Hệ gen ty thể, sinh học và sinh thái học của Cá bống răng cưa Butis koilomatodon (Bleeker, 1894) ở vùng cửa sông Hậu ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.Hệ gen ty thể, sinh học và sinh thái học của Cá bống răng cưa Butis koilomatodon (Bleeker, 1894) ở vùng cửa sông Hậu ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.Hệ gen ty thể, sinh học và sinh thái học của Cá bống răng cưa Butis koilomatodon (Bleeker, 1894) ở vùng cửa sông Hậu ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.Hệ gen ty thể, sinh học và sinh thái học của Cá bống răng cưa Butis koilomatodon (Bleeker, 1894) ở vùng cửa sông Hậu ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.Hệ gen ty thể, sinh học và sinh thái học của Cá bống răng cưa Butis koilomatodon (Bleeker, 1894) ở vùng cửa sông Hậu ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.Hệ gen ty thể, sinh học và sinh thái học của Cá bống răng cưa Butis koilomatodon (Bleeker, 1894) ở vùng cửa sông Hậu ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.Hệ gen ty thể, sinh học và sinh thái học của Cá bống răng cưa Butis koilomatodon (Bleeker, 1894) ở vùng cửa sông Hậu ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.Hệ gen ty thể, sinh học và sinh thái học của Cá bống răng cưa Butis koilomatodon (Bleeker, 1894) ở vùng cửa sông Hậu ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.Hệ gen ty thể, sinh học và sinh thái học của Cá bống răng cưa Butis koilomatodon (Bleeker, 1894) ở vùng cửa sông Hậu ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.Hệ gen ty thể, sinh học và sinh thái học của Cá bống răng cưa Butis koilomatodon (Bleeker, 1894) ở vùng cửa sông Hậu ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.Hệ gen ty thể, sinh học và sinh thái học của Cá bống răng cưa Butis koilomatodon (Bleeker, 1894) ở vùng cửa sông Hậu ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.Hệ gen ty thể, sinh học và sinh thái học của Cá bống răng cưa Butis koilomatodon (Bleeker, 1894) ở vùng cửa sông Hậu ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.Hệ gen ty thể, sinh học và sinh thái học của Cá bống răng cưa Butis koilomatodon (Bleeker, 1894) ở vùng cửa sông Hậu ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.Hệ gen ty thể, sinh học và sinh thái học của Cá bống răng cưa Butis koilomatodon (Bleeker, 1894) ở vùng cửa sông Hậu ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.Hệ gen ty thể, sinh học và sinh thái học của Cá bống răng cưa Butis koilomatodon (Bleeker, 1894) ở vùng cửa sông Hậu ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.Hệ gen ty thể, sinh học và sinh thái học của Cá bống răng cưa Butis koilomatodon (Bleeker, 1894) ở vùng cửa sông Hậu ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.Hệ gen ty thể, sinh học và sinh thái học của Cá bống răng cưa Butis koilomatodon (Bleeker, 1894) ở vùng cửa sông Hậu ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.Hệ gen ty thể, sinh học và sinh thái học của Cá bống răng cưa Butis koilomatodon (Bleeker, 1894) ở vùng cửa sông Hậu ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.Hệ gen ty thể, sinh học và sinh thái học của Cá bống răng cưa Butis koilomatodon (Bleeker, 1894) ở vùng cửa sông Hậu ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Chuyên ngành: Công nghệ Sinh học
Mã ngành: 9420201
LÂM THỊ HUYỀN TRÂN
HỆ GEN TY THỂ, SINH HỌC VÀ SINH THÁI HỌC CỦA
CÁ BỐNG RĂNG CƯA Butis koilomatodon (Bleeker, 1894) Ở VÙNG
CỬA SÔNG HẬU VEN BIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Cần Thơ, 2023
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Người hướng dẫn chính: PGS.TS Đinh Minh Quang
Người hướng dẫn phụ: TS Trương Thị Bích Vân
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cấp trường
Họp tại: Phòng bảo vệ luận án tiến sĩ, lầu 2, nhà điều hành, trường Đại học Cần Thơ
Vào lúc … giờ ngày … tháng … năm …
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Trung tâm Học liệu, Trường Đại học Cần Thơ
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 3DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ Tạp chí quốc tế
1 Tran Thi Huyen Lam and Quang Minh Dinh (2020) Factors affecting growth
pattern and condition of Butis koilomatodon (Bleeker, 1849) (Gobiiformes: Eleotridae) from the Mekong Delta, Vietnam Acta Zoology Bulgarica, 73(1), 99-106
2 Tran Thi Huyen Lam, Ton Huu Duc Nguyen, Quang Minh Dinh and Dong Kim
Nguyen (2021) Otolith biometrics and their relationships with fish sizes of Butis
koilomatodon living in Mekong Delta, Vietnam Egyptian Journal of Aquatic Biology
& Fisheries, 25(3), 803-814
Tạp chí trong nước
1 Lam Thi Huyen Tran and Dinh Minh Quang (2020) Morphometric and meristic
variations in Butis koilomatodon (Gobiiformes: Eleotridae) in estuarine and coastal areas of the Mekong Delta Vietnam Journal of Agricultural Sciences, 3(4), 806-816
Trang 4CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề
Trên thế giới có hơn 32.500 loài cá tồn tại, chiếm hơn phân nửa tổng số lượng động vật có xương sống Bên cạnh vai trò quan trọng trong đa dạng sinh học, cá còn có giá trị
kinh tế và là nguồn dinh dưỡng quan trọng cho con người (Ward et al., 2005) Loài Cá bống răng cưa Butis koilomatodon thuộc bộ Gobiiformes, họ Butidae, giống Butis
(Froese & Pauly, 2022) Gobiiformes là một trong những Bộ lớn nhất trong Lớp cá xương, với khoảng 2.000 loài có kích thước nhỏ (4-10 cm) sinh sống trong môi trường
nước ngọt, nước lợ và nước mặn trên khắp thế giới (Agorreta et al., 2013) Họ Butidae
có tên chung là “sleeper goby”, trước đây họ này được phân loại là một phân họ của Eleotridae nhưng sau đó đã được công nhận là một họ riêng gồm 10 giống với 46 loài
(Nelson et al., 2016) Theo Eschmeyer & Fong (2015), hiện có sáu loài thuộc giống
Butis được ghi nhận trên thế giới là: Butis amboinensis (Bleeker, 1853); Butis butis
(Hamilton, 1822); Butis gymnopomus (Bleeker, 1853); Butis humeralis (Valenciennes, 1837); Butis koilomatodon (Bleeker, 1849) và Butis melanostigma (Bleeker, 1849) Ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), Tran et al (2020) ghi nhận có ba loài thuộc giống này là B butis, B humeralis và B koilomatodon
Các nghiên cứu định loại dựa trên hình thái học thường bị hạn chế bởi sự đa dạng hóa sinh thái diễn ra phổ biến, xu hướng biệt hóa cũng như việc giảm hoặc mất các đặc điểm hình thái do sự tiến hóa, và thiếu các nhóm định loại gần đáng tin cậy của các loài
cá bống (Winterbottom, 1993) Nelson (2006) cho rằng việc xác định các nhóm cá bống dựa trên đặc điểm hình thái đôi khi chưa rõ ràng và một số nhóm mới chỉ được công nhận tạm thời Thai & Dang (2015) cho rằng việc sử dụng phương pháp mã vạch DNA
ty thể để định loại, nghiên cứu các mối quan hệ phát sinh loài và tiến hóa ở mức phân
tử là cần thiết Phương pháp mã vạch DNA (DNA barcoding) dựa trên các đoạn gen ty
thể như COI và Cytb đã được sử dụng rộng rãi trong xác định loài và nghiên cứu đa dạng sinh học (Harada et al., 2002; Pepe et al., 2005; Ward et al., 2005; Bingpeng et al.,
2018) Do đó, phương pháp mã vạch DNA có thể giúp phân loại ba loài trong giống
Butis ở ĐBSCL, do chúng có kích thước cơ thể nhỏ và nhiều đặc điểm hình thái tương
đồng
Cá bống răng cưa là loài có giá trị thương phẩm ở một số tỉnh ven biển ĐBSCL đặc biệt là vùng cửa sông ven biển từ Trà Vinh đến Cà Mau và nguồn lợi từ chúng đã góp phần nâng cao thu nhập cho các ngư dân địa phương Tuy nhiên, khu hệ cá ở vùng
này luôn bị biến động (Dinh et al., 2018b; Tran et al., 2020; Hùng và ctv., 2022) do nhiều nguyên nhân như sự biến đổi khí hậu (Badjeck et al., 2010; King, 2015), xây các
đập ở thượng nguồn (Baran & Myschowoda, 2009; Baird, 2011) và sự khai thác quá mức nguồn lợi thủy sản (Nhiên & Định, 2012; Tuấn, 2015) Hơn nữa, đến thời điểm
hiện tại, chỉ có một số ít công trình nghiên cứu rời rạc được công bố có liên quan đến B
koilomatodon như: phát hiện loài mới, các đặc điểm hình thái ngoài, và điều kiện môi
trường sống của chúng (Lasso-Alcalá et al., 2005; Yokoo et al., 2006; Macieira et al.,
Trang 52012; Soares et al., 2012; Contente et al., 2016; Bonfim et al., 2017; GuimarãEs et al., 2017; Hossin et al., 2019; Thủy và ctv., 2020) Vì vậy, nghiên cứu kết hợp đặc điểm
hình thái và phương pháp mã vạch DNA trong định loại ba loài i; đặc điểm sinh học đá tai, sinh sản và tăng trưởng; đặc điểm sinh thái dinh dưỡng và quần thể của Cá bống răng cưa là cần thiết Các kết quả đạt được sẽ cung cấp dẫn liệu cho công tác giảng dạy, nghiên cứu, phân loại học, giúp đề xuất các nhóm giải pháp bảo vệ, khai thác hợp lý loài
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Ba loài cá thuộc giống Butis (B koilomatodon, B humeralis và B butis) được sử
dụng trong nghiên cứu định danh loài dựa trên đặc điểm hình thái và trình tự hai gen ty
thể COI và Cytb
Cá bống răng cưa B koilomatodon là đối tượng trong các nghiên cứu về đặc điểm
sinh học đá tai, sinh sản, và tăng trưởng; đặc điểm sinh thái dinh dưỡng và quần thể
1.4 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu “Hệ gen ty thể, sinh học và sinh thái học của Cá bống răng cưa Butis
koilomatodon (Bleeker, 1894) ở vùng cửa sông Hậu ven biển Đồng bằng sông Cửu
Long” chủ yếu được thực hiện ở sáu khu vực cửa sông dọc theo sông Hậu, thuộc bốn tỉnh ở ĐBSCL là Duyên Hải (Trà Vinh), Cù Lao Dung,Trần Đề (Sóc Trăng), Hòa Bình, Đông Hải (Bạc Liêu) và Đầm Dơi (Cà Mau) trong thời gian 24 tháng từ 01/2019 đến 12/2020
1.5 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Xác định loài và phân tích quan hệ di truyền giữa ba loài thuộc giống
Butis ở các điểm nghiên cứu dựa trên đặc điểm hình thái ngoài, các chỉ số sinh trắc và
trình tự hai gen ty thể COI và Cytb
Nội dung 2: Nghiên cứu đặc điểm sinh học về:
(1) đá tai của Cá bống răng cưa bao gồm hình dạng, khối lượng, kích thước đá tai
và quan hệ hồi quy giữa khối lượng đá tai với kích thước cơ thể cá;
(2) sinh sản của loài Cá bống răng cưa như: tỷ lệ giới tính, hình thức sinh sản, mùa
vụ sinh sản, chiều dài thành thục đầu tiên (Lm), sức sinh sản tuyệt đối (F) và quan hệ hồi
quy giữa sức sinh sản với kích thước cơ thể cá cái;
(3) tăng trưởng của loài Cá bống răng cưa như: chiều dài tổng, khối lượng, quan
hệ hồi quy chiều dài-khối lượng cá (LWR), hình thức tăng trưởng, hệ số điều kiện (CF)
Trang 6Nội dung 3: Nghiên cứu đặc điểm sinh thái về:
(1) dinh dưỡng của loài Cá bống răng cưa như: tính ăn, cường độ bắt mồi, hệ số béo Clark, phổ thức ăn;
(2) quần thể của loài Cá bống răng cưa như chiều dài tối đa (L∞), hệ số tăng trưởng
tổng hợp (’), hệ số khai thác (E), hệ số chết tổng (Z), hệ số chết do khai thác (F) và
chiều dài đánh bắt đầu tiên (Lc) làm cơ sở đánh giá tình trạng khai thác nguồn lợi của
loài cá này
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
1.6.1 Ý nghĩa khoa học
Luận án góp phần cung cấp dẫn liệu khoa học đầy đủ và có hệ thống về phân loại
ba loài thuộc giống Butis, sinh học và sinh thái của Cá bống răng cưa ở vùng cửa sông
ven biển ĐBSCL Kết quả của luận án là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu liên quan đến đặc điểm sinh học và sinh thái của hai loài còn lại thuộc giống
Butis ở Việt Nam
1.6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Những đặc điểm di truyền, sinh học và sinh thái đạt được trong nghiên cứu là cơ
sở dữ liệu quan trọng giúp nghiên cứu nuôi và sinh sản nhân tạo loài cá này ở vùng ven biển ĐBSCL, đa dạng hóa đối tượng nuôi trồng thủy sản, góp phần bảo tồn và phát triển hợp lý nghề nuôi thủy sản vùng
1.7 Tính mới của đề tài
- Đánh giá mối quan hệ giữa yếu tố môi trường và đặc điểm hình thái
- Đã đăng ký mới 24 trình tự vùng gen COI và Cytb của ba loài B koilomatodon,
B humeralis và B butis trên ngân hàng gen NCBI
- So sánh sai khác và xây dựng cây quan hệ di truyền giữa ba loài cá bống thuộc
giống Butis dựa trên phân tích trình tự gen ty thể COI và Cytb
- Ở loài Cá bống răng cưa, xác định được đặc điểm hình thái đá tai và quan hệ hồi quy giữa sự tăng trưởng đá tai với tăng trưởng sinh dưỡng ở cá; chiều dài thành thục đầu tiên, hình thức và mùa sinh sản; kiểu hình tăng trưởng và đánh giá sự thích nghi của Cá bống răng cưa với môi trường sống
- Xác định được tính ăn và phổ thức ăn của Cá bống răng cưa; ước tính được các thông số và hiện trạng khai thác của quần thể cá
Trang 7CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cá bống răng cưa B koilomatodon
Cá bống răng cưa B koilomatodon (Bleeker, 1849) thuộc giống Butis, họ Butidae,
bộ Gobiiformes có nguồn gốc từ Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương Loài này được ghi nhận đầu tiên ở Đại Tây Dương vào năm 1972 tại kênh đào Panama (Dawson, 1973)
Sau đó, loài này được ghi nhận ở bờ biển Tây Phi (Miller et al., 1989), bờ biển Tây Nam Đại Tây Dương ở Venezuela (Lasso-Alcalá et al., 2005) và từ Bắc đến Nam Brazil (Loebmann et al., 2010; Macieira et al., 2012) Một số nghiên cứu cho thấy Cá bống
răng cưa phổ biến trong các vũng triều ở vùng liên triều (intertidal zone), chúng có lối
sống ít vận động, khả năng bơi liên tục bị hạn chế và là động vật ăn thịt (Contente et al.,
2016)
Ở Việt Nam, Thủy và ctv (2020) ghi nhận loài Cá bống răng cưa hiện diện ở vùng
cửa sông Ba Lạt có đầu và thân tương đối ngắn, thân cao, hàm dưới hơi dài hơn hàm trên Trên thân có một số chấm đen, bên thân có 4-7 dải màu tối xen kẽ, gốc vây ngực
có một chấm đen lớn SL (chiều dài chuẩn)=23,3-54,4 mm, D1 (vây lưng thứ nhất)=VI; D2 (vây lưng thứ hai)=I, 8; P (vây ngực)=20-21; V (vây bụng)=I, 5; A=I, 8; PDS (vảy trước vây lưng)=13-16; LR (vảy dọc thân)=29-32; TR (vảy ngang thân từ gốc vây lưng thứ hai)=8-9
Về sinh sản, chưa có nghiên cứu nào được công bố liên quan đến đặc điểm sinh sản của Cá bống răng cưa Về dinh dưỡng, chúng là động vặt săn mồi ở đáy với thức ăn chủ yếu là giáp xác và cá nhỏ (Froese & Pauly, 2022) Bên cạnh đó, chúng còn tham gia vào hệ sinh thái sinh vật phù du biển ở dạng ấu trùng (Allen & Robertson, 1994; Graham,
1997; Helfman et al., 1997; Berra, 2001) Một số loài cơ thể có màu tối cho phép chúng
ẩn nấp trước kẻ săn mồi và một số tạo thành đàn dầy đặc để bảo vệ các cá thể khỏi sự săn mồi (Kuiter, 1993; Berra, 2001)
Về quần thể, loài này được xem là loài ngoại lai xâm lấn hệ sinh thái cửa sông và biển ở vùng duyên hải phía Đông Amazon, thậm chí chúng có thể lấn át các loài cá bản
địa khác (Bonfim et al., 2017) Những loài này có các đặc tính sinh lý, hình thái và hành
vi thích hợp cho sự xâm lấn Chẳng hạn, khả năng thích nghi với sự biến động nhiệt độ
và độ mặn cao cho phép chúng tồn tại ở các loại khu vực sống khác nhau từ nước ngọt đến nước lợ Hơn nữa, kích thước cơ thể nhỏ và các hành vi trong ẩn nấp và săn mồi cho phép chúng dễ dàng tìm nơi trú ẩn, đẻ trứng và tìm thức ăn cũng như tránh sự săn mồi
của các loài cá ăn thịt khác (Wonham et al., 2000)
Trang 8biển phía Đông Ấn Độ đến Philippines, phía Đông Indonesia và Papua New Guinea (McDowall, 1997; Froese & Pauly, 2022) Chúng cũng được tìm thấy ở lưu vực Marina, nằm ngay phía Nam thành phố Singapore, từng là một vùng đất nông mở rộng ven biển
nhưng đã chuyển thành hồ nước ngọt vào năm 2008 do xây dựng đập nước (Hui et al., 2010) Theo mô tả của Định và ctv (2013), B humeralis có đầu dẹp, mõm dài và nhọn,
giữa hai ổ mắt có một cặp xương nhọn, vảy nhỏ phủ đều, cuống đuôi cao và có thể tăng trưởng đến 10,7 cm SL
Cá bống B butis thường được tìm thấy dọc các vùng ven biển nước lợ và nước
ngọt ở Ấn Độ Dương, Tây Thái Bình Dương, bờ biển châu Phi và các đảo Fiji Là loài sống ở đáy, chúng thích sống ở những vùng nước có nhiều cây cối, trong các đầm lầy ngập mặn, gần đáy bùn các đầm phá, cửa sông và rừng ngập mặn với thảm thực vật phong phú (Froese & Pauly, 2022) Ở ĐBSCL, chúng được tìm thấy ở các tỉnh Trà Vinh,
Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau (Thảo & Yên, 2015; Phan et al., 2021a) Trong mô tả của Định và ctv (2013), B butis có một cặp xương ở khoảng giữa 2 ổ mắt, cuống đuôi thon hơn so với B humeralis, răng hàm bên ngoài lớn hơn những răng bên trong Thức
ăn chủ yếu của chúng là cá nhỏ và giáp xác (Pethiyagoda, 1991)
Trang 9CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Sự biến động yếu tố môi trường ở khu vực nghiên cứu
Tiến hành đo và ghi nhận pH, nhiệt độ và độ mặn của môi trường nước ở 6 điểm Duyên Hải (Trà Vinh), Cù Lao Dung và Trần Đề (Sóc Trăng), Hòa Bình và Đông Hải (Bạc Liêu) và Đầm Dơi (Cà Mau) từ 07/2019 đến 06/2020
Xử lý số liệu thống kê bằng t-test và One-way ANOVA Phần mềm SPSS v.21 đã
được sử dụng để phân tích tất cả dữ liệu ở mức ý nghĩa p<0,05
3.2 Nội dung nghiên cứu 1: Xác định loài và mối quan hệ di truyền giữa ba loài Butis
ở khu vực nghiên cứu dựa trên đặc điểm hình thái và phương pháp mã vạch DNA của
gen COI và Cytb
Sau khi định loại, mẫu cá được phân tích đặc điểm hình thái ngoài bao gồm: chiều
dài tổng (TL), chiều cao thân (BD), chiều dài đầu (HL), đường kính mắt (ED) và khoảng cách giữa hai mắt (DE) Nếu tỷ lệ hình thái có sự khác biệt giữa các loài, phân tích thành
phần chính (Principal Component Analysis-PCA) được sử dụng để xác định yếu tố môi trường và đặc điểm hình thái nào là yếu tố chính gây nên những khác biệt này PCA được chạy bằng phần mềm PRIMER v.6
Ba mẫu cá đại diện cho ba loài trong giống Butis ở bốn điểm nghiên cứu (12 mẫu) được chọn để phân tích trình tự gen COI và Cytb làm cơ sở định danh loài bằng phương
pháp mã vạch DNA gồm các bước:
- Tách chiết DNA tổng bằng Bộ kit TopPURE® Genomic DNA Extraction Kit
(ABT, Việt Nam)
- Thực hiện phản ứng PCR với ba cặp mồi: Fish F1/Fish R1, GcytbL/GcytbH và
Sa Genomics, Thành phố Cần Thơ, Việt Nam
- Phân tích kết quả và xây dựng cây quan hệ di truyền: sử dụng phần mềm Bioedit
và MEGA 7.0
3.3 Nội dung nghiên cứu 2: Nghiên cứu đặc điểm sinh học đá tai, sinh sản, hình thái
và tăng trưởng của loài Cá bống răng cưa ở khu vực nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm sinh học đá tai
Đá tai được cân bằng cân kỹ thuật số với sai số 0,1 mg Ảnh đá tai được chụp bằng kính hiển vi có liên kết với camera Phần mềm Motic Image Plus v.2.0 sau đó được sử
dụng để đo chiều dài và chiều rộng của đá tai dựa trên các ảnh đã chụp
Trang 10Xử lý số liệu thống kê bằng t-test và One-way ANOVA Phần mềm SPSS v.21 đã
được sử dụng để phân tích tất cả dữ liệu ở mức ý nghĩa p<0,05
Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản
Xác định giới tính dựa trên hình thái ngoài gai sinh dục của Cá bống răng cưa Bốn giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục được xác định trực quan bằng mắt thường, đồng thời kiểm tra mức độ thành thục sinh dục của cá dựa trên tổ chức mô học của tuyến sinh dục Chiều dài thành thục đầu tiên của cá được xác định dựa theo công thức của King
(2013): P = 1/(1+exp[-r×(TL-Lm )]), trong đó, P là tỉ lệ cá thành thục (%), TL là chiều
dài tổng của cá (cm), Lm là chiều dài thành thục đầu tiên của cá
Kết hợp phân tích giá trị GSI, HSI và tần số xuất hiện của tuyến sinh dục trưởng thành để xác định mùa vụ sinh sản (Dinh & Le, 2017) Hệ số GSI được tính theo công thức của Sturm (1978): GSI=100×(G/W), trong đó G là khối lượng tuyến sinh dục (0,1 mg) và W là khối lượng cơ thể cá (0,01 g) Hệ số HSI được xác định bằng công thức của Miller (1984): HSI=LW×100/W, trong đó LW là khối lượng gan cá (0,1 mg) và W là
khối lượng cơ thể cá (0,01 g)
Ở mỗi điểm thu mẫu, 30 mẫu cá đại diện có buồng trứng ở giai đoạn IV được dùng
để đếm trứng Mỗi buồng trứng được cắt thành ba mẫu phụ dầy khoảng 1 mm ở hai đầu
và ở giữa Sau khi cân khối lượng, trứng được đếm dưới kính nhìn nổi (Motic) Khi đó,
sức sinh sản tuyệt đối được tính theo công thức của Bagenal (1967): F= (n*G)/g Trong đó: G là khối lượng buồng trứng (0,1 mg), g là khối lượng mẫu phụ (0,1 mg), n là số
lượng trứng có trong mẫu phụ
Hồi quy logarit được sử dụng để kiểm tra quan hệ hồi quy giữa kích thước cơ thể
cá (TL và W) với sức sinh sản tuyệt đối Xử lý số liệu thống kê bằng t-test và One-way
ANOVA Phần mềm SPSS v.21 đã được sử dụng để phân tích tất cả dữ liệu ở mức ý
nghĩa p<0,05
Nghiên cứu đặc điểm sinh học hình thái và tăng trưởng
Chiều dài tổng (TL) và khối lượng (W) của từng mẫu cá được dùng để thiết lập
phương trình quan hệ hồi quy giữa chiều dài và khối lượng của cá dựa trên công thức của Ricker (1973): W = a TLb Trong đó, W là khối lượng cơ thể cá (sai số 0,01g),
TL là chiều dài tổng của cá (sai số 0,01 cm), a và b là các hệ số Hệ số b sau đó được
dùng để xác định hình thức tăng trưởng của cá
Hệ số CF được xác định theo công thức của Le Cren (1951): CF W
TLb
a
=
đó, W là khối lượng cá (0,01 g), TL là chiều dài tổng của cá (0,01 cm), a và b là hệ số
tăng trưởng (lấy từ phương trình quan hệ hồi quy giữa chiều dài và khối lượng cá)
Xử lý số liệu thống kê bằng t-test, One-way ANOVA và Two-way ANOVA Phần
mềm SPSS v.21 đã được sử dụng để phân tích tất cả dữ liệu ở mức ý nghĩa p<0,05
Trang 113 4 Nội dung nghiên cứu 3: Nghiên cứu đặc điểm sinh thái dinh dưỡng và quần thể
của loài Cá bống răng cưa ở khu vực nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm sinh thái dinh dưỡng
Mẫu cá sau khi xác định chiều dài và khối lượng được giải phẫu để lấy ống tiêu hóa phục vụ cho nghiên cứu Ống tiêu hóa sau đó được xác định chiều dài tổng (sai số 0,1 cm) và khối lượng (sai số 0,01 mg)
Tính ăn của cá được xác định bằng chỉ số RGL theo công thức sau (Al-Hussaini,
1949):
RGL= Chiều dài ruột cá
Chiều dài tổng của cáCường độ bắt mồi của cá được xác định bằng chỉ số sinh trắc dạ dày của Desai (1970) theo công thức sau:
GI= Khối lượng ruột cá
Khối lượng cơ thể cá
Hệ số béo được xác định bằng phương pháp của Clark (1928) và được dùng để xác định khả năng tích trữ năng lượng của cá
tác được kiểm tra bằng phép thử PERMANOVA+ v.1.0.1 add-on package (Anderson et
al., 2008) Tất cả phép thử được xác định ở mức ý nghĩa 5%
Xử lý số liệu thống kê bằng t-test, One-way ANOVA và Two-way ANOVA Phần
mềm SPSS v.21 đã được sử dụng để phân tích tất cả dữ liệu ở mức ý nghĩa p<0,05
Nghiên cứu đặc điểm sinh thái quần thể
Tần suất chiều dài của cá được dùng để xác định các tham số quần thể thông qua phương trình von Bertalanffy:
Trang 12Trong đó, L∞ là chiều dài tiệm cận cực đại mà cá có thể đạt được (cm), K là hệ số tăng trưởng của cá, t là tuổi cá ở thời điểm t; t0 là tuổi lý thuyết mà ở đó chiều dài của
cá bằng 0 (Pauly, 1987)
Hệ số tăng trưởng tổng hợp (’) của cá được ước lượng từ công thức của Pauly &
Munro (1984): ’ = logK + 2logL ∞ Tuổi thọ tối đa của cá được xác định theo công thức: tmax=3/K Trong đó, K là tốc độ tăng trưởng (Taylor, 1958; Pauly, 1980)
Hệ số chết tổng (Z) được xác định bằng đường cong sản lượng chuyển đổi từ số liệu tần suất chiều dài (Pauly et al., 1995) Hệ số chết tự nhiên (M) được xác định bằng
công thức của Pauly (1980):
logM = −0, 0066 0, 279 log− L+0, 6543 log K +0, 463 log T
Hệ số chết do khai thác (F) và hệ số khai thác (E) được xác định theo công thức sau (Ricker, 1975): F=Z– M và E=F/Z
Các tham số của quần thể được phân tích với sự hỗ trợ của phần mềm FiSAT II bằng phương pháp ELEFAN I
Trang 13CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Sự biến động yếu tố môi trường ở khu vực nghiên cứu
Bảng 4.1 cho thấy sự biến động các giá trị pH và độ mặn theo mùa, điểm và tháng thu mẫu pH giữa hai mùa và các tháng thu mẫu không khác biệt về thống kê, dao động trong khoảng hẹp từ 7,73±0,03 đến 7,93±0,04 Ngược lại, độ mặn thể hiện sự khác biệt theo mùa và tháng thu mẫu Giá trị độ mặn cao được ghi nhận từ tháng 1 đến tháng 5/2020 (từ 17,33±2,62‰ đến 26,17±2,0‰) Đặc biệt, độ mặn cao nhất được ghi nhận vào tháng 2/2020 (25,83±2,01‰) và tháng 3/2020 (26,17±2,0‰), rơi vào các tháng mùa
khô Theo Đông và ctv (2019), độ mặn lớn nhất thường được ghi nhận vào mùa khô đặc
biệt vào tháng 4 và tháng 5 khi lượng nước ở thượng nguồn đổ về giảm, thủy triều ảnh hưởng mạnh đến các hệ thống sông chính ở ĐBSCL, kệnh rạch nội đồng, dẫn theo nước
mặn xâm nhập sâu cả trên sông và nội đồng