TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰCBỘ MÔN KHOA HỌC CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Tên đề tài: Nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và vấn đề nêu cao tin thần độ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC
BỘ MÔN KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN MÔN
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Tên đề tài: Nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và vấn đề nêu cao tin thần độc lập, tự chủ, tự cường trong
thời kì hội nhập.
Họ và tên: …KIM THỊ GIANG
Mã sinh viên: 19810230058
Lớp: …D14LOGISTICS2…………
Trang 2Hà Nội, 07/2021
Trang 3MỤC LỤC
A: LỜI MỞ ĐẦU………02 B: NỘI DUNG
I/ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1/ Vai trò của đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng …………03 2/ Lực lượng đoàn kết toàn dân tộc………04 3/ Nguyên tắc, phương pháp đại đoàn kết toàn dân tộc ……… 05 II/ VẬN DỤNG
1/ Về độc lập, tự chủ trong thời kì hội nhập quốc tế ……….07 2/ Thực trạng quá trình hội nhập quốc tế và giữ vững độc lập, tự chủ đất
nước………08 3/ Một số đề xuất và giải pháp về quá trình hội nhập và tinh thần độc lập tự lực, tự cường, tự chủ của đất nước………09 C: KẾT LUẬN……….11 D: TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 11
Trang 4
A: LỜI MỞ ĐẦU
Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, đại đoàn kết dân tộc đã trở thành di sản vô giá, truyền thống cực kì quý báu của dân tộc ta Đại đoàn kết dân tộc là một giá trị tinh thần to lớn, một truyền thống cực kì quý báu của dân tộc ta, được hun đúc trong suốt mấy ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữu nước Đoàn kết đã trở thành động lực to lớn, một triết lý nhân sinh và hành động để dân tộc ta vượt qua bao nhiêu biến cố, thăng trầm của thiên tai, địch họa, để tồn tại và phát triển bền vững Trên cơ sở thực tiễn cách mạng Việt Nam và thực tiễn cách mạng thế giới đã sớm hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
về đại đoàn kết dân tộc
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, sức mạnh dân tộc cần phải gắn kết chặt chẽ với sức mạnh thời đại Chúng ta phải tập trung quán triệt, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại của Đảng với phương châm: độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động tích cực hội nhập quốc tế, hướng tới đẩy mạnh, nâng tầm đối ngoại đa phương và song phương; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nghiệm của hội đồng quốc tế Thông qua đó, tận dụng các nguồn lực và tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, tạo môi trường hòa bình, điều kiện thuận lợi để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trang 5B NỘI DUNG
I/ C Ơ SỞ LÝ LUẬN
1/ Vai trò của đại đoàn kết toàn dân tộc
a/ Đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, cơ bản, nhất quán và lâu dài, xuyên suốt tiến trình cách mạng Đại đoàn kết không chỉ
là một chiến lược lớn trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, mà còn là chiến lược lớn
cả trong cách mạng xã hội chủ nghĩa Trong mỗi giai đoạn cách mạng, trước những yêu cầu
và nhiệm vụ khác nhau, chính sách và phương pháp tập hợp đại đoàn kết có thể và cần thiết phải điều chỉnh cho phù hợp với từng đối tượng khác nhau, song không bao giờ được thay đổi chủ trương đại đoàn kết dân tộc, vì đó là vấn đề sống còn, quyết định thành bại của cách mạng
Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta.”, “Đoàn kết là một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khăn, giành thắng lợi”, “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi”, “Bây giờ còn một điểm rất quan trọng, cũng là điểm mẹ Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt: Đó là đoàn kết”, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công”
b/ Đại đoàn kết toàn dân tộc dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của dân tộc
Đối với Hồ Chí Minh, đại đoàn kết không chỉ là khẩu hiệu chiến lược mà còn là mục tiêu lâu dài của cách mạng Do đó, đại đoàn kết dân tộc phải được xác định là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, phải được quán triệt trong tất cả các lĩnh vực, từ đường lối, chủ trương, chính sách, tới hoạt động thực tiễn của Đảng Trong lời kết thúc buổi ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam ngày 3-3-1951, Hồ Chí Minh tuyên bố: “Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong tám chữu là: ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC”
Hồ Chí Minh còn chỉ ra rằng, đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là mục tiêu của Đảng, mà còn là nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc Bởi vì cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, và do quần chúng, vì quần chúng Đại đoàn kết là yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, là đòi hỏi khách quan của quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh để
tự giải phóng Từ trong phong trào đấu tranh để tự giải phóng và xây dựng xã hội mới tốt đẹp, quần chúng nảy sinh nhu cầu đoàn kết và sự hợp tác, Đảng Cộng Sản phải có xứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn quần chúng, chuyển những nhu cầu, những đòi hỏi khách quan, tự phát của quần chúng thành những đòi hỏi tự giác, thành hiện thực có tổ chức trong khối đại đoàn kết, tạo tahnhf sức mạnh tổng hợp trong cuộc đáu tranh vì độc lập của dân tộc, tự do cho nhân dân và hạnh phúc cho con người
2/ Lực lượng đại đoàn kết dân tộc
a/ Lực lượng đại đoàn kết toàn dân
“Nhân dân” trong tư tưởng Hồ Chí Minh vừa được hiểu với nghĩa là mỗi con người Việt Nam cụ thể, vừa là một tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân, với những mối liên hệ
cả quá khứ và hiện tại, họ là chủ thể của khối đại đoàn kết dân tộc Nói đại đoàn kết toàn dân tộc cũng có nghĩa là phải tập hợp được tất cả mọi người dân vào một khối trong cuộc
Trang 6đấu tranh chung Đó là lực lượng gồm nhiều tầng lớp, nhiều cấp độ, có quan hệ liên kết qua lại giữa các thành viên, các bộ phận, các lực lượng xã hội, từ thấp đến cao, từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới , đoàn kết trong Đảng; đoàn kết các giai cấp, tầng lớp người Việt Nam ở nước ngoài
b/ Điều kiện thực hiện khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, phải kế thừa truyền thống yêu nước, nhân nghãi, đoàn kết của dân tộc Truyền thống đó là cội nguồn sức mạnh vô định để cả dân tộc chiến đấu và chiến thắng mọi thiên tại địch họa, làm cho đất nước được trường tồn, bản sắc dân tộc được giữ vững
Để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, phải có lòng khoan dung, độ lượng vưới con người Hồ Chí Minh chỉ rõ, trong mỗi cá nhân cũng như trong mỗi cộng đồng đều có những ưu điểm, khuyết điểm, mặt tốt, mặt xấu Cho nên, vì lợi ích của cách mạng cần phải
có lòng khoan dung độ lượng, trân trọng cái phần thiện dù nhỏ nhất ở mỗi người mới có thể tập hợp, quy tụ rộng rãi mọi lực lượng
Để thực hành đại đoàn kết rộng rãi, cần có niềm tin vào nhân dân Với Hồ Chí Minh, yêu dân, tin dân, dựa vào dân, sống, đấu tranh vì hạnh phúc của nhân dân là nguyên tắc tối cao Nguyên tắc này vừa là sự tiếp nối truyền thống dân tộc “ Nước lấy dân làm gốc”, “ Chở thuyền và lật thuyền cũng là dân”, đồng thời là sự quán triệt sâu sắc nguyên lý Mácxit
“Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”
c/Nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Muốn xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phải xác định rõ đâu là nền tảng của khối đoàn kết dân tộc và những lực lượng nào tạo nên nền tảng đó Hồ Chí Minh chỉ rõ:
“Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác Đó là nền, gốc của đại đoàn kết Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lướp nhân dân khác”
Đoàn kết dân tộc còn phải đoàn kết và thống nhất trong Đảng Sự đoàn kết thống nhất của Đảng phải dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin; cương lĩnh, đường lối quan điểm của Đảng; điều lệ Đảng ; nghị quyết của tổ chức Đảng cao cấp
d/ Mặt trận – hình thức tổ chức của khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Mặt trận chính là nơi quy tụ mọi tổ chức và cá nhân yêu nước, tập hợp mọi người dân yêu nước Việt, không chỉ ở trong nước mà còn những các người Việt Nam định cư ở nước ngoài, dù ở bất kì phương trời nào nếu tấm lòng vẫn hướng về quê hương đất nước, về tổ quốc Việt Nam
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Mặt trận dân tộc thống nhất được xây dựng và hoạt động trên một số cơ sở sau đây:
Phải được xây dựng trên nền tảng liên minh công - nông – trí;
Phải xuất phát từ mục tiêu vì nước, vì dân;
Phải hoạt động theo nguyên tắc hiệp thưuong dân chủ;
Mặt trận là khối đoàn kết lâu dài, chặt chẽ, đoàn kết thật sự, chân thành, thân ái giúp
đỡ nhau cùng tiến bộ
3/ Nguyên tắc, phương pháp đại đoàn kết toàn dân tộc
a/ Nguyên tắc đại đoàn kết toàn dân tộc
Trang 7Đại đoàn kết phải được xây dựng trên cơ sở bảo đảm những lợi ích tối cao của dân tộc và những quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động
Suy đến cùng, có đoàn kết hay không và đoàn kết đến mức nào là tùy thuộc vào việc nhận thức và giải quyết đúng đắn các mối quan hệ lợi ích phức tạp, chằng chéo giữa cá nhân – tập thể; gia đình – xã hội; bộ phận - toàn thể; giai cấp- dân tộc, quốc gia – quốc tế Các cặp quan hệ nói trên luôn chứa đựng những yếu tố thống nhất và mâu thuẫn; các yếu tố
đó luôn luôn biến đổi theo sự vận động của đời sống thực tiễn, có lúc thì thống nhất với nhau, có lúc lại mâu thuẫn với nhau Nguyên tắc đoàn kết của Hồ Chí Minh là tìm kiếm, trân trọng, phát huy những yếu tố tương đồng, thống nhất để hạn chế, giải quyết những yếu
tố khác biệt, mâu thuẫn theo phương châm chỉ đạo: Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết và tất
cả vì con người
Tin vào dân, lấy dân làm gốc để thực hiện đại đoàn kết
Tin vào dân, dựa vào dân trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh chính là sự kế thừa
và nâng cao tư duy chính trị truyền thống: “Nước lấy dân làm gốc”, “Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân” “ Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong” Nguyên tắc này của Người còn là sự quán triệt sâu sắc trong nhận thức, tình cảm, nguyên lý Mácxit “ Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” Với Hồ Chí Minh, yêu dân, tin dân, dựa vào dân, sống, đấu tranh vì dân là nguyên tắc tối cao, xuyên suốt trong tư duy chiến lược và hoạt động thực tiễn Nguyên tắc sống còn đó được Người khái quát ngắn gọn
vô cùng sâu sắc: “ Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” và “gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”
Đoàn kết trên cơ sở liên minh công – nông – trí do giai cấp công nhân lãnh đạo Trong quá trình tập hợp, phát triển lực lượng cách mạng, Hồ Chí Minh luôn nhất quán một nhận thức khoa học: đoàn kết không phải là một tập hợp ngẫu nhiên, tựu phát, nhất thời, mà phải là một tập hợp bền vững của các lực lượng xã hội có định hướng, có tổ chứuc, có lãnh đạo Đây là một nguyên tắc cốt lõi phân biệt chiến lược đoàn kết Hồ Chí Minh với tư tưởng đoàn kết, tập hợp lực lượng của một số nhà yêu nước Việt Nam cuối thế
kỉ XIX đầu thế kỉ XX và một số lãnh tụ cách mạng khác ở khu vực và trên thế giới Nói khái quát, đại đoàn kết phải được xây dựng trên lập trường của giai cấp công nhân, lấy liên minh công – nông – trí làm nền tảng do Đảng Cộng Sản lãnh đạo – đó là nguyên tắc nhất quán của Hồ Chí Minh Chỉ có tuân thủ quy tắc này, đại đoàn kết mới có sức sống bền vững và trường tồn
b/ Phương pháp đại đoàn kết dân tộc
Phương pháp tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng
Công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng là một khoa học, nghệ thuật cách mạng, đòi hỏi các tổ chức, các cán bộ cách mạng phải tìm tòi, lựa chọn nội dung, hình thức phù hợp để đưa đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản, của lãnh tụ vào dân chúng, biến tư tưởng của Đảng thành tư tưởng, tình cảm của mọi người Hồ Chí Minh là bậc thầy trong công tác vận động, giáo dục quần chúng Đồng thời, Người cũng hết lòng chăm lo, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ cách mạng kiểu mới có đủ năng lực, phẩm chất làm hạt nhân đoàn kết dân chúng
Phương pháp tổ chức
Trang 8Để xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, ngoài sử dụng công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng thì cần thiết phải có phương pháp tổ chức khoa học Đó là phương pháp xây dựng, kiện toàn, không ngừng phát triển hệ thống chính trị cách mạng, từ Đảng, Nhà nước đến các đoàn thể quần chúng Sự thống nhất và bền vững của hệ thống chính trị cách mạng, theo Hồ Chí Minh, chính là nhân tố quyết định
sự tồn tại và sức mạnh của đại đoàn đoàn kết dân tộc
Phương pháp xử lý đồng bộ các mối quan hệ nhằm thực hiện thêm bạn bớt thù Trong thực tiễn cách mạng giải phóng dân tộc, giai cấp luôn phân định thành ba trận tuyến: Lực lượng cách mạng, lực lượng phản cách mạng và ở giữa là một lực lượng trung gian Thành bại trong cuộc đấu tranh giữa hai lực lượng đối địch không chỉ tùy thuộc vào thực lực của mỗi bên, mà còn tùy thuộc một phần rất lớn vào yếu tố: bên nào tranh thủ được sự ủng hộ của lực lượng trung gian Phương pháp đại đoàn kết Hồ Chí Minh chính là phương pháp xử lý khoa học mối tương quan ba chiều; lực lượng cách mạng, lực lượng trung gian, lực lượng phản cách mạng đó, nhằm mục tiêu mở rộng đến mức tối đa trận tuyến cách mạng, tạo thế áp đảo của cách mạng đối với phản cách mạng để dành thắng lợi
II/ V ẬN DỤNG:
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường trong thời kì hội nhập.
1/ Về độc lập, tự chủ trong thời kì hội nhập quốc tế.
Độc lập, tự chủ là ý chí sắt đá được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, trở thành giá trị cốt lõi thiêng liêng trong truyền thống quý báu của dân tộc ta Đảng
ta coi độc lập, tự chủ là vấn đề có tính nguyên tắc, nhất quán, còn tầm quan trọng sống còn xuyên suốt lịch sử cách mạng Việt Nam
Trong điều kiện của thế giưới hiện nay, toàn cầu hóa đạt tới trình độ phát triển chưa từng có, kéo theo tất cả các nước tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế và hội nhập quốc
tế trở thành một tất yếu khách quan không thể bỏ qua hoặc cưỡng lại Hội nhập để phát triển, muốn phát triển thì phải hội nhập Tuy nhiên, quá trình hội nhập quốc tế luôn là sân chơi có nhiều cơ hội và không ít thách thức Có người ví hội nhập quốc tế như dòng sông chảy ra biển lớn, dễ bị hòa tan; hoặc như bước vào vòng xoáy thời cuộc, bị mất phương hướng bất kẻ lúc nào Lại có quan điểm cho rằng mở cửa, hội nhập chính là đón gió lành và gió độc vào nhà Hội nhập quốc tế trong một môi trường cạnh tranh quyết liệt về chính trị, kinh tế, sự chi phối của các nước lướn và những diễn biến phức tạp khó lường của thế giới, đòi hỏi phải giữu được độc lập, tự chủ, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Đảng ta đã xác định hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược lớn; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế với giữ vững độc lập, tự chủ đất nước là một trong những mối quan hệ quan trọng đặc biệt cần giải quyết trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việc chỉ rõ mối quan hệ này để đưa và Cương linh và Văn kiện Đại hội của Đảng thể hiện sự sáng tạo
và bước phát triển mới về tổng kết thực tiễn, nâng tầm lý luận của Đảng
2/ Thực trạng quá trình hội nhập quốc tế và giữ vững độc lập, tự chủ đất nước.
Trong những năm, Đảng và Nhà nước ta đã quán triệt, xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế trong công tác đối ngoại và thu được những thắng lợi ấn tượng Văn kiện Đại hội lần thứ XII khẳng định: “ Thực hiện đường lối
Trang 9đối ngoại đúng đắn của Đảng, trong thời gian qua, hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế của nước ta đã đạt được những kết quả quan trọng Môi trường hòa bình thuận lợi cho sự phát triển, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ tiếp tục được giữ vững Chủ động và tích cực hội nhậo quốc tế về chính trị của nước ta trong thời gian qua
đã đạt được những thành quả tốt đẹp Đã đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn với các đối tác, nhất
là với các đối tác quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập vào thực chất: chủ động tham gia phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt
là ASEAN và Liên hợp quốc Hội nhập quốc tế về chính trị được thực hiện tương đối nhanh, sâu sắc và thực chất cả trong kênh song phương và đa phương Hội nhập song phương tạo tiền đề để Việt Nam phát huy vai trò trên diễn đàn đa phương, qua đó tạo thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng hơn Hội nhập khu vực và hội nhập toàn cầu đã góp phần cải thiện đáng kể tiềm lực trong nước, nâng cao vị thế địa chiến lược của Việt Nam tại khu vực Đông Nam Á, Đông Á, Châu Á – Thái Bình Dương và trên phạm vi toàn cầu Từ một quốc gia hội nhập sau, Việt Nam đã trở thành một nhân tố tích cực tham gia tiến trình hội nhập khu vực chủ động đề xuất các sáng kiến thúc đẩy các liên kết Việt Nam cũng tích cực hội nhập sâu rộng vào trật tự kinh tế, chính trị toàn cầu, trở thành thành viên
có trách nhiệm và uy tín trong cộng đồng quốc tế
Đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta đã xúc tiến mạnh thương mại và đầu
tư quốc tế, mở rộng thị trường, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực
về vốn khoa học – công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến; khai thác hiệu quả các thỏa thuận được kí kết, đặc biệt là khu vực mậu dịch tự do song phương và đa phương, Thành công của việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài là đã hình thành các cụm sản xuất và phát triển các ngành sản xuất có trình độ công nghệ tiên tiến Thành công của hội nhập kinh tế quốc tế góp phần tăng cường nguồn lực, tạo điều kiện vật chất – kĩ thuật thuận lợi cho việc bảo vệ độc lập, tự chủ của đất nước Thành công của hội nhập kinh tế tạo nền tảng hội nhập về chính trị và hội nhập về các lĩnh vực khác Kinh tế phát triển, sức mạnh tổng hợp tăng lên
sẽ là nhân tố quan trọng để giữu vững độc lập, tự chủ của đất nước
Hội nhập quốc tế trên lĩnh vực văn hóa – xã hội của nước ta với cộng đồng thế giới được đẩy mạnh, đa đạng về hình thức, phương thức, đối tác và có chuyển biến về chất lượng Việt Nam đã kí hơn 100 thỏa thuận, điều ước quốc tế song phương có nội dung văn hóa Hội nhập văn hóa – xã hội đi vào chiều sâu đã thu hút bạn bè quốc tế đến với Việt Nam ngày một nhiều hơn
Từ thành công của hội nhập của lĩnh vực này đưa tới việc hình thành nhiều dự án, nhiều công trình văn hóa ngay tại Việt Nam với quy mô ngày càng mở rộng, tạo điều kiện
để nhân dân ta có cơ hội tiếp cận và thưởng thức các giá trị văn hóa tiêu biểu của nhiều quốc gia trên thế giới, từ đó thúc đẩy tiềm năng sáng tạo của nhân dân và khuyến khích giao lưu với cộng đồng quốc tế Nguồn lực và động lực về văn hóa – xã hội được tăng cường sẽ là yếu tố quan trọng để chúng ta giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, để ánh sáng văn hóa Việt Nam là ngôi sao lấp lánh trong bầu trời văn hóa các dân tộc trên thế giới Hội nhập trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh là một trong những nhiệm vụ quan trọng để phục vụ và hỗ trợ cho chính sách chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện của Đảng và Nhà nước ta, vừa phục vụ cho sự phát triển của đất nước, vừa bảo vệ độc lập,
tự chủ, tự quyền quốc gia trong bối cảnh môi trường quốc phòng - an ninh trên thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp Việt Nam đã từng bước mở rộng hợp tác quốc phòng
Trang 10– an ninh với các nước lớn và các nước trong khu vực, đã có quan hệ quốc phòng chính thức với gần 70 nước, đặt văn phòng tùy viên quân sự tại hơn 30 nước và đã có hơn 40 nước có văn phòng tùy viên quân sự tại Việt Nam Việt Nam đã tham gia tích cực vào các diễn đàn an ninh – quốc phòng khu vực và từng bước tham gia các hoạt động hợp tác quốc
tế về an ninh – quân sự toàn cầu
3/ Một số đề xuất và giải pháp về quá trình hội nhập và tinh thần độc lập tự lực, tự cường, tự chủ đất nước.
Trước những vấn đề mới đặt ra, để giữu vững độc lập, tự chủ trong khi thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi để hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hơn, vấn đề quan trọng hàng đầu là phải bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia – dân tộc, bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, xã hội, tạo môi trường hòa bình và điều kiện thuận lợi để phát triển đất nước
Các nghị quyết ủa Đảng được xác định rõ những nguyên tắc, phương châm, mục tiêu, nhiệm vụ và phương hướng lớn cho quá trình hội nhập quốc tế Để bảo vệ, giữ vững độc lập, tự chủ trong quá trình hội nhập quốc tế, cần thực hiện tốt một số định hướng giải pháp quan trọng sau:
Thứ nhất, xác định rõ và luôn kiên định lợi ích quốc gia là mục tiêu cao nhất trong quá trình hội nhập quốc tế Lợi ích quốc gia là hằng số, mọi vấn đề liên quan đến quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế phải được soi chiếu từ lợi ích quốc gia – dân tộc Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia – dân tộc là giá trị cốt lõi trong quan hệ quốc tế
Thứ hai, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia về chính trị - đối ngoại, kinh tế, văn hóa – xã hội, quốc phòng – an ninh nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia là yếu tố quyết định thành công của quá trình hội nhập quốc tế Đó là sức mạnh được tạo nên từ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, của khối đoàn kết toàn dân tộc, của văn hóa, của con người Việt Nam; sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc Thứ ba, thức hiện nhất quán phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan
hệ quan hệ quốc tế, lấy nguyên tắc của luật pháp quốc tế để xử lý quan hệ hệ đối ngoại Nước ta là một bộ phận không thể tách rời thế giới, gắn liền với tiến trình phát triển của thế giới Xa rời sự vận động chung, sẽ tự cô lập mình với thế giới bên ngoài và ảnh hưởng tới
sự phát triển của đất nước Lịch sử cho thấy “nhất biên đảo” hoặc chỉ quan hệ với một vài đối tác là nguồn gốc gây ra mất độc lập, tự chủ vì dễ bị bó hẹp trong sự lựa chọn và nếu không đủ bản lĩnh và nội lực sẽ dễ bị trở thành công cụ của quốc gia khác Đa phương hóa,
đa dạng hóa là cách dễ đan cài lợi ích với các đối tác, qua đó tăng cường tư thế đất nước, giữu vững độc lập, tự chủ quốc gia
Là thành viên của cộng đồng quốc tế, Việt Nam chấp nhận “ luật chơi” chung , không thể hành động đơn phương không tính đến lợi ích của nước khác Đường lối, chính sách đối ngoại và đối nội của mỗi quốc gia đều có ảnh hưởng với những mức độ nhất định của những yếu tố tác động từ bên ngoài hoặc từ nước khác Trong quá trình hội nhập quốc tế vừa hợp tác, vừa đấu tranh, không tránh khỏi sự va chạm với các nước khác, khi đó dùng luật pháp quốc tế để xử lý sẽ có sự công bằng hơn và bảo vệ độc lập, tự chủ hữu hiệu hơn Thứ tư, chủ động phát hiện, ngăn chặn “từ sớm, từ xa” các nguy cơ đối với đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, quốc phòng – an ninh của đất nước Quá trình hội