Với mong muốn xác định được thành phần loài côn trùng thuộc bộ Cánh nửa cứng và đề xuất một số giải pháp quản lý côn trùng thuôc bộ cánh nửa cứng tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tô
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông được thành lập năm 1999, với diện tích 17.662 ha, gồm 13.320 ha phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và 4.343 ha phân khu phục hồi sinh thái Pù Luông là tên gọi của đồng bào dân tộc Thái có nghĩa là đỉnh núi cao nhất trong vùng Pù Luông được đánh giá là khu bảo tồn thiên nhiên có giá trị về khoa học, kinh tế xã hội và du lịch sinh thái Cùng với Pù Hu, rừng ở khu vực Pù Luông đóng vai trò quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn sông Mã ở tỉnh Thanh Hóa Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông cách vườn quốc gia Cúc Phương 25 km, được nối liền với phần đuôi của vườn quốc gia Cúc Phương bằng hai dãy núi đá vôi màu xám chạy song song Ở giữa là những thung lũng lúa Phía bắc và đông bắc của khu bảo tồn
Pù Luông giáp các huyện Mai Châu, Tân Lạc và Lạc Sơncủa tỉnh Hòa Bình Kéo dài từ phía tây xuống phía nam của khu bảo tồn là dòng sông Mã, từ điểm giáp giới của huyện Quan Hóa với huyện Mai Châu(tỉnh Hòa Bình ) qua khu vực thị trấn Quan Hóa xuống gần thị trấn Cành Nàng (Bá Thước)
Rừng nguyên sinh tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông là loại rừng kín nhiệt đới thường xanh theo mùa Năm loại kiểu phụ rừng chính tồn tại do kết quả của sự đa dạng độ cao và các tầng chất nền: rừng lá rộng đất thấp trên núi
đá vôi (60–700 m); rừng lá rộng đất thấp trên các phiến thạch, sa thạch và đất sét (60-1.000 m); rừng lá rộng chân núi đá vôi (700–950 m); rừng lá kim chân núi đá vôi (700–850 m) và rừng lá rộng chân núi Bazan (1.000-1.650 m) Khu bảo tồn cũng tồn tại các thảm rừng thứ sinh như rừng tre nứa, cây bụi và đất nông nghiệp
Khu bảo tồn có hệ động thực vật phong phú, đa dạng về số lượng và chủng loại với 598 loài động vật thuộc 130 họ động vật có xương sống, trong
Trang 2đó có 51 loài quý hiếm (gồm 26 loài thú, 5 loài dơi, 6 loài chim, 5 loài cá nước ngọt, 6 loài bò sát)
Về khu hệ động vật có xương sống, một báo cáo cho biết có tổng số 84 loài thú (gồm cả 24 loài dơi), 162 loài chim, 55 loài cá, 28 loài bò sát và 13 loài ếch nhái đã được ghi nhận Khu hệ côn trùng tại Pù Luông có ít nhất là
158 loài bướm, 96 loài thân mềm trên cạn, trong đó có 12 loài thân mềm có thể là đặc hữu cho khu vực
Như vậy, khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông có tính đa dạng sinh học khá cao Với mong muốn xác định được thành phần loài côn trùng thuộc bộ Cánh nửa cứng và đề xuất một số giải pháp quản lý côn trùng thuôc bộ cánh nửa cứng tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý côn trùng bộ Cánh nửa cứng(Hemiptera) tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa
Trang 32004 và hơn 1.000.000 loài theo Myers năm 2001 Các tính toán dựa trên ngoại suy từ loài Coleopteravà Lepidoptera tại New Guinea bởi Novotny et al năm 2002 có thể đạt tới con số 3.700.000 và 5.900.000 cho tổng số động vật chân đốt trên toàn thế giới
Côn trùng là động vật không xương sống duy nhất có cánh, nhờ cánh côn trùng có thể phát tán và hiện diện hầu như mọi nơi trên Trái Đất Hơn nữa
do kích thước nói chung nhỏnên côn trùng có thể sống ở những chỗ mà những loài động vật lớn hơn không thể sống được, và cũng nhờ kích thước nhỏ nên chỉ cần một lượng thức ăn nhỏ cũng giúp cho chúng sinh sôi nẩy nở và tồn tại Côn trùng có khả năng sinh sản rất cao, một con côn trùng có thể đẻ từ vài trứng đến hàng nghìn trứng Chúng có sức sống và tính thích nghi rất mạnh
Côn trùng là một nhóm động vật đa dạng bậc nhất thế giới khoảng 1 triệu loài đã được mô tả, số loài côn trùng chiếm hơn một nửa tổng số loài sinh vật mà con người đã biết, số loài chưa được mô tả có thể lên tới 30 triệu Người ta có thể tìm thấy côn trùng ở hầu như tất cả các môi trường sống trên Trái Đất Có khoảng 5.000 loài chuồn chuồn; 2.000 loài bọ ngựa; 20.000 loài châu chấu; 17.000 loài bướm; 120.000 loài hai cánh; 82.000 loài cánh nửa cứng; 350.000 loài cánh cứng và khoảng 110.000 loài cánh màng
Trang 41.2 Đặc điểm của bộ Cánh nửa cứng
Côn trùng bộ Cánh nửa cứng (Hemiptera) được tìm thấy ở khắp nơi trên thế giới với các hệ sinh thái đa dạng và những nơi có nguồn thức ăn dồi dào Ngoài những loài có hại cho nền Nông – Lâm Nghiệp thì còn có rất nhiều loài có lợi cho sự phát triển kinh tế trong Nông – Lâm Nghiệp, bảo vệ
và làm sạch môi trường
Bộ Cánh nửa cứng (Hemiptera) là một bộ khá lớn trong lớp Côn trùng (Insecta), phân bố rộng có nhiều họ khác nhau như: Reduviidae, Anthocoridae, Nabidae, Pentatomidae, Miridae và Lygaeidae Đa số sống trên cạn, nhưng cũng có nhiều loài sống trong nước Cơ thể dẹp hoặc có hình trụ, dài từ 1 đến 109mm.Dinh dưỡng đa dạng, nhiều loài là tác nhân gây hại cho cây trồng Một số loài có ích thuộc nhóm bắt mồi ăn thịt, một số loài khác lại thuộc nhóm ký sinh người và động vật cấp cao khác
Một trong những đặc điểm cơ bản nhất của côn trùng thuộc bộ Cánh nửa cứng là cấu tạo của cánh: Một nửa – hai phần ba cánh trướcvề phía gốc cánh có cấu tạo bằng chất sừng do được chitin hóa cứng, nửa phần còn lại bắng chất màng Vì vậy được gọi là bộ Cánh nửa cứng Cánh sau bằng chất màng và thường ngắn hơn cánh trước Ở trạng thái nghỉ, cánh thường được xếp bằng trên cơ thể Miệng thuộc kiểu chích hút, vòi chích thường dài, phân đốt, phát triển từ phần trán của đầu và kéo dài về phía sau dọc theo phần ngực bụng Râu đầu thường dài, hình sợi chỉ, có từ 4 – 5 đốt Mắt kép thường rất phát triển, có mắt đơn hoặc không có Mảnh lưng ngực trước rộng, mảnh thuẫn/phiến mai (scutellum) phát triển nằm giữa hai chân cánh, ở một số loài phiến này rất phát triển, che khuất một nửa hoặc toàn bộ phần bụng Bụng gồm các đốt dính chặt vào nhau được cánh che phủ Thiếu trùng gần giống dạng trưởng thành nhưng cánh còn ở dạng mầm, ngắn.Rất nhiều loài có tuyến hôi, tuyến này thường nằm ở phía bên của ngực Đa số có cánh phát triển
Trang 5nhưng cũng có một số loài có cánh ngắn, cánh trước không có phần màng Đẻ trứng trên hoặc trong cây hoặc trong những khe nứt trên các bộ phận của cây Trứng thường có nhiều màu sắc và có dạng hình trống, tròn, bầu dục có nắp,
và thường được xếp thành hàng, khối, đều đặn
Biến thái không hoàn toàn: Từ trứng nở ra ấu trùng và biến đổi dần dần đến khi trưởng thành, không qua giai đoạn nhộng, ấu trùng và con trưởng thành có khá nhiều đặc điểm cơ thể giống nhau Hầu hết các loài côn trùng thuộc bộ Cánh nửa cứng ăn thực vật, nhựa cây, một số khác ăn thịt, ăn các loại côn trùng khác thậm chí có thể ăn những động vật có xương sống nhỏ Một số họ thuộc bộ cánh nửa cứng thích nghi với cuộc sống ở dưới nước, chúng chủ yếu ăn thịt, có chân như mái chèo để di chuyển trong nước
1.3 Tổng quan nghiên cứu về côn trùng thuộc bộ Cánh nửa cứng ở
ngoài nước
Các công trình nghiên cứu về bộ Cánh nửa cứng khá đa dạng, tập trung vào các vấn đề phân loại, đặc điểm sinh học, sinh thái học hoặc đánh giá sự
đa dạng trong từng khu vực hay đưa ra các biện pháp quản lý…
Trong các tác phẩm nghiên cứu của nhà triết học cổ Hy Lạp Aristoteles (384 – 322 TCN) đã hệ thống hóa được hơn 60 loài côn trùng Ông gọi tất cả những loài côn trùng ấy là những loài có chân đốt
Hội côn trùng học đầu tiên trên thế giới được thành lập ở nước Anh năm 1745 Hội côn trùng Nga được thành lập năm 1859
Hsiao, 1963, 1977, 1981 đã trình bày đặc điểm của một số loài côn trùng bộ Cánh nửa cứng đặc biệt là họ Coreidae
Jerzy A L., 1994, Jerzy A L., 1999 đã có những nghiên cứu về bọ xít thuộc họ Cydnidae ở vùng cận đông
Năm 2004 bộ mẫu ảnh sinh thái 600 loài côn trùng Trung Quốc của Triệu Mai Quân NXB Khoa học Thượng Hải được xuất bản Đã nghiên cứu
Trang 6chi tiết về đặc điểm sinh thái của các loài côn trùng và trong đó một số loài côn trùng bộ Cánh nửa cứngcũng được mô tả rõ trong tài liệu
1.4 Tổng quan nghiên cứu về côn trùng thuộc bộ Cánh nửa cứngở
trong nước
Việt Nam là nước nhiệt đới gió mùa, nằm ở rìa phía đông nam của phần lục địa Châu Á, giáp với biển Đông nên chịu ảnh hưởng trực tiếp của kiểu khí hậu gió mùa Việt Nam là điểm nóng về đa dạng sinh học (Biodiversity Hotspot) thuộc khu vực Indo-Burma (gồm Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam và nam Trung Quốc ) Khí hậu Việt Nam thay đổi theo mùa, địa hình phức tạp với hệ thống sông ngòi dày đặc Sự kết hợp của các yếu tố địa hình, thủy văn, thay đổi theo mùa kết hợp với độ đa dạng cao của côn trùng đã góp phần tạo nên sự đa dạng của côn trùng ở Việt Nam cũng như
sự đa dạng của bộ Hemiptera Mặc dù vậy, côn trùng ở Việt Nam nói chung
và bộ Hemiptera nói riêng vẫn chưa được nghiên cứu nhiều Những dẫn liệu
có liên quan đến khu hệ Hemiptera ở Việt Nam còn tản mạn, mới chỉ đề cập đến một số giống hay chỉ tập trung vào từng khu vực nhỏ mà có ít những nghiên cứu toàn diện về bộ Hemiptera ở Việt Nam
Năm 1993 Phạm Văn Lầm, Bùi Hải Sơn và ctv đã đưa ra một số kết quả nghiên cứu thiên địch của rầy nâu,bao gồm các loài Bọ xít thuộc họ Anthocoridae
Năm 1995, Vũ Quang Côn và cộng sự nghiên cứu một số đặc điểm phát sinh, phát triển của bọ xít nhãn vải, đi sâu nghiên cứu sự phát triển của cá thể, của các cơ quan sinh sản, sự phát sinh lứa và biến động số lượng loài
Năm 1995, Trần Huy Thọ và cộng sự đã phát hiện được các loài bọ xít hại nhãn vải tại Hà Nội, Hải Hưng, Hà Nam, Yên Bái
Năm 1998 – 2000, Nguyễn Xuân Hồng đã xác định được các loài bọ xít hại cây trồng ở Lục Ngạn (Bắc Giang), và Chương Mỹ (Hà Nội)
Trang 7Nguyễn Xuân Thành – Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật, đã đóng góp cho ngành nghiên cứu côn trùng học nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về các loài bộ Cánh nửa cứng
Năm 2000 Đặng Đức Khương đã nghiên cứu về đặc điểm của Họ Coreidae thuộc bộ Cánh nửa cứng Hemipera
Năm 2000 theo tuyển tập các công trình nguyên cứu Sinh thái và Tài nguyên sinh vậtthì Đặng Đức Khương, Trương Xuân Lam đã tiến hành
nghiên cứu bước đầu xác định các loài bọ xít ăn thịt thuộc giống Sycanus
thuộc họ Reduviidae ở Việt nam
Năm 2001 Vũ Quang Côn và Trương Xuân Lam đã xác định sự đa dạng thành phần loài của nhóm bọ xít ăn thịt trên một số cây trồng ở miền Bắc Việt Nam
Năm 2002 Trương Xuân Lam Đã tiến hành bước đầu nghiên cứu sinh
học của loài bọ xít ăn thịt cổ ngỗng đen (Bọ xít ăn sâu róm) Sycanus croceovittatus Dohrn (Heteroptera, Reduviidae, Harpactorinae)
Năm 2009 nghiên cứu của Cao Thị Quỳnh Nga, Đặng Đức Khương đã ghi nhận các loài Bọ xít dọc đường Hồ Chí Minh đoạn từ Thanh Hoá đến Hà Tĩnh Theo báo cáo Khoa học về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ 3
Năm 2011 Cao Thị Quỳnh Nga, Đặng Đức Khương đã tiến hành khảo sát thành phần loài bọ xít (Insecta: Heteroptera) ở khu vực Tây Nguyên Cũng
đã thu thập được kết quả của nhiều loài thuộc bộ Cánh nửa cứng
Trang 8Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được thành phần loài thuộc bộ Bộ Cánh nửa cứng (
Hemiptera )
và đặc điểm sinh thái của một số loài chủ yếu tại khu vực nghiên cứu
- Đề xuất được một số biện pháp quản lý các loài côn trùng thuộc bộ Cánh nửa cứng tại khu vực nghiên cứu
2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Côn trùng thuộc bộ Bộ Cánh nửa cứng ( Hemiptera ) tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Địa điểm: tiến hành điều tra trên địa phận 3 xã Lũng Cao, Cổ Lũng
và Thành Sơn
+ Thời gian: Từ tháng 4 năm 2015 đến tháng 9 năm 2015
2.3 Nôi dung nghiên cứu
Nhằm đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu trên đề tài tập trung vào các nội dung chính sau:
Xác định thành phần loài côn trùng thuộc bộ Cánh nửa cứng (Hemiptera) tại KBTTN Pù Luông
Đánh giá tính đa dạng và đặc điểm phân bố của các loài thuộc bộ Cánh nửa cứng (Hemiptera) tại khu vực nghiên cứu
Đặc điểm hình thái, sinh thái của một số loài côn trùng thuộc bộ Cánh nửa cứng tại khu vực nghiên cứu
Trang 9 Đề xuất một số biện pháp quản lý các loài côn trùng thuộc bộ Cánh nửa cứng tại khu vực nghiên cứu
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết tốt các nội dung nghiên cứu đã nêu trên cần tiến hành vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
2.4.1 Phương pháp thu thập và kế thừa tài liệu
Kế thừa chọn lọc tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, kết quả nghiên cứu về côn trùng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa
2.4.2 Phương pháp điều tra thực địa
2.4.2.1 Công tác chuẩn bị
- Nghiên cứu bản đồ và sơ thám thực địa: Chuẩn bị các bản đồ liên quan, các tài liệu, mẫu biểu, vẽ phác thảo các tuyến điều tra, sau đó đi sơ thám trên thực địa
- Chuẩn bị dụng cụ: Bản đồ địa hình, vợt, lọ đựng mẫu, cồn, máy ảnh, máy GPS, địa bàn, cuốc xẻng, xốp, kim…
2.4.2.2 Bố trí tuyến điều tra và hệ thống các ô tiêu chuẩn
Côn trùng thuộc bộ Cánh nửa cứng (Hemiptera) được điều tra theo phương pháp tuyến điều tra
Tuyến phải đi qua các dạng địa hình khác nhau và phải mang tính đại diện cho khu vực nghiên cứu có thể lập tuyến song song, tuyến ziczăc, tuyến nan quạt, tuyến xoắn ốc tùy thuộc vào điều kiện địa hình khu vực nghiên cứu
Các điểm điều tra được bố trí trên các tuyến điều tra phải đặc trưng: Các dạng sinh cảnh, dạng thực bì, hướng phơi, độ cao… sao cho đại diện cho khu vực nghiên cứu
Tiến hành sơ thám khu cực điều tra, xác định tuyến điều tra và các dạng sinh cảnh chính (theo trạng thái rừng, đặc điểm địa hình, đặc điểm kinh doanh) Sau đó, xác định các ô tiêu chuẩn (ÔTC) trên mỗi tuyến điều tra theo
Trang 10sự biến đổi của các dạng sinh cảnh, mô tả đặc điểm của tuyến điều tra và ô tiêu chuẩn, đánh số thứ tự và vẽ trên bản đồ
Xác định ÔTC: Trên tuyến điều tra khi thấy có sự thay đổi về dạng sinh cảnh, tiến hành lập ÔTC có diện tích 500 m2 (20 x 25 m)
Tiến hành đi dọc tuyến điều tra và thu thập toàn bộ các loài côn trùng bắt gặp trên tuyến, thu thập bằng tay hoặc bằng vợt Với những loài bắt gặp hai lần trở lên thì đánh dấu số lần xuất hiện, ghi lại địa điểm theo tuyến và điểm điều tra Tại mỗi điểm dừng lại 20 – 30 phút để vợt bắt
Bảng 2.1 Đặc điểm các tuyến khảo sát, điểm điều tra tại khu
vực nghiên cứu Khu
vực/tuyến/
điểm điều tra
Đặc điểm Sinh cảnh
Thôn Nủa(Lũng Cao)
Điểm: BK_2.1 Rừng phụ hồi sau nương rẫy
Điểm: BK_2.2 Rừng phụ hồi sau nương rẫy
Điểm: BK_2.3 Rừng phụ hồi sau nương rẫy
Điểm: BK_2.4 Rừng phục hồi sau khai thác chọn
Điểm: BK_2.5 Làng bản, nương rẫy
Trang 11Khu
vực/tuyến/
điểm điều tra
Đặc điểm Sinh cảnh
Điểm: BK_2.6 Làng bản nương rẫy
Bản Kho Mường(Thành Sơn)
Tuyến KM_3
Điểm: KM_3.1 Sinh cảnh làng bản, nương rẫy
Điểm: KM_3.2 Sinh cảnh làng bản, nương rẫy
Điểm: KM_3.3 rừng phục hồi sau khai thác chọn
Điểm: KM_3.4 rừng phục hồi sau khai thác chọn
Điểm: KM_3.5 Sinh cảnh rừng phục hồi sau nương rẫy
Điểm: KM_3.6 Sinh cảnh rừng phục hồi sau nương rẫy
Như vậy có 4 dạng sinh cảnh chính
- Rừng tự nhiên: là rừng bao gồm các loài cây lá rộng mọc trên núi đất, đường kính cây 30-40cm, độ tàn che khoảng 80%
Trang 12- Rừng phục hồi sau nương rẫy: rừng được phục hồi từ những nương rẫy đã qua sử dụng
- Rừng phục hồi sau khai thác chọn: rừng được phục hồi sau khi người dân đã khai thác những cây gỗ to
- Làng bản, nương rẫy: con người sinh sống và tiến hành canh tác
2.4.3 Phương pháp thu thập mẫu vật
Khi di chuyển trên tuyến điều tra, tiến hành quan sát hai bên tuyến, nếu bắt gặp côn trùng thuộc bộ Cánh nửa cứng có thể thu bắt và ghi chép vào mẫu biểu 2.01
Mẫu biểu 2.01: Phiếu điều tra côn trùng theo tuyến
Ngày điều tra:……… Người điều tra:………
Tuyến điều tra:………
STT Tên loài Tên khoa học Mã số
ảnh
Số lượng
Địa điểm thu mẫu Ghi chú
2.4.3.1 Điều tra cây đứng
Chuẩn bị dụng cụ: Hộp đựng mẫu, địa bàn, bảng biểu ghi chép
Tiến hành: Để xác định thành phần loài côn trùng trên cây ta tiến hành lập ÔTC sau đó chọn cây tiêu chuẩn theo phương pháp 5 mốc.Tại mỗi ÔTC hình tròn chọn một mốc ở tâm của ô rồi đánh dấu 2 cây tiêu chuẩn Từ điểm này chọn 4 mốc khác theo các hướng Đông, Tây, Nam, Bắc cách điểm trung
Trang 13tâm 10m Tại mỗi mốc này ta cũng chọn 2 cây tiêu chuẩn, như vậy mỗi ÔTC
ta tiến hành điều tra 10 cây Cây được chọn là cây gần mốc nhất, trên mỗi cây
ta chọn ra 5 cành để điều tra theo phương pháp chuẩn, sau đó quan sát và thu thập mẫu
Ngoài ra trong ÔTC còn tiến hành điều tra định tính trên cây bụi cây tái sinh chiều cao nhỏ hơn 2,5 m, với cây gỗ tiến hành điều tra thân cây và xung quanh gốc cây
Cây tiêu chuẩn được đánh số thứ tự để tránh nhầm lẫn với các cây còn lại Kết quả ghi vào mẫu biểu 2.02
Mẫu biểu 2.02: Phiếu điều tra cây đứng
STT Tên loài Tên khoa học Mã số ảnh Số lượng Ghi chú
1
2
…
10
2.4.3.2 Điều tra côn trùng trên thảm mục và cây cỏ
Điều tra côn trùng trên thảm mục và cây cỏ được tiến hành trên các ÔDB với diện tích 1 m2 (1m x 1m)
Cách điều tra: Nhẹ nhàng bới lớp thảm mục và cây cỏ tìm côn trùng quan sát, mô tả, ghi nhận loài sâu
Kết quả thu được ghi vào mẫu biểu 3.03
Trang 14Mẫu biểu 2.03: Biểu điều tra thành phần số lượng côn trùng trên thảm
mục và cây cỏ
Số ÔTC:……… Điểm điều tra:…………
Ngày điều tra:………
TT
ÔDB
Loài
côn trùng
Số lượng côn trùng
Các loài khác
Ghi chú
Trứng Sâu
non Nhộng
Sâu rưởng thành
2.4.3.3 Phương pháp điều tra bằng vợt bắt
Vợt bắt là công cụ chủ yếu để thu thập mẫu của những loài côn trùng hay bay mà chúng ta không bắt được Dụng cụ này làm bằng vải màn có miệng tròn với khung bằng sắt có đường kính 30 cm, miệng vợt được gắn với cán gỗdài 1,5m
Tại mỗi vị trí dừng lại khoảng 30 phút để thu bắt
Kỹ thuật dùng vợt: Miệng vợt hướng thẳng và đưa thật nhanh loài côn trùng định bắt vào miệng vợt, sau khi côn trùng bay vào miệng vợt thì xoay miệng vợt về phía trước sao cho miệng vợt khép kín lại để côn trùng đó không bị lọt mất Sau khi giữ cho côn trùng im lặng trong vợt, nhẹ nhàng giữ cho côn trùng nằm im trong vợt, nhẹ nhàng lấy ra khỏi vợt rồi tiến hành ghi chép, bảo quản mẫu trong dung dich cồn
Kết quả thu được ghi vào mẫu biểu 2.04
Trang 15Mẫu biểu 2.4: Biểu điều tra số lượng côn trùng bằng phương phápvợt bắt
Điểm điều tra:……… Ngày điều tra:………
2.4.3.4 Phương pháp điều tra bằng bẫy
Do một số loài côn trùng bộ Cánh nửa cứng có tính xu quang nên tiến hành điều tra bằng bẫy ánh sáng Lợi dụng đèn chiếu sáng công cộng, tiến hành điều tra thu bắt côn trùng từ 20h đến 22h
Kết quả điều tra được ghi vào mẫu biểu 2.05
Mẫu biểu 2.05: Điều tra thành phần loài bằng bẫy ánh sáng
Số ÔTC:………… Điểm điều tra:…………
Ngày điều tra:………
2.4.4 Phương pháp bảo quản mẫu và giám định mẫu
Bảo quản mẫu:
Với những loài thuộc bộ Cánh nửa cứng mẫu được ngâm vào dung dịch fooc mon 5 – 10% hoặc dung dịch cồn lớn hơn 70%, hoặc xử lý bằng bình độc Mẫu ở mỗi ÔTC, các tuyến điểm điều tra được đánh dấu và ghi chép cụ thể, tránh nhầm lẫn
Trang 16Để thuận tiện cho việc quan sát, giám định, nhận xét, tiến hành làm tiêu bản mẫu Dụng cụ làm tiêu bản gồm kẹp, giá cắm kim bằng xốp, kim cắm và kéo cắt giấy Phương pháp làm mẫu: Dùng kẹp lấy mẫu đã được ngâm trong dung dịch bảo quản ra, rửa sạch, cho vào giấy thấm để côn trùng không còn ướt Sau đó dùng kim phù hợp với kích thước côn trùng, cắm xuyên qua vai trước sao cho kim vuông góc với trục cơ thể Đối với mẫu côn trùng quá nhỏ không thể cắm kim thì dùng keo dán, dán chúng lên giấy hình tam giác nhọn rồi lấy kim cắm vào giấy cố định lên giá thể
Giám định mẫu:
Tiến hành giám định và lập bảng danh lục loài theo tài liệu và bộ mẫu chuẩn của bộ môn Bảo Vệ Thực Vật Rừng cũng như một số tài liệu sau đây:
“Bảo tàng côn trùng” của Lý Tương Tào, 2006, NXB Thời sự
“Bộ mẫu ảnh sinh thái 600 loài côn trùng Trung Quốc” của Triệu Mai Quân,
2004, NXB Khoa học Thượng Hải
Kết quả được ghi vào mẫu biểu 2.06
Mẫu biểu 2.06: Danh lục các loài côn trùng thuộc bộ Cánh nửa cứng
trong khu vực nghiên cứu
STT Tên khoa học Tên Việt
Nam
Điểm bắt
Độ bắt gặp
2.4.5 Phương pháp xử lý số liệu điều tra
Xác định thành phần loài, mật độ loài, mức độ bắt gặp trên các trạng thái rừng khác nhau và đánh giá hiệu quả của các phương pháp giám sát đa dạng côn trùng Theo tài liệu “Điều tra, dự tính, dự báo sâu bệnh hại trong
Trang 17lâm nghiệp” với kết quả điều tra thu được tiến hành xử lý số liệu theo phương pháp thống kê toán học
Tỷ lệ có côn trùng (P%): Là tỷ lệ % của tổng số điểm có loài xuất hiện trên tổng số điểm điều tra
P% = n X 100
N Trong đó:
n: Là số điểm điều tra bắt gặp
N: Tổng số điểm điều tra
Độ bắt gặp các loài được đánh giá theo các cấp ký hiệu là x tùy theo mức độ mà biểu diễn khác nhau:
Loài ngẫu nhiên gặp: P≤ 25%, (kí hiệu là x)
Loài ít gặp: 25% < P ≤ 50%, (kí hiệu là xx)
Loài thường gặp: P ≥ 50%, (kí hiệu là xxx)
2.4.6 Phương pháp xác định loài ưu tiên
Xác định các loài ưu tiên trong công tác quản lý là bước quan trọng trong việc xây dựng và đề xuất giải pháp quản lý các loài côn trùng Để xác định được các loài ưu tiên trong công tác quản lý thì cần căn cứ vào một số các tiêu chí định lượng đánh giá như P%, mật độ, mức ảnh hưởng (gây hại hoặc diệt sâu hại) cho ba nhóm ưu tiên chính như sau:
- Loài ưu tiên là loài côn trùng có ích, các loài thiên địch như các loài
Bọ xít bắt mồi ăn thịt, các loài Bọ xít ăn sâu,…
- Các loài côn trùngcó hại và gây hại chính như một số loài Bọ xít hút dịch cây:
- Các loài có vai trò kinh tế được sử dụng làm thức ăn cho con người
như loàiTessaratoma papilosa (Drury)thuộc họ Bọ xít năm cạnh
(Pentatomidae)
Trang 18Chương 3 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, NHÂN SINH, KINH TẾ, XÃ HỘI
3.1 Vị trí KBTTN Pù Luông
Khu BTTN Pù Luông (20021’–20034’ vĩ độ Bắc, 105002’–105020’ kinh
độ Đông) thuộc hai huyện Quan Hoá và Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá Pù Luông bao gồm các phần đất thuộc 5 xã huyện Quan Hoá: Phú Lệ, Phú Xuân, Thanh Xuân, Hồi Xuân, Phú Nghiêm và 5 xã huyện Bá Thước: Thành Sơn, Thành Lâm, Cổ Lũng, Lũng Cao và xã Lâm Xa
- Phía Đông giáp huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình;
- Phía Bắc giáp huyện Mai Châu, Tân Lạc; tỉnh Hoà Bình;
- Phía Tây giáp với phần đất còn lại của các xã Phú Lệ, Phú Xuân, Thanh Xuân, Hồi Xuân;
- Phía Nam giáp với phần đất còn lại của các xã Thành Lâm, Phú Nghiêm
Hình 3.1 Bản đồ thể hiện vị trí của KBTTN Pù Luông trong tỉnh Thanh Hóa
Trang 193.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của KBTTN Pù Luông
3.2.1 Đặc điểm địa hình, địa chất, thổ nhưỡng
Hai dãy núi có kiểu đi ̣a ma ̣o tương phản mô ̣t cách rõ ràng do khác nhau về nền địa chất Dãy nhỏ hơn ở phía Tây Nam được hình thành chủ yếu từ đá lửa
và đá biến chất, khu vực này bao gồ m các đồi bát úp có rừng che phủ và các thung lũng nông Dãy lớn hơn ở phía Đông Bắc được hình thành bởi những
vù ng đá vôi bi ̣ chia cắt ma ̣nh, đây là mô ̣t phần của dãy núi đá vôi liên tu ̣c chạy từ tỉnh Sơn La đến Khu BTTN Pù Luông Đô ̣ cao của khu vực biến động
từ 60m đến 1667 m, đỉnh cao nhất là núi Pù Luông
Do sự có mặt của nhiều loại đá vôi khác nhau đã tạo nên nhiều dạng địa hình karst và karst-xâm thực trong KBTTN Pù Luông như; Cao nguyên karst, thung lũng karst-xâm thực, cánh đồng karst, Tuy nhiên, các dạng địa hình xâm thực và kiến tạo như sườn xâm thực, bề mặt san bằng, pediment, rãnh xói, phát triển trên đá macma và đá lục nguyên mới làm nên sự khác biệt giữa KBTTN Pù Luông và các VQG và Khu BTTN khác ở lân cận: Khu BTTN Pù Luông với 60% diện tích là đá vôi, 37% là đá macma và chỉ có 3%
là đá lục nguyên (Trần Tân Văn và các cộng sự, 2003)
Do đặc điểm địa chất, địa mạo khá đa dạng nên lớp đất phủ ở Khu BTTN
Pù Luông phong phú Theo các bảng phân loại của FAO, UNESCO, WRB và của Việt Nam, lớp đất phủ trong vùng hình thành từ các loại đá nêu trên có thể chia thành các kiểu loại chính sau: (1) Đất Renzit mầu nâu vàng, mầu đen, phát triển trên đá vôi; (2) Đất Luvisol mầu vàng xám, phát triển trên đá vôi; (3) Đất Leptosol mầu vàng xám, phát triển trên các sườn đá vôi; (4) Đất Cabisol mầu xám đen, mầu vàng xám, phát triển trên đá macma; (5) Đất Acrisol mầu xám nâu, phát triển trên đá macma; (6) Đất Acrisol mầu vàng xám, xám nâu, phát triển trên đá lục nguyên và (7) Đất Fluvisol và Gleysol
Trang 20mầu vàng xẫm đến nâu xẫm, phát triển dọc các thung lũng (Trần Tân Văn và các cộng sự, 2003)
3.2.2 Đặc điểm khí hậu thuỷ văn
Khu BTTN Pù Luông có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, có ảnh hưởng khí hậu của vùng Tây Bắc, chịu ảnh hưởng sâu sắc của gió Lào
Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm 230C; nhiệt độ trung bình cao nhất 380C; nhiệt độ tối thấp trung bình: 00C
Lượng mưa bình quân năm biến động từ 1.500 mm đến 1.600 mm
Gió: Có 2 loại gió chính là gió mùa Đông Nam và gió mùa Đông Bắc, ngoài ra còn có gió Lào cũng xuất hiện Mùa Hè có gió Đông Nam, Tây Nam kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10; mùa Đông có gió mùa Đông Bắc kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Do lượng mưa vào mùa khô rất thấp, đồng thời lượng bốc hơi lại cao, do đó khu vực này thường có mùa khô, nóng kéo dài, lại bị ảnh hưởng của gió Lào Đây cũng là thời điểm rất dễ xảy ra cháy rừng Bên canh đó, do thiếu nước vào mùa khô nên đã ảnh hưởng đến các loài thú lớn
Hệ thống thuỷ văn: Đặc điểm chủ yếu của hệ thống nước Khu BTTN Pù Luông là trong thung lũng có một đường yên ngựa tại vùng biên chung giữa các xã Phú Lệ và Thành Sơn Đặc điểm này tạo ra đường phân thủy giữa hai phụ lưu Pung (chảy theo hướng Tây Bắc) và Cham (chảy theo hướng Đông Nam) trước khi hợp dòng vào sông Mã Sông Mã bao quanh vùng đệm của Khu BTTN Pù Luông về phía Tây, phía Nam và Đông Nam Đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển đường thủy phục vụ đi lại và đối với du lịch du khách cũng có thể du thuyền trên sông Mã vòng quanh Khu BTTN thăm rừng Pù Luông ven sông Mã
Hệ thống nước của vùng lõi đá vôi rất phức tạp và không thể có mối quan hệ trực tiếp nào giữa hệ thống nước trên bề mặt và dưới lòng đất Các
Trang 21nghiên cứu gần đây đã cho rừng có sự tồn tại của hai hệ thống sông ngầm có quy mô đáng kể (Trần Tân Văn và cộng sự, 2003) cũng như các hệ thống sông ngầm khác Những dòng sông ngầm này cho thấy nhiều hệ thống nước trong và xung quanh Khu BTTN Pù Luông được nối liền với nhau
Do hệ thống nước của vùng lõi đá vôi rất phức tạp và không thể có mối quan
hệ trực tiếp nào giữa hệ thống nước trên bề mặt và dưới lòng đất Các nghiên cứu gần đây đã cho rừng có sự tồn tại của hai hệ thống sông ngầm có quy mô đáng kể (Trần Tân Văn và cộng sựng chảy về mùa kiệt, phòng chống cháy rừng, cung co đhống nước của vùng lõi đá vôi rất phức tạp và không thể có
mối quan hệ trực tiếp nào giữa hệ thống nước trên bề mặt và dưới lòng
3.3 Đặc điểm thảm thực vật rừng
3.3.1 Các kiểu thảm thực vật rừng đặc trưng
Kết quả điều tra sơ bộ cho thấy quần xã thực vật nguyên sinh điển hình
có ở Khu BTTN Pù Luông điển hình là kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới Các kiểu rừng nguyên sinh chính được quan sát thấy là:
- Rừng nguyên sinh rậm thường xanh mưa mùa nhiệt đới cây lá rộng đất thấp trên đá vôi, có diện tích khoảng 4.800 ha Kiểu rừng này phân bố đến độ cao khoảng 700 m; phân bố ở các tiểu khu 73 xã Thành Sơn; tiểu khu 74, 250,
251, 252, 254, 255, 259, 261 xã Lũng Cao và 1 phần thuộc tiểu khu 262 thuộc
xã Cổ Lũng được chia làm 6 tầng chính Các loài cây ưu thế của tầng 1 gồm
các loài cây Nghiến (Burretiodendro hsienmu); Các loài cây thuộc chi Ficus, Cui lá to (Heritiera macrophylla), Chò nhai (Anogeissus acuminata), Nhãn rừng (Dimocarpus longan), Thị núi (Diospiros bangoiensis).Các loài cây tái sinh là Ôrô (Streblus ilicifolia), Nghiến (Burretiodendro hsienmu); Thầu dầu (Acer tongkinensis), Chò nhai (Anogeissus acuminata); tại những nơi ẩm ướt
và được che bóng thì có các loài cây phổ biến khác như Kim giao (Nageia wallichiana), Bằng lăng (Lagerstromia balance)
Trang 22- Rừng nguyên sinh rậm thường xanh mưa mùa nhiệt đới cây lá rộng đất thấp trên đá phiến, có diện tích khoảng 650 ha Kiểu rừng này còn một diện tích nhỏ còn sót lại phân bố ở độ cao 60-100m, phân bố ở tiểu khu 262, 265, ở chân dãy núi đá vôi nằm ở phía Đông thôn Khuyn, xã Cổ Lũng Đây là nơi duy nhất trong Khu BTTN có kiểu rừng này Kiểu rừng này cũng được chia
làm 6 tầng chính Các loài cây ưu thế của tầng 1 gồm Gội (Agaila sp) và Phay (Duabaga grandifora);các loài cây tái sinh chủ yếu là Chò nhai (Anogeissus acuminata), Dẻ gai Ấn Độ (Castanopsis indica), Mát (Millettia ichtyochotona)
- Rừng nguyên sinh rậm thường xanh mưa mùa nhiệt đới cây lá rộng núi thấp trên đá vôi ở độ cao 700-950m, có diện tích khoảng 4.900 ha Kiểu rừng này rất phổ biến trong Khu BTTN phân bố ở các tiểu khu 256, 257, 260 xã Lũng Cao; tiểu khu 262, 265, 268 xã Cổ Lũng, tiểu khu 27, 30, 52 xã Phú Lệ Chúng mọc trên những phần cao của sườn những dãy núi đá vôi và ít bị tác động Thành phần loài và cấu trúc điển hình nhất của kiểu rừng này được thấy trên những sườn dốc và trên những đường đỉnh có độ cao trung bình nằm giữa các đỉnh và chóp núi cao hơn Kiểu rừng này cũng được phân chia làm 6 tầng chính: Tầng 1 của kiểu rừng này cao tới 40 m, các loài ưu thế của tầng này là: Nghiến
(Burretiodendro hsienmu), Thông lớn (Dacrycarpus imbricatus), Cui lá to (Heritiera macrophylla), các loài Dẻ (Quercus sp) Các loài cây tái sinh chủ yếu
là Chân chim (Schefflera sp), Thông tre (Podocapus neriifolius), các loài cây Gội (Aglaia sp), các loài De (Cinamomum sp), Duối (Streblus macrophylus)
- Rừng nguyên sinh rậm thường xanh mưa mùa nhiệt đới cây lá kim núi thấp trên đá vôi (ở độ cao 700-850m); có diện tích khoảng 1.000 ha Phân bố chủ yếu ở tiểu khu 270 và một phần của tiểu khu 265 thuộc xã Cổ Lũng Kiểu rừng này là dạng rừng nguyên sinh rất hiếm còn sót lại tại rất ít các đỉnh núi
đá vôi thuộc khu vực xã Cổ Lũng Kiểu rừng này được chia làm 5 tầng chính
Trang 23Tầng 1 của kiểu rừng này chủ yếu là Thông Pà Cò (Pinus kwantungensis), đôi khi có một số loài cây lá rộng đi kèm là Sơn trà (Eriobotrya bengalensis), Chẹo (Platycarya strobilifera) Các loài cây tái sinh chủ yếu là Đại cúc phương (Pistachia cucphuongensis), Thông đỏ (Taxus chinensis), Mailai (Sinosideroxilon wightianum)
- Rừng nguyên sinh rậm thường xanh mưa mùa nhiệt đới cây lá rộng núi thấp trên đá bazan (ở độ cao 1000-1650m), có diện tích khoảng 4.500 ha Kiểu rừng này được che phủ bởi các quần xã rừng nguyên sinh và thứ sinh Phân bố ở các tiểu khu 269, 271 thuộc xã Thành Lâm, tiểu khu 75, 258, 264 thuộc xã Thành Sơn; tiểu khu 41 thuộc xã Phú Lệ; tiểu khu 65,84 thuộc xã Phú Xuân; tiểu khu 115,136, 145 thuộc xã Hồi Xuân; tiểu khu 156,158; tiểu khu 96 thuộc xã Thanh Xuân Kiểu rừng này có sương mù, tạo ra những khu vực có độ ẩm cao và luôn ẩm ướt, thậm chí trong cả mùa khô, điều này cho phép hình thành một thảm thực vật ẩm ướt khác biệt với các kiểu rừng mọc trên núi đá vôi Kiểu rừng này cũng được chia làm 6 tầng chính Các loài cây ưu thế của tầng 1 gồm nhiều loài
cây của họ Dẻ như: Dẻ giáp (Castannopsis armata), Dẻ xanh (Lithocarpus pseudosundaicus); các loài của họ Mộc lan như Dổi lá láng (Michelia foveolata) Ngoài ra còn một số loài Hạt trần quý hiếm như Đỉnh tùng (Cephalotaxus mannii), Dẻ tùng Vân Nam (Amentotaxus yunnamnensis), Dẻ tùng sọc trắng (Amentotaxus argotaenia), Kim giao (Nageia wallichiana); ngoài ra còn các loài
ưu thế của các loài cây lá rộng như: Các loài gội (Aglaia sp), các loài De (Cinamomum sp) Các loài cây tái sinh chủ yếu là Đỉnh tùng (Cephalotaxus mannii), Kim giao núi đất (Nageia wallichiana), Các loài gội (Aglaia sp), các loài De (Cinamomum sp), Luống xương (Anneslea fragrans)
Một vài loại rừng phát triển không phân tầng có cấu trúc và thành phần loài đặc biệt, chúng giàu về thành phần các loài cây hiếm và đặc hữu, có diện
Trang 24tích khoảng 800 ha Các loại thảm thực vật không phân tầng được thấy ở đây là:
- Rừng nguyên sinh rậm thường xanh mưa mùa nhiệt đới cây lá rộng núi thấp cây lùn dạng bụi trên những đỉnh núi đá vôi riêng lẻ
3.3.2 Những đặc trưng cơ bản hệ thực vật rừng
- Đa dạng về các taxon thực vật
Kết quả điều tra về thành phần loài thực vật Khu BTTN Pù Luông, bước
đầu đã xác định được 1.109 loài, thuộc 447 chi, 152 họ
Bảng 3.1 : Số lượng các nhóm thực vật rừng ghi nhận được tại
Khu BTTN Pù Luông
TT Tên khoa học Tên tiếng Việt
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Trang 25Trong đó, lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) có số lượng loài nhiều nhất với
656 loài thuộc 294 chi, 102 họ
- Đa dạng về họ thực vật
Để thấy được tính đa dạng hệ thực vật Pù Luông, với 10 họ đa dạng nhất (từ 19 đến 46 loài) chiếm 6,57% tổng số họ nhưng với 255 loài (chiếm 22,9%) tổng số loài Các họ điển hình là họ Cà phê (Rubiaceae) 46 loài; họ
Đậu (Fabaceae), 35 loài, họ Long não (Lauraceae)27 loài, họ Ba mảnh vỏ
(Euphorbiaceae) 27 loài
Bảng 3.2: Đa dạng các họ của hệ thực vật tại Khu BTTN Pù Luông
TT Tên khoa học Tên Việt Nam Số loài Tỷ lệ (%)
Trang 26- Đa dạng về chi thực vật
Với 10 chi đa dạng nhất của hệ thực vật (từ 9 - 21 loài) chiếm 2,23%, tổng số chi nhưng chiếm 13% tổng số loài, được thể hiện qua bảng 3.3
Bảng 3.3: Đa dạng các chi của hệ thực vật rừng tại Khu BTTN Pù Luông
-Các loài thực vật quý hiếm
Dựa vào Sách Đỏ Việt Nam (2007, phần Thực vật), IUCN 2009, NĐ
32-CP, hệ thực vật Khu BTTN Pù Luông có 28 loài thực vật quý hiếm chiếm
2,52% tổng số loài (Chi tiết tại phụ biểu số 01) Đây là những loài có nguy cơ
bị tuyệt chủng cao nhất ở Việt Nam Vì những loài thực vật này sử dụng làm thuốc, lấy gỗ cho nên nó bị khai thác quá mức dẫn đến trong tự nhiên đang bị
Trang 27cạn kiệt dần và có nguy cơ tuyệt chủng Do vậy, cần có những chính sách hợp
lý để bảo vệ và nhân giống nuôi trồng trong tự nhiên
3.4 Đặc điểm khu hệ động thực vật
Hệ động vật hiện có 598 loài, thuộc 130 họ, 31 bộ, bao gồm 162 loài chim, 55 loài cá, 28 loài bò sát, 13 loài lưỡng cư, 24 loài dơi, 62 loài thú, 158 loài côn trùng, 96 loài ốc cạn Có 51 loài động vật quý hiếm và đặc hữu xếp trong SĐVN (2000) và Sách Đỏ Thế giới (2003) như: Voọc mông trắng
(Trachypithecus delacouri), Voọc xám (Trachypithecusphayrei), Báo gấm (Pardofelis nebulosa), Beo lửa (Catopuma temminckii), Sơn dương (Capricornis sumatraensis),Gấu đen châu Á (Ursus thibetanus) và các loài thú nhỏ hơn như Cầy vằn Bắc (Hemigalus owstoni) và Nhím đuôi ngắn (Hystrix brachyura)
Bảng 3.4: Khu động hệ vật ở Khu BTTN Pù Luông
3.5 Đặc điểm kinh tế xã hội
Dân cư thuộc KBTTN Pù Luông phân bố, tập trung sinh sống thành các thôn bản Trong tổng 9 xã trên, qua điều tra cho thấy trên địa bàn giáp ranh với Khu BTTN có 48 thôn/bản thuộc vùng đệm với tổng số 4.201 hộ và 18.309 khẩu trong đó có 10.067 khẩu trong độ tuổi lao động Huyện Bá
Trang 28Thước có 39 thôn/bản thuộc 4 xã gồm: 3.385 hộ, 14.650 khẩu và 8.010 khẩu trong độ tuổi lao động; huyện Quan Hóa có 10 thôn/bản, 816 hộ, 3.659 khẩu
và 2.057 khẩu trong độ tuổi lao động
Trong bản thuộc vùng đệm cho thấy tỷ lệ nam là 48%, nữ là 52%, số người đang trong độ tuổi lao động chiếm 40%
Kết quả điều tra cho thấy nguồn thu chủ yếu của các hộ dân trong Khu BTTN là từ chăn nuôi và trồng trọt Hiệu quả sản xuất còn hạn chế, giá trị sản phẩm rất thấp, bình quân đầu người mới chỉ đạt khoảng 500.000 đồng/tháng, dưới mức đói nghèo theo tiêu chí mới Để duy trì cuộc sống người dân địa phương có xu hướng vào rừng để phát nương làm rẫy, khai thác lâm sản và săn bắn động vật rừng trái phép, điều này gây tác động tiêu cực đối với công tác bảo tồn ĐDSH ở khu BTTN Pù Luông
Bảng 3.5: Hiện trạng dân số, lao động tại các thôn bản của các xã vùng đệm
Tổng
số thôn/b
ản
Hộ (hộ)
Khẩu (người )
Lao động
Trang 29Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đa dạng về thành phần loài
4.1.1 Thành phần loài
Trong thời gian nghiên cứu, luận văn đã ghi nhận được 51 loài công trùng cánh nửa cứng thuộc 10 họ là: Rhyparochromidae, Pentatomidae, Coreidae, Alydidae, Dinidoridae, Pyrrhocoridae, Scutelleridae, Gelastocoridae, Reduviidae, Cydnidae Thành phần loài và tỷ lệ bắt gặp theo điểm điều tra được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 4.1 Thành phần loài và mức độ bắt gặp theo sinh cảnh của các loài
thuộc bộ Cánh nửa cứng ở KBTTN Pù Luông