0 1 Giới thiệu lớp học Đối tượng học viên ● Cán bộ khuyến nông ● Cán bộ nông nghiệp ● Nông dân trồng lúa gạo Mục tiêu bài giảng Về kiến thức Trang bị cho học viên kiến thức cơ bản vể biến đổi khí hậu[.]
Trang 21
Giới thiệu lớp học Đối tượng học viên
● Cán bộ khuyến nông
● Cán bộ nông nghiệp
● Nông dân trồng lúa gạo
Mục tiêu bài giảng
Về kiến thức
Trang bị cho học viên kiến thức cơ bản vể biến đổi khí hậu (BĐKH) và tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất lúa và sự phát thải khí nhà kính (KNK) từ sản xuất lúa Học viên sẽ học những giải pháp giảm phát thải khí nhà kính
Thời gian lớp học
120 phút
Phương pháp tập huấn
Lớp tập huấn sử dụng phương pháp tập huấn đa dạng, trực quan, tương tác giữa giảng viên và học viên
● Xem mẫu và thảo luận
● Hoạt động và thảo luận nhóm
● Giảng bài
Các lưu ý đối với giảng viên:
● Sử dụng bài trình chiếu để hướng dẫn quá trình học, không phụ thuộc hoàn toàn vào bài trình chiếu
● Giới thiệu chủ đề tập huấn một cách rõ ràng khi bắt đầu từng bài học
● Có thể điều chỉnh các bài học và thời lượng của từng bài học phù hợp với từng đối tượng học viên và hoàn cảnh tập huấn
● Tăng cường tính tương tác thông qua đặt các câu hỏi gợi mở
● Tạo không khí vui vẻ, sinh động cho bài giảng thông qua các hoạt động để các học viên có thể học từ chính trải nghiệm của họ
● Trích dẫn các ví dụ để giải thích và minh họa cho các chủ đề
● Truyền tải các thông điệp tập huấn đơn giản và chính xác
● Điều chỉnh ngôn ngữ phù hợp với đối tượng và địa bàn tập huấn
Trang 32
Cách thức đánh giá học viên
Kết quả tập huấn có thể được đánh giá như sau:
Kiến thức Quan sát/Tương tác
Kỹ năng Kết quả làm việc nhóm
Phiếu bài làm
Các công cụ, dụng cụ và tài liệu cần chuẩn bị
● Thiết bị trình chiếu
● Bút chỉ
● Tập bài giảng
Cấu trúc bài giảng
GIẢNG VIÊN CÓ THỂ ĐIỀU CHỈNH CHƯƠNG TRÌNH ĐỂ
PHÙ HỢP VỚI NHU CẦU HỌC VIÊN
Th ời
Gi ới thiệu về bài giảng
Chủ đề của bài giảng là giới thiệu cho học
viên về biến đổi khí hậu (BĐKH) và những
tác động của BĐKH đến sản xuất lúa, đồng
thời cũng nhìn nhận những đóng góp của sản
xuất lúa đến phát thải khí nhà kính (KNK)
làm gia tăng BĐKH Từ đó thảo luận về các
sáng kiến thích ứng và giảm nhẹ BĐKH
M ục tiêu của bài giảng:
Trang bị cho học viên kiến thức cơ bản vể
BĐKH và tác động của BĐKH đến sản xuất
lúa và sự phát thải KNK từ sản xuất lúa Học
viên sẽ học những giải pháp giảm phát thải
KNK
Th ời gian môn học: 2 giờ
V ật liệu: LCD projector, bút chỉ, tập bài
giảng
Phương pháp: Giảng trực tiếp bằng
powerpoint, thảo luận
Slide 1
Slide 2
Slide 3
Trang 43
Định nghĩa Biến đổi khí hậu
ĐN: Biến đổi khí hậu là thay đổi của kiểu thời
tiết (gồm các yếu tố thời tiết như nhiệt độ,
mưa, gió…) trong một khoảng thời gian dài,
từ hàng thập niên đến hàng triệu năm
Nghĩa là BĐKH khí hậu xảy ra khi quy
luật của khí hậu bị thay đổi, tính chất trung
bình của khí hậu bị thay đổi, trong khi BĐKH
có thể bị nhầm với biến động của thời tiết, tức
là thời tiết có thể thay đổi thành cao hơn hoặc
thấp hơn nhưng giá trị trung bình của thời tiết
thì vẫn giữ nguyên theo thời gian
Để giải thích cho định nghĩa trên thì cần minh hoạ bằng 2 bức ảnh (ở phía dưới của
cửa sổ) bức ảnh phía bên trái là một đồ thị
liên tục có các giá trị của đường cong lên
xuống thể hiện sự biến động của các thông số
khí hậu còn vạch đỏ là giá trị trung bình của
thông số đó, chạy liên tục và giữ nguyên độ
lớn từ nhỏ nhất đến lớn nhất Trong khi hình
góc dưới bên phải cũng thể hiện sự biến động
của các thông số thời tiết và cũng có vạch đỏ
là giá trị trung bình của thông số đó nhưng cả
sự biến động và thông số trung bình chỉ đúng
trong 1 đoạn nào đó, và có sự gián đoạn, thay
đổi bất ngờ từ bên trái (đại diện cho 1 giai
đoạn thời gian trước) và bên phải (là đại diện
cho giai đoạn thời gian tiếp theo Bức ảnh này
là thể hiện sự biến đổi khí hậu, vừa là thay đổi
các giá trị của khí hậu, vừa làm giá trị trung
bình bị thay đổi theo thời gian
Hình bên phải là bằng chứng (theo nguồn
của IPCC, 1996) về sự thay đổi tăng giảm của
các yếu tố nhiệt độ trung bình toàn cầu, mực
nước biển trung bình toàn cầu và bề dày lớp
phủ băng bắc bán cầu trong suốt từ năm 1850
đến nay Giai đoạn đầu chỉ là có sự biến động
thời tiết vì các đường trung bình đều song
song với trục hoành, đến giai đoạn sau thì cả
những biến động của tăng lên và giá trị trung
bình cũng bị thay đổi
Slide 4
Tác động của BĐKH đến sản xuất lúa
1 Nhiệt độ tăng làm rút ngắn thời gian sinh
trưởng, giảm năng suất
Hầu hết lúa xuân là giống cảm ôn, sự phát triển của lúa và sự thay đổi các giai đoạn phát
Trang 54
triển của lúa là nhờ sự tích luỹ nhiệt độ trong
cây, gọi là sự tích ôn Giống nào có tổng tích
ôn cao thì TGST dài và ngược lại Vì vậy khi
BĐKH có nhiệt độ tăng lên thì quá trình tích
ôn của cây lúa tăng và nhanh đạt được tổng
tích ôn, trong khi quá trình tích luỹ và tổng
hợp các chất hữu cơ chưa tăng Thời gian sinh
trưởng của cây lúa bị rút ngắn, thời gian tổng
hợp các chất cũng bị rút ngắn, lượng hữu cơ
tổng hợp được ít hơn và năng suất thấp hơn
2 Lượng mưa giảm làm tăng nhu cầu tưới,
tăng hạn hán, giảm năng suất
Hầu hết các lượng mưa và cường độ mưa
bị giảm vào các tháng mùa khô và tăng vào
các tháng mùa mưa gây hạn hán trong mùa
khô, đặc biệt 2 tháng cuối mùa khô và gây lụt
lội, lũ quét vào mùa mưa Rất nhiều nơi đã bị
hạn hán thiếu thước vào mùa khô, vì vậy để
đảm bảo năng suất cây trồng thì cần phải bổ
sung nước tưới cho cây, nếu không, năng suất
cây trồng sẽ bị giảm
3 Rét đậm rét hại làm chết mạ, lúa non vụ
đông xuân, xuân Trong những năm gần đây, số năm có rét đậm rét hại tăng lên, nhiệt độ của những đợt
rét cũng giảm xuống thấp đến mức có hại cho
cây trồng, đặc biệt là vụ xuân năm 2008 rét
kéo dài 38 ngày với nhiệt độ thấp làm chết
hàng loạt không những mạ nong, lúa non mà
còn cả vật nuôi, gây thiệt hại nghiêm trong
cho sản xuất lúa Vụ xuân năm 2018 cũng là
một vụ có diện tích mạ non bị chết nhiều do
thời gian rét kéo dài, kết hợp chất lượng ánh
sang kém, cây lúa quang hợp kém, thiếu chất
khô nuôi cây dẫn đến chết hàng loạt mạ và lúa
non
4 Nắng nóng làm lúa không đậu hạt, tăng tỉ
lệ lép (gió lào), hạn hán Các đợt nóng với nhiệt độ vượt quá giải tôi thích của lúa xuất hiện nhiều hơn vào thời
kì lúa trỗ bông gây chết các nhị và nhuỵ hoa,
quá trình trỗ và thụ phẫn không diễn ra và làm
tang tỉ lệ hạt lép, giảm nắng suất lúa
5 Thay đổi kiểu thời tiết: mùa mưa ngắn hơn
nhưng cường độ cao hơn, mùa khô kéo dài
Slide 6
Trang 65
hơn, ít mưa hơn
Độ dài của mùa bị thay đổi, thường mùa mưa tập trung hơn và ngắn hơn, trong khi
mùa khô thì kéo dài hơn với lượng mưa và
cường độ mưa thấp hơn Điều này dẫn đến kết
quả là mùa khô thường thiếu nước vào các
tháng cuối trong khi mùa mưa thường bị lũ
quét do mưa tập trung
6 Dịch chuyển mùa vụ: vụ đông đến muộn
hơn, mùa mưa kết thúc muộn hơn (lũ lụt
cuối vụ mùa)
Tại miền Bắc, bình thường rét đậm hay
xảy ra vào tiết đại hàn vào khoảng 25/12-25/1
và sau lập xuân 5/2 thường trời ấm lên, cây
cối đâm chồi nảy lộc Tuy nhiên thời gian rét
đậm có xu hướng chuyển sang tháng 2 làm
cho lúa xuân bị kéo dài TGST và thường gặt
muộn hơn dự kiến, gây ảnh hưởng đến vụ
mùa kế sau đó
Mặt khác mùa mưa cũng kết thúc muộn hơn, thường trùng với thời gian thu hoạch lúa
mùa, bị thiệt hại lớn (ví dụ vụ mùa năm 2007
tại Hoà Bình, Ninh Bình, Hà Tây hay vụ mùa
năm 2009, 2010 6 tỉnh duyên Hải miền Trung
bị lũ quyét và ngập làm vụ mùa bị mất trắng)
7 Mùa xuân ấm vùng ĐBSH, mùa lũ
ĐBSCL
Hiện tượng EN-Lino gây vụ xuân ấm ở
miền Bắc nói chung và ĐBSH nói riêng có
tần suất xuất hiện gia tăng từ 11 năm đến 4
năm như hiện nay Kết quả của EnLiNo là vụ
xuân ấm, rút ngắn TGST của lúa và rút năng
suất lúa xuống còn 30-70% so với bình
thường Đồng thời tại DBSCL thì lũ có xu
hướng đến sơm hơn (khoảng 15/9) rất dễ bị
trong giai đoạn cuối của sản xuất lúa vụ 3,
gây thiệt hại rất lớn cho ĐBSCL
Phát th ải KNK trong sản xuất lúa bao gồm
- Phát thải khí mê tan (CH4) Phát thải khí mê tan trên ruộng lúa xảy ra khi có 2 điều kiện là (i) trong đất có chất hữu
cơ, đất được bón chất hữu cơ; (ii) ruộng lúa
ngập nước và ở môi trường khử (Hình a) Khi
đó các chất hữu cơ sẽ bị các vi sinh vật (VSV)
phân giải hữu cơ nhóm methangenos phân
Slide 8
Trang 76
giải Sản phẩm của quá trình phân giải là khí
mê tan (CH4) là khí nhà kính có khả năng làm
nóng lên toàn cầu bằng 25 lần CO2 Môi
trường càng ngập nước, càng yếm khí thì
VSV này hoạt động càng mạnh và phát thải
càng nhiều mê tan và điều kiện tối ưu nhất là
ở thế oxy hoá khử Eh=-150v Khí mê tan phát
thải vào không khí theo 3 đường: một là
thông qua rết lúa, di chuyển qua hệ thống ống
dẫn của cây lúa và thoát ra từ các lỗ thoát trên
bề mặt lá lúa; hai là khi nồng độ khí mê tan
trong các khoang trống của đất bị đầy thì
chúng bị đẩy ra khỏi các lỗ hổng của đất,
xuyên qua nước mặt ruộng và bay vào không
khí; ba là khi rút nước đất mặt ruộng bị khô
và nứt thành các kẽ hở, khí mê tan sẽ thoát ra
từ các kẽ nứt đó (Hình b)
- Phát thải khí oxit nitơ (N2O) Khi trong đất có đạm, hoặc được bón phân đạm thì một phần chúng được cây hút, một
phần chúng bị hấp thụ vào đất và hấp phụ trên
bề mặt hạt đất, một phần tự do trong dung
dịch đất Đạm tự do trong môi trường oxy hoá
bị nitrate hoá thành NO3- hoặc trong môi
trưởng khử bị phản nitrat hoá thành N2 Cả 2
quá trình này đều sinh ra sản phẩm trung
gian là N2O, là khí nhà kính có kh ả năng
nóng lên toàn c ầu bằng 298 lần CO2
- Đóng góp của KNK phát thải từ ruộng lúa làm nóng lên toàn cầu
Quá trình phân giải chất hữu cơ (hô hấp
của VSV) trong điều kiện hảo khí sinh ra
CO2, trong điêu kiện yếm khí sinh ra CO2 và
CH4, chuyển hoá đạm sinh ra N2O CO2
được gọi là KNK tiêu chuẩn có tiềm năng
nóng lên toàn cầu bằng 1, CH4 có tiềm năng
nóng lên toàn cầu bằng 25 lần CO2 và N2O
có tiềm năng nóng lên toàn cầu bằng 298 lần
CO2 Tổng lượng KNK quy ra CO2 là lượng
đóng góp và phát thải từ ruộng lúa, góp phần
làm nóng lên toàn cầu và gia tang BĐKH
Chính vì thế ngành trồng lúa cũng cần phải
góp phần vào giảm nhẹ BĐKH bằng cách
giảm phát thải KNK từ canh tác lúa
Trang 87
Gi ảm nhẹ biến đổi khí hậu:
Vì sao phải giảm nhẹ BĐKH:
Nhìn vào Hình a ta thấy nhiệt độ và nồng
độ KNK toàn cầu tăng rất nhanh theo thời
gian và sẽ được dự báo là nhiệt độ toàn cầu
tăng mạnh trong thời gian tới,
Uỷ ban liên chính phủ về BĐKH đã họp thưởng đỉnh và đề xuất lên kế hoạch chỉ cho
nhiệt độ toàn cầu tăng 2oC vào năm 2100 Để
giữ được nhiệt độ tang dưới 2oC thì cần phải
làm hàng loạt các biện pháp giảm nhẹ BĐKH
thông qua cắt giảm phát thải KNK như ở
Hình b
Ở Việt Nam, Phát thải trong Nông nghiệp
là 89,75 triệu tấn CO2 tương đương (CO2e),
dự báo đến năm 2020 và 2030 sẽ phát thải là
104,51 và 112,16 triệ tấn CO2e, trong đó phát
thải từ sản xuất lúa là 44,29 triệu tấn CO2e
vào năm 2014 và dự kiến phát thải là 41,89 và
41,53 triệu tấn CO2e Mặc dù giảm so với
hiện trạng những con số tuyệt đối và tỷ lệ
chiếm % vẫn còn rất cao Vì vậy, giảm phát
thải trong sản xuất lúa cũng là một biện pháp
giảm phát thải chính của ngành NN & PTNT
Slide 9
Slide 10
Gi ảm nhẹ BĐKH trong sản xuất lúa
Như đã trình bày trong slide trước, phát thải
KNK từ nông nghiệp năm 2014 là 89,75 triệu
tấn CO2e, dự báo cho các năm 2020 và 2030
là 104,51 và 112,16 triệu tấn CO2e và phát
thải KNK từ sản xuất lúa là 44,29 triệu tấn
CO2e năm 2014 và 41,89 và 41,53 triệu tấn
CO2e vào năm 2020 và 2030 (Thông báo
Quốc gia lần 3, 2018) Lượng phát thải KNK
từ sản xuất lúa chiêms 50% lượng phát thải
KNK của ngành Nông nghiệp Vì thế, nếu
triển khai các hành động giảm nhẹ BĐKH
trong ngành NN & PTNT thì lĩnh vực sản
xuất lúa phải áp dụng đầu tiên Các nghiên
cứu cũng cho thấy lĩnh vực sản xuất lúa có
phát thải lớn nhất nhưng cũng là lĩnh vực có
tiềm năng giảm phát thải cao
Slide 11
Trang 98
Các bi ện pháp giảm nhẹ BĐH trong sản
xu ất lúa
1 Áp dụng giống ngắn ngày Theo phương pháp tính phát thải của IPCC thì lượng phát thải trong 1 vụ bằng hệ
số phát thải (g/m2/ngày) nhân với số ngày
của vụ lúa Nếu so sánh 2 giống có thời gian
sinh trưởng khác nhau thì giống nào có
TGST dài sẽ có lượng phát thải KNK lớn
hơn giống có TGST ngắn Chính vì vậy sử
dụng giống ngắn ngày hơn tức là đã giảm
lượng phát thải KNK trong vụ lúa đó (với
điều kiện NS lúa không được giảm)
2 Rút nước giữa vụ, tưới khô ướt xen kẽ, SRI Theo lý thuyết về sinh lý cây lúa thì cây lúa
chỉ cần ngập nước vào thời kì lúa đẻ nhánh và
trỗ bông Các thời kì khác chỉ cần đảm bảo độ
ẩm đất đủ cung cấp cho lượng cây hút là được
(nhiều nghiên cứu đưa ra lượng ẩm độ của đất
>60 độ ẩm đồng ruộng là được) Nắm bắt
được nguyên tắc này thì người trồng lúa chỉ
cần giữ ruộng lúa ngập nước trong giai đoạn
đẻ nhánh và trỗ bông Các thời kì khác chỉ
cần đảm bảo ẩm là được Trong thực tế người
dân thường phơi ruộng vào thời kì sau đẻ
nhánh rộ (hay gọi là rút nước giữa vụ), vừa
làm cho lúa cứng cây, chuyển đất sang trạng
thái oxy hoá, nhiều chất dinh dưỡng khó tiêu
được khoáng hoá và có thể huy động được
dinh dưỡng dễ tiêu cho cây lúa, tang ô xy cho
rễ lúa, đặc biệt là giảm hoạt động của Vi
khuẩn methagenos, dừng phát thải mê tan
(Hình a) Chúng ta cũng có thể phơi ruộng
thêm 1 lần nữa vào thời kì trước thu hoạch,
hay vào thời kì chính sắp đến thu hoạch (15
ngày trước thu hoạch) để cây lúa cứng cây và
tăng nhiều hạt chắc, giảm phát thải mê tan
Triệt để hơn, Viện lúa Quôc tế IRRI cũng đưa ra quy trình tưới khô ướt xen kẽ (Hình b)
với khả năng xiết nước nhiều hơn, đảm bảo
đủ ẩm nhưng thời gian phơi ruộng nhiều hơn,
giảm phát thải khí mê tan nhiều hơn
Với hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) thì việc xiết nước theo quy trình tưới khô ướt
xen kẽ là khâu chủ đạo làm giảm phát thải
KNK trong hệ thống này Ngoài ra việc giảm
Slide 12
Slide 13
Trang 109
giống, giảm phân bón và giảm tưới cũng giảm
nhiều phát thải trong thời gian cây lúa sinh
trưởng
3 Giảm lượng đạm đến hợp lý
Việc bón phân không cân đối có thể làm
giảm hiệu lực sử dụng phân đạm hay là
nguyên nhân người nông dân bón nhiều đạm
hơn so với lượng cây hút Nếu bón phân cân
đối thì sẽ giảm được lượng đạm bón mà vẫn
đảm bảo năng suất, đặc biệt giảm lượng đạm
dư thừa, gây phát thải khí N2O
4 Xử lý phân chuồng, rơm rạ tươi Khi bón phân hữu cơ cho ruộng lúa như phân chuồng tươi, rơm rạ tươi hoặc các loại
chất hữu cơ tươi khác, trong đó có chứa
nhiều chất hữu cơ hoà tan và di động, rất
nhanh bị phân giải và phát thải khí CH4 và
N2O Nếu ủ các loại phân hữu cơ tươi các
chất hữu cơ hoà tan sẽ bị phân giải ở dạng
hảo khí, lượng KNK sinh ra ít hơn, phần hữu
cơ còn lại cung cấp cho cây trồng hiệu quả
hơn và bền hơn
5 Bón phân tổng hợp, chậm tan
Việc bón các loại phân NPK, phân đạm
chậm tan sẽ cung cấp từ từ phân N cho cây
mà không sợ chúng bị di động và chuyển hoá
thành NO3 hoặc N2 gây phát thải N2O Tăng
hiệu quả sử dụng phân đạm, giảm phát thải
khí nhà kính
6 Áp dụng 3 giảm 3 tăng, 1 phải 5 giảm Các biên pháp 3 giảm 3 tăng, 1 phải 5 giảm đều là các biện pháp giảm đầu vào, bón phân
cân đổi và tăng hiệu quả sử dụng phân bón, và
giảm phát thải KNK (N2O)
7 Chuyển hoá rơm rạ thành than sinh học bón cho lúa
Than sinh học là loại than giữa carbon hữu
cơ và carbon vô cơ, có tốc độ phân giải rất
chậm, cải thiện đất kiềm, chua mặn…lượng
phát thải KNK rất thấp và tốc độ tích luỹ
carbon vào đất rất cao, đảm bảo phát thải thấp
và bền vững