Chính vì vậy, một số nghiên cứu về đánh giá tác động của những hoạt động này đến bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Bardia và vùng đệm phía tây Nêpan đã được thực hiện.Nghiên cứu đã khẳng
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng nước ta ngày càng suy giảm về diện tích và chất lượng, tỉ lệ che phủ thực vật dưới ngưỡng cho phép về mặt sinh thái, ¾ diện tích đất đai của nước ta (so vớidiện tích dất tự nhiên) là đồi núi, khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nên rừng rất quan trọng trong việc cân bằng sinh thái Tính đến 31/12/2014 toàn quốc có tổng diện tích rừng là 13.796.506 ha; bao gồm: Rừng tự nhiên 10.100.186 ha và rừng trồng 3.696.320 ha Độ che phủ đạt 40,43%; phân theo loài cây: Cây rừng đạt 39,02% và cây cao su, đặc sản đạt 1,40% (Theo quyết định số 3135/QD-BNN-TCLN ngày 6/8/2015
Hiện nay, nạn phá rừng ở nước ta đã đến mức báo động, phá rừng theo cách đơn giản nhất để làm nương rẫy, phá rừng để kiếm khoáng sản, phá rừng lấy gỗ… và vô vàn những kiểu tiếp tay vi phạm pháp luật khác đang hủy hoại
lá phổi xanh của đất nước
Khu Bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Pù Hu có tổng diện tích tự nhiên 27.502 ha, trong đó có hơn 23.149 ha rừng đặc dụng cần được bảo vệ nghiêm ngặt và còn nhiều loài quý hiếm như Chó sói, Gấu ngựa, Báo hoa mai, Bò tót, Trong số các loài động vật này, có tới hơn 30 loài đã được ghi vào sách
Đỏ Việt Nam và Thế giới Bên cạnh đó, những khu rừng nguyên sinh ở Pù Hu còn có nhiều loại cây gỗ quý như: Lát hoa, Sến mật, Vàng tâm, Trầm hương, Trường mật, Song mật,…cho thấy đây là khu vực có giá trị cao về tính đa dạng sinh học, đặc biệt là về gen của các loài động thực vật quý hiếm Ngoài
ra, Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu còn có chức năng điều tiết nguồn nước cho Nhà máy thủy điện Trung Sơn đang được xây dựng trên địa bàn xã Trung Sơn, huyện Quan Hóa
Vùng đệm KBTTN Pù Hu, tỉnh Thanh Hóa đa số là đồng bào dân tộc Thái, Mường, H’mông sống tập trung với tập quán đốt nương làm rẫy, chăn thả gia súc tự do, gây ảnh hưởng trược tiếp đến tài nguyên rừng Bên cạnh đó việc di dân tự do từ các khu vực khác đến địa bàn đã mang lại khó khăn cho
Trang 2việc sắp xếp dân cư ổn định Sự phức tạp này dẫn đến việc quản lý rừng ở vùng lõi lẫn vùng đệm KBT gặp nhiều khó khăn, diện tích và chất lượng rừng đang trong nguy cơ bị suy giảm nghiêm trọng Thực trạng này nếu không được ngăn chặn sẽ càng làm tăng thêm nghi ngờ về khả năng tồn tại của hệ thống rừng đặc dụng trong tương lai cũng như hiệu quả của các nguồn lực đầu
tư to lớn dành cho rừng đặc dụng
Ngoài ra, việc khai thác gỗ, củi và các lâm sản ngoài gỗ khác phục vụ cho nhu cầu làm nhà và sử dụng trong gia đình của người dân tộc sống quanh rừng đang gây nên áp lực khá lớn lên tài nguyên rừng Đặc biệt việc khai thác
gỗ làm nhà đã là văn hóa của người Thái, Mường và chỉ có thể kiểm soát ở một mức độ nhất định chứ không thể ngăn cấm hoàn toàn
Cộng đồng địa phương mặc dù đã có những thay đổi khá tiến bộ trong canh tác nông lâm nghiệp nhưng vẫn còn những hạn chế nhất định trong quá trình này gây ảnh hưởng đến diện tích cũng như chất lượng rừng Chẳng hạn việc phát vén nương vào diện tích của rừng; việc canh tác trên đất dốc không bền vững khiến hiện tượng xói mòn, rửa trôi hay thậm trí là làm mất đất canh tác do sạt lở vẫn còn xảy ra khi gặp các điều kiện thời tiết bất thường, đặc biệt trong bối cảnh của biến đổi khí hậu hiện nay Hơn thế nữa, thời gian nắng nóng kéo dài kết hợp với việc đốt nương của người dân đang là nguy cơ tiềm
ẩn và là nguyên nhân của những vụ cháy rừng hiện nay
Mặc dù không thể phủ nhận vai trò và ý nghĩa của Thủy điện trung sơn
về kinh tế và đời sống cho người dân, tuy nhiên sẽ có những xáo trộn trong kết cấu cộng đồng của những bản bị tác động, đồng thời sẽ gây ra một số tác động không hề nhỏ liên quan đến tổ chức trong cộng đồng về các mặt văn hóa, đời sống khi phải di chuyển đến một nơi tái định cư mới Khi mà trước đây những hoạt động cộng đồng đều gắn liền với rừng hay có thể nói rằng những văn hóa đó có nguồn gốc từ việc sống và sinh hoạt liên quan đến rừng Nay một số cộng đồng được di cư đến một nơi ở mới, nơi mà họ thiếu đất
Trang 3canh tác hoặc các khu rừng không thuộc về họ, từ đó sẽ giảm sự tham, trách nhiệm của người dân trong các công tác quản lý bảo vệ rừng Về mặt đa dạng sinh học, có thể có những trường hợp xây dựng thủy điện trung sơn sẽ làm ảnh hưởng hoặc mất sinh cảnh sống của một số loài và việc ôi nhiễm không khí và tiếng ồn trong quá trình xây dựng sẽ xua đuổi các loại động vật trong rừng gần đó
Do vậy, để bảo vệ những giá trị tài nguyên rừng trong vùng lõi Khu BTTN Pù Hu, cần phải có những nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản lý bảo vệ rừng bền vững nhằm khôi phục nguồn tài nguyên rừng và nâng cao đời sống kinh tế cho người dân sống trong vùng đệm
Để góp phần tìm ra những giải pháp quản lý tài nguyên rừng ở vùng đệm KBTTN Pù Hu, tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý tài nguyên rừng tại KBTTN Pù
Hu – tỉnh Thanh Hóa”
Trang 4Phần 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới
1.1.1 Cơ sở lý luận
Đối với tất cả các quốc gia trên thế giới, tài nguyên rừng đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển.Cuộc sống của đại đa số người dân đều phụ thuộc vào tài nguyên rừng Đặc biệt là những người dân sống ở miền núi, có đời sống phụ thuộc chủ yếu vào các nguồn thu từ các loại lâm sản Môi trường sống của đại bộ phận dân cư ở miền xuôi cũng như miền ngược đều dựa vào sự tồn tại của tài nguyên rừng Thế nhưng, những cố gắng tăng cường kiểm soát tài chính đối với các khu rừng quốc gia thường chỉ làm tăng thêm mâu thuẫn giữa các bên và chỉ gây thêm tổn hại đến hệ sinh thái, hơn là bảo tồn và sử dụng bền vững các hệ sinh thái đó
Nhân dân một số nước trên thế giới đã lên tiếng đòi hỏi các ngành công nghiệp chấm dứt tình trạng khai thác tài nguyên rừng Từ Surinam đến Solomo, Ấn Độ, Nêpan, Indonexia, Philippin, Zimbabuwe, Panama, Mỹ, Canada, và nhiều dân tộc khác, mối quan tâm đối với nạn phá rừng đã thúc đẩy các cộng đồng tổ chức các cuộc biểu tình quần chúng, chặn các con đường chở gỗ, kêu gọi chính phủ ban hành các hệ thống pháp luật ngăn chặn nạn phá rừng
Quản lý rừng bền vững đề cập đến 2 khía cạnh quan trọng là xây dựng, bảo vệ và sử dụng các nguồn tài nguyên rừng phục vụ cho các nhu cầu của con người phải được diễn ra một cách thường xuyên, liên tục và ổn định qua các thế hệ
Quản lý và sử dụng rừng bền vững bao gồm các quy trình công nghệ, chính sách và hoạt động, nhằm hội nhập những nguyên lý kinh tế và xã hội mới với các mối quan tâm về môi trường sao cho có thể đồng thời:
Trang 5- Giảm mức độ nguy cơ cho sản xuất
- Duy trì và nâng cao sự phục vụ sản xuất
- Có thể đứng vững được kinh tế
- Có thể chấp nhận được về mặt xã hội
- Không gây ô nhiễm môi trường
Nói cách khác, loại hình sử dụng tài nguyên rừng có thể được coi là bền vững nếu như cách sử dụng có tính cân đối về mặt xã hội, có cơ sở về mặt môi trường, được chấp nhận về mặt chính trị, có tính khả thi về mặt kỹ thuật
và phù hợp về mặt kinh tế
1.1.2 Những nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ở Philippines, chiến lược Quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học nêu rõ rằng: “Điều chủ chốt dẫn đến thắng lợi cho bảo tồn đa dạng sinh học là phải đảm bảo rằng các cộng đồng địa phương, những người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi mọi quyết định về chính sách liên quan đến môi trường, sẽ tham gia vào quá trình lập kế hoạch và quản lý đối với bảo tồn đa dạng sinh học”
Ở Indonexia, kế hoạch hành động đa dạng sinh học ghi nhận rằng:
“Việc tăng cường sự tham gia của công chúng, đặc biệt là cộng đồng sinh sống bên trong và phụ thuộc vào các vùng có tính đa dạng sinh học cao, là mục tiêu chính của kế hoạch hành động, là điều kiện tiên quyết đối với việc thực hiện kế hoạch
Bink Man W (1988) trong nghiên cứu của mình thực hiện tại làng Ban Pong, tỉnh S.Risaket, Thái Lan chỉ ra rằng các tầng lớp nghèo phải phụ thuộc vào rừng được chăn thả gia súc và thu hái tài nguyên lâm sản như: củi đun và hoa quả trong rừng Tuy nhiên, đây là một minh họa rất cần thiết của người dân địa phương tham gia vào việc lập kế hoạch và thiết kế các dự án phát triển (FAO, 1996)
Trang 6Colfer.C.J.P (1980) trong tác phẩm “Thay đổi và NLKH bản địa” tại Đông Kalimamtan Qua mô tả việc đi thu hái lâm sản phụ, tác giả đã nhận định rằng những sản vật đó được coi như là những mặt hàng không phải trả tiền, ai cũng có thể thu lượm được Thế nhưng những quyền đó không được quy định cụ thể, nó đã trở thành một thông lệ, trong đó có cả việc dùng gỗ làm nhà, có lúc dùng để biện hộ cho việc thu hoạch gỗ và bán
Năm 1986, trong tác phẩm “Lâm nghiệp xã hội và hành động của cộng đồng” các tác giả Dorji, D.C Chavada, B Thinley và Wangchuks cho rằng: Rừng chủ yếu là nguồn cung cấp gỗ xây dựng và làm hàng rào, cung cấp một phần lớn những yêu cầu về thức ăn gia súc, lợi tức, công ăn việc làm và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất và nước vùng đất dốc (FAO, 1996)
Ở Nêpan, đã có một số mô hình thành công về chương trình bảo tồn đa dạng sinh học theo hướng toàn cầu Tuy nhiên, do sự ảnh hưởng của cuộc xung đột vũ trang trong gần một thập kỷ đã tác động xấu đến bảo tồn đa dạng sinh học Chính vì vậy, một số nghiên cứu về đánh giá tác động của những hoạt động này đến bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Bardia và vùng đệm phía tây Nêpan đã được thực hiện.Nghiên cứu đã khẳng định, 73% người dân địa phương sống trong khu vực phụ thuộc vào nông nghiệp, nguồn chất đốt và thức ăn
Ở Ấn Độ, diện tích đất lâm nghiệp đứng thứ hai sau diện tích đất nông nghiệp và là nơi ước tính có 275 triệu người dân địa phương ở các vùng nông thôn phụ thuộc vào rừng (ít nhất là một phần sinh kế của họ) Một nghiên cứu
về lâm nghiệp cộng đồng bên ngoài khu rừng đặc dụng đã chỉ ra rằng các khu rừng không chỉ cung cấp tiềm năng to lớn để xóa đói giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế nông thôn ở Ấn Độ mà vẫn hỗ trợ tốt được mục tiêu quan trọng
là bảo tồn
Trước đây, dựa trên mô hình của Hoa Kỳ, phương thức quản lý của nhiều VQG và KBT chủ yếu bao gồm việc ngăn cấm người dân địa phương
Trang 7xâm nhập vào KBT và khai thác tài nguyên rừng Phương thức này gọi là biện pháp “Rào và phạt”.Tại các nước Đông Nam Châu Á phương thức này tỏ ra không thích hợp vì để duy trì sự đa dạng sinh học thì người dân địa phương bị mất quyền tiếp cận với nguồn tài nguyên rừng, trong khi sự phụ thuộc của họ vào TNR là rất lớn
Các nghiên cứu trên thế giới được liệt kê trên đây mới chỉ có những phân tích định tính về sự phụ thuộc của các cộng đồng dân cư vào tài nguyên và khẳng định cần thiết phải có sự tham gia của người dân vào hoạt động bảo tồn TNR Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu định lượng xác định những tác động của cộng đồng vào TNR và đưa ra các giải pháp quản lý rừng theo hướng bền vững [30]
1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.1 Cơ sở lý luận
Trong những năm qua do dân số tăng nhanh, nhu cầu xã hội ngày càng cao, nạn khai thác gỗ ồ ạt của lâm tặc, khai thác không đúng quy trình, chỉ chú trọng khai thác mà không chú ý đến tái tạo và nuôi dưỡng rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất làmcho diện tích và chất lượng rừng ngày càng bị giảm sút, làm suy giảm tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng Trước tình hình đó Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản và luật có liên quan đến sản xuất lâm nghiệp:
- Luật Đất đai 2003
- Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004
- Nghị định số 18-HĐBT ngày 17/1/1992 của Hội đồng Bộ trưởng về việc quy địn danh mục thực vật rừng, động vật rừng quý hiếm và chế độ quản, bảo vệ
Trang 8- Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng
ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
- Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg, ngày 14/8/2006 của Thủ tướng chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng; Thông tư số 99/2006/Q Đ-BNN ngày 6/11/2006 của Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và PTNT về việc hướng dẫn thực hiện về một số điều của Quy chế quản lý rừng
- Đề án giao rừng, cho thuê rừng giai đoạn 2007 – 2010
- Nghị định số 23/2006/N Đ-CP ngày 3/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng
- Quyết định số 2730/Q Đ/BNN-KL ngày 5/8/2008 của Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và PTNT về việc phê duyệt Đề án về chương trình đầu tư xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam giai đoạn
2008 – 2020
- Luật Đa dạng sinh học năm 2008
- Đề án hỗ trợ người dân vùng cao canh tác nông lâm nghiệp bền vững trên đất nương rẫy giai đoạn 2008 – 2012
- Quan niệm về công tác bảo tồn trước hết phải xuất phát từ các quy định mang tính pháp lý Đó là các điều khoản được ghi trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng ban hành ngày 12/8/1991; Luật Bảo vệ và phát triển rừng sửa đổi ban hành ngày 3/12/2004; Quyết định số 08/2001/Q Đ-TTg ban hành ngày 11/1/2001 đã đề cập đến việc Ban quản lý các khu bảo vệ được xây dựng các quy định về phạm vi sử dụng rừng đối với người dân địa phương sinh sống trong các KBT; Quyết định 186/2006/Q Đ-TTg ngày 14/8/2006 về việc ban hành Quy chế quản lý rừng
- Nghị định số 117/2010/NDD-CP ngày 24/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng
Trang 9- Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Thủ tướng chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
1.2.2 Một số nghiên cứu liên quan
Trong nhiều năm qua đã có rất nhiều nhà khoa học quan tâm tới việc nâng cao hiệu quả của các Khu BTTN và VQG theo quan điểm bảo tồn và phát triển Đó là làm sao dung hòa mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế xã hội của người dân địa phương
Theo Donovan D., Rambo A.T., Fox J., Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên (1997), đã đề cập đến các sản phẩm từ rừng và sức ép của người dân địa phương vào rừng Tác giả đã chỉ ra rằng: Diện tích rừng già ở miền núi phía Bắc Việt Nam đã giảm sút nghiêm trọng do việc khai thác gỗ, củi và các lâm sản khác như: Tre, nứa, nấm, cây dược liệu, động vật hoang dã và được xem như là nguồn sinh kế chủ yếu của người dân miền núi
D.A Gilmour và Nguyễn Văn Sản (1999), đã thực hiện một số nghiên cứu về quản lý vùng đệm tại các VQG: Ba Vì, Bạch Mã và Cát Tiên Kết quả nghiên cứu đã phản ánh khá rõ nét thực trạng vùng đệm ở Việt Nam như: Tình hình KTXH, tình trạng bảo tồn tại các VQG và cùng đệm, hoạt động phát triển trong các vùng đệm, tôt chức, thể chế cho quản lý vùng đệm… Các kết luận đưa ra mới dừng lại ở tầm vĩ mô như nguyên tắc, phương hướng chung, chưa cụ thể hóa làm cái gì và làm như thế nào
Kết quả nghiên cứu của Trần Ngọc Lân (1999), Đỗ Anh Tuân (2001) được thực hiện tại KBTTN Pù Mát đã đưa ra một số kết luận rằng: (i) Các nông hộ trong vùng đệm Pù Mát có sự gắn bó chặt chẽ với rừng, nguồn thu nhập từ khai thác lâm sản và canh tác nương rấy đóng vai trò quan trọng trong tổng thu nhập của mỗi nông hộ Hiện nay, các nông hộ đang có sự chuyển đổi
về sinh kế, song mới chỉ có rất ít các hộ có hiểu biết và có vốn đầu tư; (ii) Hầu hết người dân địa phương vẫn còn sử dụng TNR một cách bất hợp pháp Tại
Trang 10thời điểm nghiên cứu, 34% tổng thu nhập hàng năm của một HGĐ trong vùng đệm và 62% tổng thu nhập của một HGĐ trong vùng bảo vệ nghiêm ngặt là từ rừng Việc thành lập KBTTN (năm 1997) đã làm giảm 30% - 71,4% diện tích đất và khoảng 50% thu nhập từ rừng của người dân địa phương; (iii) Mặc dù
đã có một vài chương trình hỗ trợ được thực hiện tại KBTTN Pù Mát, song chúng chưa bù đắp được những mất mát do việc thành lập KBTTN gây ra
Nguyễn Thị Phương (2003) khi “Nghiên cứu tác động của cộng đồng địa phương vùng đệm đến tài nguyên rừng VQG Ba Vì – Hà Tây” đã vận dụng phần mềm SPSS trong việc tổng hợp và xử lý số liệu về hình thức tác động và các nguyên nhân tác động và chỉ ra rằng: Cộng đồng ở đây sống chủ yếu bằng nghề nông nhưng diện tích đất nông nghiệp rất ít và năng suất lúa thấp Vì vậy, để giải quyết nhu cầu cuộc sống hàng ngày họ tác động tới tài nguyên rừng dưới nhiều hình thức như: sử dụng đất rừng để sản xuất hàng hóa, khai thác sản phẩm với mục đích tiêu dùng, chăn thả gia súc… trong đó hình thức sử dụng đất rừng để sản xuất hàng hóa cho tỷ trọng thu nhập cao nhất trong cơ cấu thu nhập của cộng đồng (36,4%) Tuy nhiên, đề tài chưa đánh giá được mức độ tác động tới tài nguyên rừng của các dân tộc và các nhóm hộ khác nhau
Hoàng Quốc Xạ (2005) đã có sự kết hợp tốt giữa phân tích định tính và định lượng trong việc xác định các hình thức tác động và nguyên nhân tác động khi nghiên cứu tác động của cộng đồng địa phương đến tài nguyên rừng tại vùng đệm VQG Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ Các giải pháp được tác giả đưa ra tuy bao hàm nhiều lĩnh vực song chưa dựa trên các yếu tố đã được phân tích
cụ thể tại khu vực nghiên cứu và chưa thể hiện được tính khả thi của các giải pháp đưa ra
Ngô Ngọc Tuyên (2007) đã lượng hóa nhằm thể hiện sinh động ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất đến tổng thu nhập của hộ gia đình cũng như mối quan hệ giữa tổng thu nhập với các nhân tố thông qua việc thực hiện các
Trang 11nghiên cứu tác động của người dân địa phương đêna TNR tại KBTTN Na Hang, Tuyên Quang Tác giả đã lựa chọn 4 dân tộc chính trong khu vực, mỗi dân tộc 30 HGĐ để phỏng vấn nhưng chưa chỉ ra cho người đọc cách thức và nguyên tắc chọn mẫu Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, để giải quyết nhu cầu cuộc sống hàng ngày người dân đã tác động tới TNR dưới nhiều hình thức song “Sử dụng tài nguyên rừng” là hình thức có tác động bất lợi nhất, các dân tộc khác nhau thì mức độ tác động cũng khác nhau Nghiên cứu đã sử dụng hàm Cobb-Douglas để phân tích ảnh hưởng của các yếu tố đến thu nhập của HGĐ, tuy nhiên phân tích mới dừng lại ở 3 yếu tố nguồn lực mà chưa phân tích đến các yếu tố hiệu quả [30]
1.2.3 Hiện trạng tài nguyên rừng ở Việt Nam
Theo số liệu theo dõi diễn biến rừng năm 2014 được công bố tại Quyết định số 3135/QĐ-BNN-TCLN ngày 06/8/2015 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn, hiện trạng rừng trong cả nước và khu vực như sau:
- Toàn quốc: Tổng diện tích rừng và cây lâu năm (có tán che như rừng) trong cả nước là: 13.796.056ha, giảm 157.948ha so với năm 2013 trong đó: rừng đặc dụng: 2.085.132ha, chiếm 15,1%; rừng phòng hộ: 4.564.537ha, chiếm 33,1%%; rừng sản xuất: 6.751.923ha, chiếm 48,9%; rừng ngoài quy hoạch 3 loại rừng: 394.914ha, chiếm 2,9% Độ che phủ bình quân cả nước là 39,02% [11]
Về giao đất lâm nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp: Đã thực hiện giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, nhóm hộ gia đình, UBND xã quản lý là 1.936.091 ha (trong đó: Giao cho tổ chức 343.680 ha; hộ gia đình 979.326 ha; cộng đồng 163.278 ha, UBND xã quản lý 64.401ha), cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cộng đồng với 1.424.963 ha
Thống kê về diện tích rừng trên đây cho thấy, độ che phủ rừng toàn quốc 5 năm qua (2009-2014) tăng bình quân gần 0,5% mỗi năm, kết quả này
Trang 12là cố gắng rất lớn trong công tác quản lý bảo vệ, phát triển rừng của Việt Nam, trong khi độ che phủ rừng các nước trong khu vực đang suy giảm [6,7,8,9,10]
(Chi tiết phụ lục 1)
1.2.4 Cơ chế, chính sách về quản lý bảo vệ rừng
Chính sách về quyền hưởng lợi của chủ rừng và người nhận khoán bảo
vệ rừng theo Quyết định 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/ 2001 của Thủ tướng Chính phủ bước đầu kích thích chủ rừng và người nhận khoán đầu tư bảo vệ
và phát triển rừng cần tổng kết thực tiễn để sớm sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn
Việc đổi mới tổ chức và cơ chế quản lý lâm trường quốc doanh đã được triển khai thực hiện theo tinh thần Nghị quyết 28 của Bộ Chính trị và Quyết định số 187/1999/QĐ-TTg, Nghị định số 200/2004/NĐ–CP Tuy còn những khó khăn và vướng mắc về cơ chế hoạt động, nhưng về cơ bản các lâm trường sau khi được sắp xếp lại đã được định hướng rõ nét hơn về cơ chế tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh, nhiều lâm trường đã điều chỉnh giảm về quy
mô diện tích (theo kiểu bao chiếm đất, sử dụng hiệu quả thấp) để dành quỹ đất lâm nghiệp giao cho các tổ chức, cá nhân khác quản lý bảo vệ tốt hơn
Các biện pháp quản lý rừng cộng đồng được thực hiện, trong đó việc hỗ trợ và hướng dẫn gần 40.000 cộng đồng dân cư thôn, bản xây dựng và thực hiện quy chế bảo vệ rừng đã góp phần quan trọng nhằm nâng cao nhận thức, phát huy tính tự quản và sự cố kết của cộng đồng trong bảo vệ rừng
Thực hiện Quyết định số 245/1998/QĐ-TTg ngày 25/11/ 1998 của Thủ tướng Chính phủ quy định trách nhiệm quản lý nhà nước của các cấp về rừng
và đất lâm nghiệp Uỷ ban nhân dân các tỉnh đã và đang tổ chức rà soát chiến lược phát triển lâm nghiệp, chỉ đạo Uỷ ban nhân dân cấp huyện, xã thực hiện các biện pháp tăng cường trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn, tổ chức theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp Nhìn chung,
Trang 13trong thời gian qua các cấp chính quyền địa phương đã nâng cao vai trò trách nhiệm trong bảo vệ rừng, tuy nhiên ở một số địa phương, nhất là chính quyền
cơ sở vẫn chưa coi trọng, quan tâm đúng mức đến công tác này, rừng vẫn tiếp tục bị phá, bị cháy
Lực lượng kiểm lâm được đổi mới theo định hướng kiểm lâm phải bám rừng, bám dân, gắn với chính quyền cơ sở, đẩy mạnh tuyên truyền vận động nhân dân, huy động sức mạnh của toàn xã hội cho sự nghiệp bảo vệ rừng Thời gian qua Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành nhiều văn bản quy định tăng cường đào tạo nghiệp vụ và rèn luyện phẩm chất chính trị đối với lực lượng kiểm lâm Tổ chức đưa trên 4.000 công chức kiểm lâm về phụ trách địa bàn cấp xã để giúp chính quyền cơ sở nắm vững tình hình tài nguyên rừng và thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng tại gốc Việc tuyển dụng được thực hiện theo quy trình chặt chẽ hơn Đối với những cán bộ kiểm lâm
có vi phạm, dấu hiệu thoái hóa biến chất, kiên quyết xử lý kỷ luật, đưa ra khỏi ngành Kiểm lâm đang từng bước nhận được sự tin tưởng, ủng hộ của nhân dân, của chính quyền các cấp trong cuộc đấu tranh bảo vệ rừng
1.2.5 Tình hình vi phạm pháp luật trong quản lý tài nguyên rừng
Trong công tác quản lý tài nguyên rừng việc bảo vệ rừng luôn phải đối mặt với những áp lực, đó là những nguyên nhân gây mất rừng:
Theo thống kê báo cáo từ Chi cục Kiểm lâm các tỉnh trong khu vực, dến 25/10/2015, trên địa bàn đã phát hiện 4.828 vụ vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý bảo vệ rừng, giảm 919 vụ (giảm tương đương 19%) so với cùng kỳ năm 2014
Các hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản tập trung ở các lĩnh vực như:
- Hành vi phá rừng trái pháp luật 654 vụ giảm 268 vụ so với cùng kỳ năm
2014 Diện tích rừng bị phá 266,57 ha tăng 48,39 ha so với cùng kỳ năm 2014;
Trang 14- Hành vi khai thác lâm sản trái phép 282 vụ, giảm 45 vụ so với cùng kỳ năm 2014
- Hành vi mua, bán, vận chuyển lâm sản trái phép 2.284 vụ, giảm 362 vụ so với cùng kỳ năm 2014
- Hành vi vi phạm các quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng 315 vụ, trong đó 278 vụ cháy rừngg, diện tích rừng bị thiệt hại là 591,75 ha; tăng 51 vụ
và giảm 204,05 ha diện tích thiệt hại so với cùng kỳ năm 2014
Tổng số vụ vi phạm đã xử lý: 4.443 vụ, đạt 92%, trong đó xử phạt vi phạm hành chính 4.392 vụ, xử lý hình sự 51 vụ
Đánh giá chung:
Những năm qua công tác bảo vệ rừng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhận thức về rừng được nâng cao, quan điểm đổi mới xã hội hóa về lâm nghiệp đã được triển khai thực hiện có hiệu quả; hệ thống pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng ngày càng hoàn thiện; chế độ chính sách lâm nghiệp, nhất là chính sách về đa dạng hóa các thành phần kinh tế trong lâm nghiệp, giao đất, giao rừng, khoán bảo vệ rừng và quyền hưởng lợi từ rừng được ban hành và bước đầu đi vào cuộc sống Nhà nước đã tăng cường đầu tư thông qua nhiều chương trình, dự án đã tác động tích cực vào bảo vệ rừng Vai trò trách nhiệm quản lý Nhà nước về rừng của các ngành và chính quyền các cấp được nâng cao hơn, các tổ chức xã hội đã có những nỗ lực tham gia vào công tác bảo vệ và phát triển rừng
Nhiều biện pháp cương quyết như tổ chức các đợt truy quét lâm tặc, giải tỏa các tụ điểm phá rừng trái phép, ngăn chặn chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp ngoài quy hoạch, xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng được thực hiện quyết liệt hơn Nhờ đó tình hình vi phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, tình trạng phá
Trang 15rừng trên quy mô lớn được kiềm chế, giảm thiệt hại so với những năm 1990 Nhiều mô hình bảo vệ và phát triển rừng đã hình thành ở các địa phương, góp phần quan trọng vào việc khôi phục lại diện tích rừng, phát triển kinh tế xã hội và cải thiện chất lượng môi trường ở địa phương
Mặc dù trong thời gian qua đã có những nỗ lực không ngừng của các ngành các cấp trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng, nhưng nhìn chung kết quả đạt được chưa toàn diện, chuyển biến chưa căn bản, thiếu vững chắc Tình trạng phá rừng, khai thác, sử dụng đất lâm nghiệp trái phép vẫn diễn ra ở nhiều nơi, đặc biệt ở các địa phương còn nhiều rừng tự nhiên, khu vực Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ Nhiều băng nhóm phá rừng chuyên nghiệp, đường dây buôn bán lâm sản trái phép chưa được theo dõi, phát hiện
và bóc gỡ kịp thời Nhiều điểm nóng về phá rừng nghiêm trọng, kéo dài chưa được giải quyết triệt để
Tóm lại, để quản lý hiệu quả rừng đặc dụng cần tổng hợp các biện pháp
về kinh tế - xã hội, kỹ thuật và cơ chế chính sách của nhà nước Nhấn mạnh vào việc lôi cuốn người dân hay cộng đồng dân cư địa phương để quản lý rừng Việc phát huy năng lực của người dân địa phương để quản lý rừng xem như là một bí quyết thành công của các chương trình bảo tồn, tất nhiên không thể thiếu vai trò hỗ trợ, thúc đẩy của các cơ quan, tổ chức có liên quan Lâu nay Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu đã và đang thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ rừng, tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về việc nâng cao hiệu quả quản lý bảo vệ rừng Vì vậy, việc thực hiện nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý bảo vệ rừng tại KBTTN Pù Hu là cần thiết để lôi kéo người dân và các bên liên quan khác cùng tham gia vào công tác quản lý, bảo vệ rừng
Trang 16Phần 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
Góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng hiện có, bảo vệ môi trường, nâng cao cuộc sống của người dân sống tại vùng đệm Khu BTTN Pù Hu, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng tại KBT Pù Hu
- Đề xuất các giải pháp trong công tác quản lý bảo vệ rừng phù hợp với khu vực
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Nghiên cứu đặc điểm tài nguyên rừng tại KBT
- Sự phối hợp của người dân trong công tác quản lý bảo vệ rừng
- Tình hình vi phạm pháp luật về quản lý tài nguyên rừng tại KBT trong những năm gần đây
- Các chương trình, dự án đã và đang triển khai tại KBT
Trang 172.2.3 Nghiên cứu đánh giá những nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý tài nguyên rừng tại vùng đệm KBT
- Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên: Khí hậu, vị trí địa lý, địa hình, đất đai….đến quản lý tài nguyên rừng
- Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế đến quản lý tài nguyên rừng
- Ảnh hưởng của xã hội: phong tục, tập quán, kiến thức bản địa
- Ảnh hưởng của một số chính sách do nhà nước ban hành đến quản lý tài nguyên rừng vùng đệm
2.2.4 Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu
Trên cơ sở hiện trang và tình hình quản lý bảo vệ rừng ở vùng đệm KBT nghiên cứu đề xuất một số giải pháp sau:
- Giải pháp về cơ chế chính sách
- Giải pháp về kỹ thuật, công nghệ
- Giải pháp về kinh tế - xã hội
2.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các khu rừng, diện tích rừng đặc dụng; Chính quyền địa phương các cấp và cộng đồng người dân sống tại vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa
2.4 Phạm vi nghiên cứu
2.4.1 Phạm vi về nội dung
Đề tài chỉ tập trung vào nghiên cứu thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng và đề xuất một số các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên rừng ở vùng đệm Khu BTTN Pù Hu, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Trang 182.4.2 Phạm vi về không gian
Đề tài được thực hiện tại 3 xã.Tại mỗi xã, chọn 1 thôn điểm thuộc vùng đệm Khu BTTN Pù Hu, Quan Hóa, Thanh Hóa Bao gồm:
- Bản Yên thuộc xã Hiền Chung
- Bản Chiềng thuộc xã Phú Sơn
- Bản Khang II thuộc xã Nam Tiến
Lý do lựa chọn 3 thôn/3 xã này là do các xã vùng sâu, vùng xa, đời sống người dân còn khó khăn nhằm đánh giá mức độ phụ thuộc của người dân vào rừng
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu
Các địa điểm nghiên cứu được lựa chọn sau khi khảo sát sơ bộ một số
xã vùng đệm KBT, trao đổi với cán bộ KBT, Hạt kiểm lâm Địa điểm xã nghiên cứu được lựa chọn cần thỏa mãn các tiêu chí sau:
- Có địa bàn hành chính nằm trong ranh giới vùng đệm KBTTN Pù Hu
- Người dân có sử dụng tài nguyên rừng trong phát triển kinh tế
- Có cộng đồng người dân tộc Thái sinh sống
Lựa chọn thôn/bản nghiên cứu:
- Những thôn/bản sống gần rừng
- Thôn có đầy đủ các loại kinh tế hộ: Hộ khá; hộ trung bình; hộ nghèo
2.5.2 Phương pháp xác định đối tượng điều tra
2.5.2.1 Xác định dung lượng mẫu điều tra
Trang 19Trong đó:
+ n: Số hộ cần điều tra
+ N: Tổng số hộ của thôn/bản điều tra
+ d: Sai số mẫu (10%)
+ u: Hệ số tin cậy của phân bố chuẩn (u=1,96)
+ : Phương sai mẫu (
Căn cứ theo công thức trên ta có kết quả sau:
- Tổng số hộ dân của Bản Yên xã Hiền Chung: 99 hộ Như vậy, theo công thức trên số hộ điều tra ở bản Yên là: 48 hộ
- Tổng số hộ của bản Chiềng xã Phú Sơn: 61 hộ Số hộ điều tra sẽ là:
37 hộ
- Tổng số hộ của bản Khang II xã Nam Tiến: 73 hộ Số hộ điều tra sẽ là: 41 hộ
2.5.2.2 Phương pháp chọn hộ gia đình phỏng vấn
Việc chọn lựa hộ gia đình phỏng vấn đáp ứng các tiêu chí sau:
- Đại diện cho các nhóm hộ khá, trung bình, nghèo (Tiêu chí phân loại nhóm hộ khá, trung bình, nghèo được kế thừa theo danh sách phân loại nhóm
hộ của Ban quản lý thôn/bản và của UBND xã)
- Đại diện cho các dân tộc chủ yếu trên địa bàn nghiên cứu: Thái, Kinh Các hộ gia đình được lựa chọn trên cơ sở phân loại hộ gia đình, sau đó rút ngẫu nhiên lấy đủ số hộ đại diện cho nhóm dân tộc rồi phỏng vấn
Đề tài tiến hành phỏng vấn các hộ gia đình, cán bộ chính quyền địa phương.Công cụ điều tra chủ yếu là bảng câu hỏi phỏng vấn
Trang 20Đề tài thực hiện phỏng vấn 3 thôn thuộc 3 xã Hiền Chung, Phú Sơn, Nam Tiến
2.5.3 Phương pháp thu thập thông tin
2.5.3.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
Sử dụng phương pháp kế thừa để thu thập các tài liệu, số liệu có liên quan đến:
- Những tài liệu liên quan đến khí hậu thủy văn, động vật, thực vật, đất đai, thổ nhưỡng, dân số và lao động, điều kiện dân sinh, kinh tế, xã hội tại khu vực nghiên cứu;
- Các tài liệu, bản đồ liên quan đến hiện trạng tài nguyên rừng, và công tác quản lý bảo vệ rừng tại Khu BTTN Pù Hu
- Số liệu phân chia trạng thái và trữ lượng theo các trạng thái rừng hiện có
- Các báo cáo tổng kết năm của KBT và các xã nghiên cứu
- Báo cáo tổng hợp các vụ vi phạm trên địa bàn trong năm 2014-2015
- Những kết quả nghiên cứu liên quan đến quản lý rừng tại địa phương
- Những tài liệu về kinh nghiệm quản lý rừng của các nước, những nguyên tắc và tiêu chuẩn quản lý bảo vệ rừng của các tổ chức quốc tế
2.5.3.2 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
- Phỏng vấn hộ gia đình để xác định sự phụ thuộc vào tài nguyên rừng, nhu cầu sử dụng tài nguyên rừng trong phát triển kinh tế và các vấn đề cần thu thập trong nội dung nghiên cứu
- Điều tra phỏng vấn hộ bằng cách sử dụng bảng câu hỏi và ghi chép
sổ, chụp ảnh tư liệu Điều tra nhằm thu thập thông tin về hộ, công tác tham gia quản lý tài nguyên rừng, nguồn lao động trong nông nghiệp, vật nuôi,
Trang 21nguồn và mức độ thu nhập, các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của người dân trong vùng dự án
- Sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu đối với cán bộ chính quyền, các ban ngành của địa phương cùng cán bộ Khu bảo tồn, Hạt kiểm lâm Nguồn số liệu thứ cấp cũng được chú trọng thu thập từ những người lãnh đạo xã, thôn/bản
(Chi tiết bảng câu hỏi phỏng vấn có phụ lục 10 kèm theo)
2.5.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
- Sử dụng phần mêm Excel 2007 để phân tích hiện trạng tài nguyên rừng và phân tích sự phụ thuộc vào tài nguyên, nhu cầu sử dụng tài nguyên rừng trong phát triển kinh tế của người dân
- Phân tích SWOT (Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức)
Công cụ SWOT được phân tích dưới dạng ma trận 2*2 (2 hàng, 2 cột)
và chia làm 4 thành phần Mỗi phần tương ứng với những Điểm mạnh (Strengths), Điểm yếu (Weaknesses), Cơ hội (Opportunities), Thách thức (Threats)
Điểm yếu (Weaknesses)
Từ mô hình trên ta có:
Trang 22- Điểm mạnh là những tác nhân bên trong Khu bảo tồn mang tính tích cực hoặc có lợi giúp nâng cao hiệu quả quản lý rừng đặc dụng tại Khu bảo tồn
- Điểm yếu là những tác nhân bên ngoài Khu bảo tồn mang tính tiêu cực hoặc gây khó khăn trong việc nâng cao hiệu quả quản lý rừng đặc dụng tại Khu bảo tồn
- Cơ hội là những tác nhân bên ngoài Khu bảo tồn (xã hội, chính phủ…) mang tính tích cực hoặc có lợi giúp đạt được mục tiêu đề ra
- Nguy cơ là những tác nhân bên ngoài Khu bảo tồn (xã hội, chính phủ…) mang tính tiêu cực hoặc gây khó khăn trong việc đạt mục tiêu
Trang 23Phần 3 ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN VỀ TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hu nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Thanh Hóa trên địa bàn 2 huyện Quan Hóa (10 xã) và huyện Mường Lát (01 xã) Cách thành phố Thanh Hóa khoảng 140 km về hướng Tây Bắc
+ Phía Đông giáp với các xã Thanh Xuân, Phú Xuân, Phú Sơn, Phú Thanh, huyện Quan Hóa
+ Phía Tây giáp với xã Trung Lý, huyện Mường Lát
3.1.2 Đặc điểm địa hình
Khu BTTN Pù Hu nằm trên dãy núi đất ở phía Tây của vành đai núi đá vôi chạy theo hướng Tây – Nam từ khu Pù Luông tới Vườn Quốc gia Cúc Phương Đỉnh cao nhất là đỉnh Pù Hu (1.468 m) nằm ở Tây Nam khu bảo tồn Phía Tây Bắc có một số đỉnh núi cao như đỉnh Pù Học (1.424 m) Địa hình Phía Đông và phía Nam của các dãy núi này độ cao giảm dần cho tới các sườn dông ven sông Mã và sông Luồng
Trang 24Do có địa hình hiểm trở nên bị chia cắt rất mạnh với độ cao trung bình khoảng 800 – 1.000 m và độ dốc trung bình từ 25 - 300 cho nên khu vực quy hoạch khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu vẫn còn giữ được một phần nguyên sơ của hệ sinh thái rừng núi đất đai cao Địa hình khu vực này có thể chia ra 2 vùng: Vùng núi cao phân bố tập trung ở xã Hiền Chung, Phú Sơn, Trung Thành…với độ dốc lớn chiếm phần lớn diện tích khoảng 8.665,5 ha Vùng núi thấp, đồi cao phân bố phía dưới gồm các xã Phú Thanh, Nam Tiến,Thanh Xuân , độ dốc trung bình 20 -250
Hệ thống đồi núi của khu vực quy hoạch khu bảo tồn Pù Hu chủ yếu là núi đất, tỷ lệ đá lộ đầu chiếm tương đối lớn Do đặc điểm địa hình như trên gây nhiều khó khăn trong việc quản lý bảo vệ rừng
3.1.3 Khí hậu
Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu có đặc điểm khí hậu nhiệt đới, gió mùa mang nét đặc trưng khí hậu vùng Tây Bắc Việt Nam
- Nhiệt độ trung bình năm 23,10c
- Lượng mưa trung bình năm 1.525 mm
- Độ ẩm bình quân năm là 86%
Nhiệt độ bình quân năm biến động từ 200C - 250C, nhiệt độ tối cao là
390C, nhiệt độ tối thấp là 50C, lượng mưa bình quân năm tương đối thấp, biến động từ 1.400 mm – 1.600 mm, khí hậu nơi đây chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau
Trong khu vực có hai loại gió chính đó là gió mùa Đông Nam và gió mùa Đông Bắc Gió mùa Đông Nam mang theo nhiều hơi ẩm gây ra những trận mưa rào vào mùa Hè Gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau mang theo nhiều hơi lạnh Ngoài 2 loại gió chính nêu trên, vào tháng
Trang 254 và tháng 5 hàng năm ở đây còn xuất hiện từ 2-3 đợt gió Lào có đặc điểm khô nóng rất dễ gây cháy rừng
Khu BTTN Pù Hu giáp ranh với vùng Tây Bắc nên bão chủ yếu ảnh hưởng đến vùng này thông qua những trận mưa lớn lượng mưa từ 1.000 mm/trận mưa nên gây ra lũ lụt
3.1.4 Thủy văn
Khu BTTN Pù Hu có 2 hệ suối chính Một hệ suối chảy trực tiếp vào sông Mã gồm; các con suối ở phía Tây, phía Bắc và phía Đông của khu bảo tồn như: suối Kép, suối Quặc, suối Lương, suối Nánh, suối Long… Hệ suối thứ hai tập trung chảy vào sông Luồng rồi tiếp tục chảy ra sông Mã, hệ suối ở phía Nam khu bảo tồn như: suối San, suối Căm, suối Pheo, suối Ngà, suối Cua Sông Mã và sông Luồng nằm ngoài ranh giới Khu BTTN Pù Hu, cả 2
hệ thống sông này có lưu lượng dòng chảy lớn và độ dốc cao cho nên tiềm năng thủy điện rất lớn là nguồn tụ thuỷ cung cấp nước cho nhà máy thủy điện Trung Sơn, thủy điện Hồi Xuân và cung cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp cho các vùng lân cận
Trang 26- Nhóm đất feralít mùn phát triển trên đá Phiến thạch sét và đá Sa thạch
có kết cấu mịn phân bố trên vùng núi cao
- Đất dốc tụ nằm dọc theo chân núi Tổ hợp đất thung lũng bao gồm đất dốc tụ, lũy tích và sản phẩm hỗn hợp Tổ hợp đất thung lũng lẫn nhiều sỏi sạn và các cấp hạt
* Đặc điểm các nhóm lập địa chủ yếu khu bảo tồn Pù Hu
- Dạng lập địa N2IVFHs; N2IVFHa, chiếm 29,5% diện tích Phân bố ở các vùng sườn núi có độ cao trên 700 m Đất Feralit trên đá Granit Hướng sử dụng Phòng hộ đầu nguồn và bảo vệ đa dạng sinh học
- Dạng lập địa N3IVFs; N3IVFa, chiếm 24,4% diện tích Phân bố ở độ cao dưới 700 m và độ dốc < 35 độ Đất feralit với độ dày tầng đất không lớn Hướng sử dụng phòng hộ đầu nguồn và bảo vệ đa dạng sinh học
- Dạng lập địa N3IIIFs; N3IIIFa, chiếm 18,5% diện tích Đất Feralit phân bố trên các xã thuộc phân khu phục hồi sinh thái, độ dốc 16-20 độ, tầng dầy trung bình từ 50 - 70 cm Hướng sử dụng bảo vệ đa dạng sinh học
- Dạng lập địa N2IIIFHs; N2IIIFHa, chiếm 11% diện tích Phân bố ở vùng núi cao và độ dốc <25 độ Đất Feralit trên Granit Tầng đất từ trung bình đến dày, hướng sử dụng vào bảo vệ đa dạng sinh học
- Dạng lập địa T1IVFs; T1IVFa, chiếm 6,4% diện tích, dạng lập địa này phân bố trên vùng sườn suối và độ dốc khá lớn, đất Feralits màu đỏ vàng, hướng sử dụng cho mục đích lâm nghiệp
- Dạng lập địa T1IIIFs; T1IIIFa, chiếm 5,2% diện tích, phân bố trên sườn, độ dốc vừa phải tầng đất dày đến trung bình, đất Feralit, hướng sử dụng cho mục đích lâm nghiệp
- Dạng lập địa T1IIFs, chiếm 5% diện tích chúng phân bố ở các thung lũng hơi dốc, tầng đất dày Đặc điểm đất còn tốt và ẩm, hướng sử dụng nông lâm nghiệp
Trang 27* Nhìn chung đất ở Khu BTTN Pù Hu không có gì đặc biệt, các đá tạo đất nghèo chất dinh dưỡng, chỉ có vài ba loại đá quen thuộc thường gặp ở các vùng núi như: Granit, Đá sét, Phiến thạch sét và đá Cát, các loại đất được hình thành trong khu vực thường nằm trên các địa hình có độ dốc cao từ 16-250 và
từ 26-350, những năm trước đây rừng che phủ còn khá, chu kỳ nương rãy dài nên độ dày tầng đất thường ở cấp trung bình (30-80 cm)
3.1.6 Đặc điểm cơ bản tài nguyên rừng
3.1.6.1 Hiện trạng sử dụng đất và tài nguyên rừng
Căn cứ vào kết quả theo dõi diễn biến tài nguyên rừng hàng năm từ bản
đồ rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng Cho thấy hiện trạng sử dụng đất và tài nguyên rừng Khu BTTN Pù Hu như sau:
Tổng diện tích đất lâm nghiệp là; 22.688,37 ha
+Phân khu BVNN: 10.635,07 ha
+Phân khu PHST: 11.945,52 ha
+ Phân khu DVHC:107,78 ha
(Tổng diện tích đất rừng đặc dụng giao cho BQL khu BTTN Pù Hu quản lý là 22.688,37 ha, so với Kế hoạch số 54/KH-UBND Tăng 7,78 ha, do
bổ sung thêm diện tích khu Văn phòng BQL và các trạm Kiểm lâm)
Diện tích các loại đất loại rừng phân theo tiểu khu
Khu BTTN Pù Hu có tổng diện tích đất lâm nghiệp là 22.680,59 ha, nằm trên 39 tiểu khu phân bố trên 11 xã được thể hiên qua phụ biểu 10c, (phần phụ lục) Trong Khu BTTN Pù Hu phổ biến có 2 hệ sinh thái đặc trưng
là hệ sinh thái núi đất đai cao và hệ sinh thái núi đá vôi Hệ sinh thái núi đá vôi chiếm 0,97% tổng diện tích đất lâm nghiệp được giao quản lý, với kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa ít bị tác động trên đai cao phân bố rãi rác tại
Trang 28các tiểu khu 29, 120, 73, 123 Còn ở các tiểu khu còn lại về cơ bản là hệ sinh thái núi đất đai cao
Diện tích rừng giàu tài nguyên (IIIa3, IIIa2, Gỗ - Nu) tập trung ở các tiểu khu thuộc phân khu BVNN, xa dân cư, địa hình dốc và chia cắt tại các tiểu khu: 102, 98, 97, 94, 56, 72, 71 và một số diện tích tại các tiểu khu 120,
40, 49, 29
Các tiểu khu thuộc phân khu PHST, tiếp giáp với đất rừng sản xuất của cộng đồng dân cư vùng đệm của Khu BTTN Pù Hu như tiểu khu 82, 51, 24,
28, 16, 23, 42, 43, 113, 123, 95, 146, 124, 119, 142, 130, 111, 92, 93 … thường có trạng thái rừng nghèo kiệt (IIIa1, IIb); rừng non tái sinh; rừng nứa (do bị tàn phá, khai thác, nương rẫy cũ trước khi quy hoạch Khu bảo tồn và đã
có thời gian phục hồi)
Trong các tiểu khu 111, 112, 82, 113, 76b còn hiện trạng đất trống (Ic, lau lách …), các diện tích này hầu hết là diện tích đất ở, đất sản xuất nông nghiệp trước đây của các bản đồng bào người H’mông, sau khi thành lập Khu BTTN đã di dời các bản này ra khỏi Khu BTTN Pù Hu
3.1.6.2 Trữ lượng rừng
Sau khi xem xét, kế thừa có chọn lọc các tài liệu, báo cáo của KBT cho thấy tổng trữ lượng các loại rừng 1.452.094 m3; tre nứa 160.113 ngàn cây, trong đó; rừng giầu: 65.124 m3 bình quân 180 m3/ha; rừng trung bình 627.509
m3 bình quân 130 m3/ha; rừng nghèo 464.056m3 bình quân 70 m3/ha; rừng phục hồi 65m3/ha; rừng hỗn giao 295.045 m3, tre nứa 160.113 ngàn cây bình quân 50-60m3/ha, nứa 3000 cây/ha
Từ những số liệu nêu trên cho thấy hệ sinh thái rừng trong khu vực có chất lượng khá tốt, tỷ lệ rừng giầu và rừng trung bình chiếm 22,5% diện tích khu bảo tồn
3.1.6.3 Đất chưa có rừng và đất khác
Trang 29Diện tích đất chưa có rừng 1.180,33 ha (chiếm 6,6%) Gồm đất trảng cỏ (IA), đất trống có cây gỗ mộc rải rác, (IB, IC) Tuy không có rừng, nhưng nhóm đất này là nơi kiếm ăn của các loài thú ăn cỏ, nhóm thú móng guốc như
Bò tót, Bò rừng, Nai, Heo rừng…và nơi cư trú của Gà rừng và một số loài thú nhỏ khác
Diện tích 7,78 ha, gồm diện tích khu Văn phòng ban ở bản Khằm và các trạm Kiểm lâm tại các xã Trung Lý, Phú Sơn, Trung Thành, Nam Tiến 3.2 Đánh giá về chất lượng, quy mô, cơ cấu dân số và lao động
3.2.1 Dân số, dân tộc và lao động
Phạm vi Khu BTTN Pù Hu nằm trong địa giới hành chính của 11 xã (2 huyện Quan Hóa và Mường Lát)
3.2.1.1.Dân số
Dân số có 33.910 người, 7.269 hộ Mật độ trung bình là: 39 người/km2, mật độ cao nhất là xã Phú Xuân (mật độ là 75 người/km2) và thấp nhất xã Trung Lý là 29 người/km2 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên toàn khu vực là 1,1%
3.2.1.2 Thành phần dân tộc
Trước chiến tranh chống Mỹ, người dân khu vực chủ yếu là người Thái, Mường Sau chiến tranh chống Mỹ, có sự chuyển biến lớn về thành phần dân tộc, từ Sơn La, Yên Bái đồng bào H’mông di cư đến và thành lập các bản như; suối Tôn ở xã Phú Sơn, các bản ở Trung Lý, cùng với chương trình kinh tế mới người Kinh từ vùng đồng bằng ở các huyện Thọ Xuân, Thiệu Hóa đến đã làm cho thành phần dân tộc đa dạng hơn Hiện nay trong khu vực khu bảo tồn có một
số dân tộc chính sau: Dân tộc Thái 20.729 người chiếm 61,13%, dân tộc Mường 8.241 người chiếm 24,3%, dân tộc H’mông 4.055 người chiếm 11,96%, Kinh
885 người chiếm 2,6%
Trang 303.2.1.3 Lao động
Tổng số lao động là 18.356 người, chiếm 55,3% tổng dân số Trung bình mỗi hộ có khoảng 2,5 lao động Lao động trong khu vực chủ yếu làm nông nghiệp (Chiếm trên 91,9%), còn lại là các ngành nghề khác như: Thương mại, dịch vụ, giáo viên, y tế, cán bộ viên chức làm việc tại các xã trong vùng
(Chi tiết có phục lục kèm theo)
Trong tổng 11 xã vùng đệm, qua điều tra cho thấy trên địa bàn giáp ranh với khu bảo tồn có 61 bản thuộc vùng đệm với tổng số 3.855 hộ, và 19.329 khẩu, 8.928 lao động, trong đó huyện Quan Hóa có 45 bản thuộc 10 xã gồm: 3.186 hộ, 14.984 khẩu và 6.695 lao động; huyện Mường Lát có 1 xã Trung Lý có 16 bản với 609 hộ, 3.796 khẩu và 1.892 lao động
3.2.2 Đặc điểm phân bố và đời sống dân cư
3.2.2.1 Đặc điểm phân bố dân cư
Sự phân bố dân cư ở vùng đệm mang đậm nét đặc thù của một các xã miền núi với nhiều dân tộc sinh sống và phân bố rất không đều giữa các vùng, các khu vực Mật độ dân số thường tập trung cao ở vùng thấp, cao nhất là ở xã Phú Xuân
75 người/km2, ngược lại ở các vùng cao dân cư rất thưa thớt, điển hình là xã Trung Lý, mật độ dân số chỉ có 29 người/km2 Người Thái và người Mường thường tập trung ở những nơi ven các thung lũng gần suối nước, có đất canh tác nông nghiệp, ven đường giao thông, có trình độ canh tác và nhận thức xã hội Người H’mông sống tập trung từng bản ở trên các triền núi như bản suối Tôn xã Phú Sơn và các bản Cánh Cộng, Tà Cóm, suối Hộc… xã Trung Lý, huyện Mường Lát
3.2.2.2 Đời sống dân cư
Theo số liệu thu thập các xã huyện Quan Hóa năm 2011 thu nhập bình quân chung các xã vùng đệm khoảng 6,9 triệu đồng/lao động/năm Đến năm
Trang 312012 thu nhập bình quân trên 7 triệu đồng/lao động/năm (nguồn Chi cục thống kê huyện Quan Hóa) Theo số liệu thống kê của xã Trung Lý, huyện Mường Lát, năm 2011 thu nhập bình quân là 9,4 triệu đồng/người/năm Đến năm 2012 thu nhập bình quân 11 triệu đồng/người/năm
Nhìn chung tình hình sản xuất, đời sống, thu nhập đang còn thấp
Tỷ lệ hộ nghèo huyện Quan Hóa tính đến tháng 12/2012 là: 40,44%; xã Trung Lý, huyện Mường Lát tính đến 12/2012 khoảng 49,4%
3.2.3 Văn hóa – xã hội
Những năm qua, do thực hiện tốt chương trình phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ, trình độ dân trí không ngừng được cải thiện Tuy nhiên,
do phần lớn dân cư trong vùng đệm là người dân tộc, lại sống rải rác ở các vùng cao, vùng sâu, vùng xa, còn nhiều tập tục lạc hậu, điều kiện đầu tư cho giáo dục khó khăn nên trình độ dân trí và học vấn của dân cư nhìn chung thấp, các hủ tục mê tín dị đoan còn nặng nề, bản sắc văn hóa chưa được phát huy, nạn tảo hôn vẫn còn sảy ra, trình độ dân trí thấp, người dân chưa đủ kiến thức để tiếp thu khoa học kỹ thuật, chuyển giao công nghệ vào sản xuất
Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá mới ở khu dân cư được quan tâm Đến nay đã có một số bản và hộ gia đình đạt tiêu chuẩn văn hoá
3.2.4 Tập quán sinh hoạt và sản xuất
Tập quán sinh hoạt giữa các bản làng có sự khác biệt, mỗi dân tộc mang đậm bản sắc của dân tộc mình, như dân tộc Thái có tập tục sinh hoạt khác với dân tộc Mường, dân tộc Mông…
Tập quán canh tác còn lạc hậu, công cụ lao động còn đơn điệu, thủ công giữa các dân tộc còn có sự khác biệt, người Thái, Mường tập trung canh tác chủ yếu là khai hoang lúa nước, kết hợp chăn nuôi gia súc, gia cầm và thu
Trang 32hái lâm sản… người Mông ở bản suối Tôn xã Phú Sơn và các bản người Mông ở xã Trung Lý chủ yếu làm nương rãy và thu hái lâm sản
3.2.4.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp
Do đặc thù của các xã vùng đệm Khu BTTN chủ yếu là người đồng bào dân tộc thiểu số, nên sản xuất chủ yếu là làm nông nghiệp với hai ngành chính
là trồng trọt và chăn nuôi Ngoài ra nhân dân thu hái lâm sản phụ, săn bắt chim thú, nhận khoán bảo vệ rừng của các đơn vị lâm nghiệp để có việc làm tăng thêm thu nhập kinh tế hộ
Trồng trọt
Các loại cây trồng chính trong khu vực chủ yếu lúa nước, lúa nương rẫy, ngô, sắn, việc canh tác chủ yếu mang tính quảng canh, năng suất cây trồng vật nuôi còn thấp, năng suất trung bình đạt khoảng 4,7-5,2 tấn/ha đối với lúa nước, lúa nương 1,1 tấn/ha, ngô đạt 1,9 tấn/ha, sắn 6,2 tấn/ha Tổng sản lượng cây trồng chính năm 2011 đạt 15.584 tấn, (trong đó lúa đạt 5.729,5 tấn) bình quân lương thực trên đầu người đạt 289,4 kg/người/năm, (trong đó thóc đạt 172,6 kg/người/năm) Sự thiếu hụt về lương thực (gạo) chủ yếu trông vào các hoạt động chăn nuôi, sản xuất lâm nghiệp (cây luồng) và khai thác trái phép những lâm sản phụ trong Khu BTTN Pù Hu Đây cũng là một trong những nguyên nhân giải thích tại sao cuộc sống của người nông dân còn phụ thuộc nhiều vào khai thác tài nguyên rừng trong khu bảo tồn
Chăn nuôi
Các loài gia súc, gia cầm được nuôi trong vùng là trâu, bò, dê, lợn, ngan, vịt, gà và chủ yếu là các loài giống địa phương, tuy chất lượng ngon nhưng năng suất, sản lượng thịt không cao, bình quân hộ gia đình nuôi các loại gia súc từ 3-4 con/hộ
Tổng số đàn gia súc, gia cầm như sau: Trâu 4.432 con, bò 8.747 con, dê 2.166 con, đàn lợn 12.667 con và gia cầm, thủy cầm 72.838 con
Trang 33Ngoài ra, trong vùng còn có một số hộ gia đình đang phát triển chăn nuôi nhím, chuột khoang… nhưng do đặc điểm xa các trung tâm tiêu thụ, giá cả bấp bênh, kinh nghiệm chăn nuôi còn mới nên chưa thành sản phẩm hàng hóa
3.2.4.2 Sản xuất Lâm nghiệp
Trồng rừng
Công tác trồng rừng trên địa bàn được thực hiện nhiều năm nay Những năm gần đây được sự đầu tư của các dự án 661, dự án trồng rừng sản xuất , diện tích rừng trồng được nâng lên rõ rệt Đến nay, toàn vùng đã có 14.486,68 ha rừng trồng, gồm các loài cây Keo, Luồng, Xoan ta
Nhìn chung chất lượng rừng trồng thấp, trữ lượng rừng không cao, một số diện tích chưa đảm bảo mật độ Đối với rừng phòng hộ, cơ cấu loài cây chưa đáp ứng mục tiêu phục hồi sinh thái ở vùng đệm Đối với rừng sản xuất, hiệu quả kinh tế từ rừng chưa cao chính sách đầu tư vốn, giải quyết đầu ra chưa hấp dẫn người trồng rừng
Giao đất giao rừng
Công tác giao đất giao rừng theo Nghị định 02/NĐ-CP, Nghị định 163/ND-CP được tiến hành nhiều năm nay Phần lớn diện tích đất đã có chủ do vậy rừng được bảo vệ, khoanh nuôi, trồng rừng ,xây dựng trang trại ngày một nhiều hơn Tuy nhiên, công tác giao đất giao rừng tồn tại một số bất cập, ranh giới giao đất không rõ ràng, vẫn còn tranh chấp đất đai, sử dụng không đúng quy hoạch và mục đích trên đất được giao
Khai thác và chế biến lâm sản
+ Hiện nay diện tích rừng khai thác chủ yếu là rừng Luồng, hàng năm khai thác trong khu vực khoảng 300.000 cây Luồng Các xã Thiên Phủ, Hiền Chung, Nam Tiến, Phú Thanh, Trung Thành là những địa phương có diện tích rừng Luồng lớn
Trang 34+ Chế biến: Trên địa bàn hiện có 6 cơ sở sản xuất đũa (Hồi Xuân, Xuân Phú, Phú Lệ, Phú Thanh), ngoài ra còn một số tổ mộc tại gia Sản phẩm gồm gỗ
- Tuyến Quốc lộ 15A nối từ Ngọc Lặc đi qua huyện Quan Hóa đến Mai Châu tỉnh Hòa Bình
- Tuyến tỉnh lộ 520 nối từ ngã 3 Hồi Xuân đi qua các xã Nam Tiến, Thiên Phủ, Hiền Chung, Hiền Kiệt và xã Trung Lý
Tuyến đường liên thôn trên địa bàn các xã vùng đệm vẫn còn những bản đường đất đi lại gặp nhiều khó khăn
3.3.2 Thuỷ lợi
Hệ thống thủy lợi các xã trong vùng đệm hiện tại có 42 đập thủy lợi nhỏ, 28 kênh mương với chiều dài 59,1 km phục vụ tưới tiêu trên 180 ha lúa nước, tại các bản đều có khe, suối chảy qua; người dân sử dụng nguồn nước này đưa vào các kênh dẫn Một phần tưới tiêu cho đồng ruộng, một phần dùng cho sinh hoạt hàng ngày
Trong những năm qua, do nhu cầu về tưới tiêu, nhân dân và chính quyền địa phương các xã đã tự đầu tư, tu sửa và làm mới các công trình thuỷ lợi sẵn
có trên địa bàn Để đáp ứng nhu cầu tưới tiêu của các xã trong thời gian tới, cần phải đầu tư xây dựng thêm một số công trình thuỷ lợi, củng cố đập cũ, bê tông hoá các kênh đầu mối trên địa bàn từng thôn bản trong từng xã
Trang 353.3.3 Nước sạch
Trong những năm gần đây, hệ thống nước sạch đã được phát triển nhằm phục vụ tốt hơn cho đời sống nhân dân trong vùng Tuy nhiên, tỉ lệ dân
cư dùng nước sạch trong vùng còn thấp, nguyên nhân chính là do dân cư phân
bố rải rác Hiện tại, phần lớn các hộ gia đình trong vùng dùng nguồn nước tự chảy từ các khe suối làm nước sinh hoạt Các công trình cung cấp nước sinh hoạt ở các xã Hiền Chung, Phú Sơn, Nam Tiến, Trung Thành được sự hỗ trợ của nhà nước (chương trình 135), dự án Phát triển vùng Quan Hóa kết hợp với khu bảo tồn Pù Hu và một phần đóng góp của nhân dân trong vùng đến nay đã đầu tư 29/61 thôn, hiện tại đã bị xuống cấp Tuy nhiên còn các bản ở
xã Trung Lý, huyện Mường Lát mới có các công trình nước tự chảy hợp vệ sinh, các công trình này đã bị xuống cấp, hiệu quả sử dụng rất thấp, về mùa khô phần lớn các thôn thường bị thiếu nước sinh hoạt
3.3.4 Giáo dục
Trên địa bàn của 11 xã thuộc vùng đệm khu bảo tồn, mạng lưới giáo dục phổ thông hiện đã có 3 cấp học: Mầm non, tiểu hoc, trung học cơ sở Toàn vùng hiện có 121 lớp mầm non với 2.313 cháu, cấp tiểu học cơ sở có
191 lớp với 3.320 học sinh, cấp trung học cơ sở có 65 lớp 1.790 học sinh Sau khi tốt nghiệp hết cấp, các học sinh này có nhu cầu học trung học Phổ thông thì thường phải ra trung tâm của 2 huyện học tập
Đội ngũ giáo viên chủ yếu là người địa phương, đã được đào tạo cơ bản,
số lượng giáo viên đã đáp ứng được công tác giảng dạy cho con em địa phương 3.3.5 Y tế
Hiện tại toàn vùng đệm 11/11 xã có trạm y tế, thường nằm ở gần trung tâm xã, số giường bệnh là 88 gường, số cán bộ y tế là 63 người, trong đó; bác
sỹ 6, y sỹ 48 và y tá 6 người Nhìn chung tình hình cơ sở, trang thiết bị, thuốc
Trang 36men, đội ngũ cán bộ y tế xã bước đầu đáp ứng được công tác khám chữa bệnh cho nhân dân trong vùng Tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế nhất định như cơ
sở hạ tầng còn chật hẹp, xuống cấp, thiếu phòng; trang thiết bị chưa đồng bộ, thuốc men, cán bộ y tế còn thiếu, chưa chuyên sâu, đây cũng là những khó khăn chung của huyện cũng như của tỉnh hiện nay
3.4 Đánh giá chung
3.4.1 Những thuận lợi
Điều kiện tự nhiên Khu BTTN Pù Hu chủ yếu là núi đất có sự kết hợp với núi đá và có dòng sông Mã, sông Luồng bao quanh, tạo điều kiện cho phát triển du lịch sinh thái Địa hình chủ yếu là núi đất đai cao, độ dốc lớn, hệ sinh thái rừng có nhiều loại quý hiếm đặc trưng cho hệ sinh thái vùng Bắc Trung
Bộ đã thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học trong và ngoài nước
Trong những năm gần đây các xã trong vùng đệm Khu BTTN đã và đang được Trung ương và tỉnh đặc biệt ưu tiên với nhiều chương trình như chương trình 135, 30A, 147 Đây là cơ hội và cũng là động lực lớn tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn vùng đệm Khu BTTN Pù Hu
Tiềm năng đất đai trong vùng còn lớn, điều kiện tự nhiên thích hợp cho cây trồng lâm nghiệp, nhất là cây luồng, nhiều mô hình nông – lâm mới đang hình thành (mô hình nuôi gà dưới tán rừng luồng, mô hình nuôi nhím, nuôi chuột khoang…)
Nhận thức của đại bộ phận người dân sống gần khu bảo tồn đã có hiểu biết nhất định về quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng sản xuất…, bên cạnh
đó các cấp chính quyền, các cơ quan chuyên môn luôn sát sao, bám dân, cán
bộ kiểm lâm của ban quản lý, của hạt kiểm lâm huyện thường xuyên tuần tra rừng, gần gũi với dân
Trang 37Nguồn nhân lực, chủ yếu là lao động nông nghiệp của vùng khá dồi dào, cùng với tinh thần đoàn kết phấn đấu vượt qua đói nghèo, là yếu tố lợi thế quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội
Các xã vùng đệm Khu BTTN Pù Hu có lực lượng lao động khoảng 18.356 lao động, có thể thu hút họ tham gia thực hiện các chương trình quản
lý, bảo vệ, phát triển rừng, các dự án bảo tồn và phát triển Khu BTTN Pù Hu
Trong vùng lõi của khu BTTN cơ bản đã di dân ra khỏi khu BTTN Pù
Hu Đây là một trong những khu BTTN không có dân cư trong vùng lõi, so với các khu bảo tồn khác của tỉnh Thanh Hóa
Công tác giao đất lâm nghiệp trên địa bàn vùng đệm kịp thời và đồng
bộ, rừng đã có chủ thực sự, công tác bảo vệ rừng theo hướng xã hội hóa đi vào nề nếp và phát huy hiệu quả, phong trào trồng rừng và bảo vệ rừng phát triển mạnh trong nhân dân
Thông qua các chương trình dự án, xác định được tập đoàn cây lâm nghiệp phù hợp cho địa bàn Quan Hóa, Mường Lát đem lại hiệu quả cao như: Xoan ta, Lát hoa, Keo, Luồng đã thực sự khẳng định kỹ thuật kinh nghiệm trồng và chăm sóc trên những điều kiện lập địa khác nhau
Một số dự án của chương trình Nông thôn mới đang triển khai trên địa bàn; các công trình dịch vụ, du lịch, các dự án hạ tầng kỹ thuật, sẽ tạo ra cục diện phát triển mới, đồng thời tạo cơ hội cho phát triển rừng bền vững
Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, chủ quyền biên giới quốc gia được bảo vệ vững chắc Người dân tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, yên tâm sản xuất phát triển kinh tế
3.4.2 Những khó khăn
Là vùng miền núi, xa trung tâm văn hóa lớn, địa hình chia cắt mạnh, kết cấu hạ tầng cơ sở vẫn còn yếu kém, đặc biệt là mạng lưới giao thông đi lại còn khó khăn, dân trí không đồng đều, trình độ canh tác còn lạc hậu Số hộ nghèo còn khá cao, hầu hết các hộ thiếu đất, thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm sản
Trang 38xuất, cơ cấu cây trồng vật nuôi còn đơn giản Đây là trở ngại lớn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, cần được quan tâm, đầu tư thỏa đáng
Tài nguyên thiên nhiên của Khu BTTN Pù Hu, tuy đa dạng nhưng nhìn chung chưa được khai thác hợp lý: tài nguyên rừng bị tác động; tài nguyên cảnh quan chưa được quan tâm khai thác
3.4.3 Những thách thức
Những thách thức ảnh hưởng trực tiếp đến sự suy giảm hệ sinh thái rừng Pù Hu đó là: Hoạt động di dân tự do, đặc biệt là việc du canh du cư của người Mông trong vùng, kéo theo các hoạt động đốt nương làm rẫy và săn bắn động vật, khai thác gỗ trái phép, thu lâm sản phụ, chăm thả gia súc, xâm lấn rừng lấy đất canh tác, ô nhiễm môi trường, cháy rừng, sức ép lớn từ gia tăng dân số vùng đệm, sự nghèo đói, tác động từ nền kinh tế thị trường, nhận thức của cộng đồng còn thấp, phong tục tập quán lạc hậu và hiệu lực thi hành pháp luật chưa cao
Địa bàn rộng, đường ranh giới dài, lực lượng kiểm lâm tại các trạm có số lượng mỏng, tài nguyên rừng phong phú và đa dạng có nhiều loài động, thực vật rừng có giá trị cao, đã kích thích cho một số đối tượng bất chấp pháp luật xâm hại đến tài nguyên rừng Khu BTTN vì nguồn lợi lớn; do vậy việc kiểm soát nguồn tài nguyên rất khó khăn
Các đe dọa do các tác động về kinh tế - xã hội của cộng đồng đối với tài nguyên rừng vẫn còn diễn ra như:
+ Săn bắt và buôn bán động vật, ếch nhái hoang dã, khai thác lâm sản ngoài gỗ quá mức (song mây, đót, dây máu chó, thiên niên kiện, củ cu ly, măng nứa ); Thị trường buôn bán và sử dụng các sản phẩm trên còn diễn ra + Chăn thả gia súc tự do trong Khu BTTN; Xung đột giữa người và động vật hoang dã của Khu BTTN; Nguy cơ cháy rừng có nguy cơ làm hủy hoại
và làm suy thoái các sinh cảnh
Trang 39Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Đánh giá thực trạng tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn
4.1.1 Hiện trạng sử dụng đất và tài nguyên rừng
Căn cứ vào kết quả theo dõi diễn biến tài nguyên rừng hàng năm từ bản
đồ rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng, kết quả giải đoán ảnh vệ tinh Spot5 và kết quả phúc tra ngoài thực địa tháng 11/2012 [3], cho thấy hiện trạng sử dụng đất và tài nguyên rừng Khu BTTN Pù Hu như sau:
Tổng diện tích đất lâm nghiệp là; 22.688,37 ha
+Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt (BVNN): 10.635,07 ha
+Phân khu Phục hồi sinh thái (PHST): 11.945,52 ha
+ Phân khu dịch vụ hành chính (DVHC):107,78 ha
(Tổng diện tích đất rừng đặc dụng giao cho BQL khu BTTN Pù Hu quản lý là 22.688,37 ha, so với Kế hoạch số 54/KH-UBND Tăng 7,78 ha, do
bổ sung thêm diện tích khu Văn phòng BQL và các trạm Kiểm lâm)
Hiện trạng sử dụng đất ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu được thể hiện trong bảng 4.1 và hình 4.1 dưới đây: