1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận diện và đánh giá cá nhân học sinh xây dựng kế hoạch tư vấn hỗ trợ học sinh

32 8 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhận diện và đánh giá cá nhân học sinh xây dựng kế hoạch tư vấn hỗ trợ học sinh
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Giáo dục tâm lý học sinh
Thể loại Bài tiểu luận kết thúc học phần
Năm xuất bản 2023
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 223,97 KB
File đính kèm Nhận diện đánh giá tư vấn tâm lý.rar (145 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo dục là một hiện tượng đặc trưng của xã hội, nhằm hình thành và phát triển nhân cách của con người theo những yêu cầu của xã hội. Giáo dục trước hết là sự tác động của những nhân cách này đến những nhân cách khác, tác động của nhà giáo dục đến người được giáo dục cũng như tác động của những người được giáo dục với nhau. Giáo dục mang lại những sự tiến bộ cho cá nhân mà không một yếu tố nào có thể mang lại được. Trong đó, chúng ta chú trọng đến đối tượng giáo dục, cụ thể là học sinh. Để học sinh phát triển nhân cách một cách hoàn chỉnh, nhà giáo dục phải chú trọng đến phát triển song song cả về học tập lẫn các hoạt động giáo dục của học sinh. Trong quá trình phát triển thể chất và tâm lí, học sinh không chỉ có những trải nghiệm vui, thú vị mà các em cũng phải đương đầu với những thách thức, khó khăn qua từng giai đoạn phát triển nhất định. Mỗi giai đoạn học sinh có những đặc điểm đặc trưng trong tâm lí, trí tuệ, đồng thời cũng có những chuyển biến nhất định về thể chất. Sự phát triển đồng thời về thể chất và tâm lí sẽ diễn ra trong mỗi em, Điều này tạo nên tính hài hòa trong phát triển, nhưng đồng thời chúng cũng tương tác với nhau trong những bối cảnh sống khác nhau, tạo ra một số thách thức nhất định mà các em phải đối diện và vượt qua.

Trang 1

BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

TÊN ĐỀ TÀI NHẬN DIỆN VÀ ĐÁNH GIÁ CÁ NHÂN HỌC SINH, TỪ

ĐÓ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH GIÁO DỤC, SỬ DỤNG TƯ VẤN, THAM VẤN TRONG HỖ TRỢ HỌC SINH

HỌC PHẦN: CƠ SỞ TÂM LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2023

Trang 2

MỤC LỤC I

.MỞ ĐẦU 4

II.CƠ SỞ LÝ LUẬN 5

2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lí của học sinh 5

2.1.1 Đặc điểm về mặt cơ thể 5

2.1.2 Đặc điểm về hoạt động và môi trường sống 5

2.1.3 Đặc điểm của quá trình nhận thức 6

2.1.4 Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học 8

2.2 Đặc điểm tâm lí của học sinh ………….9

2.2.1 Các em luôn có sự mặc cảm 9

2.2.2 Các em tin tưởng người lớn tuyệt đối: 10

2.2.3 Các em ôm áp nhiều giấc mơ: 10

2.2.4 Các em rất đa cảm, dễ xúc động: 11

2.2.5 Các em rất hiếu động: 11

2.2.6 Các em có thể trung tín đến cùng: 12

2.3 KHÓ KHĂN TRONG TÂM LÝ CỦA HỌC SINH 14

III CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐỂ NGHIÊN CỨU 16

3.1 Quan sát 16

3.2 Đàm thoại 16

3.3 Tiểu sử cá nhân 16

3.4 Sản phẩm hoạt động 17

IV KẾT QUẢ CỦA QUÁ TRÌNH ĐÁNH GIÁ 18

4.1 Khó khăn của học sinh tiểu học trong hoạt động học tập 18

4.2 Khó khăn của học sinh tiểu học trong quan hệ giao tiếp 18

4.2.1 Khó khăn trong giao tiếp với người lớn 19

4.2.2 Khó khăn trong giao tiếp với bạn bè 19

4.3 Khó khăn của học sinh tiểu học trong phát triển bản thân 22

V LỰA CHỌN CÁ NHÂN HỌC SINH 23

5.1 Trường hợp 1: Học sinh Hùng 23

5.2 Trường hợp 2: Học sinh Ngọc Hà 23

5.3 Trường hợp 3: Học sinh Minh Quý 23

VI XÂY DỰNG BIỆN PHÁP HỖ TRỢ HỌC SINH 25

6.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 25

6.1.1 Đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng trong nhà trường và ngoài nhà trường 25

Trang 3

6.1.2 Đảm bảo quyền được tham gia, tự học, tự chủ, tự quyết định của học sinh 26

6.1.3 Đảm bảo tính bảo mật thông tin của học sinh 26

6.2 Biện pháp hỗ trợ cá nhân học sinh 26

VII.KẾT LUẬN 32

VIII TÀI LIỆU THAM KHẢO 33

Trang 4

I MỞ ĐẦU

Giáo dục là một hiện tượng đặc trưng của xã hội, nhằm hình thành và phát triển nhâncách của con người theo những yêu cầu của xã hội Giáo dục trước hết là sự tác động củanhững nhân cách này đến những nhân cách khác, tác động của nhà giáo dục đến ngườiđược giáo dục cũng như tác động của những người được giáo dục với nhau Giáo dụcmang lại những sự tiến bộ cho cá nhân mà không một yếu tố nào có thể mang lại được.Trong đó, chúng ta chú trọng đến đối tượng giáo dục, cụ thể là học sinh Để học sinh pháttriển nhân cách một cách hoàn chỉnh, nhà giáo dục phải chú trọng đến phát triển songsong cả về học tập lẫn các hoạt động giáo dục của học sinh

Trong quá trình phát triển thể chất và tâm lí, học sinh không chỉ có những trải nghiệmvui, thú vị mà các em cũng phải đương đầu với những thách thức, khó khăn qua từng giaiđoạn phát triển nhất định Mỗi giai đoạn học sinh có những đặc điểm đặc trưng trong tâm

lí, trí tuệ, đồng thời cũng có những chuyển biến nhất định về thể chất Sự phát triển đồngthời về thể chất và tâm lí sẽ diễn ra trong mỗi em, Điều này tạo nên tính hài hòa trongphát triển, nhưng đồng thời chúng cũng tương tác với nhau trong những bối cảnh sốngkhác nhau, tạo ra một số thách thức nhất định mà các em phải đối diện và vượt qua

Trong quá trình phát triển, nhà giáo dục đóng vai trò rất quan trọng Các em luôn cầnđược hiểu, lắng nghe, hướng dẫn và giáo dục một cách kịp thời, nhanh chóng Như vậy,

để mỗi nhà trường, mỗi giáo viên thực hiện tốt vai trò giáo dục của mình đối với học sinh,việc tổ chức và thực hiện các hoạt động hỗ trợ tâm lí, tham vấn, tư vấn trong trường họccho học sinh là rất cần thiết

Chính vì vậy, giáo viên cần phải nhận diện và đánh giá học sinh, xây dựng kế hoạchgiáo dục, sử dụng tư vấn, tham vấn hỗ trợ học sinh trong công tác dạy học và giáo dụccủa nhà trường

Trang 5

II CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lí của học sinh tiểu học

2.1.1 Đặc điểm về mặt cơ thể   

- Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân, xương tay đang

trong thời kỳ phát triển (thời kỳ cốt hoá) nên dễ bị cong vẹo, gẫy dập, …Vì thế mà trongcác hoạt động vui chơi của các em cha mẹ và thầy cô (sau đây xin gọi chung là các nhàgiáo dục) cần phải chú ý quan tâm, hướng các em tới các hoạt động vui chơi lành mạnh,

an toàn

- Hệ cơ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò chơi vận động

như chạy, nhảy, nô đùa, …Vì vậy mà các nhà giáo dục nên đưa các em vào các trò chơivận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp và đảm bảo sự an toàn cho trẻ

- Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy của các em

chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tư duy trừu tượng Do đó, các

em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đố vui trí tuệ, các cuộc thi trí tuệ,… Dựa vào

cơ sinh lý này mà các nhà giáo dục nên cuốn hút các em với các câu hỏi nhằm phát triển

tư duy của các em

2.1.2 Đặc điểm về hoạt động và môi trường sống

* Hoạt động của học sinh tiểu học

- Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, thì đến tuổi tiểu họchoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt động vui chơi

sang hoạt động học tập Tuy nhiên, song song với hoạt động học tập ở các em còn diễn ra

các hoạt động khác như:

+ Hoạt động vui chơi: Trẻ thay đổi đối tượng vui chơi từ chơi với đồ vật sang các trò

chơi vận động

+ Hoạt động lao động: Trẻ bắt đầu tham gia lao động tự phục vụ bản thân và gia đình

như tắm giặt, nấu cơm, quét dọn nhà cửa…Ngoài ra, trẻ còn còn tham gia lao động tập thể

ở trường lớp như trực nhật, trồng cây, trồng hoa…

+ Hoạt động xã hội: Các em đã bắt đầu tham gia vào các phong trào của trường, của

lớp và của cộng đồng dân cư, của Đội thiếu niên tiền phong, …

* Những thay đổi kèm theo

- Trong gia đình: các em luôn cố gắng là một thành viên tích cực, có thể tham gia các

công việc trong gia đình Điều này được thể hiện rõ nhất trong các gia đình neo đơn, hoàncảnh, các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, …các em phải tham gia lao động sản xuất cùnggia đình từ rất nhỏ

- Trong nhà trường: do nội dung, tích chất, mục đích của các môn học đều thay đổi so

với bậc mầm non đã kéo theo sự thay đổi ở các em về phương pháp, hình thức, thái độ

Trang 6

- Ngoài xã hội: các em đã tham gia vào một số các hoạt động xã hội mang tính tập thể

(đôi khi tham gia tích cực hơn cả trong gia đình) Đặc biệt là các em muốn thừa nhậnmình là người lớn, muốn được nhiều người biết đến mình

Biết được những đặc điểm nêu trên thì cha mẹ và thầy cô phải tạo điều kiện giúp đỡ trẻ phát huy những khả năng tích cực của các em trong công việc gia đình, quan hệ xã hội và đặc biệt là trong học tập.

2.1.3 Đặc điểm của quá trình nhận thức

- Tri giác: Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang

tính không ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đếncuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiệntượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phươnghướng rõ ràng – Tri giác có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việcnhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó…)

Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác.

- Chú ý:

+ Ở đầu tuổi tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều

khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý cóchủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trựcquan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng,

…Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và

dễ bị phân tán trong quá trình học tập

+ Ở cuối tuổi tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình.

Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạtđộng học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài…Trong

sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng đượckhoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trongkhoảng thời gian quy định

Biết được điều này các nhà giáo dục nên giao cho trẻ những công việc hay bài tập đòi hỏi sự chú ý của trẻ và nên giới hạn về mặt thời gian Chú ý áp dụng linh động theo từng độ tuổi đầu hay cuối tuổi tiểu học và chú ý đến tính cá thể của trẻ, điều này

là vô cùng quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giáo dục trẻ.

- Trí nhớ: Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ – lôgic

+ Giai đoạn lớp 1,2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so

với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưabiết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài

để ghi nhớ tài liệu

Trang 7

+ Giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ

có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộcvào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nộidung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em…

Nắm được điều này, các nhà giáo dục phải giúp các em biết cách khái quát hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọng cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản dễ hiểu, dễ nắm bắt,

dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức.

- Tư duy

+ Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động.+ Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát+ Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quáthóa lý luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đônghọc sinh tiểu học

- Tưởng tượng

+ Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm nonnhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn Tuy nhiên, tưởng tượngcủa các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:

Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay

đổi

Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ

trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giaiđoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh… Đặcbiệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm,tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảmcủa các em

Qua đây, các nhà giáo dục phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em bằng cách biến các kiến thức "khô khan" thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tính của mình một cách toàn diện.

- Ngôn ngữ

Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuấthiện ngôn ngữ viết Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện vềmặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc,

Trang 8

tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự phá bản thân thông qua các kênh thông tinkhác nhau.

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tínhcủa trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễdàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ Mặt khác, thôngqua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng như vậy nên các nhà giáo dục phải trau dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ trong giai đoạn này bằng cách hướng hứng thú của trẻ vào các loại sách báo có lời và không lời, có thể là sách văn học, truyện tranh, truyện cổ tích, báo nhi đồng,… đồng thời cũng có thể kể cho trẻ nghe hoặc tổ chức các cuộc thi kể truyện đọc thơ, viết báo, viết truyện, dạy trẻ cách viết nhật kí,…Tất cả đều có thể giúp trẻ có được một vốn ngôn ngữ phong phú và đa dạng.

Nói tóm lại, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ Môi trường thay đổi: đòihỏi trẻ phải tập trung chú ý thời gian liên tục từ 30 – 35 phút Chuyển từ hiếu kỳ, tò mòsang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá Bước đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bộtphát để chuyển thành tính kỷ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập Phát triển độ tinhnhạy và sức bền vững của các thao tác tinh khéo của đôi bàn tay để tập viết,…Tất cả đều

là thử thách của trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những điều này thì phải cần có sự quantâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học

2.1.4 Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học

- Tính cách

Nét tính cách của trẻ đang dần được hình thành, đặc biệt trong môi trường nhà trường

còn mới lạ, trẻ có thể nhút nhát, rụt rè, cũng có thể sôi nổi, mạnh dạn…Sau 5 năm học,

"tính cách học đường" mới dần ổn định và bền vững ở trẻ

Nhìn chung việc hình thành nhân cách của học sinh tiểu học mang những đặc điểm cơ

bản sau: Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, trong quá

trình phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình mộtcách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng; nhân cách của các em lúc này còn

mang tính tiềm ẩn, những năng lực, tố chất của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu

có được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển; và đặc biệt nhân cách của các

em còn mang tính đang hình thành, việc hình thành nhân cách không thể diễn ra một

sớm một chiều, với học sinh tiểu học còn đang trong quá trình phát triển toàn diện về mọimặt vì thế mà nhân cách của các em sẽ được hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát triểncủa mình

Hiểu được những điều này mà cha mẹ hay thầy cô giáo tuyệt đối không được "chụp mũ" nhân cách của trẻ, trái lại phải dùng những lời lẽ nhẹ nhàng mang tính gợi mở

và chờ đợi, phải hướng trẻ đến với những hình mẫu nhân cách tốt đẹp mà không đâu

xa, chính cha mẹ và thầy cô là những hình mẫu nhân cách ấy.

Trang 9

- Xúc cảm – Tình cảm

Tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền với các sự

vật hiện tượng sinh động, rực rỡ… Lúc này khả năng kiềm chế cảm xúc của trẻ còn non

nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện cụ thể là trẻ dễ khóc mà cũng nhanh

cười, rất hồn nhiên vô tư…

Vì thế có thể nói tình cảm của trẻ chưa bền vững, dễ thay đổi (tuy vậy so với tuổi mầm

non thì tình cảm của trẻ tiểu học đã "người lớn" hơn rất nhiều

Trong quá trình hình thành và phát triển tình cảm của học sinh tiểu học luôn luôn kèmtheo sự phát triển năng khiếu: Trẻ nhi đồng có thể xuất hiện các năng khiếu như thơ, ca,hội họa, kĩ thuật, khoa học… khi đó cần phát hiện và bồi dưỡng kịp thời cho trẻ sao chovẫn đảm bảo kết quả học tập mà không làm thui chột năng khiếu của trẻ

Chính vì thế, việc giáo dục tình cảm cho học sinh tiểu học cần ở nhà giáo dục sự khéo léo, tế nhị khi tác động đến các em; nên dẫn dắt các em đi từ hình ảnh trực quan sinh động, hấp dẫn và đặc biệt phải luôn chú ý củng cố tình cảm cho các em thông qua các hoạt động cụ thể như trò chơi nhập vai, đóng các tình huống cụ thể, các hoạt động tập thể ở trường lớp, khu dân cư…

2.2 Đặc điểm tâm lí của học sinh

2.2.1 Các em luôn có sự mặc cảm

Tự bẩm sinh, các em đã mang mặc cảm Edipe (le complexe d’Edipe) Thần thoại lạp kể rằng: Edipe, do cuộc đời oan nghiệt đưa đẩy, đã ngộ sát cha mình là Laios để lênngôi vua và cưới luôn mẹ là Jocaste làm hoàng hậu Các nhà Tâm lý học mượn điển tíchnày để diễn tả hiện tượng tâm lý bẩm sinh phổ biến nơi lứa tuổi thiếu nhi

Hy-Các em luôn tìm sự gần gũi, yêu thương, chiều chuộng của người lớn khác phái: bé gáigần bố mà xa mẹ, còn bé trai lại gần mẹ xa bố Đây không phải là một tội lỗi ghê gớmđáng lên án và nghiêm phạt như cách nghĩ thiển cận của một số người chủ trương đạo đứcquá khắt khe cổ hủ

Cần phải biết khéo hướng dẫn để giúp các em từ từ nhận ra sự cần thiết phải có đủ cáctính cách giáo dục qua cả bố lẫn mẹ, anh và chị trong gia đình, cả thầy lẫn cô ở trường, ởlớp Sau này, khi bước vào tuổi dậy thì, các em sẽ dần dần chuyển hóa sang thế quân bình

về phái tính

Nếu người lớn quá khắc nghiệt hoặc lơi lỏng thiếu quan tâm, có thể sẽ gây ra nơi các

em những ấn tượng lệch lạc, di hại suốt đời các em về mặt nhân cách tâm lý và ứng xử.Ngược lại, cần bắc một nhịp cầu hết sức tế nhị để gặp gỡ chính tâm hồn bé bỏng non nớtcủa các em, biết mở chuyện hỏi han các em bằng ngôn ngữ và cung cách của chính các

em Khi đó, các em mới dễ bộc lộ một cách hồn nhiên những tâm sự, những "bí mật" cókhi rất ngô nghê của các em, mà không hề e dè, giấu giếm, sợ người lớn la rầy, kết tộihoặc chế giễu

Trang 10

Ở điểm này, các em cần có người yêu thương, chăm sóc, ân cần tận tụy và tinh tế nhạycảm, nắm bắt cho được mọi biểu hiện tích cực lẫn tiêu cực nơi các em

2.2.2 Các em tin tưởng người lớn tuyệt đối

Các em đã dần dần không còn muốn loanh quanh luẩn quẩn ở xó nhà góc bếp, nhưngbắt đầu thích làm quen nhiều bạn nhỏ và nhiều người lớn khác Vì vậy, nếu các em nhận

ra nơi các người lớn như cô chú, thầy cô giáo, anh chị một sự bảo bọc chở che, nhất là

sự quan tâm, cảm thông thật sự, các em sẽ dần dần quấn quít, tin cậy đến mức tuyệt đối.Hãy tránh đừng bao giờ đùa chơi với các em bằng cách xí gạt để các em mắc lừa chovui Cũng đừng bao giờ tạo cho các em cảm tưởng bị người lớn áp đặt, ăn hiếp, lấn lướt,sai bảo vặt và khống chế các em bằng luật lệ mà chính người lớn chưa chắc đã tuân thủđàng hoàng

Do vậy, thông qua những hoạt động về giáo dục, làm việc, sinh hoạt vui chơi, ngườilớn cần biết tạo ra cơ hội để gần gũi các em, xóa bỏ mọi ngăn cách về tuổi tác và tâm lý,hòa mình trở nên đơn sơ như trẻ nhỏ, biết cách gợi ý tổ chức cùng chơi, cùng làm với các

em, từ đó mới có dịp để giúp đỡ, dạy dỗ các em một cách đầy đủ và kịp thời Bên cạnh

đó, cũng cần kích thích cho các em luôn háo hức chịu làm quen thêm với nhiều bạn traibạn gái mới đồng trang lứa ở trường lớp và khu xóm

Ở điểm này, người sống với các em phải là một quản trò đa năng, biết biến báo, lôicuốn, trang bị nhiều kỹ năng thành thạo, thu hút được đám đông các em, đồng thời lại cóvốn liếng kinh nghiệm về tâm lý để có thể tiếp cận mà lắng nghe và đối thoại với từng

em

2.2.3 Các em ôm ấp nhiều giấc mơ

Các em rất giàu trí tưởng tượng, nhiều khi quá tin vào những điều huyền hoặc, nhữngtruyện cổ tích thần tiên, những truyện thần thoại dân gian được kể trong các lớp học hoặctrước khi đi ngủ buổi tối Từ đó các em tự thêu dệt những mơ mộng rất dễ thương đến bấtngờ

Sau này, lớn hơn một chút, tính thần thoại chuyển dần sang khía cạnh thần tượng hóamột cách đơn giản Khi các em được tiếp xúc thân tình với một người lớn nào đó có nhâncách cao thượng, các em sẽ nhanh chóng hình thành các ước mơ sẽ có được nhân cách ấy(ví dụ: "Lớn lên em sẽ làm cô giáo như cô "; "Mai mốt con sẽ đi tu như cha "; "Em sẽ

là một Ronaldo của Việt Nam ")

Do đó, nếu người lớn biết khéo nương theo trí tưởng tượng và những mơ mộng hồnnhiên trong sáng của các em, có thể hướng dẫn các em dần dần gạn lọc đi những nét viễnvông huyền hoặc để chuyển những giá trị tốt đẹp hiện thực nơi nhân cách các em

Bước đầu thấu hiểu được những nhu cầu khát vọng ngây thơ của các em rồi, vẫn chưa

đủ, bởi tính khí các em luôn bị đột biến, thay đổi hoặc bị tổn thương Do vậy, ngoài việchòa mình cùng chơi, cùng trò chuyện với các em, người lớn còn cần khéo léo tạo sức thu

Trang 11

hút lâu dài bền bỉ, bằng cách lồng các hoạt động tập thể vào các trò chơi (học và làm mà

là chơi, chơi mà lại là học và làm một cách hữu ích)

Đồng thời, cũng đừng quên tiếp xúc riêng từng em, giúp các em tập nỗ lực nho nhỏ đểvươn lên trong từng khát vọng, từng ước mơ hồn nhiên của chính mình, mỗi ngày mộtchút theo phương pháp giáo dục tiệm tiến

Ở điểm này, người sống với các em phải là một người bạn trẻ trung, tâm huyết, đángtin cậy trong mọi mặt sinh hoạt vui nhộn cũng như tâm linh sâu lắng của các em

2.2.4 Các em rất đa cảm, dễ xúc động

Tâm hồn các em còn hết sức trong sáng hồn nhiên như trang giấy còn mới tinh Ngay

cả trường hợp một số em phải chịu những di chứng do sự đổ vỡ trong gia đình, thì chắcchắn tâm hồn các em vẫn luôn luôn đa cảm, rất dễ bị xúc động

Do đó, bất cứ hành động thô bạo nào đối với chính bản thân các em, đối với các emkhác, đối với súc vật và đối với thiên nhiên đều gây tổn thương nơi các em, để lại trongtâm trí các em vết sẹo không bao giờ phai nhạt Cần tránh cho các em phải đối mặt vớinhững nghịch cảnh và bất hạnh, những thực tế quá phũ phàng, những hình ảnh dã manbạo lực trên sách báo, truyền hình, những biến cố quá gay cấn ngoài đường phố, trong giađình, nơi trường học

Riêng với các câu truyện kể, cần nhớ rằng: một nội dung quá bi lụy thương tâm có thểgợi ra nơi các em lòng trắc ẩn nhân ái, nhưng cũng có thể âm thầm hình thành trong tiềmthức và vô thức của các em tính hiếu chiến, hiếu sát, thích trả đũa, nhẫn tâm, hoặc ngượclại, sự mủi lòng ủy mị, mau nước mắt vì quá sức đa sầu đa cảm Mặt khác, bên cạnh sự đacảm, các em vẫn còn thiên nhiều về giác quan, thích sờ tận tay nhìn tận mắt, nên các emrất vui thích khi được thưởng cụ thể bằng vật chất hơn là khen ngợi tuyên dương suôngsuông vậy thôi Các em rất hãnh diện thấm thía khi được người lớn khéo léo góp ý khích

lệ hơn là phê bình chê trách hay nổi cáu lên quát tháo om sòm

Chúng ta thấy, nhà trường đã từng áp dụng những cách khen thưởng khá cụ thể nhưcác bông hoa điểm 10 cho từng môn học, sách truyện làm phần thưởng cuối năm Bảnthân chúng ta khi còn bé, hẳn ai cũng đã từng ao ước hoặc hãnh diện khi thấy tên mìnhđược ghi trên Bảng Danh Dự treo tại một nơi trang trọng và dễ thấy ở trường Còn SổHọc Bạ hoặc Sổ Liên Lạc thì không ai muốn cha mẹ mình lại phải đọc thấy những giòngchữ thầy cô chủ nhiệm phê xấu và yếu kém Do vậy, đây là những cách khen thưởng có

vẻ vật chất nhưng lại hàm ý về chiều sâu tinh thần nhiều lắm

Ở lứa tuổi này, người sống với các em phải là một "bề trên" hiểu theo nghĩa rộng nhất,nghiêm minh mà quảng đại, công bình mà bao dung, vẫn luôn đòi hỏi cao mà lại biếtkhích lệ nâng đỡ

2.2.5 Các em rất hiếu động

Trang 12

Năng lực ở độ tuổi đang tăng trưởng nơi các em luôn dồi dào Bên cạnh đó, các emcũng đang trải qua một cơn khủng hoảng về trí tuệ, còn gọi là khủng hoảng về ý thức cửđộng (idée motrice).

Về mặt sinh hoạt thể lý, các em, kể cả các bé gái, cần phải luôn tay luôn chân, chạynhảy, leo trèo, nô đùa và hò hét thỏa thích, hoặc im lặng ngồi táy máy, hì hục nghịch phámột trò nào đó, hay làm một việc gì đó vừa sức mình Riêng bên nam, các em rất thíchcác trò chơi đối kháng, mang tính giao chiến và đua tranh giữa hai phe (ví dụ: kéo co,cướp cờ, đánh trận giả ) Các em sẵn sàng chơi hăng say hết mình, bởi đối với các em,chuyện thắng thua rất là quan trọng, nó nhằm mục đích tự khẳng định cá tính cho dù các

em chưa đủ lý luận cao xa gì lắm về bản thân Với các em nữ, vấn đề cũng tương tự nhưkhi các em đặc biệt thích các trò chơi tuy nhẹ nhàng hơn con trai, nhưng cũng là chuyệnluân phiên thi đua giành phần thắng cho mình (ví dụ: nhảy cò cò, đánh chuyền, nhảy lèo,chơi ô ăn quan )

Trong thực tế, người lớn đang bận việc, rất ghét sự ồn ào náo động, lại cho rằng các emđang chơi những trò quá hiếu động, có hại về sức vóc lẫn tâm lý, nên thường la rầy ngăncấm các em Người lớn không ngờ đã đẩy các em sớm rơi vào tình trạng dồn nén, có thểtạo ra những tình cảm rối loạn, rất có hại về lâu về dài

Về sinh hoạt học tập, các em cũng rất dễ hào hứng để cho cuốn theo các ý tưởng, cáckiến thức lý thú mới lạ, để không ngừng đặt ra các câu hỏi tò mò thắc mắc Một khi nơicác em lý trí bắt đầu hoạt động âm thầm, các ý tưởng như thế dần dần sáng tỏ ra, cho dùcác em chưa thể lý luận suy diễn theo dạng đặt vấn đề "vì vậy", "cho nên", "do đó" nhưngười lớn Nhưng mặt khác, các em đã không còn thỏa mãn với dạng câu hỏi "tại sao?"

mà đã chuyển dần sang câu hỏi khó hơn nhiều: "làm thế nào?" tức là có khuynh hướngkhách quan hơn, sâu xa hơn

Dù vậy, các em chưa thể tập trung tư tưởng lâu để kịp phân tích vấn đề và quan sát mộtcách kiên nhẫn, các em cũng chưa thể tự mình biết cách học hỏi sao cho đúng mức nếukhông được người lớn hướng dẫn dưới dạng "học mà chơi" đầy hấp dẫn

Ở điểm này, người sống với các em phải là một thầy giáo, một cô giáo vừa có kiếnthức quảng bác, lại vừa có tâm hồn sâu sắc để truyền đạt tri thức, gợi mở sáng kiến vànhất là vun đắp cho các em những tâm tình nhân ái vị tha, vui tươi và dễ thương, đúng với

độ tuổi các em

2.2.6 Các em có thể trung tín đến cùng

Khi gặp một hoàn cảnh đặc biệt hoặc trong một trường hợp bất ngờ, nếu các em đượcngười lớn tin cậy trao phó một trách nhiệm quan trọng nào đó, với lời giải thích kỹ lưỡng

và căn dặn chi tiết, các em sẽ hết sức ý thức về công việc, cảm thấy vinh dự và hãnh diện

để cố gắng chu toàn hơn cả mong đợi của người lớn Ấn tượng sâu sắc này sẽ theo các emsuốt cuộc đời, hình thành một nhân cách khó gì có thể làm biến dạng

Trang 13

Hiểu được điều này, chúng ta không lấy làm ngạc nhiên khi thấy các phong trào giáodục đứng đắn trên thế giới đều có những nghi thức tập tục rất long trọng như đội mũ, trao

cờ, tuyên hứa thiếu nhi, thắt khăn quàng, gắn sao

Tại trường học, có nơi, nếu biết huấn luyện tinh thần và kỹ thuật tới nơi tới chốn,người lớn có thể tin tưởng giao phó cho các em ở các lớp tiểu học đảm nhận chuẩn bị âmthanh, xếp đội hình danh dự, kéo cờ, bắt nhịp và đồng ca bài quốc ca v.v mà không sợgặp sự cố trục trặc, bởi các em ý thức khá chững chạc về tính cách quan trọng và trangnghiêm của công việc cùng với niềm hãnh diện được đại diện cho toàn trường

Như vậy, ở điểm này, người sống với các em phải là một Người Lãnh Đạo (leader)đúng nghĩa, biết cách huấn luyện, chỉ dẫn cho các em thành thạo, tháo vát trong các việcnhỏ, vừa tầm hiểu, vừa sức làm của các em mà lại có tầm quan trọng không thua gì việccủa người lớn, sau đó, biết mạnh dạn tin tưởng trao phó công việc đó để các em tự chơi,

tự làm, tự giải quyết trong khả năng của các em

Trang 14

2.3 Khó khăn trong tâm lí của học sinh

Đi học là một bước ngoặt quan trọng trong đời sống của trẻ em Việc đến trường đãlàm cho hoạt động chủ đạo của các em chuyển từ vui chơi sang học tập Hoạt động họctập không chỉ đòi hỏi một trình độ phát triển trí tuệ cho phép tiếp thu những tri thức, kỹnăng, kỹ xảo, mà còn cần một năng lực, ý chí nhất định giúp học sinh tự kiềm chế bảnthân, vượt khó khăn, cố gắng thực hiện những yêu cầu cần thiết mà bản thân hoạt độngnày đòi hỏi Về bản chất, hoạt động học tập có đối tượng là các khái niệm khoa học, cácquy luật khoa học và các phương thức hành động để chiếm lĩnh nó Ở đây, việc lĩnh hộicác tri thức, kỹ năng, kỹ xảo là mục đích cơ bản và là kết quả chủ yếu của hoạt động Do

đó, khi chuyển sang hoạt động học tập, ở giai đoạn đầu trẻ lớp 1 gặp phải một số khókhăn sau:

Thứ nhất là những khó khăn liên quan đến việc thay đổi chế độ sinh hoạt do hoạt động

học tập đòi hỏi như: phải thức dậy đúng giờ, đi học đều đặn, thực hiện đúng nội quy lớphọc và nội quy của nhà trường, học bài và làm bài đầy đủ… Những khó khăn này gắn liềnvới thói quen và nề nếp sinh hoạt thường ngày của trẻ Nếu ở tuổi mẫu giáo, các bậc cha

mẹ và cô giáo đã có sự rèn luyện, chuẩn bị trước thì trẻ đầu lớp 1 sẽ dần dần vượt quađược mọi trở ngại

Thứ hai là những khó khăn bắt nguồn từ việc thay đổi môi trường hoạt động Trước

đây trẻ chỉ sống, vui chơi, hoạt động trong gia đình, được bao bọc bởi tình thương yêucủa những người ruột thịt Giờ đây nó bước vào cuộc sống học tập, sinh hoạt trong mộttập thể lớp có những mục đích chung, dưới sự dạy dỗ của thầy cô giáo Cuộc sống này đòihỏi một sự hòa nhập cần thiết giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh với nhau Nhữngkết quả nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy khả năng thích ứng của trẻ đầu lớp 1 vớimôi trường giao tiếp mới chưa cao, một số học sinh còn khó thích ứng nên quá rụt rè, sợsệt khi đến lớp học Dưới sự dạy dỗ của thầy cô giáo, khả năng thích ứng đó sẽ được hìnhthành dần trong quá trình học tập

Thứ ba là những khó khăn liên quan đến việc giảm sút hứng thú học tập của học sinh

vào khoảng tháng thứ 3, thứ 4 của năm học Biểu hiện của nó là ở một số học sinh vàođầu năm học rất thích thú cắp sách đến trường, rất chăm chỉ và nghiêm túc thực hiện đầy

đủ những yêu cầu của giáo viên Nhưng sau vài tháng học, hứng thú học tập bị giảm sút,trẻ tỏ ra thờ ơ với những bài học, uể oải và chểnh mảng trong việc thực hiện các nhiệm vụhọc tập Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, nhưng chủ yếu do:

- Những học sinh này thích thú đi học chủ yếu bởi vẻ hấp dẫn bên ngoài của người họcsinh như được mang cặp sách, được cùng bạn bè đến trường… Sau một thời gian nhữngcái đó trở nên cũ và mất đi sự hấp dẫn nên các em chán học

- Do chính quá trình học tập không khơi gợi, kích thích được trí tò mò, sự ham hiểubiết của học sinh Phần nhiều nguyên nhân này nằm trong chính nội dung, phương thứcdạy học của nhà trường Cách dạy học áp đặt, truyền thụ những tri thức có sẵn và quá dễ

Trang 15

so với năng lực phát triển của học sinh, cũng như cách giao tiếp thiếu nhân ái, căng thẳng

đã gây nên tình trạng trên Vì vậy, tổ chức dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động củahọc sinh sẽ giúp các em khắc phục được loại khó khăn này

Trang 16

III CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐỂ NGHIÊN CỨU

3.1 Quan sát

Là phương pháp giáo viên dựa trên sự tri giác có chủ định, có mục đích nhằm xác địnhcác đặc điểm tâm lí và mức độ khó khăn của học sinh qua hành vi, cử chỉ, lời nói, biểucảm…trong các hoàn cảnh tự nhiên để giúp giáo viên xây dựng kế hoạch tư vấn, hỗ trợhọc sinh có hiệu quả

Phương pháp này cho phép giáo viên thu thập thêm thông tin về những biểu hiện vềhành vi, thái độ, diễn biến tâm lí của học sinh ở các môi trường khác nhau (như trên lớp,trong trường, ngoài trường, khi giao tiếp trực tiếp hay trên không gian mạng), với các đốitượng khác nhau (như với bạn bè, thầy cô giáo, cha mẹ, người thân) Giúp giáo viên nhìnnhận vấn đề trực tiếp trong bối cảnh tự nhiên và hiểu học sinh hơn, góp phần lí giảinguyên nhân, mức độ khó khăn hay vấn đề vướng mắc học sinh đang gặp phải và lên kếhoạch hỗ trợ học sinh hoặc có sự điều chỉnh cách thức tác động đến học sinh cho phù hợp.Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên có kế hoạch quan sát cụ thể và ghi chép thôngtin đầy đủ (mục đích, thời gian, địa điểm, tình huống quan sát, kết quả) Tập trung quansát nhưng không để học sinh cảm thấy các em đang bị giám sát Kết hợp quan sát sự kiện

và mức độ thường xuyên của hành vi Giữ thái độ khách quan khi quan sát, không đánhgiá hành vi, thái độ hay sự kiện xảy ra với học sinh Nên thiết kế bảng ghi chép và cáchthức ghi chép dễ dàng, thuận tiện Nếu sử dụng các phương tiện hỗ trợ khác (camera, máyảnh), cần sử dụng khéo léo, tránh phá vỡ bối cảnh tự nhiên của hành vi và sự kiện

3.2 Đàm thoại

Là phương pháp tư vấn, hỗ trợ, trong đó giáo viên trao đổi, tương tác trực tiếp với họcsinh về vấn đề có liên quan đến những khó khăn mà học sinh đang gặp phải bằng hệthống câu hỏi do giáo viên chuẩn bị trước

Giúp giáo viên thiết lập được mối quan hệ với học sinh và thu thập thông tin để hiểuhọc sinh hơn Giúp học sinh bày tỏ tình cảm, bộc lộ được vấn đề đang gặp phải và khámphá được tiềm năng của bản thân để giải quyết vấn đề

Giáo viên cần: Xác định rõ mục đích của buổi trò chuyện Thể hiện thái độ cởi mở, vui

vẻ và thân thiện với học sinh để tạo môi trường giao tiếp tích cực khuyến khích học sinhchia sẻ thông tin Đặt câu hỏi phù hợp, linh hoạt hoặc nêu vấn đề để học sinh suy nghĩ,bộc lộ sự hiểu biết, kinh nghiệm, từ đó phát hiện ra các khía cạnh có liên quan đến vấn đềcần giải quyết Lắng nghe ý kiến của học sinh, phản hồi nội dung và xúc cảm một cáchphù hợp Khích lệ học sinh suy nghĩ và trao đổi để đạt được mục đích của quá trình tròchuyện Ghi chép những thông tin chính (có thể trong khi trò chuyện hoặc sau khi tròchuyện)

3.3 Tiểu sử cá nhân

Ngày đăng: 15/06/2023, 10:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w