1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp - Biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi

107 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biện Pháp Ngăn Chặn Đối Với Người Dưới 18 Tuổi Theo Pháp Luật Tố Tụng Hình Sự Một Số Nước Trên Thế Giới Và Kinh Nghiệm Cho Việt Nam
Tác giả Lê Bá Trường
Người hướng dẫn TS. Trần Văn Hải
Trường học Trường Đại Học Luật, Đại Học Huế
Chuyên ngành Luật Hình Sự
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thừa Thiên Huế
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,21 MB
File đính kèm LÊ BÁ TRƯỜNG - CN HÌNH SỰ.zip (534 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo pháp luật tố tụng hình sự một số quốc gia và kinh nghiệp cho VIệt Nam. Trong bài viết này tác giả nghiên cứu pháp luật các nước như Liên Bang Nga, Ukraine, Belarus về các biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi. Qua đó rút ra một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT

LÊ BÁ TRƯỜNG

BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Thừa Thiên Huế, tháng 4 năm 2023

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT

BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

SINH VIÊN THỰC HIỆN : LÊ BÁ TRƯỜNG GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS TRẦN VĂN HẢI

Thừa Thiên Huế, tháng 4 năm 2023

Trang 3

ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BIÊN BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Họ và tên sinh viên: Lê Bá Trường

Tên đề tài: Biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi theo pháp luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam

Giảng viên hướng dẫn: TS Trần Văn Hải

Theo kết luận của Tiểu ban chấm khóa luận tốt nghiệp tháng 05 năm 2023 yêu cầu chỉnh sửa hình thức và nội dung Tôi giải trình việc chỉnh sửa như sau:

1 Về hình thức: Đã chỉnh sửa chính tả và danh mục tài liệu tham khảo theo yêu cầu của Tiểu ban chấm khóa luận

2 Về nội dung: Đã bổ sung một số kinh nghiệm mới theo yêu cầu của Tiểu ban chấm khóa luận

3 Những nội dung bảo lưu và lý do (Quan điểm của tác giả và nêu rõ lý do): Tôi cam kết bản báo cáo tổng kết khóa luận nộp cuối cùng đã được chỉnh sửa theo ý kiến của Tiểu ban chấm và chịu trách nhiệm về cam kết

Huế, ngày … tháng … năm 2023

Ý KIẾN GIẢNG VIÊN

HƯỚNG DẪN

SINH VIÊN THỰC HIỆN

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đề tài khóa luận tốt nghiệp mang tên “Biện pháp ngăn

chặn đối với người dưới 18 tuổi theo pháp luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới

sự hướng dẫn của TS Trần Văn Hải

Nội dung nghiên cứu và kết quả của Đề tài này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin, số liệu, ví dụ phục vụ cho việc phân tích, đánh giá, nhận xét do chính tôi thu thập được từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau và đều được trích dẫn và ghi rõ ràng trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, đề tài có sử dụng quan điểm, nhận xét của một số tác giả có trích dẫn nguồn đầy đủ Nếu phát hiện có bất kỳ gian lận nào về đề tài nghiên cứu trên, tôi

xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

TÁC GIẢ

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Sau nhiều tháng tìm hiểu và nghiên cứu với những kiến thức về lý luận cũng như thực tiễn và sự nỗ lực cố gắng nghiên cứu, tôi đã hoàn thành đề tài khóa luận

tốt nghiệp mang tên “Biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi theo pháp

luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam”

Đồng hành với tôi trong khoảng thời gian này không thể thiếu sự quan tâm của quý thầy cô, gia đình, bạn bè và những người anh chị đi trước Qua đó, với tất cả lòng

biết ơn từ tận đáy lòng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến:

Quý thầy cô Trường Đại học Luật, Đại học Huế, trong đó có các thầy cô Khoa Luật hình sự đã tận tình giảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến thức vô cùng quý báu trong quãng thời gian học tập tại trường, làm cơ sở và nền tảng vững chắc cho tôi hoàn thành tốt đề tài này Tuyệt vời hơn khi tôi được TS Trần Văn Hải

là người trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tôi với những chỉ dẫn khoa học giá trị trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn thiện đề tài, luôn theo sát, động

viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Cuối cùng là các phòng chức năng của nhà trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài Mặc dù đã nỗ lực và cố gắng rất nhiều nhưng vốn kiến thức lý luận và thực tiễn còn hạn chế, việc tồn tại những thiếu sót là điều không thể tránh khỏi Vì thế, tôi rất mong nhận được sự góp

ý của quý thầy cô và các độc giả khác!

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thừa Thiên Huế, ngày 20 tháng 4 năm 2023

TÁC GIẢ

Trang 6

BẢNG THỐNG KÊ TRÍCH DẪN TÀI LIỆU THAM KHẢO

khoá luận

Tần suất trích dẫn

1 Đại hội đồng liên hợp quốc 06, 17, 20 03

8 Bộ lao động thương binh và xã hội (2021) 53 01

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1 Tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi

thực hiện từ năm 2016 đến 2020 55 Biểu đồ 2 Tình hình áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với

người dưới 18 tuổi phạm tội (Giai đoạn 2016 – 2020) 58

Trang 10

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2

2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 2

2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 3

3 Mục tiêu nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu 5

7 Kết cấu của khóa luận 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 6

1.1 Những vấn đề lý luận về biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 6

1.1.1 Khái niệm, mục đích của biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 6

1.1.2 Đặc điểm của biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 10

1.1.3 Cơ sở quy định biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 14

1.1.3.1 Chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi của Nhà nước 14

1.1.3.2 Công ước quốc tế về quyền con người - quyền trẻ em 17

1.1.3.3 Hiến pháp Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam 19

1.2 Quy định về biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 21

1.2.1 Lịch sử lập pháp về biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi trước khi Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 có hiệu lực 21

Trang 11

1.2.1.1 Quy định về biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi theo Bộ luật tố

tụng hình sự năm 1988 22

1.2.1.2 Quy định về biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 23

1.2.2 Quy định về biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 26

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 30

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 31

2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới về biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi 31

2.1.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Liên Bang Nga 31

2.1.1.1 Quy định chung về biện pháp ngăn chặn 31

2.1.1.2 Quy định về áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi 32

2.1.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Ukraine 36

2.1.2.1 Trình tự áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi 38

2.1.2.2 Thủ tục xét đơn yêu cầu áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi 40

2.1.2.3 Yêu cầu thay đổi biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi 42

2.1.2.4 Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi 44

2.1.2.5 Thi hành và chấm dứt ngay biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi 44

2.1.3 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Belarus 46

2.1.3.1 Căn cứ để áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi 47

2.1.3.2 Thẩm quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi 48

2.1.3.3 Quy định các biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi 49

2.2 Những kinh nghiệm rút ra cho tố tụng hình sự Việt Nam về áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi 50

Trang 12

2.2.1 Kinh nghiệm về lập pháp 50

2.2.2 Kinh nghiệm về thực tiễn áp dụng 55

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 56

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI TỪ CƠ SỞ NGHIÊN CỨU KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 57

3.1 Thực tiễn áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi ở Việt Nam 57

3.1.1 Thực trạng người dưới 18 tuổi phạm tội ở Việt Nam 58

3.1.2 Thực trạng áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi 60

3.1.3 Khó khăn, vướng mắc khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi 63

3.1.4 Nguyên nhân dẫn đến những khó khăn khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 66

3.2 Định hướng hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi 68

3.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và nâng cao thực tiễn áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi 72

3.3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi 72

3.3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi 84

3.3.3 Các giải pháp khác 87

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 90

KẾT LUẬN 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở mỗi quốc gia, trẻ em luôn được coi là chủ nhân tương lai của đất nước và của nhân loại Do vậy, vấn đề chăm sóc, giáo dục và phòng ngừa, ngăn chặn người dưới 18 tuổi phạm tội là một trong những nhiệm vụ quan trọng không chỉ có ở Việt Nam mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều đặc biệt quan tâm, nghiên cứu và thực hiện Vấn đề này không chỉ được quy định trong Hiến pháp của các nước mà nó còn được qua định trong các văn bản pháp luật khác như Bộ luật Hình sự (BLHS), Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS)…

Hiện nay, vấn đề tội phạm do người dưới 18 tuổi1 thực hiện đang được các quốc gia quan tâm trong đó có Việt Nam, nhất là đối với vấn đề xét xử đối với loại tội phạm này Chẳng hạn, các tội liên quan đến ma túy, giết người, cướp tài sản, hiếp dâm,… cùng với việc sử dụng vũ khí nóng, tụ tập thành các băng, ổ, nhóm hoạt động theo kiểu xã hội đen, gây nên tâm lý hoang mang lo sợ trong nhân dân, gây khó khăn cho công tác điều tra, khám phá tội phạm của lực lượng Công an nhân dân nhất là việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Các biện pháp ngăn chặn (BPNC) là một chế định pháp lý trong luật Tố tụng hình sự Việt Nam Việc quy định và áp dụng đúng đắn các biện pháp ngăn chặn là

sự đảm bảo cho quá trình phát hiện nhanh chóng, chính xác, xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không cho người phạm tội tiếp tục thực hiện tội phạm, trốn tránh pháp luật, cản trở đến quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự Đây là vấn đề nhạy cảm, đụng chạm đến quyền và lợi ích chính đáng của công dân Thực tế những năm qua, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong Bộ luật Tố tụng hình sự cũng còn hạn chế nhất định, dẫn đến bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, vi phạm nguyên tắc pháp chế XHCN, xâm phạm đến quyền con người, quyền công dân

1

Một số quốc gia gọi là người chưa thành niên, trước đây ở Việt Nam trong BLTTHS 1988 và BLTTHS

Trang 14

Trên thế giới các nước như Liên Bang Nga, Ukraine, Belarus, Trung Quốc, Cộng Hòa Liên Bang Đức…, đã có những quy định tiến bộ, rõ ràng trong pháp luật

tố tụng hình sự về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Đây có thể xem là những bài học kinh nghiệm quý giá cho Việt Nam trong quá trình xây dựng và áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Xuất phát từ những lý do trên, tôi xin chọn đề tài “Biện pháp ngăn chặn đối

với người dưới 18 tuổi theo pháp luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới

và kinh nghiệm cho Việt Nam” với mong muốn có những đóng góp cho việc bảo

vệ tốt nhất quyền và lợi ích chính đáng của người dưới 18 tuổi, góp phần xây dựng thành công nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến các biện pháp ngăn chặn, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu đã được công bố

như: Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thị Ninh Bình (2017) về “Áp dụng các biện pháp

ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh”; Luận văn thạc sĩ Khổng Minh Quân (2018) về “Các biện pháp ngăn chặn theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc”; Luận văn thạc sĩ Đào Minh Dũng (2016) về “Biện pháp ngăn chặn bắt người theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hải Dương)”; Luận án tiến sĩ Nguyễn Trọng Phúc (2010) về “Chế định các biện pháp ngăn chặn theo luật Tố tụng hình sự Việt Nam”; TS Nguyễn Trọng Phúc

(2015) “Chế định các biện pháp ngăn chặn theo Luật Tố tụng hình sự Việt Nam -

Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2015); TS Lê

Tiến Hoàng - NCS Trịnh Duy Thuyên Đại học Cảnh sát nhân dân TP HCM (Tạp

chí DS&PL) (2020) “Biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi theo Bộ luật

Tố tụng hình sự năm 2015”… Ngoài ra còn rất nhiều công trình nghiên cứu khoa

học được đăng trên tạp chí khoa học, Tòa án, Công an… Tuy nhiên, những công

Trang 15

trình này chủ yếu tập trung vào nghiên cứu các quy định của pháp luật Tố tụng hình

sự về biện pháp ngăn chặn ở những góc độ, phạm vi, địa bàn khác nhau Tính đến nay qua tìm hiểu của tác giả chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào chuyên

sâu về “Biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi theo pháp luật tố tụng hình

sự một số nước trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam”

2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Qua nghiên cứu tìm hiểu của tác giả cho thấy hiện nay tình hình nghiên cứu liên quan lĩnh vực của đề tài trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu Có thể

kể đến một số công trình sau:

Luận án, Svetlana Nikolaevna (2009) “Các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình

sự: Bản chất, mục đích, tiêu chí hiệu lực áp dụng ở giai đoạn điều tra sơ bộ 2 ”; Phân

tích pháp luật so sánh áp dụng biện pháp cưỡng chế giáo dục liên quan đến trẻ vị thành niên tại Ukraine và các nước thành viên EU3

; Đặc điểm điều tra trước khi xét xử đối với tội phạm chưa thành niên4; Đặc điểm của việc áp dụng biện pháp quản thúc tại gia trong thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn trong vụ án hình sự tố tụng; Các biện pháp đảm bảo tố tụng hình sự… Ngoài ra còn các công trình nghiên cứu khác có nội dung sát với đề tài của tác giả Tuy nhiên những đề tài nêu trên chủ yếu nghiên cứu riêng về một phần của các biện pháp ngăn chặn/cưỡng chế của pháp luật tố tụng hình sự một nước, mà chưa có sự mở rộng nghiên cứu pháp luật của các nước khác

3 Mục tiêu nghiên cứu

Thứ nhất, làm sáng tỏ một cách toàn diện, đầy đủ, khách quan và có chiều

sâu hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

2

obosnovannosti-primeneniya-v-stadii-predvarite , truy cập ngày: 05/01/2023;

https://lawtheses.com/mery-ugolovno-protsessualnogo-prinuzhdeniya-suschnost-naznachenie-kriterii-3

https://academysps.edu.ua/wp-content/uploads/2021/09/Diplomna-robota-magistra-Suprun-G.G pdf , truy cập ngày: 05/01/2023;

4

http://dspace.wunu.edu.ua/bitstream/316497/2735/1/%D0%9A%D0%A3%D0%A0%D0%A1%D0%9E%D0

%92%D0%90%20%D0%91%D0%BE%D0%B4%D0%BD%D0%B0%D1%80.pdf , truy cập ngày:

05/01/2023;

Trang 16

Thứ hai, tìm hiểu lịch sử quy định của pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam

về biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Thứ ba, nghiên cứu pháp luật Tố tụng hình sự của một số nước về biện pháp

ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Phân tích những ưu điểm, hạn chế,

từ đó đưa ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về các biện pháp ngăn chặn đối với người dưới

18 tuổi phạm tội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các cơ sở lý luận về biện pháp ngăn

chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, lịch sử quy định của pháp luật Tố tụng hình

sự Việt Nam về biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và các quy định của pháp luật Tố tụng hình sự một số quốc gia trên thế giới về biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Qua đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp

luật đối với biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu pháp luật tố tụng một số nước trên

thế giới về biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội như Liên Bang

Nga, Ukraine, Belarus và Việt Nam

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước về pháp luật Tiếp cận hệ thống tri thức, khái niệm, nguyên tắc trong pháp luật Tố tụng hình sự nói chung, về biện pháp cưỡng chế đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng, tiếp cận các văn bản pháp luật

Mác-Để đạt được mục tiêu, nhiệm vụ đã đặt ra trong quá trình nghiên cứu tác giả

sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Diễn giải, phân tích, logic, quy nạp, thống kê, tổng hợp, so sánh, khảo sát thực tiễn và lấy số liệu thực tế chứng minh đảm bảo cho bài nghiên cứu có đầy đủ luận cứ khoa học và tính ứng dụng cao

Trang 17

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Về mặt lý luận: Khóa luận là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu dưới

góc độ pháp luật Tố tụng hình sự về “Biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18

tuổi theo pháp luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam” Đề tài có thể được dùng làm tài liệu dùng trong học tập và nghiên cứu

Về mặt thực tiễn: Những đề xuất giải pháp nêu trong bài nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao hiệu quả trong quá trình xây dựng các quy định của Bộ Tố tụng hình

sự Việt Nam về áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Ngoài ra, đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình xét xử người dưới 18 tuổi phạm tội

7 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của bài nghiên cứu gồm 03 chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận và quy định về biện pháp ngăn chặn đối với

người dưới 18 tuổi phạm tội trong tố tụng hình sự Việt Nam

Chương 2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới

về biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi và kinh nghiệm cho Việt Nam

Chương 3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao thực tiễn áp dụng các

biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi từ cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trên thế giới

Trang 18

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

* Khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội:

Khái niệm người dưới 18 tuổi, hiện nay có khá nhiều khái niệm và cách hiểu khác nhau Theo Công ước quốc tế về Quyền trẻ em của Đại hội đồng liên hợp quốc

đã đưa ra khái niệm về người dưới 18 như sau: “Trong phạm vi công ước này, trẻ

em có nghĩa là người dưới 18 tuổi trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em

có quy định về tuổi thành niên sớm hơn 5 ” Kế thừa nội dung Công ước, tại Quy tắc

2.2 mục a Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về áp dụng pháp luật với người chưa thành niên hay Quy tắc Bắc Kinh qua các quy định cũng thừa nhận:

“Người chưa thành niên là trẻ em hay người ít tuổi tùy theo từng hệ thống pháp luật cụ thể bị xét xử vì phạm pháp theo một phương thức khác với việc xét xử người lớn 6 ” Ngoài ra, tại Quy tắc 2.1 mục a Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên hợp quốc

về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do thông qua ngày 14/12/1990

xác định: “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi Giới hạn tuổi dưới mức

này cần phải pháp luật xác định và không được tước quyền tự do của người chưa thành niên”

Ở Việt Nam, thuật ngữ “người chưa thành niên” được quy định nhiều trong các văn bản pháp luật khác nhau Tại Điều 1 Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT–

Trang 19

VKSTC–TANDTC–BCA–BTP BLĐTBXH hướng dẫn thi hành bộ luật tố tụng hình

sự đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên có nêu: “Người chưa

thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm thần, những đối tượng

dễ bị tổn thương” Điều 68 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về áp dụng trách

nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội nêu rõ “người chưa thành

niên từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của chương này, đồng thời theo những quy định khác của phần chung Bộ luật không trái với những quy định của Chương này”

Điều 90 Bộ luật hình sự năm 2015 chỉ nêu chung “Người từ đủ 14 đến dưới

18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này; theo quy định khác của Phần thứ nhất của Bộ luật này không trái với quy định của Chương này”

Như vậy, hệ thống pháp luật nước ta cơ bản có sự thống nhất về khái niệm người chưa thành niên Điều này cũng phù hợp với khái niệm người chưa thành niên trong các văn bản pháp luật quốc tế, trong đó có Công ước của Liên hiệp quốc

về Quyền trẻ em năm 1989

Tuy nhiên, không phải bất kỳ người chưa thành niên nào khi thực hiện hành

vi nguy hiểm cho xã hội cũng đều bị xem là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình

sự Bên cạnh việc giới hạn về độ tuổi, Bộ luật hình sự nước ta còn căn cứ vào loại tội và hình thức lỗi để xác định trách nhiệm hình sự đối với một người khi thực hiện hành vi phạm tội Xuất phát từ những đặc điểm trên Bộ luật hình sự năm 1999 quy định người chưa thành niên là những người dưới 18 tuổi, nhưng chỉ những người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi mới phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội, còn người chưa thành niên dưới 14 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự Trong đó, người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu tránh nhiệm hình sự về các tội rất nghiêm trọng do lỗi cố ý và tội đặc biệt nghiêm trọng, còn người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi

Trang 20

loại tội Như vậy tuổi bắt đầu có năng lực TNHS là từ đủ 14 tuổi và tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ là người từ đủ 16 tuổi trở lên7

Với mục đích, yêu cầu nhằm hoàn thiện cơ chế tố tụng để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên; khắc phục những bất cập hạn chế trong thực tiễn xử lý các vụ án có người chưa thành niên tham gia tố tụng; bảo đảm sự tương thích với Công ước quốc tế về quyền trẻ em, đồng bộ với Luật bảo vệ

và chăm sóc, giáo dục trẻ em; pháp điển hoá Thông tư liên tịch số 01 ngày 12/7/2011 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên, bảo đảm tính cụ thể hóa của Bộ luật và tăng cường vai trò giáo dục, phòng ngừa của gia đình, nhà trường và xã hội

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã sử dụng thuật ngữ pháp lý “người dưới 18 tuổi” để thay thế cho thuật ngữ hiện dùng là “người chưa thành niên” nhằm đáp ứng yêu cầu thời gian tới đây sửa đổi Luật chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em Như vậy việc sửa đổi tên gọi này phù hợp hơn trong thời điểm hiện nay và tránh có những cách hiểu khác nhau và không thống nhất không quá trình áp dụng các biện

pháp ngăn chặn cũng như xử lý các đối tượng này trong tương lai

Từ những phân tích trên có thể đưa ra định nghĩa về người dưới 18 tuổi

phạm tội như sau: “Người dưới 18 tuổi phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18

tuổi thực hiện một trong các hành vi nguy hiểm cho xã hội được Bộ luật hình sự là tội phạm và đã bị cơ quan tiến hành tố tụng hoặc cơ quan được giao tiến hành một

số các hoạt động điều tra ra quyết định khởi tố và áp dụng một trong các biện pháp ngăn chặn trong Bộ luật Tố tụng hình sự quy định”

* Khái niệm biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội:

Qua việc phân tích các cơ sở lý luận trên về người dưới 18 tuổi phạm tội và các khái niệm liên quan ta rút ra được khái niệm về áp dụng biện pháp ngăn chặn

đối với người dưới 18 tuổi như sau: Biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18

tuổi là những biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự do cơ quan, người có thẩm

7

Nguyễn Thị Ninh Bình (2017) về “Áp dụng các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người

dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh”;

Trang 21

quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thế áp dụng đối với người bị buộc tội (người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo) có độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi có căn cứ do Bộ luật này quy định, nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự

Đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, mặc dù đối tượng này là những người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm lý và có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ nhưng họ vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình Do

đó, khi người dưới 18 tuổi phạm tội họ vẫn có thể bị áp dụng các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam như đối với người phạm tội là người đủ 18 tuổi trở lên Bởi vậy, những khái niệm chung nêu trên về các biện pháp ngăn chặn là khái niệm chung dành cho người đủ 18 tuổi trở lên và người dưới 18 tuổi

* Mục đích của biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội:

Từ các cơ sở lý luận trên và mục đích chung của các biện pháp ngăn chặn, ta

có thể đưa ra các mục đích của biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi như sau:

Một là, Các quy định về biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi

phạm tội bảo đảm cho hoạt động của những cơ quan tiến hành tố tụng được thuận lợi trong quá trình xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật hình sự do người dưới 18 tuổi thực hiện

Hai là, kịp thời ngăn chặn các hành vi phạm tội do người dưới 18 tuổi thực

hiện bao gồm: Ngăn chặn người dưới 18 tuổi thực hiện các hành vi nguy hiểm cho

xã hội từ đó không cho tội phạm hình thành; Ngăn chặn không cho hành vi phạm tội

do người dưới 18 thực hiện tiếp tục diễn tiếp; Ngăn chặn người dưới 18 tuổi thực hiện các hành vi phạm tội mới nhằm che dấu các hành vi phạm tội trước đó

Ba là, đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với

người dưới 18 tuổi phạm tội: Các biện pháp ngăn chặn được áp dụng để đảm bảo các điều kiện pháp lý cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án theo đúng các quy định của pháp luật như đảm bảo sự có mặt của bị can, bị cáo trong

Trang 22

hoạt động tố tụng khi cần thiết, đảm bảo bản án đã tuyên có đủ điều kiện thi hành án khi bản án có hiệu lực pháp luật; Đồng thời bảo đảm tính chính xác, khách quan của hoạt động tố tụng như: đảm bảo bí mật về điều tra, không cho bị can, bị cáo có điều kiện thông công

Mục đích cuối cùng của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là đảm bảo tính khách quan của vụ án, đảm bảo việc thi hành các quyết định được chính xác Góp phần bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế về quyền trẻ em

1.1.2 Đặc điểm của biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi có đầy đủ các đặc điểm như khi áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên, đó là những quy định về căn cứ, thẩm quyền, trình tự thủ tục áp dụng Các biện pháp này có mục đích kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội cũng như không cho họ có những hành động làm cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án; khi áp dụng cần phải tuân thủ theo những trình tự, thủ tục rất chặt chẽ do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định bởi lẽ đây là các biện pháp hạn chế một phần quyền con người, quyền công dân Đặc điểm này tạo thành tính thống nhất trong hoạt động tố tụng khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn Ngoài các đặc điểm chung khi áp dụng biện pháp ngăn chặn thì đối với người dưới 18 tuổi khi áp dụng biện pháp ngăn chặn còn có những đặc điểm riêng sau:

Thứ nhất, nguyên tắc áp dụng là chế định chịu sự điều chỉnh của pháp luật tố

tụng hình sự, đồng thời nó cũng là chính sách hình sự của Nhà nước đối với người dưới 18 tuổi Hệ thống các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được quy định và bổ sung dựa trên các nguyên tắc được Hiến pháp 2013 ghi nhận, nhằm khắc phục những hạn chế của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Bảo đảm cho các quy định về nguyên tắc cơ bản đúng nghĩa là những tư tưởng chỉ đạo đối với việc xây dựng và thực hiện Bộ luật Tố tụng hình sự, tạo cơ sở cho việc hình thành những chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của các chủ thể trong quá trình giải quyết

Trang 23

vụ án hình sự Nguyên tắc tố tụng hình sự chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống quy phạm pháp luật tố tụng hình sự, thể hiện bản chất của tố tụng hình sự và tính dân chủ trong hoạt động tố tụng hình sự, là cơ sở để xây dựng các nội dung trong

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Do đó, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn nói chung và đối với người dưới 18 tuổi nói riêng cần phải tuân thủ theo các nguyên tắc: phải đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa trong Tố tụng hình sự; tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân; bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật; bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện tín của cá nhân; suy đoán vô tội; xác định sự thật của vụ án; bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự; trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; trách nhiệm khởi tố và

xử lý vụ án hình sự; trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng hình sự; bảo đảm sự vô tư của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và một số nguyên tắc khác theo quy định của pháp luật

Tố tụng hình sự và luật hình sự ngoài ra còn phải dựa vào nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội…

Thứ hai, căn cứ áp dụng, trên cơ sở các căn cứ chung như: để kịp thời ngăn

chặn tội phạm, khi có căn cứ cho rằng người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, khi có căn cứ cho rằng người bị buộc tội sẽ tiếp tục phạm tội, khi cần bảo đảm thi hành án thì có thể xem xét áp dụng một trong các biện pháp ngăn chặn bắt Tuy nhiên, để việc xác định và áp dụng loại biện pháp nào cho phù hợp và hiệu quả cần phải dựa trên cơ sở quy định của pháp luật về các biện pháp này và các quy định khác của tố tụng hình sự đối với người dưới 18 tuổi

Thứ ba, mục đích áp dụng, cũng giống như các biện pháp ngăn chặn đối với

người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội, các biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi với mục đích cuối cùng là kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án

Trang 24

hình sự Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi cho các thủ tục triều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được thuận lợi, đúng quy định, mang lại hiệu quả cao trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Thứ tư, chủ thể áp dụng, không phải ai tham gia vào quan hệ tố tụng hình sự

cũng trở thành chủ thể có thẩm quyền áp dụng Ngoài các cơ quan tiến hành tố tụng như: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thì luật còn quy định một số chủ thể khác cũng có thẩm quyền áp dụng các biện pháp trong những trường hợp nhất định, như: người chỉ huy đồn biên phòng, chỉ huy tàu bay, tàu biển hay lực lượng hải quan, cảnh sát biên, kiểm ngư… Chủ thể áp dụng các biện pháp này là căn cứ để phân biệt biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự với các biện pháp ngăn chặn trong thủ tục hành chính

Mặt khác, như chúng ta thấy người dưới 18 tuổi là đối tượng đặc biệt trong

tố tụng hình sự, là những chủ thể tham gia tố tụng chưa phát triển hoàn thiện về tâm sinh lý cũng như nhân cách Do đó, đây là nhóm người rất dễ bị tổn thương khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn Bởi thế, trong quá trình áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi, người tiến hành tố tụng phải đảm bảo có những hiểu biết về tâm lý học, khoa học giáo dục liên quan đến người dưới 18 tuổi, đồng thời phải có kiến thức, kinh nghiệm trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm này, như vậy sẽ giúp cho việc giải quyết vụ án đạt hiệu quả nhanh hơn về mặt thời gian và đảm bảo đúng đắn trong việc áp dụng pháp luật tố tụng hình sự

Thứ năm, đối tượng bị áp dụng, khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn sẽ ảnh

hưởng trực tiếp đến các quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp

và các văn bản quy phạm pháp luật khác Nhà nước đã có chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, chủ yếu là giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa những sai lầm, tạm điều kiện cho họ phát triển lành mạnh để trở thành công dân có ích cho

xã hội Qua các thời kỳ phát triển của luật tố tụng hình sự, đối tượng bị áp dụng đối với người dưới 18 tuổi cũng dần thay đổi theo để phù hợp với quy định của Hiến pháp, Công ước về quyền trẻ em Đối với các biện pháp ngăn chặn, Bộ luật tố tụng hình sự rất hạn chế áp dụng đối với người dưới 18 tuổi Vì vậy khi áp dụng biện

Trang 25

pháp ngăn chặn cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định chính xác độ tuổi của họ cũng như các loại tội phạm mà họ thực hiện để thực hiện đúng theo quy định của pháp luật Đối với từng biện pháp khác nhau thì sự phân hóa về độ tuổi và loại tội phạm cũng khác nhau, được quy định cụ thể tại Điều 303 BLTTHS năm 2003 và Điều 419 BLTTHS năm 2015 Cụ thể, đối tượng người dưới 18 tuổi (gọi chung là người bị buộc tội): người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị bắt (trường hợp hợp bắt khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) với các mức độ tuổi như từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi, từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi…

Thứ sáu, thủ tục áp dụng, trong quá trình tiến hành tố tụng thì thủ tục tố tụng

đối với người dưới 18 tuổi được tiến hành theo thủ tục chung, nhưng không được trái với các quy định về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi Hay nói cách khác, những quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam về các biện pháp ngăn chặn được áp dụng chung cho tất cả các vụ án hình sự, nhưng nếu vụ án có người dưới 18 tuổi thì phải thực hiện theo thủ tục đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ở một số quy định liên quan

Thứ bảy, thời hạn áp dụng, do đặc điểm tâm sinh lý của người dưới 18 tuổi

chưa ổn định và hoàn thiện, dễ bị tổn thương nên trước khi áp dụng biện pháp ngăn chặn phải có sự cân nhắc kỹ trong đó, thời hạn áp dụng các biện pháp này là vấn đề cần phải được quan tâm và giám sát kỹ của các cơ quan tiến hành tố tụng Nhìn chung, thời hạn áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi giống với trường hợp áp dụng đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên phạm tội Tuy nhiên, đối với người chưa thành niên thì phải cần hạn chế, tính toán để giảm tối đa thời gian áp dụng và khi có đủ điều kiện hoặc xét thấy không còn cần thiết thì phải hủy bỏ ngay việc áp dụng đối với họ tránh ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách cũng như tâm sinh lý của người dưới 18 tuổi

Thứ tám, ngoài các đặc điểm nêu trên thì áp dụng các biện pháp ngăn chặn

đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là một hoạt động áp dụng pháp luật Áp dụng pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho các quy định của pháp luật đi vào thực tiễn cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các

Trang 26

chủ thể áp dụng Hoạt động áp dụng pháp luật nói chung và hoạt động áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi nói riêng chịu ảnh hưởng không nhỏ bởi những yếu tố xã hội Khi kinh tế phát triển, đời sống tinh thần, vật chất của người trực tiếp áp dụng pháp luật (người tiến hành tố tụng) và gia đình họ được cải thiện, giúp họ giảm bớt những khó khăn về vật chất từ đó họ có thể tận tâm dồn hết thời gian, sức lực, trí tuệ cho công việc, không bị mua chuộc về vật chất, giữ thái độ vô

tư, khách quan trong khi làm nhiệm vụ Như vậy thì tình trạng bắt oan sai, giam giữ người trái pháp luật sẽ hạn chế rất nhiều…

Yếu tố chính trị cũng ảnh hưởng mạnh mẽ tới hiệu quả của hoạt động áp dụng pháp luật của các cá nhân, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Một đất nước có môi trường chính trị ổn định, có một hệ thống pháp luật được xây dựng ổn định, phù hợp và có tính thống nhất cao là điều kiện thuận lợi đối với hoạt động áp dụng pháp luật, bởi nó củng cố niềm tin của người dân, để họ tin và đi theo Đảng Một đất nước bất ổn về chính trị sẽ luôn khiến người dân hoang mang, lo lắng, dao động… từ đó dẫn đến tư tưởng của các chủ thể tiến hành cũng không ổn định mà như vậy thì hiệu quả áp dụng các biện này cũng sẽ bị ảnh hưởng ít nhiều Đây là một trong những yếu tố quan trọng cho việc áp dụng pháp luật hiệu quả, chính xác Hiện nay Đảng ta luôn quan tâm chỉ đạo sâu sát đối với việc tuyên truyền và phổ biến kiến thức nhằm nâng cao ý thức chính trị cho các Đảng viên và đã đạt được kết quả tốt đẹp, để các Đảng viên luôn là những người đi trước, gương mẫu Ngoài những yếu tố trên thì hoạt động áp dụng các biện pháp ngăn chặn còn chịu ảnh hưởng của một số yếu tố khác như chất lượng hệ thống pháp luật, chất lượng của quy phạm pháp luật và nhiều yếu tố khác về đạo đức lối sống, văn hóa, truyền thông…

1.1.3 Cơ sở quy định biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 1.1.3.1 Chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi của Nhà nước

Chế định chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, là vấn

đề lớn cả về nội dung cũng như về mặt hình thức

Trang 27

Thứ nhất, xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý của người dưới 18 tuổi, trên cơ

sở niềm tin vào khả năng cải tạo, giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội, nên chính sách nhân đạo của Đảng, Nhà nước luôn mong muốn giúp họ tích cực cải tạo, sửa chữa sai lầm để trở thành người có ích cho xã hội Chính sách này được thể hiện rõ nét tại Điều 69 Bộ luật hình sự năm 2003 và được tiếp tục kế thừa phát huy tại Điều

91 Bộ luật hình sự năm 2015 Đây là nội dung thể hiện trực tiếp chính sách hình sự của Nhà nước đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cũng như thực hiện các cam kết trong các văn kiện quốc tế có liên quan Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét

xử hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm Đây là nguyên tắc mang tính chỉ đạo, thể hiện chính sách hình sự của Đảng và nhà nước ta trong quá trình xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội

Thứ hai, người dưới 18 tuổi phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự,

nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục Việc Nhà nước quy định nguyên tắc người dưới 18 tuổi có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi

có đủ những điều kiện luật định càng thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước ta, đồng thời thể hiện rõ nét đường lối xử lý về hình sự, đó là: bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa các biện pháp cưỡng chế hình sự nghiêm khắc nhất của Nhà nước với các biện pháp tác động xã hội khác để cải tạo, giáo dục người phạm tội, bằng cách đó hạn chế áp dụng các biện pháp mang tính trấn áp (trừng trị) về mặt hình sự Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người dưới 18 tuổi phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm Đây là quy định phù hợp với pháp luật quốc tế về nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Theo nguyên tắc này thì không phải mọi trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự Việc truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ được đặt ra khi nó thật sự cần

Trang 28

thiết và xuất phát từ yêu cầu phòng ngừa tội phạm Ngay kể cả khi người dưới 18 tuổi phạm tội và bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì họ vẫn có khả năng không bị áp dụng hình phạt

Trên tinh thần đó của Bộ luật hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tiếp tục kế thừa đồng thời sửa đổi, bổ sung những nội dung mới đối với đối tượng này tại Chương XXXVIII, trong đó Điều 414 có quy định những nguyên tắc tiến hành tố tụng đối với người chưa như bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cũng như lợi ích tốt nhất của họ; bảo đảm các nguyên tắc

xử lý của Bộ luật hình sự đối với người 18 tuổi

Thứ ba, công cuộc cải cách tư pháp trong những năm gần đây được Đảng,

Nhà nước ta hết sức quan tâm Tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được của việc tổ chức thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm

vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị đã

ra Nghị quyết số 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 với mục tiêu xuyên suốt là xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân,

Nhằm tạo sự chuyển biến mang tính đột phá trong cuộc đấu tranh bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, của công dân trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế Hiến pháp năm 2013 được ban hành và thông qua là một minh chứng Việc ban hành này đã đặt ra nhiều yêu cầu mới và quan trọng Mục tiêu cơ bản và quan trọng nhất của Hiến pháp 2013 là tiếp tục phát huy dân chủ, bảo đảm quyền công dân, bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền con người, quyền công dân, đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ trong tư duy lý luận của Đảng và Nhà nước ta trong một loạt vấn đề của Đảng và sự nghiệp đổi mới đất nước trong đó có vấn đề quyền con người, quyền công dân Chỉ thị số 12/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng năm 1992 về vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta xác định quyền con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển, là bản chất của chế độ

Trang 29

ta, Chỉ thị xác định: “Đối với chúng ta, vấn đề quyền con người được đặt ra xuất

phát từ mục tiêu của Chủ nghĩa xã hội, từ bản chất của chế độ ta và bao quát rộng rãi nhiều lĩnh vực, từ chính trị, tư tưởng, văn hóa đến kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng ”

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ

sung và phát triển năm 2011) cũng chỉ rõ: “quan tâm hơn nữa việc chăm lo hạnh phúc

và sự phát triển tự do, toàn diện của con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết”

1.1.3.2 Công ước quốc tế về quyền con người - quyền trẻ em

Kể từ khi Liên hợp quốc ra đời, năm 1945 đặc biệt từ khi Bộ luật quốc tế về quyền con người (bao gồm Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948; Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị 1966; Công ước quốc tế các quyền kinh tế,

xã hội và văn hóa 1966), quyền con người đã vượt khỏi phạm vi quốc gia trở thành Luật quốc tế Bên cạnh đó, ở tất cả các quốc gia, từ xưa đến nay, trẻ am là đối tượng được quan tâm, chăm sóc đặc biệt kể cả khi họ vi phạm pháp luật, thì nhân loại luôn dành cho các em sự cảm thông, chia sẻ, giúp các em trở lại với cuộc sống bình thường, giúp đỡ các em khẳng định tư cách của mình trong gia đình và xã hội, trong học tập và lao động, bởi vậy, Liên hợp quốc đã ban hành nhiều văn kiện về tư pháp người dưới 18 tuổi như:

Công ước về quyền trẻ em năm 1989 cùng với hai Nghị định thư không bắt buộc của công ước này (Nghị định thư về “sử dụng trẻ em trong xung đột vũ trang”, Nghị định thư về “buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm”, đều được Việt Nam phê chuẩn ngày 20/12/2001); Những quy tắc tối thiểu của Liên hợp quốc về áp dụng pháp luật đối với người dưới 18 tuổi hay còn gọi là Quy tắc Bắc Kinh, được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1985; Hướng dẫn Riát, được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 24/12/1990; Những quy tắc tối thiểu, phổ biến của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do, được Liên hợp quốc thông qua ngày 14/12/1990

Trang 30

Nội dung các quy định trong các Công ước, quy tắc có tính đến sự đa dạng

và cơ cấu pháp luật của các quốc gia, phản ánh mục đích và tinh thần của tư pháp người dưới 18 tuổi Đề ra những nguyên tắc mong muốn về thông lệ đối với việc xử

lý người dưới 18 tuổi đồng thời đảm bảo rằng, trong quá trình thực thi và áp dụng pháp luật thì quyền của người dưới 18 tuổi, kể cả trong trường hợp họ là đối tượng thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không bị vi phạm Để thực hiện được mong muốn và tinh thần nêu trên, Công ước và một số quy tắc hướng dẫn khác đã thể hiện khá đầy đủ và tập trung các quyền cụ thể của người dưới 18 tuổi cũng như những lưu ý đối với việc xây dựng hệ thống pháp luật và việc áp dụng pháp luật nhằm bảo đảm quyền con người, quyền trẻ em của người dưới 18 tuổi khi các em phạm tội Điều 37 của Công ước quy định, người dưới 18 tuổi phải được bảo vệ tránh khỏi những hành vi làm mất phẩm giá Người dưới 18 tuổi chỉ bị bắt, bị giam giữ và áp dụng hình phạt khi không thể áp dụng các biện pháp thay thế Trong trường hợp bị giam giữ, các em phải được đối xử nhân đạo và việc giam giữ theo chế độ riêng phù hợp với sự phát triển của lứa tuổi và cả tâm sinh lý Điều 40 của Công ước có nêu ra một nguyên tắc chung định hướng hành động có liên quan đến người dưới 18 tuổi

phạm tội như sau: “Mọi trẻ bị cáo buộc, buộc tội hoặc bị coi là vi phạm luật hình

sự đều có quyền được đối xử phù hợp với sự phát triển ý thức về nhân phẩm và phẩm chất của trẻ Sự phát triển ý thức đó giúp tăng thêm ý thức tôn trọng các quyền con người và quyền tự do cơ bản của người khác; giúp xem xét khía cạnh lứa tuổi của trẻ và mong muốn của chúng về sự tái hòa nhập cộng đồng 8 ”

Quy tắc Bắc Kinh đề ra các tiêu chuẩn tối thiểu, toàn diện về việc áp dụng pháp luật với người dưới 18 tuổi Các quy tắc này hướng dẫn các quốc gia thành viên khi xây dựng các hệ thống tư pháp riêng cho người dưới 18 tuổi theo nghĩa vụ được quy định tại Điều 49 của Công ước về quyền trẻ em Nội dung của điều này là

cơ sở để các quốc gia thành viên xây dựng và ban hành các luật, quy tắc, thể chế để

áp dụng riêng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội đồng thời bảo vệ các quyền cơ bản của họ Tóm lại, quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội là vấn đề nhạy cảm,

8

Điều 40, Công ước về quyền trẻ em năm 1989;

Trang 31

luôn luôn có nguy cơ bị xâm hại, cho nên pháp luật quốc tế bằng những quy định, khuyến nghị của mình tạo ra các điều kiện, trình tự khác nhau, một mặt buộc các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền phải tuân theo, mặt khác tạo cơ sở vững chắc cho chính người dưới 18 tuổi bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình

1.1.3.3 Hiến pháp Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Trong Hiến pháp 2013 quy định: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội

bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em 9 ”

Như vậy, Hiến pháp 2013 đã xác lập cơ chế bảo hộ và bảo đảm hầu hết các quan hệ xã hội là các quyền của trẻ em phải được toàn thể xã hội chăm lo, bảo vệ; được sống trong môi trường phù hợp để phát triển, được học tập, rèn luyện Định chế “nghiêm cấm” là một hình thức quy phạm mệnh lệnh mang tính bắt buộc, tạo ra khả năng pháp lý cho việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn và loại trừ ngay mọi biểu hiện không phù hợp hoặc trái với nó, được dự kiến với ít nhất là 06 trường hợp,

tình huống rất cụ thể: “xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột”

Đây cũng chính là cơ sở thiết lập các chế định về quyền trẻ em trong các hoạt động

tố tụng hành chính, tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng lao động10

Người dưới 18 tuổi nói chung và người dưới 18 tuổi ở độ tuổi trẻ em trong hầu hết các trường hợp đều chưa có đầy đủ quyền công dân tham gia vào những quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi quy phạm pháp luật, nhưng tùy thuộc vào từng cấp độ tuổi, họ có thể được pháp luật thừa nhận năng lực hành vi trong một số quan

hệ xã hội có điều kiện nhất định11 Nhưng các em lại dễ bị lợi dụng, xúi giục hoặc bị

9 Điều 37 Hiến pháp 2013;

10

http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=208168 truy cập ngày 10/01/2023;

11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định (Điều 9); “Con từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng” (Điều 48); “Việc nhận trẻ em từ đủ chín tuổi trở lên làm con nuôi phải được sự đồng ý của trẻ em đó” (Điều 71); “Việc thay đổi họ, tên của con nuôi từ đủ chín tuổi trở lên phải được sự đồng ý của người đó” (Điều 75);

BLLĐ năm 2012 (Điều 3): “1 Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, ”;

Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Điều 5): “Các đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính bao gồm: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về ”;

Trang 32

lừa dối để tham gia vào những việc làm trái pháp luật hoặc bị buộc trở thành nạn nhân của sự phân biệt đối xử, ngược đãi, bóc lột, xúc phạm nhân phẩm và những hành vi trái pháp luật khác12 Do đó, Hiến pháp 2013 đã đề ra định chế “nghiêm cấm”, chính là sự bảo hộ và bảo đảm pháp lý tối cao cho hệ thống bảo vệ quyền trẻ

em trong mọi quan hệ pháp luật Trong Hiến pháp 1992, định chế “nghiêm cấm” chỉ dành riêng cho đối tượng là phụ nữ: “nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ” (Điều 63), Hiến pháp năm 2013 đã mở rộng định chế “nghiêm cấm” để bảo hộ và bảo đảm pháp lý tối cao cho trẻ em

Hiến pháp 2013 quy định về hoạt động xét xử của Toà án nhân dân là xét xử

công khai, nhưng “Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần

phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự, Tòa án nhân dân có thể xét xử kín 13 ” Đây

chưa phải là định chế pháp lý điều chỉnh trực tiếp và mang tính bắt buộc đối với việc bảo vệ quyền của người dưới 18 tuổi trong hoạt động tố tụng, mà là một quy phạm tùy nghi dựa trên quyền lựa chọn áp dụng của cơ quan tòa án, những quy phạm này cũng đồng thời xác lập một nguyên tắc xét xử có nội dung bảo vệ người dưới 18 tuổi, để họ không phải gánh chịu thêm sự tổn thương tâm lý không cần thiết trong quá trình tham gia tố tụng tại phiên tòa

Việc xét xử kín đối với những trường hợp luật định cũng đã được Hiến pháp

1992 xác lập (Điều 131) và được cụ thể hóa ở Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 (Điều 18); tuy nhiên, cả hai văn bản này đều chưa đặt ra việc áp dụng đối với trường hợp người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi Khi người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi thì có thể, họ là người đã thực hiện hành vi phạm pháp hoặc có thể là nạn nhân của hành vi phạm pháp, song dù ở tư cách tố tụng nào nhưng nếu đó là

Bộ luật Hình sự 1999 (Điều 12): “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý ”;

12 Ở TP Hồ Chí Minh theo thống kê đến tháng 9/2011 có khoảng 70.000 trẻ có hoàn cảnh đặc biệt; trong đó hàng ngàn trường hợp trẻ em phải lang thang kiếm sống, bị lợi dụng và cũng là nguồn phát sinh vi phạm, tội phạm Từ năm 2005 đến nay, phát hiện có 575 vụ xâm hại tình dục trẻ em Chỉ trong năm 2010, có 1.120 người chưa thành niên phạm pháp hình sự, chiếm 12% tổng số vụ trên địa bàn thành phố Nguồn: UBND TP.Hồ Chí Minh, (2010), Chương trình bảo vệ trẻ em thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011-2015, tr.3;

13 khoản 3 Điều 103 Hiến pháp 2013;

Trang 33

trường hợp có liên quan đến bí mật cá nhân, hay việc xét xử có thể làm tái hiện lại những xúc phạm nghiêm trọng về sự tự trọng và nhân phẩm, hoặc có thể tạo ra khả năng bất lợi cho quá trình phát triển bình thường sau này của người chưa thành niên14v.v thì đều thuộc tình huống phải áp dụng nguyên tắc xử kín Do đó, Hiến pháp 2013 đã bổ sung người chưa thành niên vào đối tượng được áp dụng hình thức

tố tụng đặc biệt này Đây cũng là việc làm hoàn chỉnh hơn trách nhiệm của Nhà nước đối với thế hệ tương lai, đồng thời cũng phù hợp với Công ước quốc tế về quyền trẻ em15 Đây sẽ là cơ sở pháp lý nền tảng để Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi,

bổ sung thành các quy phạm pháp luật cụ thể

Ngoài ra, Hiến pháp 2013 đánh dấu sự thay đổi quan trọng trong việc ghi nhận và bảo đảm quyền con người nói chung và người dưới 18 tuổi nói riêng bằng việc quy định Chương 2: Quyền con người, quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân Trong số các quyền con người được Hiến pháp này ghi nhận, thì quyền bất khả xâm

phạm về thân thể được chú trọng đặc biệt Điều 20 Hiến pháp 2013 quy định: “1

Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất

kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; 2 Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt, giam, giữ người do luật định” Đây là một trong những quy định làm

nền tảng cho các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

1.2 Quy định về biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

1.2.1 Lịch sử lập pháp về biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi trước khi Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 có hiệu lực

14

http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=208168 truy cập ngày 10/01/2023;

15Công ước Quốc tế về quyền trẻ em (Điều 16) nêu: “Không trẻ em nào phải chịu sự can thiệp tùy tiện hay

bất hợp pháp vào việc riêng tư, gia đình, nhà cửa hoặc thư tín cũng như những sự công kích bất hợp pháp vào danh dự và thanh danh của các em”;

Trang 34

1.2.1.1 Quy định về biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988

Tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa VIII, ngày 28/6/1988 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Bộ luật tố tụng hình sự, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1989 Đây là một bước tiến quan trọng trong lịch sử hình thành

tố tụng hình sự của Việt Nam Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 ra đời, qua ba lần sửa đổi, bổ sung, đã dành toàn bộ chương XXXI - Thủ tục đặc biệt, phần thứ VII để quy định về những bị can, bị cáo là người chưa thành niên (từ Điều 271 đến Điều 280) Đây là sự kế thừa và phát triển pháp luật tố tụng hình sự dành cho người dưới

18 tuổi của Nhà nước ta Ngoài ra, để đảm bảo chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành những văn bản dưới luật đơn ngành, liên ngành hướng dẫn thi hành Chương XXXI - Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988

Thứ nhất, căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi:

Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án có thể áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn sau đây: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm16

Thứ hai, căn cứ hủy bỏ hay thay thế biện pháp ngăn chặn đối với người dưới

18 tuổi: Một là, khi vụ án bị đình chỉ thì mọi biện pháp ngăn chặn đã áp dụng đều

phải được huỷ bỏ; Hai là, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn khi thấy không còn cần thiết hoặc có thể thay thế bằng một biện pháp ngăn chặn khác Đối với những biện pháp ngăn chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn thì việc huỷ bỏ hoặc thay thế phải do Viện kiểm sát quyết định

Nhìn chung thì Bộ luật Tố tụng hình sự 1988 chưa có quy định riêng về việc

áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi, chỉ có quy định về thủ tục về những vụ án mà bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi tại Chương 31 Tuy nhiên, chỉ quy định sơ sài về biện pháp ngăn chặn là bắt, tạm giữ, tạm giam, cụ thể:

16

Điều 61 Bộ luật Tố tụng hình sự 1988;

Trang 35

Nếu có đủ căn cứ quy định tại các Điều 62, 63, 64, 68 và 71 Bộ luật này thì có thể bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên, nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng và theo quy định tại Điều 58 Bộ luật hình sự 17

1.2.1.2 Quy định về biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 với 346 điều được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003, thay thế Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 và các luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự được Quốc hội thông qua ngày 30/6/1990, ngày 22/12/1992 và ngày 9/6/2000 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta Theo đó, chế định về biện pháp ngăn chặn cũng được nghiên cứu, sửa đổi cho phù hợp Nội dung này được quy

định tại Chương VI “Những biện pháp ngăn chặn” gồm có 16 điều (từ Điều 79 đến Điều 94) và Chương XXXII “Thủ tục đối với người chưa thành niên” gồm 10 điều

(từ Điều 301 đến Điều 310) So với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định về thủ tục đối với người chưa thành niên đã mở rộng đối tượng áp dụng không chỉ bị can, bị cáo mà còn có cả người bị bắt, người bị tạm giữ (Chương XXXI Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988), phạm vi cũng xác định

rõ, đối với người chưa thành niên ngoài việc áp dụng những quy định tại Chương XXXII Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, khi tiến hành tố tụng, cơ quan tố tụng có thẩm quyền còn phải chú ý áp dụng những quy định khác của bộ luật nhưng không được trái với quy định của chương này Tuy nhiên, nhìn chung không có sự thay đổi nhiều về quy định thủ tục đối với đối tượng này bởi nguyên tắc xuyên suốt của pháp luật hình sự nước ta về xử lý người chưa thành niên phạm tội vẫn chủ yếu là giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa những sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân

có ích cho xã hội

Thứ nhất, Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi:

Theo quy định tại Điều 79 BLTTHS 2003, căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn

trong hoạt động điều tra vụ án bao gồm ba căn cứ sau:

17

Điều 273 Bộ luật Tố tụng hình sự 1988;

Trang 36

Một là, để kịp thời ngăn chặn tội phạm: Có nghĩa là không để cho tội phạm

xảy ra, chặn đứng được hành vi chuẩn bị phạm tội, không cho nó diễn ra trong thực tế hoặc buộc những hành vi phạm tội phải dừng lại, không để cho người phạm tội thực hiện hành vi đến cùng Căn cứ này cho chúng ta thấy sự ràng buộc kết nối giữa BLTTHS với lý luận về tội phạm trong luật hình sự là rất chặt chẽ Bởi trong các giai đoạn thực hiện tội phạm thì có giai đoạn chuẩn bị và trách nhiệm hình sự cũng được đặt ra ở một số tội phạm nhất định BLTTHS quy định việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp là một chế định tương ứng với việc xác định giai đoạn chuẩn bị thực hiện tội phạm trong luật hình sự Đó chính là tính logíc phù hợp giữa luật nội dung với luật hình thức Trong hoạt động điều tra, vận dụng căn cứ này vào việc bắt khẩn cấp, quy định tại điểm a khoản 1 điều 81 BLTTHS có ý nghĩa rất quan trọng

Hai là, khi có căn cứ chứng tỏ bị can sẽ gây khó khăn cho việc điều tra: Mục

đích là tái xác lập lại sự việc phạm tội đã xảy ra trong thực tế một cách khách quan, chính xác, đầy đủ và toàn diện, làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án Do vậy, các hoạt động điều tra để xác định người thực hiện hành vi phạm tội là điều cần thiết Song thực tế những người thực hiện hành vi phạm tội lại tìm mọi cách để cản trở quá trình xác định sự thật của vụ án BLTTHS quy định căn cứ này cho phép tiến hành áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với những đối tượng là bị can, có biểu hiện ra bên ngoài như họ có thể bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ, thông cung, mua chuộc, khống chế, đe dọa người làm chứng, người bị hại Đây cơ sở, căn cứ để áp dụng các biện pháp ngăn chặn

Ba là, khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội: Cơ sở để áp

dụng căn cứ này là những biểu hiện ra bên ngoài của bị can thông qua các dấu hiệu

về nhân thân của đối tượng trước khi áp dụng biện pháp ngăn chặn, đặc điểm nhân thân của đối tượng chẳng hạn như phần tử phản cách mạng, những tên lưu manh côn đồ hung hãn, những kẻ chuyên sống bằng con đường phạm tội Hành vi của các đối tượng này thường thể hiện là các hành vi đe dọa người làm chứng, người tố giác tội phạm Và nguy cơ của sự đe dọa, trả thù đó có khả năng xảy ra Trong thực tiễn, điều tra viên phải đánh giá một cách khách quan, phải có tài liệu chứng

Trang 37

minh điều đó, để hạn chế đến mức thấp nhất sự thiếu vô tư, không dám tin tưởng vào trình độ, chuyên môn của mình mà ra các quyết định áp dụng một cách tràn lan Trường hợp nào thấy cần thiết áp dụng thì tiến hành và ngược lại, đó là sự thể hiện bản lĩnh nghiệp vụ dám tin tưởng, dám chịu trách nhiệm trước các quyết định của mình khi áp dụng biện pháp ngăn chặn

Thứ hai, căn cứ hủy bỏ hay thay thế biện pháp ngăn chặn đối với người dưới

18 tuổi: Hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn thực chất là vấn đề mềm hóa

cách xử sự trong hoạt động giải quyết vụ án hình sự, nó có lợi cho đối tượng hoặc tăng tính nghiêm khắc khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn, đồng thời làm cơ sở cho việc vận dụng chính sách nhân đạo, chiến thuật nghiệp vụ của cơ quan điều tra

Một là, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn là việc các cơ quan có thẩm quyền ra

quyết định không tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người đang bị áp dụng một biện pháp ngăn chặn cụ thể Tại Điều 94 BLTTHS quy định hủy bỏ biện pháp ngăn chặn được tiến hành trong các trường hợp sau:

- Khi vụ án bị đình chỉ khi cơ quan tiến hành tố tụng có tài liệu, chứng cứ, chứng tỏ có căn cứ quy định tại Điều 107 BLTTHS những trường hợp không khởi

tố vụ án hình sự hoặc trường hợp người bị hại có đơn yêu cầu không khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại Điều 105 BLTTHS hoặc đã hết thời hạn điều tra mà vẫn không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm Điều 164 BLTTHS

- Khi Cơ quan điều tra thấy việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn không còn cần thiết nữa Là việc CQĐT xem xét những yêu cầu phục vụ cho việc điều tra như thu thập tài liệu đã đầy đủ, ý thức khai báo, thái độ thành khẩn của bị can… thì CQĐT sẽ ra quyết định hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn

Hai là, thay thế biện pháp ngăn chặn là việc CQĐT áp dụng biện pháp ngăn

chặn khác thay thế cho biện pháp ngăn chặn đang được áp dụng (Có thể ít nghiêm khắc hơn nhưng cũng có thể sẽ nghiêm khắc hơn)

Thay thế biện pháp ngăn chặn phải thỏa mãn những điều kiện sau:

- Yêu cầu giải quyết vụ án;

- Thái độ chấp hành của bị can đối với biện pháp ngăn chặn đang được áp dụng;

Trang 38

- Đảm bảo được các điều kiện này, CQĐT sẽ tiến hành thay thế biện pháp ngăn chặn Cho phép CQĐT tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc sử dụng chiến thuật tác động lên thái độ, tâm lý, ý thức của bị can khi tiến hành điều tra vụ án

1.2.2 Quy định về biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi theo Bộ luật

tố tụng hình sự năm 2015

Căn cứ Điều 419 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuân thủ pháp luật về áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế đối với người dưới 18 tuổi được quy định như sau:

“Ðiều 419 Áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế

1 Chỉ áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp áp giải đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi trong trường hợp thật cần thiết

Chỉ áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi khi có căn cứ cho rằng việc áp dụng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả Thời hạn tạm giam đối với người bị buộc tội

là người dưới 18 tuổi bằng hai phần ba thời hạn tạm giam đối với người đủ 18 tuổi trở lên quy định tại Bộ luật này Khi không còn căn cứ để tạm giữ, tạm giam thì cơ quan, người có thẩm quyền phải kịp thời hủy bỏ, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác

2 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, tạm giữ, tạm giam về tội phạm quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật hình sự nếu có căn cứ quy định tại các điều 110, 111 và 112, các điểm a, b, c, d và

đ khoản 2 Điều 119 của Bộ luật này

3 Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, tạm giữ, tạm giam về tội nghiêm trọng do cố ý, tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng nếu có căn cứ quy định tại các điều 110, 111 và 112, các điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 119 của Bộ luật này

4 Đối với bị can, bị cáo từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội nghiêm trọng do vô ý, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự

Trang 39

quy định hình phạt tù đến 02 năm thì có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam nếu họ tiếp tục phạm tội, bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã

5 Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, người ra lệnh giữ, lệnh hoặc quyết định bắt, tạm giữ, tạm giam người dưới 18 tuổi phải thông báo cho người đại diện của họ biết.”

Biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế là những biện pháp liên quan trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân nên đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi, BLTTHS 2015 quy định theo hướng hạn chế hơn, chặt chẽ hơn so với các quy định tương ứng trong BLTTHS 2003 Theo đó, đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp áp giải trong trường hợp thật cần thiết Đối với biện pháp tạm giữ, tạm giam chỉ áp dụng khi có căn cứ cho rằng việc áp dụng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả Thời hạn tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi bằng hai phần ba (2/3) thời hạn tạm giam đối với người đủ 18 tuổi trở lên quy định tại BLTTHS 2015 Khi không còn căn cứ để tạm giam, tạm giữ thì cơ quan, người có thẩm quyền phải kịp thời hủy bỏ, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, tạm giữ, tạm giam về tội phạm quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật hình sự, cụ thể:

“Điều 12 Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều sau đây: a) Điều 143 (tội cưỡng dâm); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi); b) Điều 170 (tội cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 173 (tội trộm cắp tài sản); Điều 178

Trang 40

(tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản); c) Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều

252 (tội chiếm đoạt chất ma túy); d) Điều 265 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều

266 (tội đua xe trái phép); đ) Điều 285 (tội sản xuất, mua bán, công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật); Điều 286 (tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 287 (tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 289 (tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác); Điều 290 (tội

sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản); e) Điều 299 (tội khủng bố); Điều 303 (tội phá hủy công trình,

cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 304 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự).”

Tuy nhiên, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, tạm giữ, tạm giam về tội phạm quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật hình sự nếu có căn cứ quy định tại các Điều 110 , 111 và 112 , và các điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 119 của BLTTHS 2015 cụ thể: Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm; Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can; Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn; Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội; Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này

Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, tạm giữ, tạm giam về tội nghiêm trọng do cố ý, tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng nếu có căn cứ quy định tại các điều 110, 111 và 112, và các

Ngày đăng: 15/06/2023, 07:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hiến Pháp Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, NXB Tư Pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến Pháp Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB Tư Pháp
2. Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (1988), Bộ luật Tố tụng hình sự, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng hình sự
Tác giả: Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 1988
3. Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (2003), Bộ luật Tố tụng hình sự, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng hình sự
Tác giả: Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2003
4. Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (2015), Bộ luật Tố tụng hình sự, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng hình sự
Tác giả: Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2015
5. Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (2017), Bộ luật Hình sự 2015, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Hình sự 2015
Tác giả: Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2017
6. Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (2000), Luật Hôn nhân và gia đình, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Hôn nhân và gia đình
Tác giả: Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2000
7. Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (2014), Luật Hôn nhân và gia đình, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội;Văn bản pháp luật nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Hôn nhân và gia đình
Tác giả: Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2014
1. Tạm hoãn xuất cảnh thạc sỹ của Nguyễn Thị Ninh Bình (2017) về “Áp dụng các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thị Ninh Bình
Năm: 2017
2. Tạm hoãn xuất cảnh thạc sỹ của Khổng Minh Quân (2018) về “Các biện pháp ngăn chặn theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp ngăn chặn theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc
Tác giả: Khổng Minh Quân
Năm: 2018
3. Tạm hoãn xuất cảnh thạc sỹ của Đào Minh Dũng (2016) về “Biện pháp ngăn chặn bắt người theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hải Dương)” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp ngăn chặn bắt người theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hải Dương)
Tác giả: Đào Minh Dũng
Năm: 2016
4. Luận án tiến sĩ Nguyễn Trọng Phúc (2010) về “Chế định các biện pháp ngăn chặn theo luật Tố tụng hình sự Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định các biện pháp ngăn chặn theo luật Tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Trọng Phúc
Năm: 2010
5. Nguyễn Trọng Phúc (2012), Chế định các biện pháp ngăn chặn theo luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định các biện pháp ngăn chặn theo luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Trọng Phúc
Nhà XB: Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2012
6. Nguyễn Trọng Phúc (2015), Chế định các biện pháp ngăn chặn theo luật tố tụng hình sự Việt Nam, Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định các biện pháp ngăn chặn theo luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Trọng Phúc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2015
7. Trần Quang Tiệp (2011),Về tự do cá nhân và biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tự do cá nhân và biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự
Tác giả: Trần Quang Tiệp
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
8. TS. Nguyễn Trọng Phúc (2015) “Chế định các biện pháp ngăn chặn theo Luật Tố tụng hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định các biện pháp ngăn chặn theo Luật Tố tụng hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: TS. Nguyễn Trọng Phúc
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2015
9. TS. Lê Tiến Hoàng - NCS. Trịnh Duy Thuyên Đại học Cảnh sát nhân dân TP. HCM (Tạp chí DS&PL) (2020) “Biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015”… Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Tác giả: TS. Lê Tiến Hoàng, NCS. Trịnh Duy Thuyên
Nhà XB: Đại học Cảnh sát nhân dân TP. HCM
Năm: 2020
10. Đồng Thị Lan Anh, Bàn về biện pháp ngăn chặn “Tạm hoãn xuất cảnh” theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về biện pháp ngăn chặn “Tạm hoãn xuất cảnh” theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2015
Tác giả: Đồng Thị Lan Anh
11. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Khoa Luật
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2019
12. Phạm Thái, “Bàn về tính hệ thống của chế định biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự”, Kỷ yếu Hội thảo Biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tính hệ thống của chế định biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự
Tác giả: Phạm Thái
Nhà XB: Kỷ yếu Hội thảo Biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự Việt Nam
Năm: 2020
3. Đặc điểm điều tra trước khi xét xử đối với tội phạm chưa thành niên (http://dspace.wunu.edu.ua/bitstream/316497/2735/1/%D0%9A%D0%A3%D0%A0 Link

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w