- Phân bố: Trên thế giới, Ươi phân bố tự nhiên trong một số rừng mưa nhiệt đới ẩm tại Miến điện, Lào, Cămpuchia, Thái lan, Indonexia, cây trưởng thành có thể cao tới 40m Kostermans 1953,
Trang 1cuống lá dài từ 10-30 cm Quả nang, mặt ngoài màu đỏ, mặt trong màu bạc Ươi
có phân bố tự nhiên khá rộng, trải dài trên các tỉnh như: Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Thuận, Khánh Hoà, Tây Ninh, Đồng Nai, Kon Tum, Gia Lai, Đăk Nông, Lâm Đồng, Kiên Giang Chúng mọc rất rải rác trong rừng rậm nhiệt đới thường xanh mưa ẩm, ở độ cao không quá 1000 m so với mực nước biển, trên đất dày, màu mỡ và ẩm và phân bố chủ yếu tập trung ở tỉnh Lâm Đồng
Ươi là loài cây cho quả có giá trị dược liệu và giá trị kinh tế cao, nên bị người dân khai thác cạn kiệt Lúc đầu trái Ươi được người dân sinh sống gần rừng vào lấy quả rụng về phục vụ cho nhu cầu cá nhân, càng về sau nhu cầu tăng cao, trái ươi được buôn bán đi các nơi khác phục vụ nhu cầu giải khát, chữa bệnh, được một số nhà buôn ở Chợ Lớn xuất khẩu sang Hồng Kông, Đài Loan… Hiện nay, giá thị trường khoảng 400 đến 500 ngàn đồng/kg quả Ươi khô Mỗi cây ươi có trung bình khoảng từ 50-100 kg trái Có nhiều cách thu hoạch loại trái này nhưng chủ yếu là bằng cách lượm, gần đây việc thu hái không đơn thuần là
đi lượm trái ươi nữa mà người dân thu cả các trái già còn trên cây hoặc những trái còn xanh bằng cách trèo lên, thậm chí đốn hạ cây để thu hái
Tại VQG Cát Tiên, loài Ươi phân bố tại một số khu vực và thường mọc thành quần thụ khá tập trung ở phía Bắc, phía Tây của Vườn Đặc biệt loài này mọc tập trung ở phía Nam của Vườn trên các vùng có độ cao tương đối từ 200 đến 1000m Hiện nay tình trạng khai thác trái Ươi mất kiểm soát của người dân địa phương bằng phương thức khai thác tận diệt (chặt cây lấy trái) dẫn đến suy
Trang 22
giảm đáng kể về số lượng và phạm vi phân bố của loài và đang có nguy cơ bị đe dọa cao Việc triển khai nghiên cứu bảo tồn chúng là rất cần thiết
Xuất phát từ yêu cầu thực tế đặt ra, tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc
điểm lâm học làm cơ sở quản lý và đề xuất một số giải pháp phát triển loài Ươi (Scaphium macropodum (Miq.) Beumée ex K.Heyne) tại khu vực phía Nam Vườn Quốc gia Cát Tiên”
Trang 33
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Nghiên cứu về đặc điểm lâm học
1.1.1 Trên thế giới
Thuật ngữ sinh thái học "Ecology" bắt nguồn từ tiếng Hy-Lạp: Oikos, nghĩa là nhà hoặc là nơi sinh sống; Logos, nghĩa là môn học Lịch sử ra đời môn sinh thái học được kể từ đầu thế kỷ 20, nhưng nguồn gốc của môn học này đã có từ rất lâu
Thế kỷ 19 được xem là thời kỳ các nhà khoa học sinh vật tích lũy những dẫn liệu về tự nhiên Tuy vậy, các nhà khoa học thời đó cũng chỉ dừng lại ở việc mô tả lịch sử tự nhiên của các sinh vật, phương thức sống của sinh vật, nơi sinh sống và nguồn thức ăn của sinh vật, phản ứng của sinh vật trước
sự thay đổi của môi trường Với những cách thức nghiên cứu và mô tả như thế, có thể xem đây là giai đoạn phát triển của sinh thái cá thể.Mặc dù vậy những nghiên cứu này cũng hết sức quan trọng đối với thực tiễn.Vào khoảng giữa những năm 1920, sinh thái cá thể đã phát triển cao hơn thành sinh thái học quần thể và sinh thái học quần xã
Năm 1935, A.Tensley đã trình bày khái niệm đầu tiên về hệ sinh thái
Năm 1957, C Vili đã dùng khái niệm hệ sinh thái để chỉ "Một đơn vị tự nhiên
bao gồm tập hợp các yếu tố sống và không sống, do kết quả tương tác của các yếu tố ấy tạo nên một hệ thống ổn định, tại đây có chu trình vật chất giữa thành phần sống và không sống" Theo Odum (1978) [18], sinh thái học là
môn khoa học nghiên cứu cấu trúc và chức năng của tự nhiên Krebs (1978) định nghĩa sinh thái học là khoa học về những sự tương tác ấn định sự phân
bố và mật độ của các sinh vật
Sinh thái rừng nghiên cứu rừng như là một quần xã sinh vật, nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa các loài cây rừng với các sinh vật khác hình thành nên quần xã và nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa các sinh vật với môi
Trang 44
trường tự nhiên của chúng (Stephen H.spurr và Bunrton V Barnes, 1973) Sinh thái rừng là một bộ phận của sinh thái học, là một môn sinh thái học ứng dụng Các kết quả của nghiên cứu sinh thái rừng đem lại nhiều ý nghĩa khác nhau:
- Xây dựng cơ sở khoa học lâm sinh: Đó là khoa học về gây trồng và nuôi dưỡng rừng Trồng rừng, nuôi dưỡng rừng, khai thác và nâng cao năng suất rừng
- Phân loại các thảm thực vật rừng, lập bản đồ thảm thực vật rừng, bản
đồ lập địa
- Phân vùng sản xuất Lâm nghiệp, xác định cơ cấu cây trồng hợp lý
- Xây dựng phương thức kinh doanh rừng ổn định, lâu dài
- Kết quả nghiên cứu sinh thái rừng là cơ sở khoa học để trợ giúp cho việc xác định chiến lược diệt trừ sâu bệnh và những loài gây hại khác
- Xây dựng các giải pháp bảo vệ và bảo tồn những loài cây, con quý hiếm
- Xây dựng hệ thống các biện pháp tổng hợp để bảo vệ rừng và môi trường, phòng chống ô nhiễm môi trường
Trong lâm nghiệp, nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu về sinh thái rừng làm cơ sở đề xuất biện pháp tác động hợp lý và xây dựng thành các hệ thống
kỹ thuật lâm sinh Một số công trình tiêu biểu như: Rừng mưa nhiệt đới Baur (1962) [1] Trên cơ sở nghiên cứu sinh thái rừng mưa, Geoge N Baur đã tổng kết các biện pháp lâm sinh tác động vào rừng và phân loại các biện pháp theo mục đích nhằm đem lại rừng căn bản đều tuổi, không đều tuổi, các phương pháp xử lý cải thiện
Baur G.N (1962) [1] đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học nói chung và cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng Trong đó đi sâu nghiên cứu các nhân tố về cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên
Trang 55
Catinot (1965) [2] đã nghiên cứu cấu trúc hình thái rừng thông qua việc biểu diễn các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm sống, tầng phiến…
Hiện tượng thành tầng là một trong những đặc trưng cơ bản về cấu trúc hình thái của quần thể thực vật và là cơ sở để tạo nên cấu trúc tầng thứ Phương pháp vẽ biểu đồ mặt cắt đứng của rừng do David và P.W Risa (1933-1934) đề sướng và sử dụng lần đầu tiên ở Guyan, đến nay phương pháp đó vẫn được sử dụng, nhưng nhược điểm là chỉ minh họa được cách sắp xếp theo hướng thẳng đứng trong một diện tích có hạn Cusen (1951) đã khắc phục bằng cách vẽ một
số dải kề nhau và đưa lại một hình tượng về không gian 3 chiều
Richards P W (1968) [22] đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng mưa đới về mặt hình thái.Theo tác giả, đặc điểm nổi bật của rừng mưa nhiệt đới tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc cây thân gỗ và thường có nhiều tầng Ông đã nhận định:
“Rừng mưa thực sự là một quần lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ nhất về mặt cấu tạo và cũng phong phú nhất về mặt loài cây”
Việc nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng được nhiều tác giả nghiên cứu
có kết quả, và đã đưa ra hàng loạt các phẫu đồ mô tả cấu trúc hình thái rừng mưa Các tác giả sử dụng các loại hàm khác nhau như: hàm Weibull, Meyer, Hyperbol, Poisson,…
Trên thế giới khi nghiên về tái sinh rừng các nhà khoa học tìm hiểu về
“hiệu quả tái sinh rừng” Họ đã cho rằng hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân
bố Mặt khác sự tương đồng hay khác biệt về tổ thành lớp cây tái sinh với tầng cây gỗ lớn được đề cập khi nghiên cứu (Mibbreuad, 1930; Aubreville, 1938, Richards, 1933; 1939; Beard, 1946; Lebrun và Gilbert, 1954; Joné, 1955-1956; Schultz, 1960; Baur, 1976 - 1979; Rollet, 1969) (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992) [24] Tuy nhiên, trong nghiên cứu họ chỉ tập trung nghiên cứu các loài cây
có ý nghĩa về mặt thực tiễn ở trong tổ thành cây tái sinh Đối với rừng mưa nhiệt
Trang 66
đới, do quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới vô cùng phức tạp và còn ít được nghiên cứu Cho nên phần lớn đến nay, những tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng mưa thường mới chỉ tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng đã ít nhiều bị biến đổi
Nghiên cứu khả năng tái sinh rừng, Richards (1965) [22] cho rằng sau thời
kỳ thứ nhất, chắc chắn vào năm đầu hay năm sau, cây mạ từ hạt giống mọc lên thường bị chết hàng loạt do thiếu chất dinh dưỡng và do thiếu ánh sáng, những cây con và cây nhỡ được sống sót lại phải trải qua một thời kỳ ức chế kéo dài đến mấy năm, thậm chí hàng chục năm do sự cạnh tranh dành lấy ánh sáng và sau đó, khi có điều kiện thuận lợi mới vươn lên, với một tốc độ sinh trưởng rất nhanh, để chiếm lấy vị trí trong tầng mà chúng sẽ là thành viên chính thức Tác giả cũng cho rằng: nhưng cách thức tái sinh liên tục dưới tán rừng không phải là cách tái sinh duy nhất và cách thức đó hình như chỉ thích hợp với các loài cây chịu bóng
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở nước ta, rất nhiều công trình khoa học của nhiều tác giả trong nước đã tập trung vào việc nghiên cứu các đặc điểm cấu trúc của các kiểu rừng tự nhiên Một số công trình điển hình là:
- Thái Văn Trừng (1978) [29] trên quan điểm sinh thái đã chia rừng Việt Nam thành 14 kiểu thảm thực vật, đây là công trình tổng quát, đáp ứng nhu cầu
về quy luật sinh thái
- Nguyễn Hải Tuất (1975-1982-1990) [30] đã sử dụng hàm Meyer, Khoảng cách - hình học để biểu diễn cấu trúc đường kính rừng thứ sinh và ứng dụng quá trình Poisson vào nghiên cứu cấu trúc quần thể rừng
- Vũ Tiến Hinh (1991) [8] đã sử dụng một số phân bố lý thuyết để nắn phân bố Weibull là phân bố lý thuyết thích hợp nhất
Trang 77
1.2 Một vài nét về loài Ƣơi (Scaphium macropodum (Miq.) Beumée ex
K.Heyne)
Phân loại thực vật: Loài Ươi thuộc họ Trôm (Sterculiacae), tên khoa
học:(Scaphium macropodum (Miq.) Beumée ex K.Heyne); Scaphium
lychnophorum (Hance) Kost; Sterculia lyhnophora Hance, tên thường gọi: Ươi,
cây Lười ươi, Đười ươi, Cây Thạch, Bàngđại hải, An nam tử (Cương Mục Thập
Di), Hồ đại hải (Tục danh), Đại hải tử (TQ Dược học Đại từ điển), cây Đại đổng
- Đặc điểm thực vật học: Loài thân gỗ lớn cao 20 - 25m, đường kính trung bình 45-50cm, cao nhất đường kính có thể đạt 80 - 82cm, cành non phủ màu nâu vàng [6] Lá mọc cách thường tập trung ở đầu cành, lá có nhiều dạng thường xẻ thuỳ 3-5 thuỳ sâu, đuôi lá hình khiên hoặc hình tim, hệ chân vịt, cuống lá dài 10
- 25cm, lá kèm hình dải Hoa tạp tính, dài hợp hình ống 4-5 răng, không có tràng, ra hoa tháng 1 - 3 Quả chín tháng 6 - 8, quả đại kép, gồm 4-5 vỏ đại, vỏ mỏng mỗi đại 1 hạt, vỏ hạt nâu nhăn nheo
- Đặc điểm sinh thái: cây mọc tự nhiên ở Tây Nguyên và các tỉnh từ Thừa Thiên Huế đến Sông Bé, Tây Ninh Ươi mọc rải rác trong rừng rậm nhiệt đới thường xanh, ở độ cao không quá 1000m, trên đất dày, màu mỡ và ẩm
- Phân bố: Trên thế giới, Ươi phân bố tự nhiên trong một số rừng mưa nhiệt đới ẩm tại Miến điện, Lào, Cămpuchia, Thái lan, Indonexia, cây trưởng thành có thể cao tới 40m (Kostermans 1953, Yamada và Suzuki, 2000)
- Giá trị: Ươi là một cây đa tác dụng, nó có giá trị cao về kinh tế, giá trị sử dụng và giá trị môi trường Có thể tận dụng nhiều sản phẩm của cây, từ lấy gỗ cho đến lấy quả và lá cây
1.3 Nghiên cứu đặc điểm lâm học loài Ƣơi
1.3.1 Trên thế giới
Ươi là loài cây rừng có giá trị và đang được quan tâm nghiên cứu tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á và Đông Á Nhìn chung các nghiên cứu về cây Ươi trên Thế giới mới chỉ tập trung lĩnh vực đặc
Trang 88
điểm sinh lý, sinh thái cá thể, tái sinh tự nhiên, sinh học quần thể Có một số nghiên cứu bước đầu về kỹ thuật nhân giống vô tính bằng hom, chiết cành và đặc biệt về phân tích đánh giá thành phần và hoạt tính dược lý hạt Ươi làm cơ sở sử dụng hiệu quả Tuy nhiên còn chưa có các nghiên cứu về cải thiện giống, kỹ thuật gây trồng và khai thác quản lý bền vững Cụ thể các nghiên cứu cây Ươi trên thế giới như sau:
Về đặc điểm sinh lý sinh thái: Yarwudhi và cộng sự (1994) đã tiến hành
nghiên cứu cây Ươi (Scaphium macrophylla) tại 3 loại hiện trường là rừng tự
nhiên (P1), rừng thứ sinh sau khai thác (P2) và trảng cỏ cây bụi (P2) tại tỉnh Kanchanaburi của Thái Lan Kết quả nghiên cứu cho thấy loài có chỉ số giá trị quan trọng IV cao nhất trong 3 loại hiện trường trên (P1, P2 và P3) tương ứng là
Shorea siamensis, Scaphium macrophylla và Trema orientalis Kết quả cũng cho
thấy, loài Ươi có mật độ tái sinh cao nhất tại P1 & P2 và Ươi có khả năng tái sinh tự nhiên cao đặc biệt trong các khoảng trống
Yamada và Suzuki (1997) đã tiến hành nghiên cứu về khả năng tái sinh tự nhiên của Ươi và kết quả cho thấy tái sinh được thiết lập thành công thường nằm ngoài tán của cây mẹ, cách gốc khoảng 14m Các cây mẹ trưởng thành và cây non tái sinh thường phân bố riêng rẽ theo cách “loại trừ nhau“, mật độ hạt và nảy mầm được phát hiện cao nhất dưới tán cây mẹ, nhưng tại đây cũng có tỷ lệ chết cây con cao nhất, bởi tầng rơi rụng và tầng tán các cây mẹ quá dày
Yamada và cộn g sự (2000) nghiên cứu cấu trúc tán và tương quan sinh trưởng cho thấy cây Ươi chỉ bắt đầu phát triển cành bên tự nhiên khi đường kính thân đạt được hàng chục cm trở lên, Ươi phát triển tăng đường kính tán chủ yếu bằng tăng kích thước và số lượng lá trong tán
Về nhân giống và kỹ thuật gây trồng : Wichianchan và cộn g sự (2001) nghiên cứu ảnh hưởng của IBA tới sự ra rễ của cành chiết Ươi cho thấy Ươi chiết cành có khả năng và tỷ lệ hình thành rễ tốt khi sử dụng chất kích thích rễ
Trang 9Kết quả nghiên cứu bước đầu về kỹ thuật nhân giống và gây trồng cây Ươi chiết cành của Koolpluksee và cộng sự (2003) cho thấy tàn che sáng 50 % khi trồng có tác dụng làm tăng sinh trưởng chiều cao, tăng số lượng lá và diện tích lá, tuy nhiên lại hạn chế sinh trưởng đường kính của cây Ươi chiết so với đối chứng không che sáng
Về tài nguyên di truyền: Lee và cộng sự (2002) đã nghiên cứu phân tích
đa dạng di truyền và chỉ số H (Shanoon index) của một số quần thể Ươi dưới tác động của các tác động khai thác chọn, kết quả cho thấy với tác động ngắn hạn của khai thác chọn thì chưa ảnh hưởng tới đa dạng di truyền và H, nhưng với những tác động kéo dài liên tục thì đa dạng di truyền bị suy giảm nghiêm trọng (chỉ số H suy giảm tới 31,5%) ở những quần thể có mật độ cây Ươi thấp Điều này có thể do sự trôi dạt di truyền, gen và quá trình tự thụ xảy ra do suy thoái quần thể, một hậu quả của các vấn đề khai thác
Về sử dụng sản phẩm: Hạt Ươi là loại dược liệu quý, có tác dụng chữa trị
và phòng ngừa các bệnh đường ruột, dạ dày, ho, phổi, viêm họng Hạt Ươi chứa nhiều các hợp chất Polisaccharide và axit béo (Chen và cộng sự , 1995b) Wang
và cộng sự (2003) đã lần đầu tiên phân tích, tách triết và xác định được cấu trúc của 2 hợp chất Alkaloid mới có hoạt tính dược lý cao từ hạt Ươi có tên là Sterculinine 1 và Sterculinine 2 Đồng thời nhóm tác giả cũng đã tách chiết được
13 loại hợp chất khác có tác dụng dược lý đã được biết đến trong hạt Ươi Chen
và cộng sự (1995a) đã tiến hành các nghiên cứu phân tích xác định thành phần
Trang 10đó còn ít được quan tâm nghiên cứu
Cũng trong nghiên cứu này, tác giả đã thu được một số kết quả khả quan, làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo và đóng góp vào việc xây dựng biện pháp gây trồng loài cây này Một số kết quả khá quan trọng như: Nghiên cứu đã chỉ ra rằng loài Ươi trong cùng điều kiện lập địa tại khu vực nghiên cứu thì loài này sinh trưởng và phát triển tốt nhất khi trồng hỗn giao Ươi với Chò nhai, Trám, Tràm, Kiền kiền, Giổi, Đào, Sến, Huỷnh, Keo lá tràm; nghiên cứu cũng chỉ ra điều kiện để hạt có tỷ lệ nảy mầm cao và sinh trưởng mầm nhanh, không mất sức là sau khi thu hái, nên đem gieo ngay sẽ đạt tỉ lệ nảy mầm rất cao (trên 90%); cây con ở vườn ươm giai đoạn nhỏ hơn 3 tháng tuổi nên che bóng ở độ tàn che 50% và chăm sóc bình thường như các loài cây khác
Năm 2001, Bùi Việt Hải và một số cộng sự khác đã tiến hành thí nghiệm
“Nghiên cứu kết hợp trồng cây Ươi và các cây có chu kỳ kinh doanh ngắn trên
đấtnương rẫy” tại Da Nhar, tỉnh Lâm Đồng Mục đích chính của nghiên cứu
nàylà tìmhiểu được sự khác nhau khi trồng cây Ươi tại vị trí sườn đồi và vị trí đỉnh đồi, đánh giá được hiệu quả khi trồng cây Ươi kết hợp với cây Keo lai và cây Chè Với 2 vị trí trên, tác giả đã chia thành 3 công thức thí nghiệm: Một công thức là trồng xen câyƯơi (sử dụng cây Ươi con sản xuất từ hạt giống được thu hái từ cây tái sinh tự nhiên từ hạt trong rừng tự nhiên ở Lâm Đồng) với cây
Trang 1111
Keo ở đỉnh đồi; Hai là trồng cây Ươi con giữa hai hàng chè ở sườn dốc; Ba là trồng xen cây Ươi với Keo ở sườn dốc Mỗi công thức tiến hành 2 lần lặp Sau 2 năm tiến hành, nghiên cứu đã cho kết quả như sau: Khi áp dụng các mô hình trồng xen như trên, cây Ươi có tỉ lệ sống khá cao (từ 70 – 75%); Sự tăng trưởng trung bình năm về chiều cao vút ngọn là 1m/năm (trong 3 năm đầu tiên); Sau khi trồng một năm, 90% cây Ươi con đã có thân thẳng, tán tròn và không sâu bệnh Cũng vẫn trong nghiên cứu này, các tác giả đã vạch ra được sự sai khác trong các mô hình trồng xen trên Cụ thể, sau 3 tháng trồng thì tỉ lệ chết của cây Ươi ở mô hình trồng xen với cây Keo ở đỉnh đồi khá cao, có 5/6 hộ gia đình có
tỉ lệ chết của cây Ươi cao hơn 50% Nhưng khi trồng xen cây Ươi với cây Chè thì tỉ lệ sống cao tới hơn 95% Nguyên nhân dẫn đến kết quả như vậy: thứ nhất
là do cây Ươi con cần được che bóng thích hợp, vì vậy, khi trồng trên đồi trọc,
dù trồng xen với Keo, nhưng vì tán Keo không đủ che bóng cho Ươi, nên Ươi bị chết nhiều, thứ hai là nguyên nhân khách quan, do một số hộ gia đình đã không trồng cây Ươi theo đúng khoảng cách được thiết kế, hoặc trồng không đúng lập địa, không trồng xen Ươi với Keo, không chăm sóc đúng kỹ thuật, xuất hiện hiện tượng cây bị mối tấn công
Về nhân giống vô tính, Trần Hữu Biển (2009) [2] đã tiến hành nghiên cứu thử nghiệm kỹ thuật chiết cành cây Ươi trội và kết quả bước đầu đạt được còn rất khiêm tốn, tỷ lệ cành chiết ra rễ cao nhất đạt 25% khi xử lí kích thích rễ IBA
300 ppm và 9,7% khi không xử lí IBA
Lê Quốc Huy và cộng sự (2010a) [12] tiến hành nghiên cứu thử nghiệm
kỹ thuật ghép chồi và ghép cành Ươi trên gốc ghép 2 tuổi, kết quả bước đầu đạt được 55 % cành ghép thí nghiệm sống và sinh trưởng
Lê Quốc Huy và cộng sự (2010a) [12] đã đánh giá tuyển chọn được tổng
số 30 cây trội Ươi sai quả từ các quần thể Ươi nghiên cứu, trong đó 11 cây trội Ươi tuyển chọn được tại khu vực Đất đỏ, Nam Cát Tiên có năng suất quả 45-65 kg/cây, và độ vượt năng suất quả >730 %; 9 cây trội tại Rừng đặc dụng Đắc Uy
Trang 1212
có năng suất quả 40-60 kg/cây, và độ vượt >710 %; và 10 cây trội tại Nam Đông, VQG Bạch Mã có năng suất quả 35-65 kg/cây, độ vượt năng suất quả >323 % Kết quả nghiên cứu sau 2 năm trồng khảo nghiệm, đã bước đầu xác định được một số xuất xứ Ươi triển vọng cho gây trồng tại các vùng nghiên cứu, cụ thể là xuất xứ Trảng Bom được đánh giá triển vọng tại Vĩnh Cửu , Đồng Nai; xuất xứ Cát Tiên và Đăk Uy triển vọng tại Etmat , Buôn Mê Thuật; và xuất xứ Bạch Mã
và Cát Tiên được đánh giá triển vọng tại hiện trường VQG Bạch Mã Trên cơ sở kết quả nghiên cứu Lê Quốc Huy và cộng sự (2010a) cũng đã xây dựng hướng dẫn kỹ thuật gây trồng cây Ươi bằng hạt, trong đó bao gồm kỹ thuật sản xuất cây con từ hạt, kỹ thuật trồng và làm giàu rừng Xác định được phương thức trồng xen Ươi hạt với cây Điều (tại Buôn Ma Thuật) và trồng làm giàu rừng (tại Km9 VQG Bạch Mã) là phù hợp nhất
Lê Quốc Huy và cộng sự (2010a, 2010b)[12] và Lê Quốc Huy (2012) đã tiến hành nghiên cứu cấu trúc lâm phần, quần xã thực vật và động thái quần thể cây Ươi tại một số rừng ở Việt Nam dưới ảnh hưởng của các mức độ tác động hiện trường (SDI) do khai thác, chặt phá khác nhau Kết quả cho thấy chỉ số Đa dạng Shannon (H’) của các hiện trường nghiên cứu giao động mạnh từ 1.19 đến 5.08 và tốc độ tăng trưởng quần thể (λ) giao động từ 0.981 đến 1.022 Trong đó, hiện trường Bạch Mã có giá trị H’ cao nhất, nơi có SDI trung bình và ở đó cây Ươi có sinh trưởng tốt nhất, với giá trị λ cao nhất Giá trị H’ thấp nhất tại Nam Cát Tiên, nơi có chỉ số tác động hiện trường SDI cao nhất và tốc độ tăng trưởng
λ của cây Ươi đạt được thấp nhất Trong các hiện trường nghiên cứu này, chỉ số
đa dạng sinh học H’ tương quan tỷ lệ nghịch với giá trị quan trong tương đối của cây Ươi trong lâm phần và chỉ số H’ cũng tương quan với chỉ số tác động hiện trường SDI theo một đường cong xác định (H’ = -1.381 + 25.095 SDI – 27.441SDI2, r2= 0.76, p<0.001), trong đó H’ tăng dần và đạt giá trị cực đại tại giá trị SDI tương ứng là 0,45 (giá trị trung bình)
Trang 13Lê Đức Long (2010) khi nghiên cứu động thái cấu trúc quần thể cây ươi tại khu vực nam trung bộ việt nam cho thấy, phân bố N/Hvn không tuân theo bất
kỳ hàm phân bố nào, trong khi đó phân bố N/D1.3 tuân theo hàm Weibull với một đỉnh lệch trái Cũng trong nghiên cứu này tác giả còn chỉ ra, chỉ số IVI % trong quần xã có loài Ươi phân bố thì Ươi và Lồ ô là 2 loài chiếm ưu thế lớn nhất
Lê Quốc Huy (2012) cũng đã nghiên cứu cho thấy chế độ ánh sáng tác động ảnh hưởng tới sinh trưởng chiều cao và đường kính của cây Ươi thí nghiệm
2 giai đoạn khác nhau Giai đoạn 1: từ tháng thí nghiệm 1 đến tháng thứ 8, chế
độ ánh sáng tăng (bắt đầu từ 25 %) làm giảm sinh trưởng chiều cao, nhưng lại tác dụng làm tăng sinh trưởng đường kính của cây Ươi, trong khi đó từ tháng thí nghiệm thứ 9 trở đi (giai đoạn 2), khi tăng chế độ ánh sáng thì tác dụng làm tăng
cả sinh trưởng chiều cao và đường kính của cây Ươi Tổng hợp kết quả của toàn
bộ quá trình thí nghiệm và của tất cả các công thức chế độ ánh sáng, tác giả nhận thấy với công thức chế độ ánh sáng là 50 % sinh trưởng chiều cao, đường kính, cường độ quang hợp và tốc độ tăng trưởng tương đối RGR (Relative Growth Rate) của cây Ươi thí nghiệm đạt được trị số cao nhất Từ kết quả thí nghiệm này, tác giả kết luận: cường độ ánh sáng 50% có thể được coi là tối ưu cho sinh trưởng cây Ươi giai đoạn dưới 20 tháng tuổi Kết quả tương tự cũng được tìm
Trang 1414
thấy trong thí nghiệm trồng làm giàu rừng với cây Ươi tại hiện trường Km9, VQG Bạch Mã, Thừa Thiên Huế Tại mô hình thí nghiệm hiện trường này, băng chặt với chiều rộng 4 m (chừa lại các cây mục đích) tạo được chế độ ánh sáng tương đương 50 % và cây Ươi trồng làm giàu rừng trong băng này đạt được tốc
độ tăng trưởng tương đối RGR cao nhất (Lê Quốc Huy, 2012)
1.4 Thảo luận vấn đề
Ươi (Scaphium macropodum) là cây gỗ đa tác dụng , cho quả rất có giá trị
ở Việt Nam , quả Ươi làm dược liệu , tác dụng thanh nhiệt , giải độc , chữa trị nhiều bệnh đường ruột, dạ dày, nôn ra máu, hô hấp, …và đồ uống bổ dưỡng (Đỗ Tất Lợi, 2004), ngoài ra gỗ được sử dụ ng làm nhà hoặc đóng đồ Một cây Ươi sai quả có thể cho năng suất 40-70 kg quả/năm và đem lại lợi nhuận hàng nhiều triệu đồng cho người dân (Hồ Hỷ, 2005; Lê Quốc Huy và cộng sự , 2010a; Lê Quốc Huy, 2012) Do thân cây Ươi thẳng, cao tới 25-30 m, chèo thu hái quả rất khó khăn, nên người dân thường chặt hạ cả cây để khai thác quả (khai thác triệt) dẫn đến tình trạng các quần thể Ươi tự nhiên bị tàn phá , suy thoái nghiêm trọng
cả về số lượng và chất lượng Điều này làm cho số phận cây Ươi , một loài cây vốn dĩ đã bị đe dọa (MoST, 2007) ngày càng trầm trọng hơn và nhanh đi đến bờ vực diệt chủng (Lê Quốc Huy, 2012)
Các nghiên cứu về cây Ươi tại Việt Nam tập trung vào các vấn đề cơ bản
và đạt được các kết quả quan trọng về đặc điểm sinh lý sinh thái cá thể, quần thể, ảnh hưởng tác động của một số biện pháp khai thác, quản lý; một số nghiên cứu bước đầu về kỹ thuật gây trồng cây con từ hạt, và nhân giống vô tính hom, đã có những kết quả nghiên cứu bước đầu về chọn cây trội, khảo nghiệm xuất xứ tại Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ Tuy nhiên chúng ta chưa có nghiên cứu cụ thể nào nhằm cải thiện giống theo hướng kinh doanh quản lý cây Ươi như loài cây ăn quả trong vườn rừng hộ gia đình, có thân cây thấp và hình tán rộng, năng suất quả cao, dễ dàng thu hái và do đó gây trồng cây Ươi sẽ mang lại hiệu quả cao hơn, không bị chặt phá và sẽ phát triển bền vững Những nghiên
Trang 1515
cứu cụ thể cây Ươi về đặc điểm sinh thái, phân bố, tình trạng quản lý và biện pháp nhân giống gây trồng cho mô hình vườn rừng hộ gia đình có thể giải quyết được mục tiêu định hướng nêu trên
Kết quả nghiên cứu của đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm học làm cơ sở
quản lý và đề xuất một số giải pháp phát triển loài Ươi (Scaphium macropodum
(Miq.) Beumée ex K.Heyne) tại khu vực phía Nam Vườn quốc gia Cát Tiên” sẽ
cung cấp những kiến thức cơ bản của loài Ươi về đặc điểm sinh thái và phân bố của cây Ươi tại khu vực nghiên cứu trên cơ sở đó đề xuất biện pháp quản lý nhằm phát triển loài Ươi từ tự nhiên, trồng rừngbảo tồn và cải thiện đời sống người dân vùng đệm VQG Cát Tiên
Trang 1616
Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được một số đặc điểm lâm học của loài Ươi tại KVNC
- Đề xuất một số biện pháp quản lý và định hướng phát triển loài Ươi KVNC
2.2 Đối tượng và giới hạn của đề tài
2.2.1 Đối tượng của đề tài
Loài cây: Ươi có phân bố tự nhiên tại phía Nam VQG Cát Tiên
Tên khoa học: Scaphium macropodum (Miq.) Beumese ex K.Heyne
Họ: Trôm (Sterculiaceae)
2.2.2 Giới hạn đề tài
2.2.2.1 Giới hạn về nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu đặc điểm phân bố , đặc điểm lâm phần , đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Ươi
2.2.2.2 Giới hạn về phạm vi nghiên cứu
Tại khu vực phía Nam VQG Cát Tiên (thuộc khu bảo vệ nghiêm ngặt) nơi
có loài Ươi phân bố tự nhiên
2.2.2.3 Giới hạn về thời gian nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu từ tháng 05/2016 đến tháng 11/2016
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu đã đề ra cả về lý luận cũng như thực tiễn, đề tài tiến hành nghiên cứu các nội dung sau:
2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Ươi
2.3.1.1 Đặc điểm phân bố của loài Ươi theo đai độ cao
2.3.1.2 Đặc điểm phân bố của loài Ươi theo kiểu rừng
2.3.1.3 Đặc điểm phân bố của loài Ươi với loài cây đi kèm
2.3.1.4 Đặc điểm đất tại khu vực nghiên cứu
Trang 1717
2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng nơi có loài Ươi phân bố
2.3.2.1.Đặc điểm cấu trúc tổ thành loài
2.3.2.2.Đặc điểm cấu trúc tầng thứ quần xã nơi loài Ươi phân bố
2.3.2.3.Đặc điểm cấu trúc mật độ và độ tàn che
2.3.3 Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên nơi có loài Ươi phân bố
2.3.3.1 Đặc điểm tổ thành tái sinh và phân bố tầng cây tái sinh tại KVNC
2.3.3.2 Đặc điểm phân bố cây theo cấp chiều cao , chất lượng và nguồn gốc tái
sinh tự nhiên
2.3.3.3 Đặc điểm tái sinh loài Ươi tại KVNC
2.3.3.4 Đặc điểm tầng cây bụi thảm tươi
2.3.4 Đề xuất một số biện pháp quản lý và định hướng phát triển loài Ươi tại
VQG Cát Tiên
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Cơ sở phương pháp luận
Cơ sở khoa học của phương pháp luận dựa trên những quan niệm sau đây:
Rừng là một hệ sinh thái và chịu sự chi phối của các yếu tố khí hậu, địa
hình, đặc điểm đất, sinh vật và con người Nói khác đi rừng là một hàm số chịu
sự ảnh hưởng của các biến khí hậu, địa hình, đất, sinh vật và con người Vì vậy,
sự hình thành và phát triển của loài nói riêng và hệ sinh thái nói chung được xem
xét trong quan hệ với những yếu tố môi trường
Tái sinh tự nhiên của rừng luôn được kiểm soát bởi rất nhiều nhân tố; do
đó những đặc trưng về tái sinh tự nhiên của rừng phải được xem xét và đánh giá
trong quan hệ với kết cấu, cấu trúc quần xã thực vật
Một phương thức bảo tồn và phát triển rừng hợp lý phải cân nhắc đầy đủ
những quy luật sống của rừng đó là quy luật tái sinh, sinh trưởng và phát triển,
diễn thế và cấu trúc rừng, Vì thế, những biện pháp bảo tồn và phát triển loài
nói riêng và quần xã thực vật nói chung phải dựa trên không chỉ đặc trưng kết
cấu và cấu trúc quần xã thực vật rừng mà còn cả tình trạng tái sinh rừng
Trang 18(6)
2.4.2 Phương pháp kế thừa
Thu thập và kế thừa các tài liệu liên quan đến khu vực nghiên cứu bao gồm bản đồ địa hình, bản đồ hiện trạng thực vật rừng, các tài liệu về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội, các nguồn tài liệu đã được xuất bản (sách, tạp chí, Sách
đỏ Việt Nam), các báo cáo nghiên cứu khoa học ở khu vực, các tài liệu đã công
Xác định vấn đề nghiên cứu
Điều tra sơ bộ thực địa
Rừng tự nhiên
Thu thập tài liệu có liên quan
- Tham khảo các tài liệu có liên quan
quả nghiên cứu
Đề xuất giải pháp phát triển
loài
Trang 1919
bố hoặc chưa công bố về thảm thực vật, hệ thực vật và tình hình bảo tồn đa dạng thực vật ở Khu vực nghiên cứu
2.4.3 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
2.4.3.1 Đặc điểm phân bố loài Ươi theo đai độ cao
Sử dụng máy định vị GPS (64S) để xác định độ cao phân bố của các cây Ươi phân bố trong tự nhiên, ghi chép độ cao của từng cây Ươi trong quá trình điều tra vào sổ nhật ký điều tra ngoại nghiệp
* Phân bố của loài Ƣơi với loài cây đi kèm
Sử dụng phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn 6 cây bằng cách chọn Ươi làm tâm ô điều tra Đo các chỉ tiêu Hvn, D1.3, Dt và khoảng cách của 6 cây gần nhất với đối tượng nghiên cứu Tổ thành những loài cây này là tổ thành rừng tự nhiên hỗn giao phù hợp nhất với cây Ươi
Điều tra ô tiêu chuẩn 6 cây
Tên loài nghiên cứu: Ươi Khu vực nghiên cứu: ………
Loại rừng: ……… Ngày điều tra: ………
Độ tàn che chung: ………… Người điều tra: ………
Địa hình: ………
lƣợng Khoảng cách
Ươi
Cây số 1
Cây số 2
Cây số 3
Cây số 4
Cây số 5
Cây số 6
2.4.3.2 Phương pháp điều tra đặc điểm sinh thái và lâm học nơi có loài Ươi phân bố
* Điều tra đặc điểm đất:
Trang 2020
Mỗi QXTVR nơi có loài Ươi phân bố đào một phẫu diện đất Sau đó, lấy khoảng 1,0 kg để phân tích tại phòng thí nghiệm đất của Bộ môn nông hóa - thổ nhưỡng thuộc Viện nghiên cứu Cao su - huyện Bến Cát - tỉnh Bình Dương
Điểm đào phẫu diện là vị trí trung tâm mang tính đại diện cho toàn vùng Phẫu diện rộng 1,2m, dài 1,5m, sâu đến tầng đá mẹ hoặc sâu 1,5 - 2m ở nơi có tầng đất dày
* Điều tra cấu trúc tầng cây cao và tái sinh tự nhiên:
- Cấu trúc tầng cây cao
Căn cứ vào điều kiện địa hình và mục đích nghiên cứu để lập 3 OTC điển hình, tạm thời nơi có loài Ươi phân bố tập trung:
+ Thiết lập các OTC điển hình (diện tích mỗi ô là 2000 m2
) + Trong OTC tiến hành đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng (D1.3, DT, Hvn) của tất cả các loài cây thân gỗ có D1.3 ≥ 6 cm, theo các phương pháp điều tra lâm học hiện hành
+ Đánh giá chất lượng cây trong ô bằng cách mục trắc để xác định cây tốt, cây trung bình, cây xấu Câu tốt (T) là những cây thân thẳng, đẹp, tròn đều, tán đều không cong queo, sâu bệnh, không cụt ngọn, sinh trưởng và phát triển tốt Cây trung bình (TB) là những cây có thân cân đối, tán đều không cong queo, không sâu bệnh, không cụt ngọn, sinh trưởng và phát triển bình thường Cây xấu
(X) là những cây cong queo, sâu bệnh, cụt ngọn, sinh trưởng và phát triển kém
Trang 2121
Bảng điều tra tầng cây cao
Số hiệu OTC:…… Diện tích OTC:…… Loại rừng:……
H vn (m)
D DC (m)
D T (m) Chất
Lƣợng
Ghi chú
ĐT NB TB
1
…
N
* Điều tra độ tàn che
Sử dụng phương pháp điều tra theo điểm Trên mỗi ÔTC, xác định 100 điểm phân bố đều, dùng dụng cụ điều tra ngắm lên tán cây để xác định độ tàn che Nếu thấy tán lá tầng cây cao che kín, thì điểm đó ghi số 1, nếu không có gì che lấp, ghi
số 0 và nếu những điểm còn nghi ngờ thì ghi 0,5 Ngoài ra, độ tàn che của từng OTC còn được xác định thông qua vẽ phẫu đồ rừng
- Điều tra tái sinh rừng tự nhiên
Với mỗi OTC đã lập ở trên, lập 3 tuyến song song (dài 50 m) cách nhau
10 m, trên mỗi tuyến lập 3 ODB cách nhau 15 m (tổng số 09 ODB/1OTC, diện tích mỗi ô là 25 m2
(5 m x 5 m) để điều tra cây tái sinh (các chỉ tiêu xác định
theo mẫu biểu điều tra cây tái sinh)
Hình 2.2.Sơ đồ bố trí ODB trong OTC
15 m
10 m 5m
5m
Trang 2222
Bảng điều tra cây tái sinh
Số hiệu OTC:…… Số hiệu ODB:…… Diện tích ODB:……… Loại rừng:……… Độ dốc:………… Hướng dốc:………… Địa hình:…… … Ngày điều tra:……… Người điều tra:……
T TB X T TB X T TB X T TB X
1
…
N
- Xây dựng bản đồ cơ sở dữ liệu loài Ươi bằng GIS: Trên cơ sở dữ liệu tọa
độ phân bố cây Ươi, chồng ghép với các lớp bản đồ khu vực VQG Cát Tiên, tiến hành xây dựng bản đồ về phân bố cây Ươi: Dựa vào cơ sở dữ liệu các tọa độ cụ thể, lập cơ sở dữ liệu và nhập vào phần mềm Mapinfor Từ đó, xác định khu vực còn cây Ươi nhiều, trung bình, ít và không có để có giải pháp lập kế hoạch xúc tiến các biện pháp bảo tồn thích hợp
2.4.4 Phương pháp nội nghiệp
Sử dụng các phương pháp xử lý thống kê toán học trong lâm nghiệp với
sự hỗ trợ của các phần mềm ứng dụng như: Excel, SPSS, Mapinfor …
Trang 23Trong đó: IVi% là tỷ lệ tổ thành (chỉ số quan trọng) của loài i
Ni% là % số cây của loài i trong QXTVR
Gi% là % tiết diện ngang của loài i trong QXTVR
Trang 24* Cấu trúc tầng thứ
Phương pháp vẽ phẫu đồ đứng: Chọn dải rừng đại diện trong OTC có chiều rộng 10 m, chiều dài 50 m Căn cứ vào các chỉ tiêu sinh trưởng: Chiều cao, đường kính thân cây, bề rộng và bề dày tán lá,vị trí, khoảng cách giữa các cây có
D1.3> 6 cm của tất cả cây rừng trong OTC điển hình tạm thời, sau đó biểu diễn lên phẫu đồ tỷ lệ 1/200
* Mật độ
Cấu trúc mật độ là chỉ tiêu biểu thị số lượng cá thể của từng loài hoặc của tất
cả các loài tham gia trên một đơn vị diện tích (thường là 1 ha), phản ánh mức độ tận dụng không gian dinh dưỡng và vai trò của loài trong QXTVR
Công thức xác định mật độ như sau:
N là tổng số điểm điều tra
* Tổ thành cây tái sinh
N n
TC 1
Trang 25Sử dụng các giá trị Ki để viết công thức tổ thành theo quy định
* Xây dựng bản đồ cơ sở dữ liệu loài Ươi bằng GIS, thông qua phần mềm
Mapinfor
Trang 2626
Chương 3 ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1.Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí, ranh giới
VQG Cát Tiên nằm trên địa phận các huyện Vĩnh Cửu, Tân Phú (tỉnh
Đồng Nai), Cát Tiên, Bảo Lâm (tỉnh Lâm Đồng) và Bù Đăng (tỉnh Bình Phước),
* Tọa độ địa lý
11o20’50’’ – 11o50’20” độ vĩ Bắc
107o09’05” – 107o35’20” độ kinh Đông
* Phạm vi ranh giới
+ Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Đắc Nông và tỉnh Bình Phước
+ Phía Nam giáp Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp La Ngà (tỉnh Đồng Nai)
+ Phía Đông có ranh giới là sông Đồng Nai, giáp tỉnh Lâm Đồng
+ Phía Tây giáp Khu Bảo tồn thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai (tỉnh Đồng Nai)
* Tổng diện tích tự nhiên là 72.634,30 ha, trong đó:
+ Khu vực Nam Cát Tiên thuộc địa phận tỉnh Đồng Nai: 40.963,46 ha
+ Khu vực Tây Cát Tiên thuộc địa phận tỉnh Bình Phước: 4.410,58 ha
+ Khu vực Bắc Cát Tiên thuộc địa phận tỉnh Lâm Đồng: 27.260,26 ha
3.1.2 Địa hình
VQG Cát Tiên nằm trong vùng địa hình chuyển tiếp từ cao nguyên cực Nam Trung bộ đến Đồng bằng Nam bộ, bao gồm các kiểu địa hình đặc trưng của phần cuối cùng dãy Trường Sơn và địa hình vùng Đông Nam bộ, có 5 kiểu chính:
+ Kiểu địa hình núi cao, sườn dốc: Chủ yếu ở phía Bắc VQG Cát Tiên Độ cao so với mặt nước biển từ 200 – 600m, độ dốc 15 – 200, có nơi trên 300 Địa hình là các dạng sườn dốc, phân bố giữa thung lũng sông, suối và dạng đỉnh
Trang 2727
bằng phẳng Mức độ chia cắt phức tạp và cũng là đầu nguồn của các suối nhỏ chảy ra sông Đồng Nai
+ Kiểu địa hình trung bình sườn ít dốc: ở phía Tây Nam VQG Cát Tiên
Độ cao so với mặt nước biển từ 200 – 300m, độ dốc 15 – 200, độ chia cắt cao Đây là vùng thượng nguồn của nhiều con suối lớn chảy ra sông Đồng Nai như suối Đaklua, Đatapok
+ Kiểu địa hình đồi thấp, bằng phẳng: ở phía Đông Nam VQG Cát Tiên
Độ cao so với mặt nước biển 130 – 150m, độ dốc 5 – 70 Độ chia cắt thưa
+ Kiểu địa hình bậc thềm sông Đồng Nai và dạng đồi bát úp tiếp giáp đầm hồ:Độ cao so với mặt nước biển 130m, chạy dọc theo sông Đồng Nai và vùng ven sông Đồng Nai phía Tây Bắc Vườn từ khu vực giáp ranh Bình Phước – Đồng Nai đến Tà Lài, bề rộng khoảng 1.000m
+ Kiểu địa hình thềm suối xen kẽ với hồ đầm: Độ cao so với mặt nước
biển thấp hơn 130m, như các bầu nước: Bầu Cá, Bầu Chim, Bầu Sấu
VQG Cát Tiên thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, độ cao
so với mặt nước biển cao nhất là 626m ở Lộc Bắc, thấp nhất là 115m ở Núi Tượng
3.1.3 Địa chất - thổ nhưỡng
Nền địa chất của VQG Cát Tiên với 3 cấu tạo chính là Trầm tích, Bazal và
Sa phiến thạch đã phát triển hình thành 4 loại đất chính:
+ Đất Feralit phát triển trên đá bazan (Fk), chiếm gần 60% tổng diện tích Vườn, phân bố ở khu vực phía Nam, là loại đất giàu chất dinh dưỡng, đất tốt, sâu, dầy màu đỏ hoặc nâu đỏ và nâu đen có nhiều đá Tubf núi lửa lộ đầu chưa bị phong hóa hết Ở trên đất này rừng phát triển tốt có nhiều loài cây gỗ quý và khả năng phục hồi của rừng cũng nhanh
+ Đất Feralit phát triển trên đá cát (Fq), chiếm diện tích lớn thứ 2 của VQG vào khỏang 20% có phân bố chủ yếu ở phía Bắc Vườn, dọc thượng nguồn sông Đồng Nai Một số tài liệu còn gọi đất này là đất xám bạc màu trên đá axit
Trang 2828
hoặc đá cát Về độ phì của đất này kém đất phát triển trên đá bazal, nhờ có sự che phủ của thảm thực vật rừng nên tầng đất vẫn dày, giữ được các tính chất tự nhiên của đất
+ Đất Feralit phát triển trên phù sa cổ (Fo), gồm các đất bồi tụ ven suối, ven sông Đồng Nai cũng chiếm một diện tích không nhỏ, chiếm khoảng 10% tổng diện tích Vườn, chủ yếu tập trung ở phía Bắc và phía Đông Nam của Vườn Phân bố ở nơi địa hình khá bằng phẳng và những vùng trũng bị ngập nước vào mùa mưa Loại đất này nghèo dinh dưỡng, có mực nước ngầm nông nên khá thuận lợi cho sự sinh trưởng phát triển của cây rừng trong mùa khô
+ Đất Feralit phát triển trên đá sét (Fs), có diện tích không lớn, chiếm khoảng 8% tổng diện tích Vườn, phân bố ở phía Nam xen kẽ các vạt đất phát triển trên đá bazal Loại đất này có độ phì khá, nhưng thành phần cơ giới nặng nên khi mất rừng thì đất dễ bị thoái hóa một cách nhanh chóng
3.1.4 Khí hậu
- VQG Cát Tiên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Trong năm có
2 mùa rõ rệt (mùa khô và mùa mưa) Mùa mưa thường từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô thường từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
- Do địa hình của VQG Cát Tiên nằm trên 2 vùng địa hình là vùng núi và vùng đồi có độ cao tuyệt đối khác nhau nên về khí hậu của 2 vùng cũng có sự
khác nhau khá rõ rệt giữa khu Bắc và khu Nam VQG Cát Tiên
Trang 2929
Trên các hệ suối chính thường có nước vào mùa khô, còn phần thượng nguồn và các suối nhánh, một số suối nhỏ ngắn thường khô hạn Mùa mưa nước dâng cao trong các chân núi và thung lũng ở khu vực Cát Lộc và ngập tràn trên diện tích khá lớn ở khu vực Nam Cát Tiên Hệ bầu có diện tích nước ngập khoảng 2.500
ha vào mùa mưa và thu hẹp lại khoảng 100 – 150 ha vào mùa khô, đây cũng là nơi sâu nhất của các bầu như Bầu Cá, Bầu Chim, Bầu Sấu
Đặc điểm thủy văn ở VQG Cát Tiên bao gồm sông, suối, thác, gềnh, thung lũng, bầu, đầm lầy và các vùng bán ngập nước đều hiện diện ở VQG Cát Tiên điều đó đã làm tăng giá trị về tính ĐDSH và tôn tạo cảnh quan thiên nhiên
3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.2.1 Dân số, dân tộc và lao động
VQG Cát Tiên có diện tích nằm trên địa bàn của 7 xã: Đắc Lua (huyện Tân Phú), Phú Lý (huyện Vĩnh Cửu) thuộc tỉnh Đồng Nai; Đăng Hà (huyện Bù Đăng) thuộc tỉnh Bình Phước; Lộc Bắc (huyện Bảo Lâm), Phước Cát 2, Tiên Hoàng, Đồng Nai Thượng (huyện Cát Tiên) thuộc tỉnh Lâm Đồng Trong các xã trên có 6 xã có nhiều hoạt động ảnh hưởng tới công tác quản lý bảo vệ rừng và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên của VQG Cát Tiên Những đặc điểm về dân số, dân tộc của các xã như sau:
Bảng 3.1 Dân số, dân tộc của các xã sống ven VQG Cát Tiên
1 Đồng Nai Thượng 415 1.739 Mạ, Tày, Chil, Stiêng, Khmer, Kinh
2 Tiên Hoàng 775 3.151 Kinh, Dao, Tày, Mường, Châu Mạ
3 Phước Cát 2 594 2.727
Kinh, Tày, Nùng, Dao, Châu Mạ, Mường, Ê Đê, K Ho, Stiêng, Cao Lan, Chăm, Thái
Tổng 7.705 33.074
Trang 3030
3.2.2 Kinh tế hộ gia đình
Thu nhập chính của các hộ dân là từ sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, diện tích đất nông nghiệp còn hạn chế, phương thức canh tác lạc hậu, nhiều hộ đồng bào dân tộc chỉ độc canh cây Điều, do sử dụng giống đại trà nên năng suất thấp, đời sống kinh tế của người dân gặp nhiều khó khăn, thiếu đói thường xuyên
Tỷ lệ hộ nghèo trong vùng còn cao: Cao nhất là xã Phước Cát 2 19,86% tiếp theo là xã Đăng Hà 18,80%, đây là những xã có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống (xem bảng 02)
Bảng 3.2 Thu nhập và tỷ lệ đói nghèo tại VQG Cát Tiên
Hạng
Bình quân
Phân theo xã Đồng
Nai Thượng
Tiên Hoàng
Phước Cát 2
Phú
Lý
Đắc Lua
+ Về chăn nuôi: Chủ yếu là chăn nuôi gia súc, gia cầm theo quy mô hộ gia đình nhỏ lẻ
+ Về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ khu vực này ít phát triển, không có các khu công nghiệp, cơ sở gia công, chế biến lớn có khả năng thu hút lao động địa phương, nông nhàn, đây là khó khăn lớn để chuyển dịch cơ
Trang 3131
cấu kinh tế, giải quyết việc làm của các địa phương theo hướng Nông – Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
3.2.4 Cơ sở hạ tầng
- Về văn hóa, giáo dục: Hệ thống các trường học (tiểu học, trung học cơ
sở, trung học phổ thông) đã đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh trong độ tuổi
đi học bậc tiểu học, trung học cơ sở
- Về Y tế: Các xã đã có trạm y tế, có đội ngũ y, bác sỹ khám, chữa bệnh thông thường, tiêm chủng mở rộng các loại vắc xin phòng ngừa dịch bệnh, những bệnh nhân hiểm nghèo được chuyển lên các tuyến trên cứu chữa kịp thời
- Về bưu chính, viễn thông: Việc thông tin liên lạc đã được phủ sóng 100% với 2 hình thức là các mạng điện thoại cố định, di động
- Tất cả các xã đều có hệ thống loa phát thanh, truyền hình của trung ương
và địa phương
- Trên 85% số hộ sử dụng điện lưới quốc gia phục vụ sản xuất và sinh hoạt
- Trên 80% số hộ sử dụng nước giếng khoan đạt tiêu chuẩn phục vụ sinh hoạt
3.2.5 Những tác động của vùng đệm đối với công tác quản lý bảo vệ rừng của VQG Cát Tiên
- Sự di dân tự do và sự gia tăng dân số trên các xã địa bàn vùng đệm vẫn chưa kiểm soát được
- Chiều dài đường ranh giới của VQG Cát Tiên khoảng 250 km, khu vực giáp với tỉnh Đắc Nông và tỉnh Bình Phước không có đường tuần tra, lại ở cạnh sông Đồng Nai lực lượng kiểm lâm ít nên việc đi lại, tuần tra, kiểm soát, bảo vệ rừng rất khó khăn
- Dân cư phân bố trên quy mô rộng, phân tán, rất khó quản lý, kiểm soát
- Các hoạt động trái phép vào rừng không tuân theo quy luật, kẻ xấu lợi dụng những sơ hở là không gặp lực lượng tuần tra, bảo vệ rừng thì sẽ xâm phạm vào rừng
Trang 3232
- Những địa phương có đường ranh giới với VQG Cát Tiên là sông Đồng Nai thì các hoạt động xâm phạm vào rừng thường là: Khai thác lâm sản, săn bắt thú rừng
- Những địa phương có đất sản xuất nông nghiệp, các cụm dân cư nằm sát ranh giới VQG Cát Tiên thì ngoài các hoạt động khai thác lâm sản, săn bắt thú rừng chăn thả gia súc vào VQG, lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy
- Việc cải tạo, chuyển đổi đất lâm nghiệp sang trồng Cao su tại các xã thuộc vùng đệm của VQG Cát Tiên thuộc huyện Bù Đăng – tỉnh Bình Phước hiện gây ra những sức ép rất lớn đối với VQG Cát Tiên do cạn kiệt nguồn tài nguyên rừng tự nhiên rừng trồng, một bộ phận dân cư không còn đất sản xuất nông nghiệp, nhất là đồng bào dân tộc không có vốn đầu tư trồng Cao su, từ đó
đã gia tăng các hoạt động xâm phạm trái phép vào rừng của VQG Cát Tiên vì sinh kế, việc làm
- Sự phát triển của cơ sở hạ tầng khu vực xung quanh VQG Cát Tiên đã tạo điều kiện thuận lợi trong đi lại, giao lưu hàng hóa, cải thiện điều kiện sinh hoạt, ăn ở, khám chữa bệnh, học hành của con em trong độ tuổi đi học, nhưng song song với những điều đó cũng làm gia tăng tình trạng xâm nhập trái phép vào VQG Cát Tiên
3.3 Đánh giá chung
3.3.1 Thuận lợi
- Xây dựng được các mối quan hệ hợp tác tốt đẹp giữa Vườn và các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường
- VQG Cát Tiên ngày càng được nhiều người biết đến thông qua những giá trị đa dạng sinh học, đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ chuyên môn Từ
đó tạo dựng các mối quan hệ hợp tác mới đóng góp tích cực vào công tác xây dựng, bảo vệ và phát triển Vườn
Trang 3333
- Các dự án còn mang lại những hiệu quả xã hội to lớn, đó là giải quyết việc làm cho cộng đồng dân cư, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo Ý thức của các cấp chính quyền và người dân về bảo vệ, khai thác rừng được nâng cao Tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp đã được quản lý và khai thác hợp lý hơn, sản xuất lâm nghiệp đã mang lại sự thay đổi về kinh tế, văn hóa, xã hội của các địa phương
3.3.2 Khó khăn
- VQG Cát Tiên có địa bàn rộng, đường giao thông đi lại khó khăn và tiếp giáp với nhiều khu vực dân cư các đối tượng xấu có thể xâm nhập vào rừng bằng nhiều con đường khác nhau
- Một bộ phận người dân các xã vùng ven trình độ nhận thức còn hạn chế, đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, nhất là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số,
do cuộc sống của họ còn phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp, nhưng trong những năm qua thời tiết không thuận, dẫn đến mất mùa, giá cả nông sản bấp bênh, nên đã gây áp lực đến công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng hàng năm
- Nhu cầu sử dụng lâm sản và lợi nhuận từ khai thác, săn bắn, mua bán trái phép lâm sản là rất lớn đã làm động lực gia tăng các vụ vi phạm về quản lý
Trang 34- Các đe dọa do các yếu tố về kinh tế - xã hội là: Săn bắt và buôn bán động vật hoang dã, khai thác các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ (song mây, quả cây, dầu cây, ), xâm lấn đất lâm nghiệp của VQG để canh tác nông nghiệp, hủy hoại
và làm suy thoái các sinh cảnh, chăn thả gia súc tự do trong VQG, xung đột giữa người và động vật hoang dã của VQG (Voi, Heo rừng), nguy cơ cháy rừng, ô nhiễm nguồn nước do sử dụng hóa chất trong sản xuất nông nghiệp, xây dựng đập thủy điện ở sông Đồng Nai (Thủy điện Đồng Nai 4, 5) Tác động tiêu cực của phát triển du lịch (rác thải, tiếng ồn, thu hái lâm sản, )
Trang 3535
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Đặc điểm phân bố loài Ươi
4.1.1 Phân bố loài Ươi theo đai cao và khu vực
Đai độ cao là một nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến sự phân bố của hệ sinh thái rừng nói chung và loài nói riêng Tùy vào từng điều kiện vĩ độ, vùng phân
bố ở những đai cao khác nhau thì thành phần loài, mức độ phân bố của loài thực vật có sự khác nhau Theo xu hướng khi lên cao nhiệt độ trung bình sẽ giảm xuống kéo theo sự phân chia các kiểu rừng (trạng thái rừng) khác nhau, cụ thể là mức độ phân bố thực vật sẽ thay đổi Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của đai độ cao đến sự phân bố loài Ươi tại khu vực phía Nam Vườn Quốc gia Cát Tiên được tổng hợp ở bảng 4.1
Bảng 4.1 Phân bố loài Ươi theo đai độ cao tại KVNC Đai độ cao
(m)
Địa danh
Số lượng
Đa Boong Cua
Tà Lài
Bầu Sấu C10
Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra
Với sự đa dạng về địa hình phân bố của loài Ươi tại khu vực phía Nam VQG Cát Tiên, thấp nhất là 84m và cao nhất 334 m so với mặt nước biển Căn
cứ vào kết quả điều tra thực tế chúng tôi phân chia đai độ cao của khu vực nghiên cứu thành 4 đai độ cao tương ứng: Đai dưới 100 m; đai từ 100 đến dưới
200 m; đai 200 m đến dưới 300 m và đai trên 300 m Khu vực này là nơi hội tụ của hầu hết các bậc phân chia độ cao địa hình và sau đó là các đai khí hậu của Đông Nam Bộ Chính vì lẽ đó mà loài Ươi nói riêng và thực vật rừng nói chung
ở khu vực nghiên cứu có sự phân hóa khá rõ ràng
Trang 3636
Thêm vào đó, địa hình và sự biến đổi theo độ cao có vai trò quan trọng, ảnh hưởng nhiều đến các yếu tố phát sinh khác của hệ thực vật Do vậy, việc tìm hiểu phân bố của loài Ươi theo địa hình và sự phân bố của chúng theo độ cao ở VQG Cát Tiên sẽ giúp chúng ta hiểu thấu đáo hơn về hệ thực vật đặc biệt này, đồng thời góp phần quan trọng cho công tác quy hoạch bảo tồn của VQG Cát Tiên
Kết quả bảng 4.1 cho thấy, về tổng thể sự phân bố của loài Ươi theo đai
độ và khu vực phân bố có sự biến động rõ ràng
Đai độ cao dưới 100 m (84 m đến dưới 100 m) chỉ có 23 cá thể, con số này so với tổng số 2.942 cá thể được điều tra cho thấy, loài Ươi tỏ ra không thích nghi với đại độ cao này Do đó, trong công tác bảo tồn và phát triển loài bằng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh như: Xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung, trồng mới rừng, …, không nên áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh để bảo
tồn và phát triển loài ở đai độ cao dưới 100 m
Ở đai độ cao từ 100 m đến dưới 200 m số cá thể tăng lên đáng kể với tổng
số 441 cá thể loài Ươi phân bố ở đai độ cao này và chiếm khoảng 1/7 tổng số loài điều tra tai khu vực nghiên cứu Tiếp theo là đai độ cao > 300 m so với mực nước biển số cá thể lại giảm xuống còn khoảng 277 cá thể chiếm 1/10 so với tổng số cá thể điều tra Với những phân tích ở trên có thể thấy, ở đai độ cao 100 đến dưới 200 m và đai độ cao > 300 m loài Ươi có khả năng thích nghi khá tốt
Do vậy, trong bảo tồn và phát triển loài có thể sử dụng kết quả này vào các biện pháp kỹ thuật lâm sinh như trông mới, trồng bổ sung, xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung ở đai độ cao 100 đến dưới 200 m và trên 300 m Tuy nhiên, cần có những cân nhắc và áp dụng một cách thận trọng vì đây không phải là các đai cao tối thích đối với phân bố của loài Ươi
Tổng số cá thể loài Ươi phân bố ở đai độ cao từ 200 đến dưới 300 m là
2201 cá thể chiếm 3/4 tổng số cá thể điều tra tại khu vực nghiên cứu Có thể thấy rằng ở đai độ cao này loài ươi tái sinh, sinh trưởng và phát triển một cách mạnh
mẽ nhất và có thể coi đây là đai độ cao tối thích của loài Ươi tại khu vực phía Nam VQG Cát Tiên Kết quả nghiên cứu ở đai độ cao này định hướng cho công
Trang 3737
tác bảo tồn và phát triển loài Ươi này bằng cách tiến hành các biện pháp kỹ thuật lâm sinh ở đai độ cao 200 đến dưới 300 m so với mực nước biển Đặc biệt là trong trồng mới rừng, trồng bổ sung, …kết hợp với phát luỗng, xử lý các loài cây phi mục đích để tạo điều kiện tốt nhất cho loài Ươi sinh trưởng và phát triển thuận lợi, đáp ứng mục tiêu bảo tồn, phát triển loài này tại VQG Cát Tiên
Dẫn liệu bảng 4.1 cũng cho thấy, vùng phân bố có ảnh hưởng đến số cá thể loài Ươi tại KVNC Dẫn liệu cho thấy, ở đai độ cao dưới 100 m loài Ươi chỉ xuất hiện ở vùng Sa Mách với tổng số 23 cá thể, các vùng khác đều không có cá thể nào xuất hiện Như vậy, ở khu vực Sa Mách loài Ươi có thể tồn tại, sinh trưởng và phát triển được, không nên đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm mục đích bảo tồn và phát triển loài ở các khu vực Bầu Sấu, Đất Đỏ, C10, Đăng Hà, Đăng Bông Cua
Ở đai độ cao từ 100 m đến dưới 200 m cho thấy số cá thể loài Ươi xuất hiện ở tất cả các vùng nghiên cứu Tuy nhiên, vùng có số cá thể phân bố nhiều nhất là Sa Mách với 195 cá thể (so với 441 cá thể điều tra được ở đai độ cao này), tiếp đó là Tà Lài, Đất Đỏ, Bầu Sấu, thấp nhất là vùng Đăng Hà với chỉ 2
cá thể Rõ ràng vùng Sa Mách ở những nơi có đai độ cao từ 100 m đến dưới 200
m có thể sử dụng để bảo tồn và phát triển loài này
Ở đai độ cao 200 m đến dưới 300 m các cá thể Ươi cũng phân bố ở tất cả các vùng nghiên cứu Nhưng tập trung số cá thể lớn nhất ở khu vực Đất Đỏ với 1613 cá thể chiếm 3/4 trong tổng số 2201 cá thể ở đai độ cao này Điều đó có nghĩa vùng Đất đỏ ở những nơi có đai độ cao phân bố từ 200 m đến dưới 300 m là vùng sinh thái tối thích để loài Ươi có thể tồn tại và phát triển Trong công tác bảo tồn và phát triển loài có thể lựa chọn vùng sinh thái Đất Đỏ ở những nơi có độ cao 200 m đến dưới 300 m để bảo tồn loài bằng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh thuần túy
Đai độ cao trên 300 m cho thấy vùng Đăng Hà là nơi loài Ươi có thể phân
bố, sinh trưởng và phát triển tốt Điều này được chứng minh bằng 225 cá thể tồn tại nơi đây (trong tổng số 277 cá thể), các vùng sinh thái khác như C10, Bầu Sấu, Tà Lài, Đa Bông Cua không có cá thể nào xuất hiện, đồng nghĩa các vùng này không thích hợp để bảo tồn và phát triển loài này (Có Hình 4.1 minh họa)
Trang 3838
Hình 4.1 Bản đồ phân bố loài Ƣơi theo đai độ cao tại KVNC
Trang 3939
4.1.2 Phân bố loài Ươi theo kiểu rừng (Trạng thái rừng)
Trạng thái rừng là một nhân tố sinh thái (nhân tố thực vật) có ảnh hưởng đến sự phân bố của loài thực vật Trạng thái rừng khác nhau đồng nghĩa với cấu trúc rừng: tổ thành loài, cấu trúc tầng thứ, độ tàn che, mật độ, kiểu phân bố, …sẽ khác nhau Do đó trạng thái rừng khác nhau ảnh hưởng đến sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của loài Khi nghiên cứu sự phân bố loài Ươi theo kiểu rừng tại khu vực nghiên cứu kết quả được tổng hợp tại bảng 4.2 và hình 4.2
Bảng 4.2 Phân bố loài Ƣơi theo kiểu rừng (trạng thái rừng)
lƣợng
Tỷ lệ (%)
1 Rừng hỗn giao gỗ - tre nứa HG 1550 52,68
2 Rừng gỗ tự nhiên LRTX nửa rụng lá TX 1326 45,07
4 Rừng gỗ tự nhiên LRTX phục hồi TXP 3 0,10
Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra
Dẫn liệu bảng 4.2 cho thấy, trạng thái rừng có ảnh hưởng đến sự phân bố
số lượng cá thể loài Ươi tại KVNC Số lượng cá thể biến động từ 3 cá thể đến
1550 cá thể ở mỗi trạng thái rừng Trong đó, trạng thái rừng hỗn giao tre nứa- gỗ (HG) sau đây gọi là rừng tre nứa – gỗ, có số lượng lớn nhất với 1550 cá thể chiếm 52,68% tổng số cá thể điều tra Ở vị trí thứ hai với 1326 cá thể chiếm 45,07% là trạng thái rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh nửa rụng lá sau đây gọi là rừng thường xanh nửa rụng lá Ở vị trí thứ 3 là trạng thái rừng lồ ô tự nhiên sau đây gọi tắt là rừng lồ ô chỉ với 63 cá thể chiếm 2,14% Thấp nhất là trạng thái rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh phụ hồi có 3 cá thể chiếm 0,10%
Như vậy, qua việc phân tích ở trên có thể thấy rằng, trạng thái rừng khác nhau thì mức độ thích nghi phân bố của loài Ươi là khác nhau Trong đó, loài Ươi phân bố nhiều nhất ở trạng thái rừng tre nứa – gỗ điều đó có nghĩa là loài
Trang 4040
Ươi có khả năng thích nghi, sinh trưởng và phát triển tốt nhất ở trạng thái này Khả năng thích nghi về phân bố theo trạng thái của loài Ươi giảm dần ở các trạng thái rừng thường xanh nửa rụng lá Ở trạng thái này loài Ươi cũng tỏ ra thích nghi cao với điều kiện sinh thái nơi đây, thể hiện qua tỷ lệ số cá thể so với trạng thái rừng tre nứa – gỗ chênh lệch nhau không đáng kể (45,07% so với 52,68%) Trong khi đó, hai trạng thái rừng lồ ô và lá rộng thường xanh phục hồi chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (tổng tỷ lệ % của hai trạng thái này là 2,24%) Điều đó cho phép chúng ta rút ra kết luận: Ở trạng thái rừng lồ ô và lá rộng thường xanh phục hồi loài Ươi thích nghi rất kém do đó ảnh hưởng lớn đến khả năng tái sinh, khả năng sinh trưởng và phát triển của loài cây này
Với những phân tích, đánh giá ở trên chúng ta có thể sử dụng kết quả nghiên cứu này trong việc bảo tồn và phát triển loài này bằng cách lựa chọn các biện pháp kỹ thuật lâm sinh: Xúc tiến tái sinh, khoanh nuôi, khoanh nuôi kết hợp trồng bổ sung ở những nơi có trạng thái rừng tre nứa – gỗ, rừng thường xanh nửa rụng lá Hạn chế hoặc không áp dụng các biện pháp nêu trên đối với những nơi
có trạng thái rừng: Rừng lồ ô và rừng thường xanh phục hồi vì loài Ươi không thích nghi với các trạng thái này trong tự nhiên