đảm bảo có ít nhất 50 cây cùng loài để so sánh Các chỉ tiêu đo đếm trong OTC như: D1.3, Hvn, Hdc, Dt, Độ dầy vỏ Số liệu được ghi vào biểu sau:
Trang 32STT D1.3 Hvn Hdc Dt (m) Độ dày vỏ
(mm) Ghi chú (cm) (m) (m) ĐT NB
Trong đó, độ dầy vỏ được xác định như sau: Đem chia thân cây thành 2 phần,
ở mỗi phần ta lấy một mẫu vỏ và đo độ dầy bằng thước kẹp panme, như vậy độ dầy
vỏ của cây là giá trị trung bình của 2 mẫu
Bước 3 Xác định cây trội dự tuyển
So sánh lượng vỏ của từng cây trong ô với trị số trung bình của ô tiêu chuẩn Chọn những cây có độ vượt lớn hơn 10% số trung bình quần thể làm cây trội về sản lượng vỏ
Bước 4 Xác định cây trội về năng suất và hàm lượng tinh dầu:
Từ các cây trội về sản lượng vỏ ở trên ta tiến hành lấy các mẫu vỏ đem phân tích để xác định hàm lượng tinh dầu và so sánh với trung bình của quần thể từ đó xác định cây trội về cả năng suất và hàm lượng tinh dầu
* P ươn p áp điều tra đo đếm sin trưởng, phát triển của cây Quế trong vườn giống
Đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng bao gồm: đường kính thân, đường kính gốc, chiều cao thân, đường kính tán lá, tình hình sâu bệnh hại theo định kỳ 3 tháng/lần
Kiểm tra tình hình sinh trưởng, khả năng thích nghi (ghi chép lại những cây sống, chết)
Trong quá trình sinh trưởng và tăng trưởng của cây, ngoài các yếu tố sinh trưởng như: Sinh trưởng về đường kính (D13), chiều cao (Hvn), đường kính tán (Dt) thì chỉ tiêu phẩm chất cây cũng rất quan trọng, vì nó thể hiện triển vọng phát triển của rừng trồng sau này Nghiên cứu phẩm chất cây đó là dựa vào quá trình quan sát trực tiếp các chỉ tiêu như: Độ thẳng thân, diện tích tán lá, tình trạng phát triển của cây, độ lệch tán, u bướu, sâu bệnh …
Các chỉ tiêu sinh trưởng và cách đo: D00 được đo bằng kẹp kính nhỏ, đo dưới gốc cây Quế ghép; H được đo bằng thước đo cao, tính từ gốc cây ghép đến ngọn; Dt
Trang 33được đo bằng thước đo đường kính tán của cây ghép; Về việc đánh giá phẩm chất, chủ yếu qua thị giác của người điều tra, có 3 mức đánh giá: tốt (cây phát triển tốt về chiều cao và đường kính, không sâu bệnh), xấu (cây phát triển kém, bị sâu bệnh nhiều ở thân, lá, cây chết), trung bình (cây phát triển bình thường, có thể bị sâu bệnh nhẹ)
Kết quả ghi vào biểu điều tra sinh trưởng Quế trong vườn giống (Phụ biểu 03)
* P ươn p áp xác địn àm lượng và thành phần tinh dầu
- Xác định, lựa chọn cây dự tuyển thực hiện phân tích tinh dầu:
Để xác định hàm lượng, chất lượng tinh dầu của quế tại Thanh Hóa, chúng tôi thực hiện như sau:
+ Trước tiên xác định các cây trội dự tuyển về kiểu hình: Cây to, cao, khỏe mạnh phát triển cân đối, không sâu bệnh và là cây trội trong quần thể
+ Sau đó lấy mẫu vỏ từ các cây trội dự tuyển này để phân tích, xác định hàm lượng và chất lượng tinh dầu
Đối với mỗi cây trội dự tuyển lấy một mẫu vỏ để phân tích hàm lượng dầu (cinamic aldehyde) Đồng thời lấy ba mẫu vỏ đã được trộn đều của các cây trong lâm phần hoặc trong sản xuất và ba mẫu này được xem như là mẫu trung bình quần
thể để so sánh hàm lượng tinh dầu với các cây trội dự tuyển
Xác định hàm lượng tinh dầu, hàm lượng cinamic aldehyde theo phương pháp tại phòng thí nghiệm của Trung tâm Nghiên cứu Lâm sản ngoài gỗ, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Cụ thể như sau:
- Cách lấy mẫu:
Trên mỗi cây trội tiến hành lấy 2 mẫu vỏ Quế ở độ cao 2m, 4m Tất cả các mẫu đều được lấy về hướng Đông Kích thước của mỗi mẫu là 15*40 cm (rộng 15cm, cao 40cm) Ngay sau khi lấy mẫu tiến hành cân mẫu trên cân điện tử và ghi lại số liệu này
Mẫu đối chứng được lấy từ 5 cây trong quần thể mỗi cây lấy 2 mẫu ở độ cao 2m, 4m.Tất cả các mẫu đều được lấy về hướng Đông Kích thước của mỗi mẫu là 3*5 (rộng 3cm, cao 5cm)
- Bảo quản mẫu:Sau khi lấy mẫu xong cần lấy giấy hoặc khăn lau khô nhựa
sau đó cho vào túi nilon không được buộc miệng túi mà phải để mẫu thoáng khí,
Trang 34tránh hiện tượng hấp hơi… Bảo quản mẫu ở nơi râm mát, tránh ánh nắng trực tiếp mặt trời Sau đó nhanh chóng bàn giao mẫu cho đơn vị chuyên môn để phân tích tinh dầu
- Xử lý mẫu: mẫu được hong khô ngoài nắng nhẹ sau đó được đóng vào bao gói để tránh ẩm mốc Trước khi cất tinh dầu mẫu được sấy ở nhiệt độ 500C bằng đèn hồng ngoại tới trọng lượng không đổi
- Xác định hàm lượng tinh dầu (năng suất tinh dầu): vỏ Quế được đập thành mảnh nhỏ sau đó cho vào bộ chưng cất tinh dầu bằng lôi cuốn nước Hàm lượng tinh dầu được xác định dựa vào lượng tinh dầu thu được và lượng mẫu nguyên liệu
từ mẫu phân tích
- Xác định hàm lượng cinamic aldehyde: tinh dầu được làm khô nước bằng Natri Sunphat khan Xác định hàm lượng các chất có trong tinh dầu bằng máy sắc khí SHIMATZU GC9 Dựa trên sắc khí đồ trên máy sắc khí để xác định hàm lượng
cinamic aldehyde trong tinh dầu quế
* P n tíc , đán iá àm lượn và c ất lượn tin dầu Quế tại T an Hóa
- Xác định hàm lượng tinh dầu (năng suất tinh dầu): vỏ Quế được đập thành mảnh nhỏ sau đó cho vào bộ chưng cất tinh dầu bằng lôi cuốn nước Hàm lượng tinh dầu được xác định dựa vào lượng tinh dầu thu được và lượng mẫu nguyên liệu từ mẫu phân tích
- Xác định hàm lượng cinamic aldehyde: tinh dầu được làm khô nước bằng Natri Sunphat khan Xác định hàm lượng các chất có trong tinh dầu bằng máy sắc khí SHIMATZU GC9 Dựa trên sắc khí đồ trên máy sắc khí để xác định hàm lượng
cinamic aldehyde trong tinh dầu quế
* Xác địn tươn quan iữa sin trưởng và tinh dầu
Các nhân tố điều tra cơ bản bao gồm: đường kính, chiều cao, độ dày vỏ, hàm lượng tinh dầu và chất lượng tinh dầu Giữa chúng có mối quan hệ qua lại với nhau, cây càng lớn đường kính càng to, vỏ dày hơn Vậy các đại lượng sinh trưởng có quan hệ như thế nào với năng suất vỏ, hàm lượng tinh dầu và chất lượng tinh dầu?
Đề tài xác định các mối quan hệ như sau:
- Xác định quan hệ giữa độ dày vỏ với đại lượng sinh trưởng
- Xác định quan hệ giữa hàm lượng tinh dầu với đại lượng sinh trưởng
Trang 35- Xác định quan hệ giữa chất lượng tinh dầu với đại lượng sinh trưởng
Để xác định mối tương quan giữa các chỉ tiêu sinh trưởng và hiệu suất tinh dầu đã sử dụng các chỉ tiêu D1.3,Hvn, và dộ dày vỏ Quế, trình tự tiến hành như sau:
Sử dụng hàm đa biến để đánh giá mối quan hệ giữa một số đại lượng sinh trưởng với tinh dầu
Y = b0+b1*X1+b2*X2+…+bn*Xn (2.1)
Trong đó: Y: là biến phụ thuộc – tinh dầu
X i : là các biến độc lập –các đại lượng sinh trưởng
Tiến hành thử nghiệm các phương trình tương quan theo từng cặp biến số
Từ hệ số tương quan r đánh giá mức độ quan hệ giữa các nhân tố; kiểm tra sự tồn tại của các tham số và kiểm tra sự tồn tại của phương trình
Giá trị r
Nếu 0 ≤ |r| ≤ 0,3 thì 2 đại lượng có quan hệ yếu
Nếu 0,3 ≤ |r| ≤ 0,5 thì 2 đại lượng nằm trong khoảng từ 0 đến 1, các khoảng đánh giá mức độ tương quan như sau:có quan hệ vừa
Nếu 0,5 ≤ |r| ≤ 0,7 thì 2 đại lượng có quan hệ tương đối chặt
Nếu 0,7 ≤ |r| ≤ 0,9 thì 2 đại lượng có quan hệ chặt
Nếu r >0,9 thì 2 đại lượng có quan hệ rất chặt
Phương trình tối ưu được lựa chọn trên tiêu chí:
- Có hệ số tương quan cao nhất
- Các tham số đều tồn tại
Trang 36C ươn 3 ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự n i n
3.1.1 Vị trí địa lý
Thanh Hoá nằm ở cực Bắc Miền Trung, cách Thủ đô Hà Nội 150 km về phía Nam, cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.560km Phía Bắc giáp với ba tỉnh Sơn La, Hoà Bình và Ninh Bình, phía Nam giáp tỉnh Nghệ An, phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn (nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào), phía Đông là Vịnh Bắc Bộ
Thanh Hoá nằm trong vùng ảnh hưởng của những tác động từ vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, các tỉnh Bắc Lào và vùng trọng điểm kinh tế Trung bộ, ở vị trí cửa ngõ nối liền Bắc Bộ với Trung Bộ, có hệ thống giao thông thuận lợi như: đường sắt xuyên Việt, đường Hồ Chí Minh, các quốc lộ 1A, 10, 45, 47, 217; cảng biển nước sâu Nghi Sơn và hệ thống sông ngòi thuận tiện cho lưu thông Bắc Nam, với các vùng trong tỉnh và đi quốc tế Hiện tại, Thanh Hóa có sân bay Sao Vàng và đang dự kiến mở thêm sân bay quốc tế sát biển phục vụ cho Khu kinh tế Nghi Sơn
- Vùng đồng bằng có diện tích đất tự nhiên là 162.341 ha, chiếm 14,61% diện tích toàn tỉnh, được bồi tụ bởi các hệ thống Sông Mã, Sông Bạng, Sông Yên và Sông Hoạt Độ cao trung bình từ 5- 15m, xen kẽ có các đồi thấp và núi đá vôi độc lập.Đồng bằng Sông Mã có diện tích lớn thứ ba sau đồng bằng Sông Cửu Long và đồng bằng Sông Hồng
- Vùng ven biển có diện tích 110.655 ha, chiếm 9,95% diện tích toàn tỉnh,với
bờ biển dài 102 km, địa hình tương đối bằng phẳng Chạy dọc theo bờ biển là các
Trang 37cửa sông Vùng đất cát ven biển có độ cao trung bình 3-6 m, có bãi tắm Sầm Sơn nổi tiếng và các khu nghỉ mát khác như Hải Tiến (Hoằng Hoá) và Hải Hoà (Tĩnh Gia) ; có những vùng đất đai rộng lớn thuận lợi cho việc nuôi trồng thuỷ sản và phát triển các khu công nghiệp, dịch vụ kinh tế biển
3.1.3 Khí hậu
Thanh Hoá nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 4 mùa rõ rệt
- Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1600-2300mm, mỗi năm có khoảng 90-130 ngày mưa Độ ẩm tương đối từ 85% đến 87%, số giờ nắng bình quân khoảng 1600-1800 giờ Nhiệt độ trung bình 230C - 240C, nhiệt độ giảm dần khi lên vùng núi cao
- Hướng gió phổ biến mùa Đông là Tây bắc và Đông bắc, mùa hè là Đông và Đông nam
Đặc điểm khí hậu thời tiết với lượng mưa lớn, nhiệt độ cao, ánh sáng dồi dào
là điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp
3.1.4 Tài nguyên thiên nhiên
3.1.4.1 Tài nguyên đất
Thanh Hoá có diện tích tự nhiên 1.112.033 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp 245.367 ha; đất sản xuất lâm nghiệp 553.999 ha; đất nuôi trồng thuỷ sản 10.157 ha; đất chưa sử dụng 153.520 ha với các nhóm đất thích hợp cho phát triển cây lương thực, cây lâm nghiệp, cây công nghiệp và cây ăn quả
3.1.4.2 Tài nguyên rừng
Thanh Hoá là một trong những tỉnh có tài nguyên rừng lớn với diện tích đất có rừng là 484.246 ha, trữ lượng khoảng 16,64 triệu m3
gỗ, hàng năm có thể khai thác 50.000 - 60.000 m3 Rừng Thanh Hoá chủ yếu là rừng cây lá rộng, có hệ thực vật phong phú đa dạng về họ, loài; có các loại gỗ quý hiếm như: Lát, Pơ mu, Sa mu, Lim xanh, Táu, Sến, Vàng tâm, Giổi, Re, Chò chỉ Các loại thuộc họ tre nứa gồm có: Luồng, Nứa, Vầu, Giang, Tre Ngoài ra còn có: Mây, Song, dược liệu, Quế, Cánh kiến đỏ … Các loại rừng trồng có Luồng, Thông nhựa, Mỡ, Bạch đàn, Phi lao, Quế, Cao su Thanh Hoá là tỉnh có diện tích Luồng lớn nhất trong cả nước với diện tích trên 50.000 ha
Trang 38Rừng Thanh Hoá cũng là nơi quần tụ và sinh sống của nhiều loài động vật như: hươu, nai, hoẵng, vượn, khỉ, lợn rừng, các loài bò sát và các loài chim … Đặc biệt ở vùng Tây nam của tỉnh có rừng quốc gia Bến En, vùng Tây Bắc có các khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu, Pù Luông, Xuân Liên, là những khu rừng đặc dụng, nơi tồn trữ
và bảo vệ các nguồn gien động, thực vật quí hiếm, đồng thời là các điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách
3.1.4.3 Tài nguyên biển
Thanh Hoá có 102 km bờ biển và vùng lãnh hải rộng 17.000 km2, với những bãi cá, bãi tôm có trữ lượng lớn Dọc bờ biển có 5 cửa lạch lớn, thuận lợi cho tàu thuyền đánh cá ra vào Đây cũng là những trung tâm nghề cá của tỉnh Ở vùng cửa lạch là những bãi bồi bùn cát rộng hàng ngàn ha, thuận lợi cho nuôi trồng hải sản, trồng cói, trồng cây chắn sóng và sản xuất muối Diện tích nước mặn ở vùng biển đảo Mê, Biện Sơn có thể nuôi cá song, trai ngọc, tôm hùm và hàng chục ngàn ha nước mặn ven bờ thuận lợi cho nuôi nhuyễn thể vỏ cứng như ngao, sò …
Vùng biển Thanh Hoá có trữ lượng khoảng 100.000 - 120.000 tấn hải sản, với nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao
3.1.4.4 Tài nguyên khoáng sản
Thanh Hoá là một trong số ít các tỉnh ở Việt Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng; có 296 mỏ và điểm khoáng sản với 42 loại khác nhau, nhiều loại có trữ lượng lớn so với cả nước như: đá granit và marble (trữ lượng 2 -3
tỉ m3), đá vôi làm xi măng (trên 370 triệu tấn), sét làm xi măng (85 triệu tấn), crôm (khoảng 21 triệu tấn), quặng sắt (2 triệu tấn), secpentin (15 triệu tấn), đôlômit (4,7 triệu tấn), ngoài ra còn có vàng sa khoáng và các loại khoáng sản khác
3.1.4.5 Tài nguyên nước
Thanh Hóa có 4 hệ thống sông chính là sông Hoạt, sông Mã, sông Bạng, sông Yên với tổng chiều dài 881 km, tổng diện tích lưu vực là 39.756km2; tổng lượng nước trung bình hàng năm 19,52 tỉ m3 Sông suối Thanh Hoá chảy qua nhiều vùng địa hình phức tạp, là tiềm năng lớn cho phát triển thủy điện Nước ngầm ở Thanh Hoá cũng rất phong phú về trữ lượng và chủng loại bởi vì có đầy đủ các loại đất đá trầm tích, biến chất, mac ma và phun trào
Trang 393 Điều kiện kin tế x ội
3.3 Đánh giá chung
* Thuận lợi:
- Là khu vực có nguồn lao động dồi dào, có gần 80% cư dân gắn bó với rừng
và đất lâm nghiệp là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển và bảo vệ rừng
- Đời sống người dân đang dần được cải thiện, hoạt động sản xuất Nông lâm nghiệp có nhiều bước tiến đáng kể đem lại thu nhập cho người dân dần đảm bảo đời sống, giảm bớt áp lực vào rừng
- Có nguồn nguyên liệu thuận lợi phát triển nhiều ngành công nghiệp, chế biến, dịch vụ Tỷ trọng các ngành này tăng dần đóng góp vào thu nhập đáng kể trong kinh tế chung của toàn tỉnh, hỗ trợ xây dụng cơ sở hạ tầng, tham gia vào công tác Bảo vệ và phát triển rừng
- Hệ thống giáo dục, y tế, các hoạt động văn hóa được tăng cường đầu tư Người dân được tuyên truyền phổ biến kiến thức về bảo vệ rừng và phát triển rừng
- Về sản xuất lâm nghiệp: Thực hiện chính sách giao đất giao rừng của chính phủ đến nay nhiều hộ kinh doanh đã được làm chủ trên mảnh đất của họ từ đó có thể tập trung đầu tư vào kinh doanh lâu dài
- Về các hoạt động kinh doanh khác: Nhà nước đã ban hành một số quy định đối với các chủ rừng, các doanh nghiệp tổ chức khi xây dựng các khu du lịch sinh thái hay khu nghỉ dưỡng phải có các biện pháp bảo vệ rừng và đa dạng sinh học
Trang 40- Thanh Hóa là tỉnh nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, hàng năm nhận được một lượng nhiệt cũng như lượng mưa rất cao, độ ẩm cao, có sự đa dang về địa hình và khí hậu, các loài động thực vật đa dạng và phong phú, nguồn lao động dồi dào, người dân chủ yếu sống bằng nông nghiệp và nghề rừng Đây là những điều kiện rất thuận lợi cho sự phát triển cây Quế
* Khó khăn:
- Dân cư phân bố chủ yếu ở nông thôn, trình độ lao động còn thấp, đời sống của một bộ phận dân cư vẫn phụ thuộc chủ yếu vào rừng Phương thức canh tác còn lạc hậu, địa hình dốc khó khăn cho việc áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật vào sản xuất Do vậy năng suất lao động chưa cao, chưa đáp ứng đủ nhu cầu lương thực sức ép vào rừng vẫn rất lớn
- Nền sản xuất nhỏ, manh mún, sản xuất hàng hóa chưa phát triển tích lũy còn ít Khả năng huy động vốn đầu tư vào công tác trồng rừng và làm giàu từ nghề rừng rất khó khăn
Tóm lại: Qua phân tích đánh giá những thuận lợi, khó khăn về điều kiện tự
nhiên và kinh tế - xã hội tại khu vực nghiên cứu cho thấy bên cạnh những thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, xã hội và môi trường của địa phương thì vẫn còn rất nhiều khó khăn Đặc biệt là với một nền kinh tế chậm phát triển, trình độ dân trí thấp, thiếu vốn đầu tư cho sản xuất, đời sống của người dân nghèo nàn, lạc hậu,… Mặc
dù có nhiều tiềm năng phát triển lâm nghiệp nhưng cho đến nay rừng trồng ở đây vẫn chưa phát triển, đặc biệt việc gây trồng và phát triển các loài lâm sản ngoài gỗ
có giá trị như loài Quế thanh Vì vậy, nghiên cứu đánh giá sinh trưởng và chọn lọc cây trội loài Quế thanh tại huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa là rất cần thiết và
có ý nghĩa