RỦI RO TÍN DỤNG VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH THĂNG LONG (2).
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động kinh doanh Ngân hàng vốn đã hàm chứa nhiều rủi ro tiềm ẩn, nhất
là trong nền kinh tế thị trường như hiện nay Đất nước hội nhập nền kinh tế thếgiới, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của nhiều hiệp hội hợp tác cùngphát triển như ASEAN, APEC, AFTA, WTO, hiệp định thương mại Việt-Mỹ(BTA) cũng đã được thông qua hoàn toàn…, hệ thống ngân hàng với tư cách là trụcột của nền tài chính nước nhà đứng trước nhiều cơ hội và thách thức mới Cạnhtranh với các ngân hàng nước ngoài có ưu thế hơn hẳn về phương diện vốn và côngnghệ đòi hỏi các ngân hàng trong nước phải có những chiến lược mang ý nghĩasống còn Rủi ro là không thể tránh khỏi và là điều tất yếu trong kinh doanh nhưnglàm thế nào để có thể giảm thiểu rủi ro đến mức tối đa mà vẫn đảm bảo mức sinhlời cao cho các ngân hàng là một bài toán trăn trở của những nhà nghiên cứu tâmhuyết với nghành ngân hàng nói chung và của các nhà quản trị nói ngân hàng nóiriêng
Nói đến rủi ro, người ta không thể không nhắc đến rủi ro tín dụng – một loạirủi ro gây tổn thất nặng nề tới hoạt động kinh doang trong ngân hàng Xuất phát từ
yêu cầu bức thiết đó, em lựa chọn đề tài: “ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH THĂNG LONG” làm luận văn tốt
nghiệp
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương I: Ngân hàng thương mại và rủi ro tín dụng trong hoạt động củaNgân hàng thương mại
Chương II: Thực trạng tín dụng và rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngânhàng Vietcombank Thăng Long
Chương III: Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt độngtín dụng tại ngân hàng Vietcombank Thăng Long
Hà Nội, tháng 3 năm 2010Sinh viên thực hiện
Trần Mạnh Hoàng
Trang 3CHƯƠNG I NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG
HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1 Khái quát về ngân hàng thương mại.
1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính, một bộ phận hợp thànhtrong hệ thống tài chính của nền kinh tế thị trường Trong mỗi nước có một môhình riêng về hệ thống trung gian tài chính nhưng các ngân hàng thương mại lớnnhất về phạm vi, đối tượng, cũng như khối lượng hoạt động giao dịch và dịch vụ.Tại Việt Nam theo luật ngân hàng Nhà Nước và các tổ chức tín dụng đượcban hành ngày 26/12/1997, NHTM được định nghĩa như sau: “NHTM là tổ chứctín dụng kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửicủa khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, đầu tư,thực hiện nghĩa vụ chiết khấu và làm các phương tiện thanh toán”
1.2 Vai trò của ngân hàng thương mại.
Cùng với sự nghiệp đổi mới và đi lên của đất nước thì không phủ nhận vai tròđóng góp to lớn của nghành Ngân hàng:
Thứ nhất: NHTM là nguồn chủ yếu huy động cung cấp vốn khơi dậy tiềmnăng và phát triển kinh tế
Thứ hai: NHTM là thủ quỹ của các tổ chức kinh tế
Thứ ba: NHTM là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường thông quahoạt động tín dụng của Ngân hàng đối với các doanh nghiệp
Thứ tư: NHTM là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Thứ năm: NHTM là cầu nối của nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốctế
Trang 42 Hoạt động tín dụng của NHTM
Tín dụng Ngân hàng là một hình thức phát triển cao của tín dụng, tuy nhiên
nó vẫn giữ được bản chất ban đầu của quan hệ tín dụng của NHTM dựa trên một
số nguyên tắc nhất định nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng dinh lời Cácnguyên tắc này được cụ thể hóa trong các quy định của ngân hàng Nhà nước
Khách hàng cam kết hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏathuận trong hợp đồng tín dụng Các khoản tín dụng của ngân hàng có nguồn vốnchủ yếu từ các khoản vay và phát triển
Khách hàng phải cam kết sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận tronghợp đồng tín dụng
II Một số vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng thương mại.
2.1 Tín dụng.
2.1.1 Khái niệm.
Tín dụng là giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay là ngân hàng và các định chế tài chính khác với bên đi vay là cá nhân, doanh nghiệp…Trong đó quyền cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc lẫn lãi cho bên cho vay khi đén hạn thanh toán.
Bên cạnh đó quan hệ tín dụng cũng cần được hiểu là quan hệ hai chiều, vàngân hàng vừa là người đi vay, vừa là người cho vay
Nghiệp vụ kinh doanh tín dụng là nghiệp vụ kinh doanh chủ chốt của NHTM
để tạo ra lợi nhuận nhằm bù đắp những chi phí phát sinh trong hoạt động kinhdoanh, trong đó có chi phí bù đắp rủi ro tín dụng, và các chi phí khác
2.1.2 Đặc điểm của tín dụng.
- Những hình thức trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm cho vay và chothuê Tài sản giao dịch trong cho vay là bằng tiền và tài sản trong cho thuê là bấtđộng sản và động sản Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên
cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện
Trang 5- Lòng tin: Quan hệ tín dụng được hình thành trên cơ sở niềm tin rằng người
đi vay sẽ hoàn trả đúng hạn
- Về mặt pháp lý, những văn bản xác dịnh quan hệ tín dụng như hợp đồng tíndụng, khế ước…đó là những văn bản pháp lý nhằm ràng buộc những trách nhiệm,nghĩa vụ và quyền lợi của hai bên cho vay và đi vay
- Tính hoàn trả: Người đi vay thông thường phải thanh toán phần lãi ngoàivốn gỗc, vì vậy người đi vay phải thanh toán nhiều hơn so với lúc đầu vay
- Tính thời hạn: Là khoảng thời gian mà người đi vay phải hoàn trả đúng hạn
- Thứ hai, tín dụng thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất.Bản chất đặc trưng hoạt động ngân hàng là huy động vốn tiền tệ tạm thời nhànrỗi phân tán trong nền kinh tế, trong xã hội để thực hiện cho vay tới các đơn vịkinh tế có nhu cầu vốn phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh
- Thứ ba, tín dụng thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng hoá và luân chuyểntiền tệ Tín dụng đã tham gia trực tiếp vào quá trình luân chuyển hàng hoá và luânchuyển tiền tệ tạo điều kiện phát triển nền kinh tế, đặc biệt những ngành kinh tếtrọng điểm trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế
-Thứ tư, tín dụng góp phần thúc đẩy chế độ hạch toán kinh tế
Với sự tài trợ tín dụng của ngân hàng, mỗi doanh nghiệp phải thực hiện một
Trang 6hiệu quả hơn Khi sử dụng vốn vay ngân hàng các doanh nghiệp phải tôn trọng cáchợp đồng tín dụng, phải thực hiện thanh toán lãi và nợ vay đúng hạn, cũng nhưviệc chấp hành các quy định ràng buộc trách nhiệm nghĩa vụ khác ghi trong hợpđồng như là về vấn đề tài chính…
- Thứ năm, tín dụng tạo điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Hiện nay, xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế của đát nước yêu cầu các doanhnghiệp phải mở rộng mối quan hệ kinh tế không chỉ trong phạm vi một quốc gia
mà còn phả mơ rộng ra phạm vi khu vực và thế giới Đối với nước ta, một nướcđang trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá, tín dụng đóng vai trò rất quantrọng nhất là trong công tác xuất nhập khẩu, trong công cuộc quảng bá thương hiệuNGƯỜI VIỆT trên thế giới
2.2 Rủi ro tín dụng và tiêu chí xác định rủi ro tín dụng :
2.2.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng:
Rủi ro tín dụng là những sự cố liên quan đến huy động vốn và cho vay, gây tổn thất về vốn, tài sản và uy tín của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường.
2.2.2 Bản chất rủi ro tín dụng
Rủi ro tớn dụng gắn liền với hoạt động quan trọng nhất và có quy mô lớnnhất của Ngân hàng thương mại – hoạt động tín dụng Khi thực hiện một hoạt độngtài trợ cụ thể, ngân hàng cố gắng phân tích các yếu tố của người vay sao cho độ antoàn là cao nhất Và nhìn chung ngân hàng chỉ quyết định cho vay khi thấy an toàn.Tuy nhiên, không một nhà kinh doanh ngân hàng tài ba nào có thể dự đoán chínhxác các vấn đề sẽ xảy ra Khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng có thể bị thayđổi do nhiều nguyên nhân Hơn nữa, nhiều cán bộ ngân hàng không có khả năngthực hiện phân tích tín dụng thích đáng Do vậy, trên quan điểm quản lý toàn bộngân hàng, rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi, là khách quan Nhiều quan điểmnhất trí rằng, rủi ro tín dụng là bạn đường trong kinh doanh, có thể đề phòng, hạnchế, chứ không thể loại bỏ hoàn toàn Do vậy, rủi ro dự kiến luôn được xác địnhtrước trong chiến lược hoạt động chung của ngân hàng
Trang 7Hoạt động tín dụng bao gồm nhiều hình thức khác nhau : cho vay, chiếtkhấu thương phiếu, cho thuê tài sản (leasing), bảo lãnh hoặc tái bảo lãnh Tuynhiên trong khuôn khổ đề tài, chỉ đề cập tín dụng là hoạt động cho vay và rủi ro tíndụng là rủi ro trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại.
2.2.3 Các loại rủi ro tín dụng
2.2.3.1 Rủi ro mất vốn
Là rủi ro cho vay không thu hồi được nợ Bản chất của tín dụng ngân hàngchứa đựng nội dung ứng trước tiền cho doanh nghiệp (người vay), sau một chu kỳsản xuất hoặc kỳ luân chuyển hàng hoá thì khách hàng mới có tiền trả nợ ngânhàng Nội dung “ứng trước” của tín dụng ngân hàng càng cao thì mức độ rủi rocàng lớn Ngân hàng thương mại cho vay bằng tín chấp mức độ rủi ro cao hơn chovay có tài sản thế chấp Tài sản thế chấp bằng giấy tờ có giá dễ chuyển đổi ra tiềnthì rủi ro ít hơn tài sản thế chấp là bất động sản (ruộng, vườn, ao hồ, nhà cửa kèmtheo thổ cư) Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, rủi ro này thường chiếm tỷtrọng lớn nhất ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài sản kinh doanh Vì hơn 2/3 tài sản
có của ngân hàng là các món cho vay và đầu tư, đem lại thu nhập chủ yếu cho ngânhàng, do đó nếu các khoản cho vay của ngân hàng không được hoàn trả, ngân hàng
sẽ mất cả vốn lẫn lãi Số tiền thiệt hại này khi đã vượt quá vốn tự có của ngân hàng
sẽ khiến ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán dẫn đến phá sản
2.2.3.2 Rủi ro sai hẹn
Là các khoản cho vay mà đến hạn khách hàng vẫn chưa thu hồi được vốn đểtrả cho ngân hàng Thông thường trường hợp này khách hàng sẽ xin ngân hàng giahạn thêm thời hạn trả nợ Nếu lý do của khách hàng không được ngân hàng chấpthuận, họ sẽ phải chịu lãi suất phạt Khoản tiền thu hồi chậm này có thể làm đảolộn kế hoạt kinh doanh của ngân hàng và luôn tiềm ẩn nguy cơ mất vốn
Trang 82.2.3.3 Rủi ro lãi suất
Quá trình chuyển hoá tài sản của ngân hàng bao gồm việc huy động vốn vàviệc sử dụng vốn Kỳ hạn và độ thanh khoản của các tài sản nợ thường không cânxứng với kỳ hạn và độ thanh khoản của các tài sản có làm cho ngân hàng phảichịu rủi ro về lãi suất
Giả sử lãi suất huy động vốn là 9%/năm và lãi suất đầu tư là 10%/ năm Saunăm thứ nhất, bằng cách vay ngắn hạn 1 năm và cho vay dài hạn hai năm, ngânhàng thu được lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất là 10% - 9% = 1% Tuy nhiên lợinhuận thu của năm thứ hai chưa biết trước là bao nhiêu cho nên sẽ là một số khôngchắc chắn Nếu lãi suất thị trường không thay đổi từ năm thứ nhất sang năm thứhai thì ngân hàng có thể tái tài trợ tài sản nợ với mức lãi suất không thay đôỉ là9%; và do đó, mức lợi nhuận thu được trong năm thứ hai sẽ bằng năm thứ nhất vàbằng 1% Vì lãi suất thị trường có thể thay đổi từ năm thứ nhất sang năm thứ hai,cho nên ngân hàng luôn đứng trước rủi ro về sự thay đổi lãi suất Giả sử, sang nămthứ hai ngân hàng chỉ có thể huy động vốn theo mức lãi suất thị trường hiện hành
là 11%, do đó lợi nhuận của ngân hàng sang năm thứ hai sẽ là một số âm, tức làngân hàng sẽ chịu lỗ 10% - 11% = -1% Như vậy lợi nhuận của năm thứ nhất chỉ
đủ bù đắp cho khoản lỗ của năm thứ hai Kết quả là, trong mọi trường hợp nếungân hàng duy trì tài sản có kỳ hạn dài hơn so với tài sản nợ thì ngân hàng luônđứng trước rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ đối với tài sản nợ Rủi ro sẽ trởthành hiện thực nếu lãi suất huy động vốn bổ sung trong những năm tiếp theo tănglên trên mức lãi suất đầu tư tín dụng dài hạn
Ngoài rủi ro lãi suất tái tài trợ tài sản nợ hoặc tái đầu tư tài sản có, thì khi lãisuất thị trường thay đổi ngân hàng còn có thể gặp phải rủi ro giảm giá trị tài sản.Như chúng ta đã biết, giá trị thị trường của tài sản có hay tài sản nợ là dựa trênkhái niệm giá trị hiện tại của tiền tệ Do đó, nếu lãi suất thị trường tăng lên thì mứcchiết khấu giá trị tài sản cũng tăng lên, và do đó giá trị hiện tại của tài sản có và tàisản nợ giảm xuốn Ngược lại, nếu lãi suất thị trường giảm thì giá trị của tài sản có
và tài sản nợ sẽ tăng lên Do đó, nếu kỳ hạn của tài sản có và tài sản nợ không cân
Trang 9xứng với nhau, ví dụ tài sản có có kỳ kỳ hạn dài hơn tài sản nợ, thì khi lãi suất thịtrường tăng, giá trị của tài sản có sẽ giảm nhanh hơn và nhiều hơn so với sự giảmgiá trị của tài sản nợ Rủi ro giảm giá trị tài sản khi lãi suất thay đổi thuộc loại rủi
ro về lãi suất và có thể dẫn đến thiệt hại cho ngân hàng
2.2.4 Các chỉ tiêu xác định rủi ro tín dụng
- Rủi ro huy động vốn
+ Lãi xuất tăng là biện pháp mang lại hiệu quả cao hơn trong việc chống lạm
phát so với các biện pháp hành chính khác như kiểm soát tín dụng hay tăng tỷ lệ dựtrữ bắt buộc, do biện pháp này gây ra ít tác động tiêu cực hơn và lại có hiệu quả lâudài hơn đối với nền kinh tế
+ Tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng nhằm rút bớt tiền từ lưu thông về, chủ động kiểmsoát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tăng trưởng dư nợ tín dụng phùhợp với các mục tiêu kinh tế vĩ mô
+ Vốn bị ứ đọng không đầu tư được là do lãi xuất của ngân hàng ngày càngcao và áp lực phải hạn chế tăng trưởng tín dụng, tăng dự trữ bắt buộc nên ngânhàng đã cắt giảm hạn mức tín dụng thậm chí không quyết định cho doanh nghiệpvay vốn
Trang 10+ Mất vốn: Trong điều kiện nền kinh tế lạm phát như hiện nay các ngân hàngđang gồng mình để chống chọi nhằm đảm bảo công ăn việc làm cho nhân viên.Với mức lãi xuất vay biến động Các ngân hàng đang rơi vào trong tình trạng mấtvốn.
- Rủi ro trong cho vay:
+ Nợ quá hạn tăng với tỷ lệ lớn: Khi cỏc ngân hàng cho vay xuất hiện nhữngkhoản nợ quá hạn, việc đầu tiên là các ngân hàng cho vay phải tìm cách thu hồi nợ.Việc thu hồi nợ quá hạn vừa làm mất thời gian của cán bộ cho vay, vừa làm tăngkhoản chi phí về đi lại để lấy nợ Nếu các khoản nợ này có liên quan đến nhiều bênthì ngân hàng cho vay phải chi phí về cả thời gian lẫn tiền cho công việc thươnglượng, gặp gỡ các bên trong quá trình xử lý nợ Đây là những chi phí trước mắt màcác ngân hàng cho vay phải bỏ ra
- Rủi ro trong thanh toán:
Một ngân hàng hoạt động bình thường phải đảm bảo được khả năng thanhtoán Khả năng thanh toán tưc là đáp ứng được các nhu cầu thanh toán hiện đại, độtxuất khi có vấn đề nảy sinh và đáp ứng được khả năng thanh toán trong tương lai.Khi ngân hàng thiếu khả năng thanh toán, nếu không được giải quyết một cách kịpthời có thể dẫn đến mất khả năng thanh toán Khi ngân hàng thừa khả năng thanhtoán sẽ dẫn đến ứ đọng vốn, làm giảm khả năng sinh lời, thu nhập của ngân hànggiảm
Rủi ro thanh toán nảy sinh do những nguyên nhân sau:
+ Do mất cân bằng giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, nguồn vốn dư thừa quálớn, trong khi đó thị trường đầu ra hạn hẹp nên một số ngân hàng đã dùng vốn huyđộng ngắn hạn để cho tập trung dài hạn quá mức, dẫn đến thiếu hụt khả năng thanhtoán cuối cùng
+ Loại rủi ro này còn có thể phát sinh trong quá trình thanh toán của ngânhàng, có thể do ngân hàng bị lợi dụng trong thanh toán điện tử, thanh toán séc chấpnhận thanh toán các chứng từ giả mạo hoặc do nhầm lẫn, sai sót trong hoạt độngnghiệp vụ…dẫn đến sự thiệt hại của ngân hàng
Trang 11- Rủi ro thuần tuý
Đây là loại rủi ro khách quan do thiên tại gây ra như: lụt lội, động đất, hoảhoạn hoặc do bị mất trộm, bị lừa đảo, tham nhũng…làm thiệt hại hay phá huỷ cáctài sản của ngân hàng Các rủi ro này xảy ra cũng gây mất mát, thiệt hại không nhỏcho ngân hàng
- Rủi ro mất khả năng thanh toán
Đây là loại rủi ro đặc trưng của NHTM liên quan đến sự sống còn của ngânhàng, nó là hậu quả của một hoặc nhiều loại rủi ro kể trên dẫn đến việc NHTM bịthua lỗ, không có đủ khả năng trả nợ cho người gửi tiền khi đến hạn hoặc không có
đủ tiền nhất thời để chi trả cho nhu cầu rút tiền ồ ạt của khách hàng tại một thờiđiểm Đây là loại rủi ro nghiêm trọng nhất, nó không những làm sụp đổ chínhNHTM đó mà còn là nguy cơ dẫn đến sự phá sản của hàng loạt các chưc năng, các
tổ chức tín dụng khác có liên quan
* Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng
(1) NQH và tỷ lệ NQH / Tổng dư nợ
(2) Nợ khó đòi và tỷ lệ Nợ khó đòi / Tổng dư nợ
(3) Tính đa dạng của tài sản
(4) Tình hình tài chính và phương án của người vay
(5) Đảm bảo tiền vay
(6) Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng
(7) Môi trường hoạt động của người vay
Do thời gian và mức độ giới hạn của luận văn nên chỉ xét hai chỉ tiêu chính vàchủ yếu: NQH và tỷ lệ NQH / Tổng dư nợ, Nợ khó đòi và tỷ lệ Nợ khó đòi / Tổng
Trang 122.2.4 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro:
- Nguyên nhân khách quan
Đây là những nguyên nhân gây nên rủi ro co hoạt động kinh doanh của ngânhàng cho vay không xuất phát từ cán bộ cho vay hay ý thức trả nợ của khách hàng
mà do môi trường bên ngoài tác động vào Nguyên nhân này xuất hiện đột ngột,khó đoán, khó kiểm soát, nó thường gây ra những thiệt hại lớn cho khách hàng vàngân hàng cho vay Bao gồm các nguyên nhân cụ thể sau
* Do sự thay đổi chính sách của chính phủ:
Nước ta đang thực hiện quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế sang nền kinh tếthị trường Do đó phải tuân thủ và chấp nhận sự biến động theo quy luật của nền
Trang 13kinh tế thị trường Mỗi khi nền kinh tế biến động lên, xuống thì lập tức chính phủphải đưa ra các chính sách kinh tế mới phù hợp với điều kiện hiện hành nhằm hạn chếảnh hưởng xấu tới nền kinh tế đất nước Các chính sách của chính phủ thường xuyênquan tâm và có sự thay đổi kịp thời là:
+ Chính sách tài chính: Chính sách này liên quan đến cơ chế thu chi ngânsách chính phủ
+ Chính sách tiền tệ: Chính phủ sử dụng các công cụ như: lãi suất chiết khấu,
dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở… Để điều chỉnh mức cung ứng tiền tệkhi có biến động xẩy ra
+ Chính sách đầu tư phát triển: Đây là những chính sách mà khi chính phủđiều chỉnh sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp cho các ngân hàng thương mại, thường lànhững ảnh hưởng không tích cực cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng thươngmại
* Nguyên nhân từ phía môi trường pháp lý.
Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại liên quan đến nhiều lĩnhvực của nền kinh tế, mang tính xã hội cao, khi hệ thống pháp luật ổn định và lànhmạnh thì môi trường kinh doanh của ngân hàng thương mại sẽ có nhiều thuận lợi.Ngược lại nếu môi trường pháp lý thiếu đồng bộ, có nhiều khe hở thỡ rất rể bị lợidụng gây ra tình trạng tham ô, chiếm đoạt tài sản… Kinh tế xã hội không ổn địnhdẫn đến kinh doanh gập nhiều khó khăn, ngân hàng cho vay gặp rủi ro
* Môi trường tự nhiên
Những biến động lớn về thời tiết, khí hậu gây ảnh hưởng hoạt động sản xuấtkinh doanh đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, điều kiện tự nhiên là yếu tốkhó dự đoán, nó thường xẩy ra bất ngờ với thiệt hại lớn ngoài tầm kiểm soát củacon người Vì vậy khi cú thiên tai địch hoạ xẩy ra khách hàng cùng các ngân hàngcho vay sẽ có nguy cơ tổn thất lớn, phương án, dự án kinh doanh không có nguồnthu… Điều đó đồng nghĩa với các ngân hàng cho vay phải cùng chia sẽ rủi ro vớikhách hàng của mình
Trang 14* Môi trường kinh tế xã hội.
Môi trường kinh tế xó hội trong một nước biến động chịu ảnh hưỏng củanhững biến động từ nền kinh tế thế giới, đó là nguyên nhân làm phát sinh rủi rotrong hoạt động kinh doanh của nền kinh tế, từ đó ảnh hưởng tới các lĩnh vực kinh
tế trong đó hoạt động kinh doanh tiền tệ chứa nhiều nguy cơ rủi ro lớn nhất
Bên cạnh đó hoạt động cho vay phụ thuộc rất nhiều thói quen, truyền thống,tập quán của ngươi dân Những yếu tố đó nhiêu khi gây khó khăn và hạn chế mởrộng hoạt động cho vay của các ngân hàng cho vay
- Nguyên nhân chủ quan
Do chính sách của ngân hàng cho vay không phù hợp, thiếu sự kiểm soát chặtchẽ hoặc đặt mục tiêu lợi nhuận quá cao Chúng ta đều biết đặc điểm của kinhdoanh tiền tệ là: Lợi nhuận cao luôn đi cùng với các ngân hàng cho vay phải biếtlựa sức mình để xác định, lợi nhuận hợp lý cho ngân hàng của mình
Trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ cho vay yếu kémdẫn đến cán bộ cho vay không đánh giá chính xác về khách hàng và phương án vayvốn, từ đó làm phát sinh những hợp đồng cho vay kém an toàn Mức độ rủi rotrong trường hợp này sẽ ngày càng tăng dần trong suốt quá trình kể từ khi xétduyệt đến khi giám sát và cuối cùng là thu nợ Cùng với sự hạn chế về trình độ làvấn đề phẩm chất đạo đức của cán bộ cho vay
2.3 Giải pháp ngăn ngừa và hạn chế rủi to tín dụng.
2.3.1 Thực hiện một cách khoa học và đồng bộ quy trình cho vay:
Quy trình cho vay có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động tín dụng của ngânhàng Một quy trình cho vay chặt chẽ và có hiệu quả là biện pháp hữu hiệu nhất đểhạn chế rủi ro trong quá trình cấp tín dụng Quy trình cho vay là một quy trình kể
từ khi khách hàng lập đơn xin vay cho đến lúc ngân hàng thu hồi hết nợ vay Nógồm 5 giai đoạn:
- Lập hồ sơ xin vay
- Giai đoạn phân tích tín dụng
- Giai đoạn quyết định tín dung
Trang 15- Giai đoạn giám sát khách hàng sử dụng vốn vay và theo dõi rủi ro.
- Giai đoạn kiểm tra và thanh lý hợp đồng
Các giai đoạn trên của mối quan hệ chặt chẽ với nhau và đòi hỏi được thựchiện một cách đầy đủ xát xao của tổng giai đoạn Tuy nhiên trong thực tế không có
ít cán bộ tín dụng lơi lỏng hời hợt trong việc thực hiện cỏc giai đoạn điều đó gây rarủi ro Chính vì vậy, từ khi thiết lập cho đến khi kết thúc quan hệ tín dụng, các cán
bộ ngân hàng phải áp dụng đồng bộ quy trình nhưng cũng phải hết sức linh hoạtmềm dẻo Có như vậy hiệu quả đầu tư tín dụng mới được tăng cao rủi ro tín dụngmới được hạn chế ở mức thấp nhất Tuy nhiên ngân hàng cần đặc biệt kiểm traphân tích một cách toàn diện chặt chẽ về khách hàng trước khi cho vay, đồng thờiphải kiểm tra giám sát chặt chẽ việc sử dụng tiền vay sau khi đó phát hành tiềnvay
2.3.2 Sử dụng các đảm bảo tín dụng phù hợp đối với từng khách hàng
Đảm bảo tín dụng là cơ sở giúp các NHTM có khả năng thu hồi nợ vay mộtkhi khách hàng không còn khả năng trả nợ
Đảm bảo tín dụng có thể là lời cam kết trả nợ thay của người bảo lãnh hoặccam kết của người vay dùng tài sản đảm bảo để thế chấp hay cầm cố các khoảnvay Tuy nhiên bản thân đảm bảo tín dụng cũng tiềm ẩn những yếu tố rủi ro
2.3.3 Phân tán, chia sẻ rủi ro tín dụng
Để tiến hành phân tán, chia sẻ rủi ro tín dụng, Ngân hàng thực hiện dưới haihình thức:
- Đa dang hoá đối tượng tín dụng:
Cho vay nhiều đối tượng thuộc các loại hình sản xuất kinh doanh khác nhau,không cho vay quá nhiều để sản xuất kinh doanh một sản phẩm hàng hoá
Không nên đầu tư một số tiền lớn cho một khách hàng mà phải san sẻ ra nhiềukhách hàng
- Liên kết đầu tư: trong kinh doanh có những doanh nhiệp có nhu cầu vay vốnrất lớn mà một NH không thể đáp ứng được hoặc khó xác định khả năng mức độ
Trang 16rủi ro có thể NH liên kết đầu tư Theo cách này thì NH cũng đã phân tán rủi ro củamình cho NH khác.
2.3.4 Tăng cường hiệu quả hoạt động của trung tâm thông tin tín dụng.
Trong thời đại thông tin bùng nổ, thông tin đóng vai trò quan trọng và quyếtđịnh đến sự thành bại của mỗi doanh nghiệp
2.3.5 Giảm thiểu rủi ro bằng cách thực hiện tốt việc phân tích tín dụng và đo lường mức độ rủi ro của mỗi khoản vay trước khi ra các quyết định cho vay.
Ngân hàng nên tránh thực hiện cho vay với những khoản tín dụng có mức độrủi ro cao Nói cách khác, NH có thể tăng các điều kiện tớn dụng để từ chối nhữngkhoản vay rủi ro
2.3.6 Xây dựng chính sách tín dụng phù hợp kết hợp hài hoà giữa mục tiêu mở rộng nâng cao chất lượng tín dụng.
2.3.7 Sử dụng hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn để phòng ngừa 2.3.8 Đào tạo ngồn nhân lực về cả trình độ chuyên môn và đạo đức.
2.3.9 Trích lập dự phòng rủi ro.
Trích lập dự phòng rủi ro được coi là một trong những biện pháp quan trọng
để phòng chống rủi ro Ở hầu hết các nước trong hoạt động của ngân hàng đềuthành lập quỹ dự phòng bù đắp các khoản cho vay bị rủi ro và quỹ dự phòng rủi rotrong hoạt động của ngân hàng
Quỹ dự phòng rủi ro được sử dụng để bù đắp các khoản rủi ro khi ngân hànglàm ăn thua lỗ do nguyên nhân khách quan mang lại
Luật các tổ chức tín dụng (điều 82 Dự phòng rủi ro) có quy định: "tổ chức tíndụng phải dự phòng rủi ro trong hoạt động ngân hàng; Khoản dự phòng rủi ro nàyphải được hoạch toán vào chi phí hoạt động; Việc phân loại tài sản có mức trích,phương pháp lập khoản dự phòng và sử dụng khoản dự phòng để sử lý các rủi ro
do thống đốc ngân hàng Nhà nước quy định sau khi thống nhất với bộ trưởng tàichính"
Trang 172.4 Các dấu hiệu rủi ro
- Khách hàng có thể sử dụng vốn vay đúng mục đích nhưng nhận vốn chậmtrễ so với kế hoạch thoả thuận với ngân hàng
- Chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp giảm sút, hàng tồn khotăng lên quá mức, doanh số bán hàng giảm sút cùng các khoản công nợ gia tăng.Điều đó làm cho khả năng thanh toán giảm sút
- Khó khăn khi giải thích mục đích khoản vay
- Hoàn trả nợ vay ngân hàng chậm hoặc quá thời hạn
- Sự thay đổi nhà quản lý, hoặc sự thay đổi tổ chức hoạt động đều được coinhư dấu hiệu xem xét
- Các thảm hoạ thiên nhiên như lũ lụt, hoả hoạn đều có thể là những nguyênnhân ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các biến động
về chính trị xã hội sẽ tạo điều kiện nảy sinh rủi ro
- Khách hàng không kể ra được chính xác và đầy đủ thông tin tài chính, đặcbiệt là những thông tin về những món nợ ghi trong danh mục
- Những ước tính quá khả năng về khả năng sinh lời và nguồn ngân quỹ củakhách hàng
- Khách hàng muốn mở rộng điều hành kinh doanh quá nhanh và quá tin vàolượng mua bán hàng hóa tăng sẽ giải quyết được tất cả những vấn đề của kháchhàng
- Doanh nghiệp luôn có những quyết định tức thời và luôn vội vã trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh
- Doanh nghiệp bị các chủ nợ khác xem là chậm trả
- Sự biến mất hay xuống giá tài sản thế chấp cầm cố, bảo lãnh
- Thái độ thù nghịch đối với các chủ nợ khác
- Doanh nghiệp mua bán trước khi thu xếp nguồn tài chính
- Công việc kinh doanh của doanh nghiệp nằm ngoài khu vực tài trợ kinhdoanh bình thường của ngân hàng Doanh nghiệp giao dịch buôn bán với nhiều chủ
Trang 18- Những khoản chi trội thường xuyên trong tài khoản kinh doanh
2.5 Ý nghĩa của phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng:
- Đảm bảo an toàn vốn cho ngân hàng và cho khách hàng gửi tiền, làm ổn định nền kinh tế nói chung
- Làm tăng lợi nhuận cho các đối tác
- Đảm bảo an ninh cho nền kinh tế quốc dân
Trang 19CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG VIETCOMBANK
THĂNG LONG.
2.1 Khái quát về tình hình huy động vốn.
Kết quả kinh doanh trong thời gian 3 năm từ 2007 đến 2009 như sau:
20082009
So sánh2008/2007
So sánh2009/2008Chênh
lệch(+/-)
Tỷlệ(%)
Chênhlệch(+/-)
Tỷlệ(%)
Tổng vốn huy
động
1165
2050
(Nguồn: phòng Kế toán Vietcombank Thăng Long)
Trong tổng vốn huy động thì tiền gửi VND năm 2009 là 2080 tỷ đồng tăng
1200 tỷ đồng so với năm 2008, tương đương với 158,5% so với năm 2008 Tiềngửi Ngoại tệ năm 2009 là 65 triệu USD tăng 11 triệu USD so với năm 2008 tươngđương 120,4% so với năm 2008
Nhìn chung là hoạt động tiền gửi tăng liên tục trong những năm qua tạo nhiều
Trang 20Từ bảng số liệu trên có thể thấy, vốn huy động năm 2009 chủ yếu thông quacho vay ngắn hạn Tỷ lệ vốn huy động được từ vay ngắn hạn tăng đều 2008 so với
2007 là 750 tỷ đồng tương đương với 176,9% và 2009 so với 2008 là 1315 tỷ đồngtương đương với 176,2% Ngược lại thì vốn huy động từ cho vay trung, dài hạnnăm 2009 giảm 115 tỷ đồng so với năm 2008 Sở dĩ có sự dịch chuyển cho vay từtrung, dài hạn sang cho vay ngắn hạn vì cho vay ngắn hạn có độ rủi ro thấp hơn
2.2 Thực trạng hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng Ngân hàng Vietcombank Thăng Long.
2.2.1.Tình hình cho vay
Bảng 2: Kết quả cho vay
Đơn vị: tỷ đồng, triệu USD
lệch (+/-)
Tỷ
lệ (%)
Chênhlệch (+/-)
Tỷ
lệ (%)
Doanh số cho vay 896 2419 3910 1523 269,97 1491 161,6
1-Phân theo loại
(Nguồn: phòng Kế toán Vietcombank Thăng Long)
Nhìn vào bảng số liệu có thể thấy doanh số cho vay tăng mạnh từ năm 2008 là
2419 tỷ đồng so với 896 tỷ đồng năm 2007 tăng tới 269,97% Và tiếp tục đà tăngtrưởng đến năm 2009 doanh số cho vay là 3910 tỷ đồng tăng hơn 1491 tỷ đồngtương đương với 161,6% so với năm 2008 Và trong 2009 doanh số cho vay tậptrung đều cả ngắn hạn lẫn trung, dài hạn Tuy nhiên mức tăng trong trung, dài hạn
Trang 21cao hơn điều này cho thấy sự phục hồi của nền kinh tế sau khủng hoảng, các doanhnghiệp bắt đầu tập trung vào các dự án lớn, dài hạn.
Doanh số cho vay tiêu dùng cũng tăng đáng kể đặc biệt trong năm 2008 tăngđến 594,4% trong lĩnh vực cho vay để mua ô tô, tăng 593,5% trong lĩnh vực chovay để mua nhà và 625% trong các lĩnh vực khác so với năm 2007 Điều này chothấy mức sống, tiêu dùng của dân cư khá cao, kinh tế ổn định Và tiếp tục tăngtrong năm 2009 nhưng mức độ tăng đã ổn định 144,9% trong mua ô tô, 157,5%trong mua nhà và 180% trong các lĩnh vực khác so với 2008
So sánh 2009/2008
Chênhlệch (+/-)
Tỷ lệ(%)
Chênhlệch (+/-)
Tỷ lệ(%)
Tổng dư nợ cho vay 574 1678 2200 1104 292,3 522 131,1
1-Theo loại tiền
(Nguồn: phòng Kế toán Vietcombank Thăng Long)
Tổng dư nợ tăng mạnh vào năm 2008 lên đến 1104 tỷ đồng tương đương với292,3% so với năm 2007 và tiếp tục tăng đến 31/12/2009 đạt 2200 tỷ đồng tăng
522 tỷ đồng tương đương 131,1% so với năm 2008 Mức tăng này là phù hợp,thích hợp với yêu cầu phát triển chung của cả dân cư lẫn các doanh nghiệp sau khi
Trang 22hơn khi nền kinh tế hồi phục điều này có thể thấy rõ trong năm 2009 cho vay trung
và dài hạn đạt 1144 tỷ đồng tăng 761 tỷ đồng tương đương với 298,7% so với năm
2008 trong khi cho vay ngắn hạn giảm 239 tỷ đồng trong năm 2009 so với năm2008
Cũng vì nền kinh tế thế giới chưa hoàn toàn bình phục nên các doanh nghiệpcũng như dân cư tập trung hơn vào tiền gửi VND so với ngoại tệ Năm 2009 chovay VND tiếp tục tăng 604 tỷ đồng tương đương với 162,5% so với năm 2008trong khi cho vay trung, dài hạn giảm 10 triệu USD so với 2008
Tổng dư nợ tăng trong thời gian từ năm 2007 đến 31/12/2009 do đó nợ xấutức nợ quá hạn cũng tăng lên Tuy nhiên mức tăng giữa các năm giảm dần năm
2008 tăng 9 tỷ đồng so với 2007, nhưng đến năm 2009 chỉ còn tăng 5 tỷ đồng sovới 2008 Và điều đáng mừng và cũng là thành công của Vietcombank ThăngLong khi nợ quá hạn trong cho vay tiêu dùng giảm xuống còn 0 tỷ đồng trong năm
2009
Bảng 5: Phân loại nợ theo nhóm nợ
Đơn vị: tỷ đồng
Năm
Chỉ tiêu 2007 2008 2009
So sánh 2008/2007 So sánh 2009/2008Chênh
lệch (+/-)
Tỷ lệ(%)
Chênhlệch (+/-)
Tỷ lệ(%)
(Nguồn: phòng Kế toán Vietcombank Thăng Long)
Dựa vào bảng phân loại nợ theo nhóm nợ ta có thể thấy tình hình tín dụng củaNgân hàng Vietcombank Thăng Long thay đổi trong 3 năm qua như sau:
- Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn): Tình hình nợ trong hạn năm 2008 tăng 1095 tỷđồng so với năm 2007 tương đương với tăng 305,4% và tiếp tục tăng tiếp ở năm