Giáo trình Tâm lý học tội phạm HLU 2023
Trang 11
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA TÂM LÝ HỌC TỘI PHẠM
Tâm lý học tội phạm đã hình thành, phát triển không ngừng và ngày càng giữ một
vị trí quan trọng trong nhóm các ngành khoa học nghiên cứu về người phạm tội Đây
là một trong những ngành khoa học có ý nghĩa to lớn trong việc nghiên cứu nhân cách của người phạm tội, cơ chế tâm lý của hành vi phạm tội và nguyên nhân tâm lý xã hội của hành vi phạm tội nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm Trong chương này trình bày nhận thức chung nhất về đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu, sơ lược lịch sử phát triển của tâm lý học tội phạm, các phương pháp nghiên cứu dùng trong tâm lý học tội phạm hiện nay, cũng như các ngành khoa học có liên quan đến tâm lý học tội phạm
1 Đối tượng, nhiệm vụ của tâm lý học tội phạm
1.1 Đối tượng của tâm lý học tội phạm
Tội phạm và tình trạng phạm tội là một hiện tượng xã hội được nhiều ngành khoa học nghiên cứu như: Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Tội phạm học, Thống kê tội phạm, Khoa học điều tra tội phạm và Tâm lý học tội phạm Tuy nhiên, mỗi một ngành khoa học lại có đối tượng nghiên cứu của mình để từ đó đưa ra nhiệm vụ nghiên cứu
và xác định cấu trúc của ngành khoa học đó
Cho đến nay có nhiều quan điểm khác nhau về đối tượng nghiên cứu của tâm lý học tội phạm
Theo V.L Vaxilev đối tượng nghiên cứu của tâm lý học tội phạm là các quy luật tâm lý gắn liền với sự hình thành tình huống phạm tội, ý định phạm tội, sự chuẩn bị và thực hiện hành vi phạm tội, cũng như nghiên cứu nhân cách của người phạm tội và nhóm người phạm tội1
Cũng có quan niệm tương tự I N Côpôkatriagin cho rằng tâm lý học tội phạm là một ngành khoa học tâm lý ứng dụng nghiên cứu các hiện tượng tâm lý, các qui luật tâm lý được biểu hiện trong quá trình hoạt động liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội như sự hình thành tình huống phạm tội của người phạm tội, sự hình thành động cơ phạm tội, nhân cách của người phạm tội, nạn nhân của tội phạm…, cũng như liên quan đến sự hình thành khuôn mẫu hành vi phạm tội2
1 Васильев В Л., Юридическая психология, СПб, 2000, C.328
2 Сорокотягин И Н., Психология юриспруденции, СПб, 2006, C.167-168
Trang 22
V V Romanov thì cho rằng tâm lý học tội phạm nghiên cứu nhân cách người phạm tội, quá trình hình thành động cơ của hành vi phạm tội, tâm lý nhóm người phạm tội, đưa ra khuyến nghị phòng ngừa hoạt động phạm tội của cá nhân và nhóm người phạm tội3
Bartol C R & Bartol A M cho rằng tâm lý học tội phạm là môn khoa học nghiên cứu về hành vi và các quá trình tâm lý của người phạm tội4
Theo V.Ph Pirôzcov lại cho rằng tâm lý học tội phạm nghiên cứu các hiện tượng tinh thần, sự kiện, cơ chế tâm lý và quy luật tâm lý của nhân cách người phạm tội5 Michel Born cho rằng tâm lý học tội phạm nghiên cứu sự phát sinh, hình thành tình trạng tội phạm, từ lúc còn thơ bé đến giai đoạn tuổi chưa thành niên thông qua một số tiếp cận lý thuyết cơ bản trong tâm lý học; các cơ chế nảy sinh tình trạng phạm tội; tâm lý nạn nhân của tội phạm; các đặc trưng nhân cách, đặc điểm cá nhân và các yếu
tố xã hội hoá định hướng con đường phạm tội6
Từ nghiên cứu các quan điểm trên cho thấy, việc xác định đối tượng nghiên cứu của tâm lý học tội phạm, cần phải lưu ý đến một số điểm sau đây:
Thứ nhất, giống như bất kỳ ngành khoa học tâm lý nào, tâm lý học tội phạm không
chỉ giới hạn nghiên cứu và mô tả tâm lý con người, trong trường hợp họ là người phạm tội, mà còn làm sáng tỏ các hiện tượng tâm lý đặc biệt Nếu như xã hội học tội phạm
về cơ bản chỉ tập trung vào các nhóm người hay toàn xã hội nói chung để tìm ra những chủ thể này ảnh hưởng như thế nào đến các hành vi phạm tội, thì tâm lý học tội phạm lại quan tâm đến hành vi phạm tội của cá nhân người phạm tội như hành vi phạm tội của cá nhân người phạm tội được nảy sinh, hình thành, phát triển và thay đổi như thế nào Tâm lý học tội phạm đòi hỏi làm sáng tỏ, phát hiện các quy luật và cơ chế của hành vi phạm tội như một hoạt động Cách tiếp cận này cho phép người ta vượt qua sự
mô tả, chỉ xác nhận sự kiện, thay thế nghiên cứu tâm lý học bằng nghiên cứu xã hội học Việc soạn thảo và áp dụng các phương pháp nghiên cứu phụ thuộc tính chính xác của sự xác định đối tượng nghiên cứu của ngành khoa học Các đặc điểm tâm lý đặc trưng của nhân cách người phạm tội và nhóm người phạm tội, thậm chí các khía cạnh
3 Шиханиов Г Г., Юридическая психология, Учебник для вузов, M, 2006, C.46
4 Bartol C.R & Bartol A.M., Criminal Behavior- A psychological Approach (Tenth Edition), Upper Saddle River, NJ:
Pearson Education Inc, 2014, 8
5 Пирожков В Ф., Криминальная психология, М 2009, C.11
6 Michel Born, Psychologie de la délinquance, Ed De Boeck, 2003 (Tài liệu dịch: Tâm lý học tội phạm, do Trần Thu Hương, Hoàng Mai Anh dịch, Khoa Tâm lý học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội), tr 8-10
Trang 33
tâm lý của hoạt động phạm tội không thể nghiên cứu bằng các phương pháp xã hội học, mà cần thiết phải nghiên cứu bằng các phương pháp tâm lý học thì mới đáp ứng được các điều kiện mà ở đó tình trạng phạm tội và người phạm tội được nghiên cứu bởi ngành tâm lý học tội phạm
Thứ hai, việc xác định đối tượng nghiên cứu nhằm hướng đến chống lại ý đồ thu
hẹp các vấn đề của tâm lý tội phạm vào khuôn khổ chỉ mô tả các sự kiện, mà nhiệm vụ chính của bất kỳ ngành khoa học nào là nghiên cứu thực tế, đó là dự đoán sự phát triển của một số sự kiện Điều đó có nghĩa là đối với tâm lý học tội phạm, quan trọng nhất
là phải dự đoán sự phát triển của tình hình tội phạm ở trong nước dựa trên cơ sở của việc phát hiện các cơ chế của tình trạng tái phạm
Thứ ba, trong một tình huống, tội phạm có hai mặt: người phạm tội hoặc một nhóm
người phạm tội và nạn nhân Sự nảy sinh của các sự kiện phụ thuộc phần lớn vào hành
vi của nạn nhân bị hành vi phạm tội xâm hại Nghiên cứu về tâm lý của nạn nhân trở thành một vấn đề quan trọng của tâm lý học tội phạm
Thứ tư, nghiên cứu về tâm lý của đồng phạm có ý nghĩa quan trọng nhất đối với
tâm lý học tội phạm như có những loại đồng phạm nào thường diễn ra, chúng phát sinh như thế nào, cơ chế tâm lý bên trong của sự tồn tại của chúng, v.v…
Cuối cùng, việc nghiên cứu các hiện tượng, cơ chế và quy luật tâm lý trong phạm
vi tình trạng phạm tội là cần thiết để sử dụng các biện pháp tâm lý và các biện pháp khác được đề xuất bởi tâm lý tội phạm, từ đó chủ động tác động đến tình trạng tội phạm, thu hẹp phạm vi và hình thức biểu hiện của nó
Như vậy, tâm lý học tội phạm là ngành khoa học ứng dụng nghiên cứu nhân cách của người phạm tội, động cơ phạm tội, môi trường phạm tội, cơ chế tâm lý của hành vi phạm tội do một cá nhân hay một nhóm người thực hiện và nạn nhân của tội phạm
1.2 Nhiệm vụ của tâm lý học tội phạm
Tâm lý học tội phạm nghiên cứu các nhiệm vụ sau đây:
Nghiên cứu nhân cách người phạm tội Nhiệm vụ của tâm lý học tội phạm là làm sáng tỏ các phẩm chất nhân cách của con người, mà những phẩm chất này trong quá trình tác động lẫn nhau với hoàn cảnh bên ngoài có thể tạo ra tình huống phạm tội Trong phạm vi của tâm lý học tội phạm, các đặc điểm đặc trưng của cá nhân người phạm tội là nguyên nhân của tội phạm như khiếm khuyết trong nhận thức pháp luật, đạo đức, văn hóa, tình cảm… cũng được xác định Ngoài ra, tâm lý học tội phạm còn nghiên cứu cơ chế “miễn dịch” của con người với tình huống phạm tội và đưa ra các
Trang 44
biện pháp trong công tác phòng ngừa tội phạm
Nghiên cứu hành vi phạm tội của cá nhân, của nhóm người phạm tội như một loại hành vi đặc biệt, chẳng hạn nghiên cứu: động cơ phạm tội, mục đích phạm tội, phương thức thực hiện hành vi phạm tội, cơ chế tâm lý bảo vệ và phòng ngừa một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
Nghiên cứu về tâm lý của các loại đồng phạm như đồng phạm được hình thành một cách ngẫu nhiên; đồng phạm có tổ chức; đặc điểm của các cơ chế tâm lý về sự tồn tại, gắn kết hoạt động của những người đồng phạm, v.v
Nghiên cứu cơ chế tâm lý – xã hội của nhóm người phạm tội, nguyên nhân của sự liên kết giữa những người phạm tội, điều kiện góp phần tạo ra sự liên kết này, vị trí xã hội của từng thành viên trong nhóm, phân cấp vai trò giữa các thành viên trong nhóm, tính năng động của nhóm
Nghiên cứu tình trạng phạm tội như một hiện tượng xã hội, đó là nghiên cứu đặc điểm tâm lý cơ bản, xu hướng, nguyên nhân tâm lý – xã hội của tình trạng phạm tội, v.v… Nghiên cứu các cơ chế tâm lý của tình trạng tái phạm tội trong xã hội và đưa ra các biện pháp tâm lý phòng ngừa tình trạng này
Nghiên cứu các khía cạnh tâm lý của nạn nhân, tức là nghiên cứu nhân cách của nạn nhân và hoạt động của họ góp phần vào việc xác định nguyên nhân, điều kiện của tội phạm và trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp tâm lý nhằm đảm bảo cuộc sống an toàn của nạn nhân
Nghiên cứu tâm lý của người chưa thành niên phạm tội, trong đó nghiên cứu những hành vi chống đối xã hội của người chưa thành niên và ảnh hưởng của những yếu tố môi trường xã hội cũng như đặc điểm tâm lý lứa tuổi đến hành vi phạm tội của họ, trên
cơ sở đó đưa ra các biện pháp đấu tranh chống phòng ngừa tình trạng phạm tội ở người chưa thành niên
2 Sơ lược lịch sử phát triển của tâm lý học tội phạm
2.1 Thời kỳ cổ đại
Các triết gia thời kỳ cổ đại như Socrattes (469 -399 trước Công nguyên), Plato (427
- 347 trước Công nguyên), Aristotle (384 – 322 trước Công nguyên) là những người có những tư tưởng đầu tiên về tâm lý học tội7 Socrattes là người đầu tiên bày tỏ tư tưởng hiện sinh về bản tính hành vi của con người Không giống đa số các nhà triết học
7 Hergenhahn B.R., Nhập môn lịch sử tâm lý học, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2003
Trang 55
trước, Socrattes quan tâm chủ yếu tới việc con người là gì và các vấn đề tồn tại của
con người Điều Socrattes tìm kiếm là yếu tính của các sự vật như cái đẹp, công bằng
và chân lý Theo Socrattes, hiểu biết các yếu tính tạo thành tri thức, và mục đích của
cuộc đời là đạt được tri thức Khi hạnh kiểm của một người được hướng dẫn bởi tri thức, hạnh kiểm ấy tất yếu là đạo đức Ví dụ, nếu một người biết công bằng là gì, người ấy sẽ hành động một cách công bằng Ông cho rằng tri thức và đạo đức liên hệ mật thiết với nhau; tri thức là nhân đức, và hành vi thiếu đạo đức phát sinh từ sự ngu dốt Tư tưởng về sự cần thiết thống nhất tính công bằng và tính hợp pháp của ông đã được Plato và Aristotle tiếp tục phát triển Plato là người đầu tiên nhận ra được hai tiêu chí tâm lý thuộc về cơ sở phát triển xã hội – nhu cầu và năng lực của con người Pháp luật theo ông cần phải đáp ứng những nhu cầu của xã hội, còn tổ chức xã hội cần phải thực hiện phù hợp với năng lực của các thành viên xã hội Aristotle đã đưa ra tư tưởng lớn lao về pháp luật như thước đo của tính công bằng Tư tưởng của các triết gia thời
kỳ này mặc dù mới chỉ dừng lại ở mức sơ khai nhưng vẫn tiếp tục gây ảnh hưởng đến
sự hình thành ngành tâm lý học tội phạm
2.2 Từ thế kỷ thứ XVII đến thế kỷ thứ XVIII
Trong suốt một thời gian dài từ thế kỷ thứ XVII đến thế kỷ thứ XVIII không có một công trình nghiên cứu nào chuyên sâu về tâm lý tội phạm mà chỉ có một số nhà tư tưởng như Francis Bacon (1561 - 1626), Rene Descartes (1596 – 1650), Thomas Hobbes (1588 – 1679), John Locke (1632 – 1704), Baruch Spinoza (1632 – 1677), George Berkeley (1685 -1753), David Hume (1711 – 1776), David Hartley (1705 – 1757), đã cho rằng chính lý trí và khoa học sẽ làm cho nhân loại tiến bộ, mọi khoa học đều có liên quan nhiều hay ít tới bản chất con người Khi triển khai khoa học về con người, tất cả các học giả này đều theo truyền thống duy niệm “vì khoa học về con người là nền móng vững chắc duy nhất cho mọi khoa học khác, nên nền móng vững chắc duy nhất chúng ta có thể đặt cho chính khoa học này phải là kinh nghiệm và quan sát”8 Rene Descartes đã cố gắng đưa ra một giải thích hoàn toàn cơ học cho nhiều chức năng thể lý và nhiều hành vi Phân tích cơ học của ông về hành vi phản xạ có thể được coi là sự khai mào cho cả khoa học tâm lý học kích thích – phản xạ lẫn tâm lý học hành vi Rene Descartes đã dọn đường cho nghiên cứu khoa học về ý thức Công trình của ông về xung đột hành vi không tập trung vào sự xung đột giữa hành vi tội lỗi
và đạo đức nhưng vào sự khác biệt giữa hành vi động vật và hành vi con người có lý trí Khi giải thích về động lực của hành vi, Thomas Hobbes cho rằng, hành vi con
8 Hergenhahn B.R, sđd
Trang 66
người được thúc đẩy bởi động lực là sự thèm muốn (tìm cách hay duy trì các kinh nghiệm thích thú) và xa tránh (tìm cách tránh hay kết thúc các kinh nghiệm đau đớn)
Nói cách khác đi, Thomas Hobbes chủ trương lý thuyết về động lực theo chủ nghĩa
khoái lạc Theo ông, chúng ta dùng từ yêu và ghét để mô tả các sự thèm muốn và sự xa
tránh của chúng ta David Hume cho rằng các đam mê (cảm xúc) như là yếu tố quyết định hành vi David Hume cho thấy trong suốt lịch sử nhân loại, con người đã từng có các đam mê giống nhau và các đam mê này đã thúc đẩy các hành vi cư xử giống nhau Nhưng ông nhận xét rằng, tuy mọi người có cùng đam mê giống nhau, họ không có chúng với cùng một mức độ vì các cá nhân khác nhau có các kiểu đam mê khác nhau,
họ sẽ phản ứng khác nhau với hoàn cảnh Kiểu đam mê của mỗi người quyết định tính cách của người ấy, và tính cách của một người quyết định hành vi của họ Như thế, các kinh nghiệm khác nhau tạo các tính cách khác nhau, và các tính cách khác nhau tạo các hành vi khác nhau9 David Hartley dùng luật liên tưởng để cắt nghĩa làm thế nào các hành vi tự động dần trở thành tự ý và rồi lại trở thành hầu như tự động Theo David Hartley hành vi lúc đầu là không cố ý, sau đó trở thành cố ý dần dần khi mà qua quy trình liên tưởng, càng lúc càng có nhiều kích thích có khả năng ảnh hưởng đến hành vi Sau cùng, khi việc thực hiện hành vi cố ý trở thành thói quen, nó được gọi là
“tự động thứ cấp” Sự cố gắng của David Hartley để cắt nghĩa sự tương quan giữa các
ý tưởng và hành vi là điều rất hiếm thấy trong số các nhà triết học thời ông, và hầu như chưa hề nghe thấy trước thời ông Trong cắt nghĩa của David Hartley có thể thấy rất nhiều điều sau này sẽ trở thành một phần của lý thuyết về sự học tập ngày nay10 Các
tư tưởng mới này đã làm những lời giải thích siêu hình về hành vi của con người bị sụp đổ Tự do ý chí và suy nghĩ lý trí của con người đã được thừa nhận là một trong các yếu tố quyết định đến hành vi của họ Các tư tưởng nói trên đã ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển của trường phái tâm lý học tội phạm cổ điển
2.3 Từ thế kỷ thứ XVIII đến cuối thế kỷ thứ XIX
Các thành tựu khoa học của thế kỷ 17 và 18 đã cho phép các vấn đề triết học xưa kia được xem xét theo hướng mới và chính xác hơn Câu hỏi là các sự kiện thường nghiệm được trình bày trong ý thức của chúng ta bằng các cơ chế nào? Mọi sự, trừ tri giác giác quan đến các phản ứng vận động, đều được nghiên cứu kỹ lưỡng, và sự nghiên cứu này cuối cùng đã dẫn đến sự khai sinh tâm lý học thực nghiệm Muốn tìm
về nguồn gốc của tâm lý học thực nghiệm, người ta phải tìm về các phát triển ban đầu của khoa học sinh lý, giải phẫu học, thần kinh học
9 Hergenhahn B.R, sđd, tr.218
10 Hergenhahn B.R, sđd, tr.222 – 223
Trang 77
Vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX xuất hiện trường phái nhân chủng học tội phạm Trường phái này do Franz Joseph Gall (1758 – 1828) nhà nhân chủng học người Đức sáng lập Joseph Gall nghiên cứu não của nhiều loài động vật, kể cả con người, và là người đầu tiên gợi ý có sự tương quan giữa sự phát triển vỏ não và hoạt
động của con người Joseph Gall là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “não tướng học”
Joseph Gall đã đưa ra ba tuyên bố làm thay đổi lịch sử tâm lý học khả năng: 1) Các khả năng tinh thần không tồn tại ở các mức độ giống nhau nơi mọi người; 2) Các khả năng này nằm ở khu khác nhau trong não; 3) Nếu một khả năng phát triển tốt, một người sẽ có một chỗ u hay lồi ở phần tương ứng của hộp sọ Tương tự như thế, nếu một khả năng phát triển kém, sẽ xuất hiện một chỗ lõm ở phần tương ứng của hộp sọ Joseph Gall tin rằng độ lớn của các khả năng của một người có thể xác định được bằng cách xem các chỗ lồi hay lõm ở hộp sọ của một người Joseph Gall cho rằng: Hình dạng của bộ não và hộp sọ có thể cho biết tính cách cũng như quá trình phát triển tâm
lý của một người; trên đầu một người có từ 27 đến 38 khu vực có liên quan đến những tính cách như hung hăng, thù hận, dối trá hay bạo lực…nếu những vùng đó phát triển hơn bình thường, người đó có xu hướng biểu lộ tính cách mà nó đặc trưng; những người phạm tội có thể đã phải chịu những tổn thương về não gây ra sự phát triển thái quá của những tính cách như hiếu chiến hoặc ưa chống đối
Cùng với những thành công của các khoa học vật lý và tinh thần tràn lan khắp châu
Âu thì học thuyết tôn giáo ngày càng trở nên bị nghi ngờ, lúc này một niềm tin mới xuất hiện – niềm tin rằng khoa học có thể giải quyết mọi vấn đề của con người Niềm
tin đó gọi là thuyết duy khoa học Với những người theo thuyết duy khoa học, tri thức
khoa học là tri thức duy nhất có giá trị và với họ, khoa học mang đặc tính của một tôn giáo Tiêu biểu trong những người này là Auguste Comte (1798 – 1857), người được coi là nhà khoa học đầu tiên cố gắng sử dụng phương pháp của khoa học vật lý vào nghiên cứu về lịch sử và hành vi xã hội của con người Từ năm 1830 đến 1842, ông
dành thời gian chủ yếu cho việc viết Giáo trình Triết Học Duy Chứng Luận bao gồm
06 cuốn (1830 -1842) Ít lâu sau ông bắt đầu viết Hệ thống Chính Trị Duy chứng luận
(năm 1851) Ông cho rằng điều duy nhất chúng ta có thể biết chắc chắn là những gì có thể quan sát công khai, nghĩa là các kinh nghiệm giác quan có thể được những người
khác chia sẻ Ông gọi việc đồng hoá tri thức với các quan sát thường nghiệm là duy chứng luận Auguste Comte là một nhà cải cách xã hội và ông quan tâm đến khoa học
chỉ như là phương tiện để cải thiện xã hội Tri thức, dù là khoa học hay không chỉ quan trọng khi nó có giá trị thực tiễn nào đó Theo Auguste Comte, có hai phương pháp
nghiên cứu khách quan về cá nhân Một phương pháp là dùng khoa tướng sọ, nghĩa là
Trang 88
tìm cách liên kết các sự kiện tinh thần với hình thù và các quy trình của não Phân tích bằng khoa tướng sọ chủ yếu giản lược tâm lý học vào sinh lý học Phương pháp thứ hai là nghiên cứu tinh thần bằng các sản phẩm của nó – nghĩa là bằng cách nghiên cứu hành vi bên ngoài, đặc biệt hành vi xã hội (trong đó có hành vi phạm tội) Việc nghiên
cứu hành vi xã hội của con người là một nghĩa thứ hai của thuật ngữ xã hội học của
Auguste Comte Như thế, phương pháp thứ hai giản lược tâm lý vào xã hội học11 Charles Darwin (1809 -1882) đã đưa ra thuyết tiến hoá chỉ ra quá trình thích nghi
và chọn lọc tự nhiên của các loài trong cuộc đấu tranh để sinh tồn Năm 1859 Charles
Darwin đã xuất bản tác phẩm Nguồn gốc của các loài, trong tác phẩm này, Charles
Darwin nói rất ít về loài người, nhưng về sau ông cũng nhấn mạnh rằng loài người cũng là sản phẩm của tiến hoá Theo ông, cả loài người và loài vượn đều bắt nguồn từ cùng một tổ tông chung rất xa là loài linh trưởng Charles Darwin còn so sánh trực tiếp loài người với loài vật trong các biểu hiện cảm xúc ở con người và ở động vật, và đã nhấn mạnh rằng loài người chỉ khác loài vật về mức độ mà thôi, điều này đã làm phát sinh khoa học tâm lý so sánh và tâm lý học loài vật Có thể nói, thuyết tiến hoá của Charles Darwin là cuộc cách mạng trong lịch sử khoa học của thế giới Ông đã thay đổi quan niệm truyền thống về bản tính con người và cùng với nó, thay đổi lịch sử của triết học và tâm lý học, đó là giải thích bằng các nguyên tắc khoa học của các ngành khoa học tự nhiên và xã hội thay cho việc giải thích bằng các sức mạnh của lực lượng siêu hình, thần bí Hành vi xã hội của con người (trong đó có hành vi phạm tội) được các nhà khoa học giải thích bằng việc sử dụng các phương pháp khoa học dựa trên các
ý tưởng của Charles Darwin
Vào nửa đầu thế kỷ XIX, ở nước Nga đã bắt đầu thử nghiệm lập luận các quan điểm pháp lý hình sự bằng tri thức tâm lý học Trong những năm 1806 – 1812 tại
Trường Tổng hợp Matxcơva đã đưa môn “Tâm lý học hình sự” vào giảng dạy Trong giáo trình “Luật hình sự” (1863) của tác giả B.L Xpaxovich đã sử dụng một số lượng
lớn số liệu của tâm lý học12 A.Ph Konhi giảng dạy chuyên đề “Các loại tội phạm” đã
xuất bản nhiều công trình có giá trị về tâm lý học tội phạm và ông đã kêu gọi nên đưa các môn tâm lý học và tâm bệnh học vào giảng dạy cho sinh viên của Khoa Luật13 Giữa thế kỷ XIX xuất hiện trường phái Nhân chủng học tội phạm Trường phái này
do Cesare Lombroso (1835 – 1909) nhà tâm thần học và tội phạm học người Italia sáng lập Thuyết Cesare Lombroso cơ bản dựa trên những tư tưởng của triết học thực
11 Hergenhahn B.R, sđd, tr.251
12 Еникеев М И., sđd, C.220
13 Еникеев М И., sđd, C.222
Trang 99
chứng luận, chủ nghĩa Darwin xã hội, chủ nghĩa duy vật tầm thường và thần kinh học Điểm xuất phát của thuyết Cesare Lombroso cho rằng tội phạm là hiện tượng tự nhiên, tất yếu như sự sinh ra và mất đi, như chuyển bụng đẻ và bệnh tật14 Cesare Lombroso
có xu hướng sinh vật hóa việc lí giải nguyên nhân hành vi của con người Theo ông, nguyên nhân của tội phạm nằm ngay trong chính con người phạm tội, trong bản chất sinh vật của họ Do đó, trên cơ sở nghiên cứu những đặc điểm sinh học của người phạm tội có thể rút ra nguyên nhân của việc phạm tội Năm 1876 Lombrozo đã xuất
bản tác phẩm “Người phạm tội” Trong tác phẩm này, ông đã mô tả chi tiết các đặc điểm mà căn cứ theo thuyết của mình nói về “Người phạm tội bẩm sinh” Cesare
Lombroso đã khảo sát một nghìn người phạm tội để phát hiện những biểu hiện đặc biệt
về nhân chủng học, cơ thể học, sinh lý học và tâm lý học mà những đặc điểm này hình như vốn có chỉ đối với những người phạm tội (chủ yếu những người phạm tội giết người, hiếp dâm và trộm cắp tài sản) Ông đã chỉ ra rằng, một người sinh ra có năm đặc điểm sau đây thì là người phạm tội bẩm sinh Cụ thể: miệng rộng, hàm răng khoẻ; xương gò má nhô cao, mũi bẹt; tai dáng vểnh; mũi diều hâu, môi to dày, mắt gian giảo, lông mày rậm; không cảm nhận với những đau đớn, cánh tay dài15 Cesare Lombroso cho rằng không cần thiết phải phân loại các nhân tố tội phạm, bởi về thực chất ông chỉ chú ý đến một nhân tố duy nhất là bản chất sinh vật của con người Tuy nhiên, khi thừa nhận cả sự tồn tại của loại “người phạm tội ngẫu nhiên” Cesare Lombroso vẫn chú ý nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến tác phong hành động của những người phạm tội này và cho rằng đó là các nhân tố vũ trụ, bộ tộc, di truyền cá nhân và xã hội
2.4 Từ cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX
Cuối thế kỷ XIX, tâm lý học tách ra khỏi triết học thành một khoa học riêng với tính cách là khoa học thực nghiệm, chủ trương dùng phương pháp thực nghiệm và mô
tả vật lý học, sinh lý học để nghiên cứu những hiện tượng tâm lý đơn giản như cảm giác, tri giác, chú ý, trí nhớ, thói quen…
Năm 1879, Wilhelm Maximillian Wundt (1832 – 1920) nhà tâm lý học lập ra phòng thí nghiệm đầu tiên trên thế giới tại thành phố Leipzig nước Đức Wilhelm Wundt đã giảng khoá đầu tiên về tâm lý học như một khoa học tự nhiên và viết cuốn
sách đầu tay của ông là Những đóng góp hướng tới một lý thuyết về cảm giác tri giác
(1862) Trong cuốn sách này, ông lên một kế hoạch cho tâm lý học mà ông sẽ theo
đuổi cho tới cuối cuộc đời Những năm tiếp theo, ông xuất bản Những bài giảng về
14Nguyễn Xuân Yêm, Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001,
tr.69
15Васильев В Л., Юридическая психология, СПб, 2000, C.21
Trang 1010
tâm lý học con người và động vật (1863) Theo Wilhelm Wundt, mục tiêu của tâm lý
học là tìm hiểu cả các hiện tượng ý thức đơn giản lẫn phức tạp Với các hiện tượng đơn giản có thể dùng thí nghiệm, nhưng đối với các hiện tượng phức tạp thì không, mà
có thể dùng các hình thức quan sát tự nhiên Wilhelm Wundt cho rằng có hai loại kinh nghiệm tâm lý chính: cảm giác và tình cảm Một cảm giác xảy ra khi một giác quan được kích thích và kích thích nhận được này dẫn đến não Khi nghe tiếng đập của một cái máy đo nhịp nhạc, Wilhelm Wundt nhận thấy có một số nhịp đập dễ chịu hơn một
số khác, cùng với việc quan sát nội tâm của mình, Wilhelm Wundt đi đến kết luận mọi cảm giác đều có các tình cảm đi kèm và hình thành lý thuyết tình cảm ba chiều, theo
đó mọi tình cảm có thể có được mô tả theo mức độ mà chúng có ba thuộc tính: dễ chịu – khó chịu, kích động – bình thản, và căng thẳng – thoải mái Theo Wilhelm Wundt, cảm giác và tình cảm là các yếu tố của ý thức, nhưng trong đời sống hằng ngày, hiếm khi chúng được kinh nghiệm biệt lập với nhau Rất thường xuyên nhiều yếu tố được kinh nghiệm cùng một lúc và khi đó tri giác xảy ra Wilhelm Wundt cho rằng tri giác
là một quy trình thụ động bị chi phối bởi kích thích vật lý hiện hành, bởi cơ cấu giải phẫu của chủ thể, và bởi các kinh nghiệm quá khứ của chủ thể Ba ảnh hưởng này tương tác với nhau và xác định môi trường tri giác của một người vào một lúc nhất
định Phần môi trường tri giác mà chủ thể chú ý đến thì được gọi là tổng giác Khác
với tri giác có tính thụ động và tự động, tổng giác có tính chủ động và tự ý Nói cách khác tổng giác là sự tri giác mà trong đó có sự kiểm soát của chủ thể
William James (1842 -1910) biểu thị cho bước ngoặt từ tâm lý học châu Âu sang tâm lý học Mỹ Các tư tưởng của William James tuy chưa phát triển đầy đủ thành một trường phái tư tưởng, nhưng chúng chứa đựng các mầm mống mà sau này phát triển thành trường phái chức năng William James đồng ý với Wilhelm Wundt rằng đã đến lúc tâm lý học trở thành một khoa học William James đã đưa tâm lý học Mỹ lên một
vị trí nổi bật qua việc xuất bản cuốn Nguyên tắc của tâm lý học (1890) Hai năm sau, William James cho tái bản cuốn sách này và sửa chữa cô đọng lại, lấy tên mới là Tâm
lý học (1892) Trong các tác phẩm của mình, William James đã phân tích về hành vi tự
ý William James cho rằng trong đa số trường hợp, các ý tưởng về hành động sẽ lập
tức và tự động (do thói quen hay phản xạ) trở thành hành vi Quy trình tự động này tiếp tục diễn ra trừ khi chủ thể có ý thức cố ý lựa chọn cách dừng nó lại (hành vi tự ý) Hay nói cách khác, chúng ta có thể lựa chọn các hành động của mình bằng cách chọn các ý tưởng của mình, và chính các ý tưởng được chúng ta lựa chọn là cái tạo ra sự khác biệt giữa người này với người khác Như thế, cái chúng ta nghĩ sẽ quyết định cái chúng ta làm, và cái chúng ta làm sẽ quyết định việc chúng ta cảm thấy thế nào
Trang 1111
William James là người có công đưa thuyết tiến hoá vào tâm lý học William James mở rộng phương pháp nghiên cứu của mình trong tâm lý học bằng cách không chỉ chấp nhận phương pháp nội quan mà còn khuyến khích bất cứ kỹ thuật nào có triển vọng mang lại thông tin hữu ích về con người Bằng cách nghiên cứu mọi khía cạnh hiện hữu của con người, gồm: hành vi (trong đó có hành vi phạm tội), nhận thức, cảm xúc, ý chí và cả kinh nghiệm tôn giáo Các ý tưởng của William James đã trực tiếp dẫn đến thuyết chức năng Nhiều người tin rằng tâm lý học Hoa Kỳ ngày nay là một sự trở
về với tâm lý học như William James đã mô tả
Hermann Ebbinghaus (1850 -1909) là người đầu tiên tiến hành nghiên cứu một
cách có hệ thống về việc học tập và trí nhớ bằng thực nghiệm Tác phẩm Trí nhớ: Một nghiên cứu về tâm lý học thực nghiệm (1855) của Hermann Ebbinghaus đã đánh dấu
một bước ngoặt trong tâm lý học Đây là lần đầu tiên các quy trình học tập và trí nhớ được nghiên cứu khi chúng đang xảy ra thay vì sau khi chúng đã xảy ra Hơn nữa
chúng được nghiên cứu bằng cách thực nghiệm Tác phẩm Các nguyên tắc của tâm lý học (1897) của Hermann Ebbinghaus được sử dụng rộng rãi là sách giáo khoa nhập
môn tâm lý học
Alfred Binet (1857 – 1911) là người dẫn đầu về phương pháp trắc nghiệm đo trí thông minh Đó là đo trực tiếp các hoạt động tinh thần phức tạp mà người ta nghĩ là có liên quan đến trí thông minh Năm 1891 Alfred Binet gia nhập phòng thí nghiệm tâm
lý học sinh lý tại Đại học Sorbonne, tại đây ông tiến nghiên cứu về các lĩnh vực như trí nhớ, bản chất sợ hãi của tuổi thơ, tính đáng tin cậy của chứng cớ tận mắt, tính sáng tạo, tư tưởng không hình ảnh và thuật xem chữ viết Năm 1904 Alfred Binet và Theodore Simon (1873 -1961) bắt đầu soạn ra các trắc nghiệm để phân biệt giữa các
em có trí óc bình thường và các em có trí óc chậm phát triển Sau nhiều lần thử và sai, Alfred Binet và Theodore Simon đạt đến một trắc nghiệm đầu tiên về đo trí thông minh trực tiếp thay vì bằng các phương pháp đánh giá gián tiếp dựa vào sự tinh nhậy của các giác quan Trong cuốn sách tiểu sử nổi tiếng của Wolf (1973), bà cho rằng Alfred Binet là ông tổ của tâm lý thực nghiệm tại Pháp và ông có nhiều ảnh hưởng đối với tâm lý học Hoa kỳ hơn là Wilhelm Wundt1
Cuối thế kỷ XIX, các quan niệm xã hội học và tâm lý học về bản chất của hành vi phạm tội được mở rộng Vấn đề nguyên nhân của tình trạng phạm tội bắt đầu được các nhà xã hội học và tâm lý học hàng đầu như Z Ketle, E Durkheim, G Tarde, M Veber, L Levi – Briul.… quan tâm Các tác giả này đã vận dụng phương pháp thống
1 Hergenhahn B.R, sđd, tr.400
Trang 1212
kê xã hội học để khắc phục quan điểm nhân chủng học trong việc giải thích bản chất của hành vi phạm tội và chỉ ra tính phụ thuộc của hành vi lệch chuẩn vào các điều kiện
xã hội đang tồn tại16
Vào cuối thế kỷ thứ XIX cùng với sự hình thành của hai ngành khoa học mới – tâm
lý học và tội phạm học thì ngành tâm lý học tội phạm cũng được hình thành
Năm 1989 Hans Gross (1847 – 1915) là người đặt nền móng cho ngành khoa học
tội phạm đã cho ra đời tác phẩm“Tâm lý học tội phạm” Trong tác phẩm “Tâm lý học tội phạm” Hans Gross đã sử dụng những tư liệu của lĩnh vực tâm lý học thực nghiệm
(các nghiên cứu của W Wundt, H Ebbinghaus, A Binet ) và chứng minh giá trị của chúng đối với tội phạm học17
Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX xuất hiện các thuyết tâm lý học khác nhau gắn liền với việc giải thích về nguyên nhân của tội phạm Chẳng hạn:
Thuyết phân tâm học do Sigmund Freud (1856 -1939) bác sĩ thần kinh và tâm thần người Áo đề xướng Ông đưa ra cấu trúc ba thành phần về nhân cách: cái nó hay bản năng (id), cái tôi hay bản ngã (ego), siêu tôi hay siêu bản ngã (superego) Cái nó (id) là động lực của nhân cách Nó chứa đựng mọi bản năng như đói, khát, tính dục Bản năng tính dục luôn là vô thức và được điều khiển bởi nguyên lý khoái lạc Khi một nhu cầu nổi lên, thì bản năng tính dục muốn thoả mãn ngay lập tức nhu cầu ấy Lực tập hợp gắn liền với các bản năng thì được gọi là libido (dục tính) và sự thôi thúc của libido cắt nghĩa cho đa số hành vi con người Cái tôi (ego) ý thức về các nhu cầu của cả bản năng lẫn của thế giới bên ngoài và công việc của nó là phối hợp hai thứ này Nói cách khác, công việc của cái tôi là làm cho các ước muốn của bản năng phù hợp với các thực tại tương ứng với môi trường vật lý Vì vậy, người ta cũng cho rằng cái tôi – con người thường ngày, con người có ý thức Cái tôi có nhiệm vụ kiểm soát được những vận động theo ý mình, bảo đảm sự tồn tại Cái tôi hoạt động theo nguyên tắc hiện thực Siêu tôi là sức mạnh đạo đức của nhân cách, bao gồm các khái niệm xã hội về cái đúng, cái sai, cái tốt, cái xấu Nó là hiện thân của của những ý tưởng và sự
cố gắng để đạt tới sự hoàn thiện thay vì sự thoả mãn thực tại mà là sự tiếp thu lĩnh hội của cá nhân về các giá trị và quy tắc xã hội Một khi siêu tôi đã phát triển, hành vi và
tư tưởng của con người được điều khiển bởi các giá trị của xã hội mà họ đã tiếp thu được trong quá trình xã hội hoá Dựa theo kinh nghiệm chữa bệnh tâm thần, Freud cho rằng bản chất của con người là sự thoả mãn tính dục Mọi hành vi của con người do
16 Васильев В Л., sđd, c.25
17Еникеев М И., Основы общей юридической психологии, Учебник для вузов, M., 1996, C.219
Trang 1313
bản năng tính dục chi phối, điều hành Bản tính của con người là xấu xa, là thù địch
Do đó, tội phạm có thể xảy ra bất kỳ ở đâu, vào bất kỳ thời điểm nào và bất kỳ ai Thuyết hành vi do John Watson (1878 – 1958) nhà tâm lý học Mỹ sáng lập Năm
1913 John Watson xuất bản bài thuyết trình “Tâm lý học dưới cái nhìn của một nhà
tâm lý học hành vi” trong Tạp chí Tâm lý học do chính ông làm chủ biên Trong bài
thuyết trình này John Watson đã phát biểu mục tiêu của tâm lý học là sự tiên đoán về kiểm soát hành vi và bài thuyết trình này được coi là bản thiết lập chính thức trường
phái hành vi John Watson đưa ra khái niệm riêng của mình về các thuật ngữ kích thích
và phản ứng Trong tác phẩm chính của John Watson (1919) đã triển khai đầy đủ tâm
lý học kích thích – phản ứng John Watson giải thích như sau: Mục tiêu của tâm lý học
là tìm cách xác nhận về các dữ kiện và luật mà khi có kích thích, tâm lý học có thể tiên đoán phản ứng sẽ là gì; hay ngược lại, khi có phản ứng, nó có thể xác định bản chất của kích thích là gì Theo John Watson, kích thích có thể là một tình huống tổng quát của môi trường hay một điều kiện bên trong nào đó của sinh vật Phản ứng là bất cứ cái gì mà sinh vật làm và nó bao gồm rất nhiều thứ John Watson cho rằng, bản chất con người và hành vi của họ do môi trường xã hội quyết định Hầu hết các hành vi của con người là do tập nhiễm Do đó, một người nào đó thực hiện tội phạm là do họ tiếp nhận những nhân tố kích thích từ môi trường xung quanh và chính những nhân tố này
đã thúc đẩy họ thực hiện tội phạm Thuyết này đã hoàn toàn phủ nhận vai trò của ý thức con người
Thuyết bắt chước do Gabriel Tarde (1843 -1904) nhà xã hội học người Pháp xây dựng Gabriel Tarde đã nghiên cứu cơ chế bắt chước trong tâm lý học Ông cho rằng
cơ sở của bất kỳ xã hội nào cũng chính là sự bắt chước Lý thuyết bắt chước của Gabriel Tarde được xây dựng ngắn gọn trên ba loại quy trình xã hội cơ bản: đối lập, lặp lại, đó là bắt chước và thích ứng Theo đó, các luật bắt chước, thích nghi và chống đối với con người bởi các quy luật xã hội cơ bản Trong xã hội, hành vi của mỗi con người thực chất là sự bắt chước hành vi của người khác Do đó, người phạm tội là người bình thường đã bắt chước hành vi phạm tội của người khác mà họ đã có cơ hội quan sát
Sự phát triển tâm lý học tội phạm ở nước Nga gắn liền với tên tuổi của nhà tâm lý học và tâm thần học nổi tiếng V.M.Bekhtrev và V.P.Sebxki V.M.Bekhtrev nghiên cứu những vấn đề tâm lý học cụ thể, ông đã tổng hợp tất cả các kết quả nghiên cứu của
mình trong tác phẩm “Sử dụng phương pháp tâm lý khách quan để nghiên cứu tình trạng tội phạm” (1912) Còn V.P.Sebxki thì đưa ra nhiều giả thuyết giáp danh giữa
Trang 1414
tâm thần học và tâm lý học tội phạm
Vào năm 1925 ở Matxcơva, Học viện Quốc gia nghiên cứu tình trạng tội phạm và người phạm tội lần đầu tiên trên thế giới được thành lập Tại Ban Tâm sinh lý của Học viện có nhiều nhà tâm lý nổi tiếng tham gia nghiên cứu Trong suốt thời gian tồn tại của học viện (đến năm 1929) đã có gần 300 công trình được công bố, trong số đó có cả
những công trình về tâm lý học tội phạm như: “Tâm lý học trong việc xác định dấu vết của tội phạm” (A.P.Luria, 1928); “Tâm lý học tội phạm” (K.X Sôtônnhi, Kazan, 1925); “Tâm lý học tội phạm Các loại tội phạm” (X.V Pôdnnưsev, Leningrat,
1926)18
Từ năm 1924 – 1930, tại Nga đã tiến hành một loạt các công trình nghiên cứu tâm
lý của các nhóm tội phạm khác nhau như: tội giết người, tội cướp tài sản, tội hiếp dâm….19
Vào những năm 30 – 40 thế kỷ XX xuất hiện trường phái kiểu cơ thể khi nghiên cứu về nguyên nhân của tội phạm Trường phái này đã đưa ra mối liên kết giữa kiểu cấu tạo cơ thể với việc thực hiện hành vi, trong đó có hành vi phạm tội Ernst Kretschemer (1888 -1964) nhà tâm lý học người Đức là người sáng lập ra trường phái này Ernst Kretschemer cho rằng trong xã hội có ba loại người khác nhau cơ bản:
Người suy nhược bao gồm gầy gò, thể chất yếu ớt, vai hẹp; người lực lưỡng bao gồm
từ trung bình đến cao, khoẻ mạnh, cơ bắp, xương nhỏ; người béo bao gồm cao trung
bình, hình dáng mũm mĩm, cổ to, mặt rộng Ernst Kretschemer đã liên kết ba kiểu người đó với những rối loạn tinh thần khác nhau Người béo với tâm trạng vui buồn thất thường, dễ chán nản; người suy nhược và người lực lưỡng với tinh thần phân lập Ernst Kretschemer cho rằng người lực lưỡng có khuynh hướng phạm tội nhiều hơn những người khác Sau này William Sheldon (1898 -1977) nhà tâm lý học người Mỹ tiếp tục kế thừa tư tưởng của Ernst Kretschemer và phát triển triển một cách có hệ thống các kiểu cơ thể William Sheldon đã cố gắng đưa ra mối liên hệ giữa các kiểu cấu tạo cơ thể với các kiểu tính cách khác nhau: Ectomorph (mỏng manh, yếu ớt, gầy gò) là người dễ bị kích thích thần kinh; endomorph (tròn, béo, mềm) là những người vui vẻ; mesomorph (lực lưỡng, cơ bắp) là những người rất dễ bị kích động, dễ dàng nổi nóng, dễ rơi vào trạng thái thần kinh căng thẳng khó kiểm soát William Sheldon cho rằng trong ba kiểu cấu tạo cơ thể này thì người có kiểu cấu tạo cơ thể cơ bắp, lực lưỡng có khuynh hướng phạm tội cao hơn những người khác
18 Еникеев М И., sđd, C.223
19 Еникеев М И., sđd, C.224
Trang 1515
Vào thập niên 40 của thế kỷ XX, thuyết hành vi được Burrhus Frederic Skinner (1904 – 1990) nhà tâm lý học người Mỹ tiếp tục phát triển Giống như John Watson, Burrhus Skinner là một nhà hành vi cực đoan theo nghĩa ông từ chối nhìn nhận vai trò nhân quả của các sự kiện tâm lý đối với hành vi của con người Theo Burrhus Skinner, cái gọi là các sự kiện tâm lý thực ra chỉ là các sự kiện sinh lý được chúng ta dán nhãn cho các cái nhãn ý thức Trong khi John Watson lấy mô hình tâm lý học của ông dựa theo nhà sinh lý học Nga Ivan Petrovitch Pavlov (1829 – 1905), Burrhus Skinner lại lấy mô hình tâm lý học của ông theo nhà tâm lý học người Mỹ Edwar Lee Thorndike (1874 – 1949) John Watson và Ivan Pavlov tìm cách liên kết hành vi với các kích thích của môi trường Nghĩa là họ quan tâm tới hành vi phản xạ Burrhus Skinner gọi hành vi ấy là loại hành vi phản ứng vì nó được khơi dậy bởi một kích thích đã biết Ngược lại, Edwar Thorndike nghiên cứu loại hành vi được kiểm soát bởi hậu quả của
nó và loại hành vi này được ông gọi là hành vi dụng cụ, nhưng Burrhus Skinner lại gọi
là hành vi tác động bởi vì nó tác động trên môi trường cách nào khiến tạo ra được
nhân quả Khác với hành vi phản ứng được khơi dậy bởi các kích thích, hành vi tác động chỉ đơn giản được phát ra bởi sinh vật Trong khi môi trường quan trọng đối với John Watson và các nhà sinh lý học Nga bởi nó khơi dậy hành vi, thì đối với Burrhus
Skinner nó quan trọng bởi nó chọn lọc hành vi Sự tăng cường các yếu tố phụ thuộc
mà môi trường cung cấp sẽ quyết định hành vi nào trở nên mạnh hơn và hành vi nào
không Thay đổi các yếu tố tăng cường, bạn sẽ thay đổi được hành vi Đây là nguyên
tắc chung mà Burrhus Skinner và trường phái của ông luôn áp dụng trong việc giải quyết các vấn đề thực hành Burrhus Skinner đã cho ra đời nhiều công trình nghiên
cứu nổi tiếng như: Hành vi của các sinh vật (1938); Lý thuyết về học tập có cần thiết không? (1950); Lập trình học tập (1954, 1958) Đặc biệt, với cuốn Về thuyết hành vi
(1974) đã làm Burrhus Skinner nổi tiếng hơn trong lĩnh vực tâm lý học và tâm lý học tội phạm Trong cuốn sách này Burrhus Skinner đã cố gắng sửa chữa 20 khái niệm sai lầm trong tâm lý học hành vi Burrhus Skinner nêu lên một số khái niệm sai lầm trong các tác phẩm của John Watson thời kỳ đầu, ví dụ, sự lệ thuộc của John Watson vào hành vi phản xạ và việc ông phủ nhận tầm quan trọng của các tính chất di truyền Trọng tâm thuyết hành vi của Burrhus Skinner là luôn cho rằng hành vi của con người được quyết định bởi môi trường, trong đó môi trường đã tác động đến con người tạo nên sự quan tâm của cá nhân, từ đó thúc đẩy họ thực hiện hành vi Từ đó, Burrhus Skinner cũng cho rằng một người nào đó thực hiện hành vi phạm tội là do học tiếp nhận nhân tố kích thích từ môi trường và chính điều này đã thúc đẩy học thực hiện hành vi phạm tội Điều này cho thấy thuyết hành vi của Burrhus Skinner do quá đề cao
Trang 1616
tác động của môi trường đến hành vi của con người mà xem nhẹ tính tự do ý chí của mỗi cá nhân nên không thể giải thích được một cách toàn diện về nguyên nhân của hành vi phạm tội
2.5 Từ giữa thế kỷ XX đến nay
Vào những năm 50 – 60 thế kỷ XX xuất hiện hàng loạt công trình nghiên cứu
mang tính nền tảng như: “Tâm lý học và tình trạng tội phạm” (R Luvar, Hamburg, 1956); “Tâm lý học pháp luật và tâm lý học tội phạm” (G Tokh, New York,
rằng mọi người học chủ yếu bằng quan sát, bắt chước và làm mẫu Học tập có thể xuất hiện đơn giản bằng cách quan sát hành động của người khác Từ năm 1961, Albert Bandura đã tiến hành nhiều thực nghiệm và đi đến kết luận hành vi bạo lực hình thành qua con đường học tập chứ không phải qua di truyền Thông qua thí nghiệm Búp bê Bobo, trẻ chứng kiến hành vi bạo lực của người lớn với Búp bê Bobo có xu hướng bắt chước hành vi này khi không có ai giám sát Ngược lại, trẻ không chứng kiến hành vi bạo lực tỏ ra bình tĩnh Theo Albert Bandura người lớn đấm đá Búp bê Bobo khiến trẻ
em tin rằng hành vi này được xã hội chấp nhận Thuyết bắt chước đã đưa ra nhiều vấn
đề cần thực hiện trong việc phòng ngừa tội phạm: bố mẹ, thầy cô giáo, người lớn cần kiểm soát chặt chẽ trẻ em; không nên có những hành vi xấu dễ làm cho trẻ bắt chước như hành vi bạo lực gia đình, hành vi bạo lực học đường; cần kiểm soát nghiêm ngặt phim bạo lực…
Hans Eysenck (1916 – 1997) là một trong những nhà tâm lý học người Đức có nhiều đóng góp trong việc xây dựng lý thuyết nổi tiếng nhất về nhân cách trong tâm lý học tội phạm Lý thuyết tội phạm của Eysenck về cơ bản lý giải nhân cách người phạm
tội như là kết quả của sự tương tác giữa ba khía cạnh tâm lý chính: “hướng nội - hướng ngoại”, “ổn định - không ổn định” và “tâm thần” Về cơ bản, người hướng nội
được mô tả là người có xu hướng ngại ngùng, nhút nhát, trầm tính, thu mình, ít muốn chia sẻ về bản thân, thích ở một mình và ngược lại, người hướng ngoại là người năng
20 Васильев В Л., sđd, C.33-34
Trang 1717
động, hòa đồng và dễ bộc phát21 Những người đạt điểm cao trong thang điểm đo không ổn định thường biểu hiện những đặc điểm như lo lắng, trầm cảm và tự ti Khía cạnh cuối cùng mà Eysenck đề cập đến là “tâm thần” - thuật ngữ mô tả những người
có nhân cách được đặc trưng bởi cảm xúc nghèo nàn, tìm kiếm cảm xúc và thiếu sự đồng cảm với người khác Nói cách khác là những người có xu hướng suy sụp tinh thần hoặc bị các vấn đề về tâm thần nói riêng và sức khỏe nói chung Đây là biến số cuối cùng được thêm vào lý thuyết vì ban đầu nó không phải là đặc trưng của tất cả những người phạm tội Những thử nghiệm sau này đã chỉ ra sự phổ biến của đặc điểm này trong rất nhiều nhóm người phạm tội22 Mối quan hệ giữa ba khía cạnh của nhân cách cho thấy bản chất nhân cách của người phạm tội Đặc biệt, sự tương tác giữa các biến số này được cho rằng sẽ hạn chế khả năng của một cá nhân hình thành một lối suy nghĩ và hành động không phạm tội Những người có chỉ số không ổn định và tâm thần cao cũng như có thiên hướng hướng ngoại dường như có khả năng phạm tội hơn Ngoài ra, những người hướng nội và có chỉ số ổn định cao và tâm thần thấp thường được coi như những người lý tưởng kiểm soát xã hội và ít có khả năng dính líu vào các hành vi phạm tội Thú vị hơn nữa, tâm thần được cho rằng là đặc điểm đặc biệt nổi bật ở những người phạm tội thể hiện thái độ thù địch rõ ràng với người khác23
Tháng 1 năm 1971, Samuel Yochelson và Stanton E Samenow đảm nhận vai trò chuyên gia tâm lý nghiên cứu lâm sàng trong Chương trình Điều tra hành vi phạm tội tại Bệnh viên St Elzabeths tại Washington D.C Samuel Yochelson đã khởi động chương trình này năm 1961, đây là chương trình điều trị nghiên cứu chuyên sâu về tội phạm dài nhất được thực hiện tại Bắc Mỹ Tháng 11 năm 1976 Samuel Yochelson qua đời, Stanton E Samenow trở thành người kế tục chương trình đột phá này và tiếp tục công việc đánh giá cũng như làm việc với người phạm tội, từ những người trộm cắp vặt cho đến những người đam mê giết người trong suốt 40 năm Trong giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1978, hai tác giả đã dành hàng nghìn giờ đồng hồ để phỏng vấn những người phạm tội và những người khác hiểu rõ về tội phạm Samuel Yochelson và Stanton E Samenow đã nhận ra rằng, những người phạm tội này không phải do môi trường của họ không may nhào nặn nên và điều này trái ngược với những gì hai tác giả tin tưởng ban đầu (nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội là bao gồm nghèo đói, sự yếu kém trong việc nuôi dạy con cái, áp lực từ bạn bè, bạo lực trên các phương tiện
21 Eysenck, H.J and Eysenck, S.B.G., The Eysenck Personality Questionnaire, London: Hodder and Stoughton,
1975
22 Eysenck, H and Eysenck, M Personality and Individual Differences: A Natural Science Approach, New
York: Plenum, 1985
23 Marsh, I Melville,G Morgan, K Norris, G Cochrane, J., Psychological explanations for Criminal Behavior
Crime and Criminal Justice New York, NY: Routledge, 2011, 75.
Trang 1818
truyền thông và nhiều loại bệnh khác nhau về tinh thần) Không có nguyên nhân phạm tội nào được chấp nhận rộng rãi có thể lý giải phù hợp khi xem xét kỹ lưỡng Chính điều này đã giúp Samuel Yochelson và Stanton E Samenow thoát khỏi vấn đề tìm kiếm “nguyên nhân” của hành vi phạm tội chỉ có thể hướng đến môi trường mà cần nâng cao hiểu biết của mình về cách thức tư duy của người phạm tội trong mọi khía cạnh của cuộc sống cũng như phát triển một quy trình nhằm giúp một số người phạm tội thay đổi Samuel Yochelson và Stanton E Samenow cho rằng, hành vi là sản phẩm của tư duy, và do đó, bất cứ ai hoạch định chính sách hoặc làm việc với người phạm tội đều có trách nhiệm phải hiểu được cách thức tư duy của người phạm tội Năm
1984, Stanton E Samenow cho ra mắt cuốn sách “Tâm lý học tội phạm”, mục đích
chính của cuốn sách này là nhằm giúp cho mọi người hiểu được tư duy của người phạm tội24
Nhà tội phạm học người Anh Adrian Raine hiện là giáo sư Trường Đại học bang Pennsylvania, Mỹ đã dành suốt 3 thập kỷ qua để nghiên cứu về tâm sinh lý bên trong như cấu trúc gen, điều tiết hooc môn, đường truyền phát thần kinh, nhịp tim hay hoạt động của bộ não Mới gần đây, tròn 20 năm sau khi cho ra mắt cuốn sách đầu tay
“Tâm lý học tội phạm” (1993) và cuốn sách thứ hai mang tên “Phân tích nguồn cơn bạo lực” (2013) Ông cho biết: “Có tới 50% những hành vi phạm tội chống đối xã hội
được ngầm định do bộ gen Yếu tố sinh lý của một con người ngay từ đầu đã có ảnh hưởng rất lớn tới hành động chống đối xã hội Chẳng hạn, như mối liên hệ giữa nhịp tim chậm với việc phạm tội Khoa học đã chứng minh, thường những người có nhịp tim chậm thì ít sợ hãi hơn, giữ bình tĩnh giỏi hơn và vì thế những người có “gan phạm tội” thường có nhịp tim chậm hơn người bình thường25
Ngày nay, môn tâm lý học tội phạm đã được đưa vào giảng dạy rộng rãi trong các trường đại học Luật trên thế giới cũng như ở Việt Nam
3 Phương pháp nghiên cứu của tâm lý học tội phạm
Là một chuyên ngành của tâm lý học, tâm lý học tội phạm cũng tuân theo những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản như: 1) nghiên cứu phải khách quan; 2) nghiên cứu bất kỳ hiện tượng nào trong sự phát triển; 3) nghiên cứu trong các mối liên hệ và
24 Stanton E Samenow, (Huy Nguyễn dịch),Tâm lý học tội phạm, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, 2021
25 https://www.google.com.vn/url?sa=t&rct=j&q=&esrc=s&source=web&cd=&cad=rja&uact=8&ved=2ahUKEwi V4MTo8oXxAhWYd94KHTN6BsEQFjACegQIBhAD&url=https%3A%2F%2Fdantri.com.vn%2Fvan-hoa%2Fcuon- sach-phan-tich-kha-nang-pham-toi-cua-con-nguoi-qua-guong-ma t-
1371027538.htm&usg=AOvVaw0_1GinORWe1ghksNekieof , truy cập ngày 01 tháng 3 năm 2021.
Trang 19Nghiên cứu về nhân cách người phạm tội và tâm lý của nhóm người phạm tội nói chung không nên nghiên cứu một cách ngẫu nhiên, mà cần nghiên cứu một cách có hệ thống, có kế hoạch, được thực hiện theo một chương trình dựa trên cơ sở khoa học
Để có được các số liệu khách quan về nhân cách người phạm tội, tâm lý của nhóm người phạm tội trong phạm vi tình trạng phạm tội cụ thể đòi hỏi cần phải lựa chọn các phương pháp nghiên cứu phù hợp
Tất cả các phương pháp được sử dụng trong tâm lý học tội phạm có thể được chia thành: 1) các phương pháp thu thập thông tin và 2) các phương pháp phân tích số liệu26
Các phương pháp thu thập thông tin bao gồm: phương pháp phân tích thống kê tội phạm; phương pháp quan sát; phương pháp điều tra bằng bảng câu hỏi; phương pháp trò chuyện; phương pháp thực nghiệm, v.v
Các phương pháp để phân tích số liệu bao gồm: phương pháp phân tích định lượng
và định tính; phương pháp mô tả; phương pháp nghiên cứu tiểu sử; phương pháp nghiên cứu sản phẩm; phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình
Các phương pháp thu thập và phân tích thông tin có liên quan chặt chẽ và tác động qua lại với nhau thường hỗ trợ lẫn nhau
3.1 Phương pháp phân tích thống kê tội phạm
Để có một một bức tranh chung về tình trạng phạm tội hiện tại, các nhà tâm lý học nghiên cứu toàn bộ thống kê tội phạm một cách tổng quát, trong đó cần làm rõ các thông số sau: động thái của tình trạng phạm tội theo thời gian, không gian và khách thể
bị hành vi phạm tội xâm hại; cấu trúc và tính chất của tội phạm đã thực hiện; mức độ
tổ chức; tính chuyên nghiệp hoá của các biểu hiện tội phạm; đặc điểm nhân khẩu – xã
26 Пирожков В Ф., Криминальная психология, М 2009, C.24
Trang 203.2 Phương pháp quan sát
Là tri giác một cách có tổ chức, có chủ định, có mục đích của một nhà nghiên cứu
về các biểu hiện bên ngoài khác nhau của tâm lý trực tiếp trong cuộc sống, trong quá trình điều tra, xét xử và trong các lĩnh vực thực thi pháp luật khác
Đối tượng của quan sát trong tâm lý học không phải là những trải nghiệm chủ quan ngay lập tức, mà là những biểu hiện bên ngoài của tâm lý (hành động, cử chỉ, lời nói,
vẻ mặt, hành vi, dáng điệu…) diễn ra trong điều kiện sinh hoạt tự nhiên của con người
Từ đó, có thể xác định được những hiện tượng tâm lý bên trong
Để có được kết quả khách quan, cần phải tuân thủ một số điều kiện sau đây:
Các hiện tượng cần nghiên cứu phải được quan sát trong các điều kiện thông thường mà không nên tiến hành bất kỳ thay đổi nào trong quá trình tự nhiên của chúng Chính thực tế quan sát không nên phá vỡ hiện tượng đang nghiên cứu
Việc quan sát được tiến hành trong các điều kiện đặc trưng nhất của hiện tượng đang nghiên cứu
Việc thu thập tài liệu bằng quan sát được thực hiện theo kế hoạch sơ bộ phù hợp với mục tiêu nghiên cứu
Việc quan sát được thực hiện không chỉ một lần, mà là quan sát một cách có hệ thống đối với cùng một người và đối với cùng một hiện tượng ở nhiều người và trong các tình huống khác nhau, đặc trưng nhất của hiện tượng này
Để ghi lại kết quả quan sát, có thể sử dụng các phương tiện kỹ thuật: ghi lại lời nói của người được quan sát trên máy ghi âm, áp dụng chụp ảnh và quay phim Theo các điều kiện của hoạt động điều tra và tố tụng của tòa án, các phương tiện kỹ thuật chỉ có thể được áp dụng trong khuôn khổ của luật tố tụng
Quan sát có thể tiến hành một cách trực tiếp hoặc gián tiếp
Với quan sát trực tiếp, nghiên cứu được thực hiện bởi người rút ra kết luận từ kết quả quan sát này Việc quan sát như vậy được thực hiện bởi điều tra viên và thẩm phán
Trang 213.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp điều tra bằng bảng câu hỏi là đưa ra một bảng các câu hỏi về thái độ, sở thích, hành vi của đối tượng nghiên cứu trong quá khứ, hiện tại, tương lai để khảo sát ý kiến của họ Sau đó tổng hợp, phân tích những câu trả lời đó nhờ sự trợ giúp của phần mềm xử lý số liệu để có thể đưa ra những kết luận khoa học
Điều tra bằng bảng hỏi có thể áp dụng cho cá nhân, cho nhóm thông qua phát bảng hỏi trực tiếp hoặc hỏi qua điện thoại hay qua Internet
Việc thiết kế bảng hỏi và chọn mẫu là hai khâu có vai trò quan trọng đối với sự thành công của phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Những phương án đầu tiên của bảng câu hỏi cần thiết điều tra thử trên các nhóm người trả lời riêng biệt để làm sáng tỏ: những câu hỏi nào cung cấp số lượng thông tin nhiều nhất; những câu hỏi nào yêu cầu thay đổi từ ngữ hoặc nên bỏ vì cung cấp thông tin không đầy đủ; những câu hỏi nào nên được nhóm lại để tạo điều kiện cho việc xử lý dữ liệu nhận được tiếp theo; những câu hỏi kiểm tra nào đưa vào nhằm làm sáng tỏ sự không chân thành của câu trả lời của người trả lời, v.v Dựa trên dữ liệu thu được, các phương án cuối cùng của bảng câu hỏi được hoàn thiện
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi cho phép khảo sát một số lượng lớn khách thể
và được tiến hành nghiên cứu trong thời hạn ngắn nhất Tuy nhiên, cần phải xem xét một cách cẩn thận các kết quả của phương pháp điều tra bằng bảng hỏi câu hỏi, vì ở một mức độ nào đó chúng mang tính chất chủ quan Đồng thời, người trả lời (đặc biệt
là người phạm tội) phải được thuyết phục rằng, kết quả của việc trả lời bảng hỏi sẽ không được sử dụng để gây bất lợi cho họ và sẽ được giữ bí mật
3.4 Phương pháp trò chuyện
Phương pháp trò chuyện có thể coi là một dạng phỏng vấn, trong đó nội dung câu trả lời của người được hỏi sẽ là cơ sở để người phỏng vấn đặt câu hỏi tiếp theo Mục đích của phương pháp này nhằm tìm hiểu về tâm trạng, tính cách, thế giới nội tâm,
Trang 2222
niềm tin, nhu cầu, sở thích, thái độ của họ đối với các hiện tượng khác nhau của đời sống xã hội
Bản chất của phương pháp này là một cuộc trò chuyện ngẫu nhiên với mọi người
về các vấn đề mà nhà nghiên cứu quan tâm (cuộc trò chuyện không nên biến thành một cuộc khảo sát)
Trò chuyện được diễn ra trong bầu không khí thoải mái, thân mật, chân thành, tin cậy, không gò bó, giữ kẽ và giả tạo
Phương pháp trò chuyện không thể tiến hành theo bảng các câu hỏi đã được chuẩn hoá Các câu hỏi đầu tiên là như nhau đối với mọi đối tượng, nhưng câu trả lời của đối tượng nghiên cứu sẽ quy định câu hỏi tiếp theo của nhà nghiên cứu
Hiệu quả của cuộc trò chuyện phụ thuộc: vào khả năng thiết lập tiếp xúc với người đối thoại; kế hoạch trò chuyện đã cân nhắc một cách kỹ lưỡng; kỹ năng của người nghiên cứu không chỉ đặt những câu hỏi trực tiếp mà cả những câu hỏi gián tiếp
Thực nghiệm tự nhiên là dạng thực nghiệm được tiến hành trong những điều kiện
hoạt động bình thường của cuộc sống, lao động, học tập của đối tượng nghiên cứu để thực hiện chương trình thực nghiệm đã định Ưu điểm của dạng thực nghiệm này là tránh được tính giả tạo có ảnh hưởng đến diễn biến tâm lý của đối tượng
Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu khoa
học, cũng như trong việc tiến hành giám định pháp y Nhược điểm của phương pháp này là khó sử dụng thiết bị thí nghiệm trong điều kiện hoạt động thực tế của các cơ quan thực thi pháp luật, cũng như sự khác biệt của sự diễn ra các quá trình tâm lý trong điều kiện phòng thí nghiệm và trong điều kiện bình thường Những nhược điểm này được khắc phục bằng cách sử dụng phương pháp thực nghiệm tự nhiên
3.6 Phương pháp trắc nghiệm
Trang 2323
Test là một hệ thống biện pháp thường được các nhà nghiên cứu đã chuẩn hoá về
kỹ thuật, quy định về nội dung và cách làm, sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về mức độ phát triển trí tuệ và đánh giá nhân cách Trong tâm lý học hiện đại, các test kiểm tra đánh giá, test phóng chiếu và bảng câu hỏi về nhận thức, năng lực, nhân cách
là phổ biến nhất như: test trí tuệ của Raven; test nhân cách của H Eysenk
Trắc nghiệm phải đảm bảo độ tin cậy cao, có tính hiệu lực và được chuẩn hoá mới
có thể đưa vào sử dụng
3.7 Phương pháp phân tích sản phẩm của hoạt động
Sản phẩm của hoạt động con người là tài liệu khách quan có giá trị cho phép phát hiện ra các đặc điểm của tâm lý con người
Phân tích các sản phẩm của hoạt động cho phép chúng ta xác định kỹ năng, kỹ xảo, phương thức và cách thức làm việc, nét nhân cách được thể hiện đối với lao động, v.v Nghiên cứu hậu quả của hoạt động phạm tội và phương thức thực hiện hành vi phạm tội là một phương pháp đặc trưng của tâm lý học tội phạm
Các nhà tội phạm học cho rằng, những người tái phạm, phạm tội có tính chất
“chuyên nghiệp” trong một loại tội phạm cụ thể nào đó thường thực hiện hành vi phạm tội theo cùng một phương thức Lặp đi lặp lại, một phương thức phạm tội được gọi là
dụ, làm các con tem giả, con dấu giả, tiền giả thì không phải người nào cũng làm được; mở két là một việc rất khó khăn đòi hỏi những người phải có kiến thức và khả năng rất đặc biệt
Việc phân tích phương thức thực hiện hành vi phạm tội có thể chỉ ra trạng thái cảm xúc của người phạm tội Việc gây ra một tỷ lệ tổn thương cơ thể ở mức độ nghiêm trọng cho nạn nhân trong vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
Trang 2424
của người khác đôi khi có thể chỉ ra rằng người phạm tội đang ở trong tình trạng bị xúc động mạnh hoặc trong tình trạng bị kích động mạnh
3.8 Phương pháp nghiên cứu tiểu sử
Phương pháp nghiên cứu tiểu sử có ý nghĩa nhất định đối với việc xác định các đặc điểm tâm lý nhân cách Bản chất của phương pháp này biểu hiện ở sự thu thập và phân tích các tài liệu có tính chất tiểu sử làm sáng tỏ các đặc điểm của một người và sự phát triển của họ Bao gồm: việc thiết lập các dữ liệu tiểu sử cụ thể, phân tích nhật ký, thư
từ, hồi ký hoặc thu thập và đối chiếu những tư liệu do người khác viết về đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tiểu sử thu hút sự chú ý của nhiều luật sư, nhà tâm lý học
và nhà tội phạm học tham gia nghiên cứu về tình trạng tội phạm Để nghiên cứu nhân cách của người phạm tội một cách đầy đủ và hệ thống thường dùng các bảng câu hỏi tiểu sử Ví dụ: bảng hỏi tiểu sử bao gồm: nơi dự định thu được thông tin về gia đình, di truyền, điều kiện sống và giáo dục, thói quen (ma tuý, rượu, hút thuốc) của đối tượng đang nghiên cứu; các hoạt động, vui chơi giải trí của họ (cờ bạc,…); cách ứng xử của
họ trong gia đình, tại nơi làm việc, quan hệ với họ hàng và những người quen biết; thái
độ đối với điều tra viên, đối với hành vi phạm tội của họ
3.9 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình về người phạm tội
Khi nghiên cứu trường hợp điển hình về người phạm tội, cần phải xác định các đặc điểm sau đây:
Các đặc điểm nhân khẩu học: năm sinh và nơi sinh, quốc tịch, trình độ, chuyên môn, nơi làm việc và tính chất công việc, chức vụ, tình trạng hôn nhân, nơi cư trú, tình hình tài chính của gia đình, điều kiện nhà ở, quan hệ trong gia đình, các khuynh hướng tiêu cực của các thành viên gia đình (nghiện rượu, nghiện ma tuý, thực hiện hành vi trái pháp luật, dâm ô, )
Các đặc điểm pháp lý hình sự: phạm tội gì, thời điểm phạm tội, bị toà án áp dụng loại hình phạt nào, nơi chấp hành hình phạt; có tiền án, tiền sự chưa; tái phạm hay tái phạm nguy hiểm
Các đặc điểm y học: tình trạng sức khỏe về thể chất và tinh thần của đối tượng nghiên cứu; sức khỏe về thể chất và tinh thần của các thành viên trong gia đình (bao gồm cả cha mẹ)
Trang 2525
Các đặc điểm bên ngoài: khuôn mặt (các đặc điểm cấu tạo của khuôn mặt); chiều cao (thấp, trung bình, cao, cao lớn bất thường); trọng lượng và thân hình (rất gầy, gầy, cân đối, to béo); giọng nói (to, vừa phải, nhỏ, rõ – không rõ, các đặc trưng – nói ngọng, giọng mũi, nói lắp, ); cách xử sự (tạo ấn tượng dễ chịu - ấn tượng khó chịu); trang phục (gọn gàng - không gọn gàng, chú ý đến vẻ ngoài của mình, lố lăng); hình xăm (trên bàn tay, trên ngón tay, các bộ phận khác của cơ thể, nội dung của hình vẽ) Thân thế: cha mẹ (năm sinh và nơi sinh, quốc tịch, nơi cư trú, địa vị xã hội, trình
độ đào tạo, nghề nghiệp, sở thích của họ, ); thời thơ ấu (cuộc sống gia đình, tuổi thơ trải qua như thế nào, anh chị em, mối quan hệ với họ, những sự kiện sâu sắc nhất của thời thơ ấu, có đi học mẫu giáo hay không?, mối quan hệ với bạn bè cùng trang lứa, ); trường phổ thông (những môn học yêu thích, mối quan hệ với bạn bè cùng trang lứa và với giáo viên, có hay không một giáo viên yêu mến, vi phạm kỷ luật trường học, thành tích học tập, những bạn học, vị thế trong số bạn bè cùng trang lứa, có tên “lóng” hay không?); trường đại học, cao đẳng (lý do nhập học, thành tích học tập, các kiến thức,
kỹ năng, khả năng); công việc và phục vụ trong quân đội (tính chất công việc và phục
vụ, thái độ làm việc và phục vụ, vị thế trong số các đồng nghiệp, sự hài lòng, tác động của công việc đối với cá nhân); cuộc sống gia đình (sự ra đời của những đứa trẻ, hiện nay đang sống với ai?)
Lối sống: gia đình (mối quan hệ giữa vợ chồng, thái độ đối với con cái, đối với cha
mẹ, ); nghề nghiệp và chuyên môn (động cơ lựa chọn nghề nghiệp và công việc, mức
độ hài lòng công việc, cơ hội thăng tiến trong công việc, địa vị xã hội tại nơi làm việc,
có một công việc ổn định, ít khi hay thường xuyên thay đổi chỗ làm việc); nội trợ, lối sống nhàn rỗi; hoạt động chính trị và hoạt động xã hội (chủ động - thụ động, ); tiến hành thời gian rỗi rãi (thể thao, phim ảnh, truyền hình, nhà hát, đánh bạc, uống rượu với bạn bè, thích dành thời gian rảnh rỗi tại gia đình, v.v.); điều kiện sống vật chất (có căn hộ, nhà vườn, xe hơi, quỹ gia đình hay không, có thu nhập khác, )
Tư cách: tư cách đạo đức và ý thức pháp luật (tuân thủ các chuẩn mực, xu hướng
vi phạm, thái độ đối với phụ nữ, tính công bằng trong các mối quan hệ còn đang tranh chấp, không khoan dung đối với người vi phạm các quy tắc đạo đức , ); cách xử sự trong tình huống căng thẳng (bình tĩnh, lo lắng, lúng túng); cách xử sự trong tình trạng
bị kích động (dễ nổi nóng, có tính chất thù địch, vững vàng, trầm uất, tự buộc tội ); cách xử sự trong tình trạng say rượu (bình tĩnh, hung hăng, hiếu chiến, mất kiểm soát, ); hành vi ý chí (quyết đoán, tự chủ, dũng cảm, thụ động, thiếu chủ động, nhút nhát, )
Trang 2626
Xu hướng: các nhu cầu chủ đạo (sinh lý, nhu cầu an toàn, tình cảm xã hội, nhu cầu được tôn trọng, được thể hiện bản thân); định hướng giá trị (tập trung vào việc chỉ đáp ứng một nhu cầu riêng của cá nhân hoặc của các thành viên trong gia đình, từ chối việc giúp đỡ người khác, định hướng về các quy tắc ứng xử được xã hội chấp nhận, tôn trọng luật pháp); giá trị vật chất (tiền, vật, tài sản); thế giới quan (thái độ, quan điểm, niềm tin, lý tưởng, nguyên tắc sống, ); hứng thú (sở thích và ham mê, bề rộng, sở thích hẹp, mức độ bền vững của các sở thích)
Năng lực: năng lực chung (trình độ học vấn, sự uyên bác, chất lượng trí tuệ - khả năng phân tích, tổng hợp, tính linh hoạt, tháo vát, chậm chạp, độ nhanh, v.v., đặc tính trí nhớ - tính chính xác, dễ dàng, ghi nhớ bền vững, đặc tính tưởng tượng – năng khiếu
về tưởng tượng, hiện thực, trí tưởng tượng nghèo nàn, ); năng lực riêng (tổ chức, âm nhạc, nghệ thuật, kỹ thuật, giao tiếp - khả năng làm quen, gần gũi hơn, ảnh hưởng đến mọi người, )
Khí chất: tính cởi mở (cởi mở, không cởi mở, ít cởi mở, khép kín); năng khiếu lãnh đạo (thiếu năng khiếu); sức làm việc (có thể làm việc trong một thời gian dài, không bị mệt mỏi, tính ổn định trở ngại, đòi hỏi phải nghỉ ngơi trong công việc, nhanh chóng mệt mỏi); cảm xúc (sức mạnh và chiều sâu của phản ứng cảm xúc, xu hướng hình thành trạng thái cảm xúc "trì trệ", xu hướng bùng nổ xúc cảm mạnh, vững vàng, tâm trạng bình tĩnh, tâm trạng phổ biến nhất - lạc quan, buồn rầu, ủ sầu, giận dữ, , khả năng kiểm soát, kiềm chế sự biểu lộ cảm xúc, )
Tính cách: thái độ đối với mọi người (tôn trọng, thiện chí, thô lỗ, thô bỉ, đồng cảm, độc ác, trung thực, gian dối, thù địch, hách dịch, lệ thuộc, độc lập, có khuynh hướng tuân thủ, xung đột, yêu chuộng hòa bình, ); thái độ đối với bản thân (tự đánh giá bản thân - cho mình hơn người khác, kém người khác, như mọi người khác); mức độ yêu cầu ở bản thân (cao, thấp, trung bình); lòng tự trọng (ích kỷ, khiêm tốn, hiếu thắng, dễ
tự ái, ); thái độ làm việc (chăm chỉ, kỷ luật, có lương tâm, lười biếng, vô trách nhiệm, ); thái độ đối với tài sản (tiết kiệm, lãng phí, hà tiện, khuynh hướng tích trữ, tham lam, cẩn thận, cẩu thả, )
4 Tâm lý học tội phạm với các ngành khoa học có liên quan
Tâm lý học tội phạm có mối quan hệ mật thiết với các ngành khoa học khác như khoa học luật hình sự, khoa học điều tra hình sự và tội phạm học Mối quan hệ giữa tâm lý học tội phạm và các ngành khoa học trên được biểu hiện như sau:
4.1 Tâm lý học tội phạm và khoa học luật hình sự
Trang 2727
Khoa học luật hình sự nghiên cứu tội phạm và hình phạt, bao gồm các vấn đề cơ bản như đặc điểm chung của các hành vi bị coi là tội phạm, các dấu hiệu của từng tội phạm cụ thể, hệ thống hình phạt và hình phạt quy định cho từng tội phạm cụ thể cũng như kỹ thuật quy định tội phạm và hình phạt trong luật hình sự27
Dựa trên các quy định của luật hình sự về các dấu hiệu của cấu thành tội phạm của từng tội phạm cụ thể, cũng như các đặc điểm chung của những hành vi bị coi là tội phạm, từ đó tâm lý học tội phạm có thể nghiên cứu nhân cách người phạm tội, cơ chế tâm lý của hành vi phạm tội và tâm lý nhóm người phạm tội
Ngược lại, các kết quả nghiên cứu của tâm lý học tội phạm giúp cho những người
áp dụng pháp luật xác định một cách chính xác động cơ, mục đích phạm tội; lỗi của người phạm tội; phương pháp, thủ đoạn thực hiện tội phạm; nhân thân của người phạm tội…
4.2 Tâm lý học tội phạm và khoa học điều tra hình sự
Khoa học điều tra hình sự là khoa học về các quy luật phản ánh cấu trúc của vụ phạm tội; các quy luật hình thành thông tin về vụ phạm tội và thủ phạm; các quy luật thu thập, nghiên cứu đánh giá, sử dụng chứng cứ và các phương tiện, biện pháp, phương pháp điều tra, phòng ngừa tội phạm được xây dựng dựa trên có sở nhận thức các quy luật đó28
Những tri thức của khoa học điều tra hình sự giúp tâm lý học tội phạm trong việc xác định các phương hướng tiến hành nghiên cứu các vấn đề tâm lý của người phạm tội phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm một cách có hiệu quả
Ngược lại, những tri thức của tâm lý học tội phạm giúp cho điều tra viên có thể hiểu được đặc điểm tâm lý của người phạm tội, trên cơ sở đó có thể đưa ra các biện pháp chiến thuật, phương pháp điều tra và phòng ngừa tội phạm một cách có hiệu quả
4.3 Tâm lý học tội phạm và tội phạm học
Tội phạm học là khoa học liên ngành thực nghiệm nghiên cứu về tội phạm (hiện thực), nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm29
27 Nguyễn Ngọc Hoà, Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2008, tr.8
28 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình khoa học điều tra hình sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 2017, tr
7
29 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình tội phạm học, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 2016, tr.17
Trang 2828
Các kết quả nghiên cứu của tội phạm học sẽ cung cấp những thông có tính khái quát như tình hình tội phạm, nguyên và điều kiện phạm tội…để các nhà nghiên cứu tâm lý học tội phạm có thể sử dụng trong việc thống kê tội phạm một cách tổng quát
Để nghiên cứu nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm, bắt buộc tội phạm học phải dựa vào các tri thức khoa học và các phương pháp nghiên cứu của các ngành khoa học trong đó có tâm lý học tội
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP DÀNH CHO ÔN TẬP
1.Trình bày đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu của tâm lý học tội phạm
2 Trình bày sơ lược lịch sử phát triển của tâm lý học tội phạm
3 Trình bày các phương pháp nghiên cứu trong tâm lý học tội phạm và khả năng phối hợp chúng trong nghiên cứu
4 Trình bày cách thiết kế nghiên cứu cơ bản về nhân cách người phạm tội
5 Trình bày mối quan hệ giữa tâm lý học tội phạm với các ngành khoa học có liên quan
6 Tháng 10/2013, Nguyễn Hải Dương (24 tuổi, quê An Giang, tạm trú tại huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh) làm nghề thợ mộc quen biết với Lê Thị Ánh Linh (nạn nhân trong vụ án) qua mạng xã hội khi Linh còn học đang học tại thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương, sau đó có quan hệ tình cảm Linh đã dẫn Dương về ra mắt bố
mẹ và được đồng ý, nên từ đó cứ cuối tuần Dương lại về Bình Phước chơi, ăn, ngủ tại nhà Linh Ông Mỹ còn giao ôtô cho Dương lái để đưa, đón Linh Gia đình ông Mỹ đi
du lịch còn mời Dương đi cùng Tuy nhiên, về sau, bà Nga đổi ý không cho Linh yêu Dương, không cho tiến tới hôn nhân vì gia đình Dương không tương xứng với điều kiện kinh tế gia đình bà Nga Đến tháng 02/2015, Dương phát hiện Linh nhắn tin qua lại với một thanh niên khác Gặn hỏi thì được biết lúc đó mẹ Linh muốn Linh quen người khác nên Dương và Linh đồng ý chia tay Tháng 3/2015, Linh chấm dứt quan hệ tình cảm với Dương Không lâu sâu, Dương cũng có bạn gái mới nhưng cảm thấy không thể sống thiếu Linh được Dương vẫn mang lòng thù hận vì cho rằng đã bị mẹ Linh ngăn cản và nảy sinh ý định giết cả gia đình Linh, sau đó sẽ tự tử Sự thù hận của Dương thể hiện trước khi hạ sát người yêu cũ (Linh là người cuối cùng trong vụ án bị Dương và Tiến giết), Dương còn nói nhỏ vào tai Linh rằng: “Tất cả những gì xảy ra hôm nay là do anh bị đối xử”
Trang 2929
Để thực hiện âm mưu của mình, Dương đã đi mua súng bắn bi sắt, súng bắn điện, một con dao bấm, găng tay cao su, dây rút, băng keo, bình xịt hơi cay, sim điện thoại rác một con dao bấm, găng tay cao su, dây rút, băng keo, bình xịt hơi cay, sim điện thoại rác Kế hoạch của Dương là dựa vào việc quen biết trước đó với gia đình nạn nhân, biết Dư Minh Vỹ ham chơi điện tử nên sẽ dụ dỗ cho tiền Vỹ để Vỹ mở cổng để đột nhập Trước khi gây án, trong đêm 03/7/2015 Dương đã tới kêu Vỹ mở cổng và cho Vỹ 350.000 đồng để “do thám” Thấy Vỹ ra mở cổng mà không bị ai phát hiện, Dương càng yên tâm với kế hoạch của mình để thuyết phục Trần Đình Thoại tham gia cùng, Dương “bịa” ra lý do góp tiền mua gỗ cao su với nhà ông Lê Văn Mỹ khoảng 700-800 triệu đồng nhưng ông Mỹ bán gỗ xong không trả nên phải cướp lại Dương nói cướp được bao nhiêu sẽ lấy đủ số tiền đó, còn lại bao nhiêu là của Thoại Dương
có kể với Thoại cách đột nhập vào nhà bằng cách gọi Vỹ ra mở cổng, sau đó sẽ “xử” (giết) Vỹ Thoại đồng ý nên 2g sáng 5-7, Dương và Thoại chở nhau từ thành phố Hồ chí Minh mang theo hung khí tới Bình Phước để ra tay Khi tới nơi, Dương nhắn tin và gọi cho Vỹ nhiều cuộc mà Vỹ không trả lời nên cả hai đành về lại nhà trọ tại xã Nhị Bình, huyện Hóc Môn với lời hẹn hôm sau sẽ tiếp tục đi cướp, giết Nhưng hôm sau, Thoại đổi ý và lấy cớ về quê thăm bà bị bệnh nên không đi cùng Dương dù Dương nài
nỉ Trước khi về quê, Thoại đưa Dương con dao Thái Lan mua trước đó Khi Thoại không tiếp tục tham gia, Dương đã gặp Vũ Văn Tiến và rủ Tiến đi hỗ trợ cho mình với cùng lý do phải cướp vì bị gia đình ông Mỹ quỵt tiền Sau khi lưỡng lự, Tiến cũng đồng ý và vào đêm 07/7/2015 hai đối tượng này đã đột nhập vào nhà các nạn nhân và lần lượt giết hại từng người một
Sau khi sát hại các nạn nhân, Dương, Tiến lấy 5 chiếc điện thoại di động, 1 chiếc iPad, 1chiếc laptop và hơn 4.000.000 đồng tiền mặt, rồi tẩu thoát Khi vừa ra đến cửa thì nghe tiếng bé Na khóc trong phòng (nơi ông Mỹ bị giết), Dương liền quay lại và dỗ cho bé Na ngủ rồi mới lấy xe máy cùng Tiến tẩu thoát về huyện Hóc Môn
Về việc sau khi gây án, tại sao Dương còn quay lại đám tang của các nạn nhân? Kết luận xác định sau khi vụ việc bị phát hiện, người giúp việc cho gia đình Linh có nhắn tin cho Dương biết gia đình Linh đã bị giết chết Dương dò hỏi người giúp việc
có biết nguyên nhân các nạn nhân bị giết không thì người giúp việc nói không nên Dương đã lên đám tang Khi bị cơ quan công an mời làm việc Dương không thừa nhận hành vi phạm tội Sau khi được cho về thì Dương ghé một tiệm thuốc mua được 10 viên thuốc ngủ, với ý định sau đám tang của Linh sẽ mua thêm thuốc ngủ để tự tử, nhưng chỉ vài ngày sau thì Dương bị công an bắt giữ
Trang 3030
Anh/ Chị hãy cho biết để nắm bắt được đặc điểm tâm của Nguyễn Hải Dương và nguyên nhân tâm lý xã hội dẫn Dương đến việc thực hiện hành vi phạm tội thì cần sử dụng những phương pháp tâm lý học tội phạm nào?
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 1
1 Hergenhahn B.R., Nhập môn lịch sử tâm lý học, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2003
2 Nguyễn Ngọc Hoà, Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, 2008
3 Nguyễn Xuân Yêm, Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm, Nxb Công
an nhân dân, Hà Nội, 2001
4 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình khoa học điều tra hình sự, Nxb Công
an nhân dân, Hà Nội 2017
5 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình tội phạm học, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội 2016
6 Stanton E Samenow, (Huy Nguyễn dịch),Tâm lý học tội phạm, Nxb Đại học
Kinh tế quốc dân, Hà Nội, 2021
7.https://www.google.com.vn/url?sa=t&rct=j&q=&esrc=s&source=web&cd=&cad
=rja&uact=8&ved=2ahUKEwiV4MTo8oXxAhWYd94KHTN6BsEQFjACegQIBhAD
nang-pham-toi-cua-con-nguoi-qua-guong-mat-
&url=https%3A%2F%2Fdantri.com.vn%2Fvan-hoa%2Fcuon-sach-phan-tich-kha-1371027538.htm&usg=AOvVaw0_1GinORWe1ghksNekieof, truy cập ngày 01 tháng
3 năm 2021
8 Bartol C.R & Bartol A.M., Criminal Behavior- A psychological Approach
(Tenth Edition), Upper Saddle River, NJ: Pearson Education Inc, 2014
9 Eysenck, H.J and Eysenck, S.B.G., The Eysenck Personality Questionnaire,
London: Hodder and Stoughton, 1975
10 Eysenck, H and Eysenck, M., Personality and Individual Differences: A Natural Science Approach, New York: Plenum, 1985
11 Marsh, I Melville,G Morgan, K Norris, G Cochrane, J., Psychological explanations for Criminal Behavior Crime and Criminal Justice New York, NY:
Routledge, 2011
12 Васильев В Л., Юридическая психология, СПб, 2000
Trang 3117 Шиханиов Г Г., Юридическая психология, Учебник для вузов, M, 2006
Trang 3232
Chương 2 NHÂN CÁCH CỦA NGƯỜI PHẠM TỘI
Nhân cách của người phạm tội là một trong những vấn đề cơ bản của tâm lí học tội phạm Nhân cách của người phạm tội phản ánh những nét ổn định và đặc trưng cho người phạm tội Nghiên cứu nhân cách của người phạm tội giúp không những giải thích hành vi phạm tội, xác định hình phạt phù hợp đối với người phạm tội mà còn định hướng cho công tác phòng ngừa tội phạm và giáo dục người phạm tội
1 Khái niệm nhân cách và nhân cách của người phạm tội
1.1 Khái niệm nhân cách
Nhân cách là một trong những vấn đề được quan tâm nghiên cứu nhiều và từ rất sớm trong lịch sử phát triển của tâm lý học Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa chung thống nhất về nhân cách Theo từ điển tâm lý học do A.V Petrovski
và M.G Iarosevski chủ biên, thuật ngữ nhân cách có hai nghĩa: 1, Cá nhân với tư cách
là chủ thể của các mối quan hệ xã hội và hoạt động có ý thức; 2, Phẩm chất mang tính
hệ thống của cá nhân, quy định định mức độ gia nhập của cá nhân vào các mối quan hệ
xã hội, được hình thành trong hoạt động chung và giao tiếp.30 Có thể thấy, theo tác giả của cuốn từ điển này, ở nghĩa thứ nhất, nhân cách chỉ con người cụ thể, con người là chủ thể, tức là người chủ động thiết lập, vận hành các mối quan hệ xã hội của mình, người tiến hành các hoạt động một cách có ý thức Ở nghĩa thứ hai, nhân cách là một phẩm chất mang tính hệ thống, cấu thành từ nhiều nét, nhiều yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau, được hình thành trong hoạt động và giao tiếp xã hội Các yếu tố tạo nên nhân cách quyết định mức mức độ thích ứng, mức độ hòa nhập, mức độ tham gia của
cá nhân vào đời sống xã hội Tức là thuật ngữ nhân cách, hoặc chỉ con người cụ thể, con người có ý thức, con người hoạt động và giao tiếp trong xã hội, hoặc chỉ tổ hợp những phẩm chất được hình thành trong cuộc sống, quy định hoạt động, giao tiếp, tức
là giá trị của họ trong xã hội
Tập 8 cuốn Bách khoa toàn thư Tâm lý học do Alan E Kazdin chủ biên, xuất bản năm 2000 bởi Hiệp hội tâm lý học Mỹ (APP) và nhà xuất bản Đại học Oxford, giải thích: “Nhân cách (personality) là tập hợp những nét đặc trưng tiêu biểu trong cách nghĩ, cách cảm xúc và cách ứng xử của cá nhân Nghiên cứu nhân cách giúp hiểu những nét đặc trưng ở mỗi người, như tính thân thiện hay tính dễ phản ứng, dễ cáu gắt
30 A.V Petrovski và M.G Iarosevski (1990), Từ điển tâm lý học, Nxb Ấn phẩm chính trị, Moscva, tr 193
Trang 3333
và cách những nét riêng đó vận hành cùng nhau để tạo thành một thể thống nhất”.31Theo cách hiểu này, nhân cách là tập hợp những nét, những đặc trưng về cách nghĩ, cách cảm xúc và cách hành động của mỗi người, tạo nên bản sắc riêng của mỗi người Mặc dù không nêu ra hay nhấn mạnh nguồn gốc của các đặc điểm tạo nên nhân cách như các nhà tâm lý học Nga, cách hiểu của các nhà tâm lý học Mỹ và phương Tây đơn giản và rõ ràng hơn: nhân cách là cách nghĩ, cách cảm xúc và cách hành động của con người
Từ điển bách khoa toàn thư phản ánh cách hiểu chung, khái quát của các nhà tâm lý học ở một đất nước hoặc một khu vực Song khi xây dựng một lý thuyết hay một chương trình nghiên cứu về nhân cách, mỗi trường phái, mỗi nhà tâm lý học thường đưa ra định nghĩa riêng về nhân cách Vì vậy tồn tại nhiều định nghĩa về nhân cách với nội hàm phong phú, đa dạng Barry D.Smith và Harold J Vetter (2005) cho biết, hiện nay có hàng trăm định nghĩa khác nhau về nhân cách.32 G Allport (1961), nhà tâm lý học Mỹ chuyên nghiên cứu về nhân cách, chia các định nghĩa này ra thành
ba nhóm Nhóm thứ nhất xem nhân cách như ấn tượng mà cá nhân tạo được trong con mắt người khác, nghĩa là nhân cách là những đặc tính của cá nhân được người xung quanh nhận ra Nhóm thứ hai xem nhân cách là một cấu trúc tồn tại khách quan, một
hệ thống các đặc điểm, thuộc tính, quá trình, nét tiêu biểu hoặc được hình thành hoặc bẩm sinh hoặc một phần bẩm sinh và một phần được hình thành, có liên quan chặt chẽ với nhau Bản thân G Allport (1961) ủng hộ cách hiểu này Ông định nghĩa: “Nhân cách là một tổ chức năng động các hệ thống tâm vật lý (psychophysical systems) của
cá nhân, quy định đặc điểm hành vi và suy nghĩ của họ”.33 Nhóm thứ ba xem nhân cách là một hệ thống ý niệm về cá nhân được rút ra từ việc quan sát hành vi của người
đó Cũng theo Barry D Smith và Harold J Vetter, ngày nay cách định nghĩa thứ hai phổ biến hơn, tuy nhiên hạn chế lớn nhất mà ngay cả những nhà tâm lí học ủng hộ cách hiểu này cũng phải thừa nhận là các thành phần tạo nên nhân cách không thể quan sát một cách trực tiếp và vì thế khó sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học.34
Phân tâm học, do S.Freud (1856-1939) sáng lập, cho rằng nhân cách là một thực thể gồm ba phần tương tác qua lại với nhau: cái nó, cái tôi và cái siêu tôi (the id,
31 Encyclopedia of Psychology, 8-Volume Set, Edited by Alan E Kazdin, American Psychological
Association and Oxford University Press, 2000
32 Barry D Smith & Harold J Vetter (1990), Các học thuyết về nhân cách, Nguyễn Kim Dân biên dịch, Nxb Văn hóa thông tin, 2005, tr.8-11
33 G Allport (1961) p 28)
34 Barry D Smith & Harold J Vetter (1990), Các học thuyết về nhân cách, Nguyễn Kim Dân biên dịch, Nxb Văn hóa thông tin, 2005, tr.8-11
Trang 3434
the ego, and the superego) Cái nó gồm các bản năng nguyên thủy như đói, khát, tình dục, biểu hiện dưới dạng các ham muốn, thúc đẩy, luôn đòi hỏi thỏa mãn Cái tôi – con người có lí trí với những suy nghĩ, tính toán để đưa ra giải pháp cho đòi hỏi của cái nó
có tính đến điều kiện thực tế Cái siêu tôi gồm các chuẩn mực hành vi, điều cấm kỵ trong xã hội được con người nội tâm hóa chủ yếu bằng con đường vô thức Trong ba phần này, cái nó có từ khi sinh ra, cái tôi và cái siêu tôi hình thành trong cuộc sống Theo S Freud, sự phối hợp hoạt động của ba bộ phận này giải thích cho hành vi của con người, kể cả hành vi phạm tội
Theo B.F Skiner (1904-1990), đại diện tiêu biểu của tâm lí học hành vi truyền thống, một trong những nhà tâm lý học được xem vĩ đại nhất mọi thời đại, nhân cách không phải là những phẩm chất hay đặc điểm bên trong mà là một hệ thống hành vi do
cá nhân học hỏi được trong quá trình sống từ chính kinh nghiệm của mình Đó là những hành vi mà cá nhân đã thực hiện và nhận được sự khích lệ Ví dụ, một đứa trẻ hay đánh nhau thì đó không phải vì đứa trẻ này có tính thích đánh nhau, thích gây hấn hay hung hăng, mà bởi vì trong quá khứ nó đã đánh nhau và điều đó giúp nó giải quyết được vấn đề và không nhận hậu quả bất lợi nào, thậm chí còn được bạn cùng lứa thán phục A Bandura (sinh 1925) đưa lý thuyết học tập hành vi lên tầm cao mới bằng lý thuyết học tập xã hội Theo ông, hệ thống hành vi của cá nhân được hình thành chủ yếu từ việc quan sát việc làm của người xung quanh và suy luận cái gì dẫn đến cái gì Tuy nhiên, với A Bandura, nhân cách cá nhân không chỉ có hệ thống hành vi mà cả những hiện tượng nội tâm, đặc biệt là kỳ vọng về sự thành công từ học tập
Theo tâm lí học hoạt động, nhân cách là một cấu trúc tâm lí được hình thành chủ yếu từ hoạt động và giao tiếp của con người trong môi trường xã hội L.A Karnenko (2000) giải thích nhân cách là “phẩm chất mang tính hệ thống mà cá nhân
có được từ hoạt động thực tiễn và giao tiếp, đặc trưng cho cá nhân đó về mức độ tham gia vào các mối quan hệ xã hội”.35 Theo A.N Leontiev (1903-1979), một trong những nhà sáng lập của tâm lí học hoạt động, “Nhân cách là một cấu tạo mới về chất Nó được hình thành từ quá trình sống trong xã hội Bởi vậy cá nhân trở thành nhân cách chỉ khi đạt đến một độ tuổi nào đó”.36 Những cách hiểu này cho thấy, với các nhà tâm
lí học hoạt động, nhân cách là một tập hợp các thuộc tính tâm lí của cá nhân với tư cách là chủ thể của hoạt động và giao tiếp trong xã hội Nhân cách được hình thành trong hoạt động, mang dấu ấn của hoạt động Và từ đây, nhân cách của người phạm tội, cũng không phải ngoại lệ, là tập hợp những thuộc tính tâm lí của người phạm tội,
35 Karnenko, L.A (1985), Từ điển rút gọn Tâm lí học, Nxb Chính trị, M, tr.165
36 X.IU Golovin, Từ điển tâm lí thực hành, tái bản lần thứ 2, Nxb.Kharvest, Minsk, 2001, tr.318
Trang 3535
được hình thành trong cuộc sống và hoạt động của họ Một người nhiều lần phạm tội, đặc biệt là phạm tội chuyên nghiệp, thì nhân cách của họ cũng mang dấu ấn của hoạt động phạm tội mà họ tiến hành
Ở Việt Nam, nhiều nhà tâm lí học chịu ảnh hưởng của tâm lí học hoạt động Họ hoặc sử dụng một định nghĩa nào đó, hoặc trên cơ sở phân tích những định nghĩa sẵn
có, xác định những điểm chung nhất, từ đó khái quát, đưa ra định nghĩa của mình về nhân cách Tuy nhiên, ở đây cần ghi nhận nỗ lực cụ thể hóa của họ để vận dụng vào thực tiễn Phạm Minh Hạc và cộng sự (1992) định nghĩa: “Nhân cách là tổ hợp những thuộc tính tâm lí của một cá nhân, biểu hiện ở bản sắc và giá trị xã hội của người ấy”37 Định nghĩa này được nhiều tác giả như Nguyễn Thị Minh Đức (1995), Nguyễn Xuân Thức (2008) chia sẻ Nguyễn Xuân Thức còn đưa ra định nghĩa cụ thể hơn: “Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lí của cá nhân, quy định hành vi
xã hội và giá trị xã hội của người đó”.38 Định nghĩa này cũng được tìm thấy trong cuốn
“Giáo trình tâm lí học đại cương” của Trường đại học Luật Hà Nội do Đặng Thanh Nga làm chủ biên (2010)
Một đặc trưng của nhân cách được các nhà tâm lí học nhấn mạnh là bản sắc riêng, tính độc đáo của cá nhân, tức là sự khác biệt giữa người này với người khác R
S Weinberg & D Gould (1999) khẳng định nhân cách là “các đặc điểm hay tập hợp các đặc điểm làm cho cá nhân trở thành độc nhất vô nhị (unique)”.39 Trong định nghĩa của mình về nhân cách, Phạm Minh Hạc và cộng sự cũng nêu rõ nhân cách là tổ hợp những thuộc tính tâm lí “biểu hiện ở bản sắc” của cá nhân
Có thể thấy, dù cách hiểu về nhân cách phong phú, đa dạng, nhưng chúng có những điểm chung như sau:
- Thứ nhất, nhân cách là một hệ thống, hay cách gọi khác là phẩm chất hay thuộc tính mang tính hệ thống, gồm nhiều mặt, nhiều đặc điểm, nhiều nét, nhiều phẩm chất tâm lý và hành vi
- Thứ hai, các thành phần của nhân cách có mối liên hệ, quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo thành một thể thống nhất, có tính ổn định và quy định hành vi, diễn biến đời sống nội tâm của cá nhân
- Nhân cách của cá nhân có tính độc đáo, là độc nhất vô nhị
37 Phạm Minh Hạc (chủ biên), Tâm lí học, Nxb GD, Hà Nội, 1992, tr.64
38 Nguyễn Xuân Thức (2008), Giáo trình tâm lí học đại cương, In lần thứ tư, Nxb Đại học Sư Phạm, tr 212
39 Robert Weinberg, Daniel Gould (1999), Foundations of Sport and Exercise Psychology, Fourth Edition,
Published by Human Kinetics Publishers, 1999.
Trang 3636
Bên cạnh đó giữa các cách hiểu về nhân cách vẫn tồn tại những khác biệt, trong
đó có vấn đề về nguồn gốc sinh học hay xã hội của các yếu tố thuộc thành phần của nhân cách và vai trò của chúng Với S Freud và những nhà tâm lý học cùng chí hướng, ba bộ phận tạo nên nhân cách, cái nó do di truyền, cái tôi và cái siêu tôi được hình thành trong cuộc sống, đều quan trọng trong việc lý giải hành vi của cá nhân, nhưng cái nó vẫn là phần lõi, nơi khởi nguồn của mọi động lực thúc đẩy các tiến trình tinh thần và hành vi của cá nhân G Allport, với khái niệm “hệ tâm vật lý”, H Eysenck, với quan niệm hai trục cơ bản của nhân cách là tính hướng nội – hướng ngoại và tâm lý ổn định – dao động, nghiêng hẵn về lập trường tính quyết định thuộc
về các yếu tố có nguồn gốc di truyền Trong khi đó, các nhà tâm lý học hoạt động luôn khẳng định nhân cách là chỉ con người về mặt xã hội, thành phần chủ yếu và quyết định của nhân cách là các thuộc tính tâm lý được hình thành trong hoạt động và giao tiếp xã hội Theo họ, di truyền chỉ là tiền đề sinh học cho sự phát triển nhân cách, các đặc điểm có nguồn gốc sinh học trong nhân cách, mà tiêu biểu là khí chất, chỉ quy định mặt động thái của nhân cách, không quyết định mặt nội dung của nhân cách Tâm lý học hành vi, với việc xem nhân cách là hệ thống hành vi mà cá nhân học hỏi được, hoặc từ việc tự trải nghiệm hoặc từ việc quan sát người xung quanh, đương nhiên thừa nhận nội dung của nhân cách có nguồn gốc xã hội
Như vậy, cuối cùng yếu tố nào quyết định nhân cách, quyết định hành vi và các tiến trình nội tâm của cá nhân, các đặc điểm có nguồn gốc sinh học hay có nguồn gốc
xã hội? Đây là vấn đề có ý nghĩa lớn cả về lý luận và thực tiễn Trong lĩnh vực tâm lý học tội phạm, việc tìm ra câu trả lời cho vấn đề trên ảnh hưởng lớn đến việc xác định nguyên nhân và điều kiện của tội phạm, biện pháp đấu tranh phòng và chống tội phạm, phương pháp cải biến tâm lý và hành vi của người phạm tội
Vấn đề về nguồn gốc sinh học hay xã hội của các yếu tố tạo nên nhân cách và tương quan giữa chúng trong việc quy định đời sống tinh thần và hành vi của cá nhân
là vấn đề phức tạp, được nhiều nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực quan tâm nghiên cứu Cho đến nay, mặc dù chưa có câu trả lời rõ ràng cho mọi câu hỏi đặt ra, nhưng nhiều nghiên cứu công phu, dài hạn có tính thuyết phục đã dần vén bức màn bí mật của vấn đề Một trong những công trình như vậy đã và đang được tiến hành bởi nhóm nhà khoa học do Auke Tellegen đứng đầu từ đại học Minnesota (Mỹ) Auke Tellegen
và cộng sự nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố di truyền đến 11 nét nhân cách trên mẫu
350 cặp song sinh, trong đó có 44 cặp song sinh cùng trứng được nuôi dưỡng cách biệt nhau Kết quả cho thấy gene di truyền có mức ảnh hưởng khác nhau đến các nét nhân cách, trong đó “thích quyền lực” là nét chịu ảnh hưởng lớn nhất: 61%, “thích ràng
Trang 3737
buộc xã hội” là nét chịu ảnh hưởng thấp nhất: 33%; trung bình mức ảnh hưởng chung cho 11 nét là khoảng 50% (hình 1).40 Trong lĩnh vực tâm lí học tội phạm, Adrian Reine đặc biệt chú ý ảnh hưởng của các yếu tố sinh học đến tội phạm Năm 2013, sau hàng chục
năm nghiên cứu, ông đã cho xuất bản cuốn The Anatomy of Violence: The Biological Roots of Crime (tạm dịch: Phân tích nguồn gốc bạo lực: cứu cánh sinh học của tội phạm) Trong cuốn sách này, ông cho rằng sinh ra đã có những người có khả năng phạm tội
cao hơn người khác và 50% tội ác đã được ngầm quy định trong bộ gene41 B.R Hergenhan (2001) cho biết ngày nay nhiều nhà khoa học đề xuất mức ảnh hưởng 50% cho yếu tố di truyền, 50% còn lại cho môi trường 42
Hình 2-1 Mức độ ảnh hưởng của di truyền lên 11 nét nhân cách cơ bản theo A Tellegen
của di truyền
1 Thích quyền lực (thích ra oai, thích được chú ý, thích chỉ huy) 61%
2 Tôn trọng truyền thống (tôn trọng quy tắc, đòi hỏi cao về luân lý và kỷ luật) 60%
3 Phản ứng với căng thẳng (nhạy cảm, dễ tổn thương, lo âu và buồn rầu) 55%
4 Đam mê (trí tưởng tượng sinh động và phong phú, xa rời thực tế) 55%
7 Tránh tổn thưởng (tránh nơi nhiều rủi ro, tránh mạo hiểm, chọn sự an toàn) 51%
8 Gây hấn, hiếu chiến (thích gây thù hận, thích bạo lực, ác ý) 48%
9 Khao khát thành đạt (chăm chỉ, khát khao quyền lực, ưu tiên công việc và sự
nghiệp)
46%
10 Có óc chỉ huy (thận trọng, duy lý, nhạy bén, có kế hoạch tỷ mỉ) 43%
11 Thích ràng buộc xã hội (thân mật, đề cao quan hệ tâm lý, đề cao tình cảm) 33%
Nguồn: Roberts Feldman, Tâm lí học căn bản, ND Minh Đức và Hồ Kim Chung, Nxb Văn hoá – Thông tin, Tp Hồ Chí Minh, 2004, tr 491
Những phân tích trên cho thấy di truyền có thể có vai trò quan trọng trong việc quy định các đặc điểm, các nét nhân cách của con người Điều này phải chăng chứng tỏ vai trò của môi trường, của giáo dục, công lao dạy dỗ của bố mẹ… là ít quan trọng? Câu trả lời ở đây là không Theo nhiều nhà tâm lý học, bố mẹ cũng như những yếu tố khác từ môi trường
40 Dẫn theo Roberts Feldman (2004), Tâm lí học căn bản, người dịch Minh Đức và Hồ Kim Chung, Nxb Văn hoá –
Thông tin, Tp Hồ Chí Minh, tr 490-491
41 Adrian Reine (2013) The Anatomy of Violence: The Biological Roots of Crime, The New York Times Book
review,https://www.amazon.com/Anatomy-Violence-Biological-Roots
Crime/dp/0307475611?asin=0307475611&revisionId=&format=4&depth=1
42 B.R Hergenhahn (2001), Nhập môn lịch sử tâm lí học, tái bản lần thứ 7, Lưu Văn Hy dịch, Nxb Thống kê, Hà Nội,
2003, tr 653-654
Trang 3838
sẽ định hình mức độ ảnh hưởng của các nét nhân cách được quy định bởi yếu tố di truyền
Ví dụ, bố mẹ có thể giảm lo ngại của những đứa trẻ có xu hướng tránh tổn thương (thường biểu hiện ở sự nhút nhát của trẻ) và làm chúng trở nên cởi mở, mạnh dạn, tự tin hơn bằng cách tập luyện cho trẻ vui chơi với các bạn trong điều kiện an toàn được đảm bảo Trong trường hợp ngược lại, với những đưa trẻ như vậy, nếu bố mẹ thường xuyên dọa nạt nó, thậm chí bằng những tình huống vô hình như dọa có ma, dọa ra đường bị ông ba bị bắt (thường phổ biến ở các bậc bố mẹ ở nước ta) thì trẻ càng dễ trở nên nhút nhát, thiếu tự tin Như vậy khi nhìn nhận một con người, kể cả người phạm tội, cần chú ý đến cả yếu tố di truyền lẫn môi trường sống, trưởng thành của người đó
Tóm lại trong tâm lý học, thuật ngữ nhân cách dùng để chỉ một hệ thống các yếu tố (mặt, quá trình, đặc điểm, thuộc tính, nét, phẩm chất, thói quen…) ở cá nhân, có nguồn gốc sinh học hay nguồn gốc xã hội, có quan hệ chặt chẽ với nhau, đặc trưng cho cách nghĩ, cách cảm nhận, cách hành động của cá nhân
1.2 Khái niệm nhân cách của người phạm tội
Trong tâm lý học tội phạm, khi định nghĩa nhân cách của người phạm tội, các nhà tâm lý học tội phạm đều xuất phát từ quan niệm chung của họ về nhân cách, ít khi
họ thay đổi, đặc biệt là với các nhà tâm lý học phương Tây Ở đây họ cho rằng trong cách hiểu của họ về nhân cách đã bao gồm những nét cơ bản, có tính phổ quát cho mọi
cá nhân Khi phân tích nhân cách của con người cụ thể, dù đó là nhà chính trị, doanh nhân hay người phạm tội, thì vẫn áp dụng mô hình chung, cái khác ở đây chỉ là mức
độ biểu hiện của những nét cụ thể trong mô hình chung đó và sự kết hợp giữa chúng
Ví dụ như S Freud với mô hình nhân cách ba thành phần: cái nó, cái tôi, cái siêu tôi; hay H Eysenck với quan niệm nhân cách gồm hai trục chính: hướng nội – hướng ngoại và tâm lý ổn định – dao động Ưu điểm của những định nghĩa này là tính khái quát và tính phổ quát nhưng cũng không loại trừ nét riêng đặc trưng cho từng người,
kể cả người phạm tội vì khi đi phân tích nhân cách mỗi con người cụ thể thì sẽ xác định được “đặc trưng riêng” của người đó, kể cả người phạm tội
Trong tâm lý học hoạt động, và do đó cũng là nét phổ biến ở nước ta, các nhà tâm lý học có khuynh hướng điều chỉnh quan niệm về nhân cách theo trường hợp cụ thể, có tính đến đặc điểm, tính chất của hoạt động, tức là những việc đã, đang làm và quan hệ xã hội của cá nhân Với trường hợp người phạm tội thì đó chính là khía cạnh tiêu cực trong nhân cách, đặc điểm pháp lý – hình sự và hành vi phạm tội của họ N.A Đavưdov và I.I Aminov (2015) khẳng định: “Nhân cách – con người xã hội, là chính người mà cá nhân trở thành, sống và phát triển trong xã hội Khi đề cập nhân cách của
Trang 3939
người phạm tội thì cần phải hiểu rằng đó là con người xã hội đã thực hiện hành vi phạm tội, ngoài ra chẳng còn gì khác”43 M.I Enikeev, chuyên gia nổi tiếng trong lĩnh vực tâm lý học tội phạm và hình phạt ở Liên Xô cũ và nước Nga sau này cho rằng, điểm khác ở đây là nhân cách “của người phạm tội”, tức là người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị tuyên là có tội sau một quá trình tố tụng: “Người phạm tội là người đã thực hiện hành vi phạm tôi, bị tuyên là có tội sau một quá trình tố tụng Trong tâm lí học pháp lí, nói đến nhân cách của người phạm tội là nói đến những khía cạnh tâm lí học của nhân cách người phạm tội, có lỗi, chứ không phải người bị buộc tội Đặc điểm nhân cách của người phạm tội, có lỗi, luôn có ý nghĩa pháp lí - hình sự”.44 A V Dulov (1975) lại cho rằng nhân cách người phạm tội là tập hợp những phẩm chất tâm lí, trong đó có những phẩm chất tiêu cực và chính những phẩm chất này là nguyên nhân tâm lí, nguyên nhân bên trong đưa họ đến chỗ thực hiện hành vi phạm tội45 Quan niệm này được nhiều chuyên gia về tâm lí học tội phạm ở Việt Nam như Trương Ngôn (1995), Chu Liên Anh (2002), Hoàng Thị Bích Ngọc (2012), Nguyễn Hữu Toàn (2018) ủng hộ Trương Ngôn cùng công sự khẳng định: “Cá nhân tiến hành hoạt động phạm tội trong xã hội, sớm hay muộn, tất yếu cũng sẽ hình thành ở họ những đặc điểm tâm lí, mang theo dấu ấn của hoạt động phạm tội, phản ánh môi trường sống đã trải qua, và chính những đặc điểm tâm lí đó trở thành những nét đặc trưng của nhân cách tội phạm”46 Tương tự như vậy, Nguyễn Hữu Toàn xem “Nhân cách người phạm tội là tổ hợp các phẩm chất, các thuộc tính tâm lí của cá nhân thể hiện xu hướng chống đối xã hội và thái độ tiêu cực đối với các lợi ích, các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, luôn thực hiện ý đồ và thực hiện hành vi phạm tội”47
Như vậy, với các nhà tâm lý học hoạt động, đặc trưng của nhân cách của người phạm tội: 1, là nhân cách của người đã thực hiện hành vi phạm tội, của người đã bị tòa
án tuyên là có tội sau một quá trình tố tụng hình sự; 2, nhân cách của người phạm tội được đặc trưng bởi những phẩm chất tâm lý tiêu cực đóng vai trò là nguyên nhân bên trong, nguyên nhân tâm lý của hành vi phạm tội Những phẩm chất hay thuộc tính tâm
lý này xuất hiện, phát triển từ những sai lệch trong môi trường sống và hoạt động của
cá nhân
43 Davưdov N.A, Aminov I.I., Tâm lí học pháp luật, NXB Prospekt, Mockva, 2015, tr.129
44 Enikeev M.I., Cơ sở của tâm lí học đại cương và tâm lí học pháp lí, Mockva, 1996, tr.301
45 Дулов А.В (1975), Судебная психология Учебное пособие 2-е изд., испр и доп Изд Вышэйш шк Минск, ctp 205-234
46 Trương Ngôn, Tâm lí học pháp lí, NXB In tại nhà máy in Quân đội, 1995, tr 89
47 Nguyễn Hữu Toàn, Tâm lý học tội phạm, In tại Trung tâm Lưu trữ & Thư viện, Học viện Cảnh sát nhân dân,
Hà Nội, 2018, tr 64-65.
Trang 4040
Cách hiểu trên về nhân cách của người phạm tội có những ưu điểm nhất định Thứ nhất, nó cho rằng các thuộc tính tâm lí nhân cách biểu hiện ra bên ngoài, do đó có thể đánh giá nhân cách con người thông qua nghiên cứu các biểu hiện bên ngoài Thứ hai, nó xác định rõ mối quan hệ nhân quả giữa nhân cách của người phạm tội với hành
vi phạm tội của họ và do đó vừa có thể giải thích hành vi phạm tội từ đặc điểm của nhân cách của người phạm tội, vừa có thể đưa ra biện pháp phòng ngừa tội phạm, vừa mở ra một hướng ứng dụng cho tâm lí học tội phạm, đó là cải biến hành vi phạm tội thông qua nỗ lực tác động thay đổi nhân cách của người phạm tội Tuy nhiên, cách hiểu này cũng có những hạn chế Trước hết, đây là cách hiểu hẹp, nhân cách ở đây chỉ bao gồm những đặc điểm tâm lý, tức là nhân cách tâm lý Thứ nữa, cách hiểu như trên nhấn mạnh mặt xã hội, mặt ý thức, mặt hoạt động của nhân cách người phạm tội, không đề cập hoặc xem nhẹ những đặc điểm có nguồn gốc sinh học, trong khi ngày nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý học và tâm sinh lý học tội phạm cho thấy các đặc điểm có nguồn gốc sinh học có vai trò không nhỏ trong nhân cách, trong việc quy định cách nghĩ, cách làm, cách cảm nhận của người phạm tội, tức là hành vi phạm tội của họ Bên cạnh đó, có phải tất cả người phạm tội đều có những phẩm chất tiêu cực hay không là vấn đề còn gây tranh cãi Vì vậy, sử dụng lý thuyết tâm lý học hoạt động
để giải thích hành vi phạm tội không phải trong trường hợp nào cũng có sức thuyết phục Trên thực tế, Trương Công Am, chuyên gia về tâm lý học tội phạm từ Học viện
An ninh Nhân dân cho biết, có những trường hợp ông vẫn sử dụng mô hình sinh học
để giải thích hành vi phạm tội.48 Nghĩa là thực tế ở nước ta, ngoài mô hình của tâm lý học hoạt động, chuyên gia tâm lý học còn thừa nhận nhiều mô hình khác, trong đó có
cả mô hình sinh học Vì vậy, khái niệm nhân cách nói chung và nhân cách người phạm tội nói riêng nên được hiểu rộng hơn, có tính đến những kết quả nghiên cứu mới trong các lĩnh vực tâm lý học, tội phạm học, sinh lý và di truyền học
Nhân cách của người phạm tội một hệ thống nhiều thành phần (mặt, quá trình, thuộc tính, nét, phẩm chất v.v.) do bẩm sinh hoặc được hình thành hoặc cả hai, đặc trưng cho cách nghĩ, cách cảm nhận, cách ứng xử của của người phạm tội, trong đó có hành vi phạm tội của họ
2 Cấu trúc nhân cách của người phạm tội
48 Năm 2010 ở tp Hà Nội xảy ra một vụ án giết người cướp tài sản đặc biệt giả man Một nam thanh niên có học vấn đã dùng dao giết chết người yêu cũ, sau đó chặt đầu, chặt ngón tay để phi tang Khi được hỏi về hành vi này, chuyên gia về tâm lý học tội phạm Trương Công Am cho biết: “Qua nghiên cứu nhiều năm, chúng tôi thường gắn dạng hành động này với biến đổi gen Người có biến đổi gen ở nhiễm sắc thể số 23 (XY hoặc XYY) là những người có nam tính rất mạnh Hành động của họ ở một thời điểm không kiềm chế được bản thân là rất hung bạo và không ghê tay” Xem https://m.baophapluat.vn/chuyen-gia-tam-ly-toi-pham-phan-tich-tam-ly-hung- thu-cat-dau-nguoi-yeu-post32640.amp