Tuy vậy trong số những người theo quan điểm siêu hình cũng có một số người cho rằng, các sự vật, hiện tượng có mối liên hệ v7i nhau và mối liên hệ rất đa dạng, phong phú, song các hình t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC
BỘ MÔN KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
MÃ ĐỀ: 11
TIỂU LUẬN MÔN
TRIẾT HỌC MAC-LÊNIN
Tên đề tài 11 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và sự tác động qua lại giữa tăng
trưởng kinh tế v7i vấn đề bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên
Họ và tên: ………
Mã sinh viên:
L7p: ………
Hà Nội 2/20022
Trang 2
MỤC LỤC TRANG
A MỞ ĐẦU……….……….1
B NỘI DUNG……… ……….2
I Cơ sở lý luận……….…2
1 Khái niệm mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến ……… 2
2 Tính chất của mối liên hệ phổ biến ……… 3
3 Ý nghĩa phương pháp luận ……… 4
II Vận dụng ……… … 5
1 Mối liên hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường,……… 5
tài nguyên thiên nhiên 2 Những hậu quả ô nhiễm môi trường do phát triển kinh tế mang lại……….….6
3 Một số thiệt hại kinh tế do ô nhiễm môi trường gây nên ……….….8
4 Giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn v7i bảo vệ môi trường và ……… …10
tài nguyên thiên nhiên ở nư7c ta hiện nay C KẾT LUẬN……… 14
D TÀI LIỆU THAM KHẢO……….….15
Trang 3A MỞ ĐẦU
Chúng ta đang sống trong một mạng lư7i sự sống rộng l7n Hơn 20 năm qua, kể từ khi bư7c vào thực hiện mô hình kinh tế thị trường định hư7ng XHCN, nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng nhanh, đạt được nhiều thành tựu l7n, làm thay đổi khá rõ tình hình đất nư7c Kinh tế ra khỏi tình trạng khủng hoảng, hoạt động ngày càng năng động và có hiệu quả Của cải xã hội ngày càng nhiều, hàng hóa ngày càng phong phú Đời sống nhân dân từng bư7c được cải thiện Đất nư7c chẳng những giữ vững được ổn định chính trị trư7c những chấn động l7n trên thế gi7i mà còn có bư7c phát triển đi lên Tổng sản phẩm trong nư7c (GDP) tăng bình quân 7%/năm Nông nghiệp phát triển liên tục, đặc biệt là về sản xuất lương thực, nuôi trồng và khai thác thủy sản Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 13,5% năm Hệ thống kết cấu hạ tầng được tăng cường Các ngành dịch vụ, xuất khẩu và nhập khẩu phát triển Quan hệ đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế không ngừng được
mở rộng,
Tuy nhiên, cùng v7i sự tăng trưởng cao của nền kinh tế, chúng ta đang phải đối mặt v7i vấn đề ô nhiễm môi trường đang xảy ra v7i quy mô ngày càng rộng và mức độ ngày càng nghiêm trọng Việc khai thác quá mức các nguồn tài nguyên, sử dụng các hoá chất độc hại trong công - nông nghiệp, các chất thải không được xử lý trư7c khi thải ra môi trường, khói bụi và tiếng ồn từ các nhà máy, phương tiện giao thông đang dẫn t7i tình trạng môi trường ngày càng kiệt quệ và ô nhiễm
Do vậy, có thể nói gia tăng trưởng kinh tế và vấn đề bảo vệ môi trường có mối liên hệ tác động qua lại mật thiết Xuất phát từ thực tế khách quan đó, cần tìm hiểu, phân tích, đánh giá mối liên hệ này thông qua phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến từ đó tìm ra giải pháp góp phần cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường Việc tìm ra hư7ng đi phù hợp cho vấn đề này đóng vai trò quan trọng giúp kinh tế tăng trưởng bền vững nhưng vẫn giữ cho môi trường xanh, sạch, đẹp
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, em xin chọn đề tài : “Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và sự tác động qua lại giữa tăng trưởng kinh tế v7i vấn đề bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên.” làm đề tài tiểu luận của mình
Trang 4B NỘI DUNG
I Cơ sở lý luận
1 Khái niệm mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến
* Khái niệm mối liên hệ
Các sự vật, các hiện tượng và các quá trình khác nhau của thế gi7i có mối liên hệ qua lại, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại biệt lập, tách rời nhau? Nếu chúng có mối liên hệ qua lại thì cái gì quy định mối liên hệ đó?
Trong lịch sử triết học, để trả lời những câu hỏi đó ta thấy có nhiều quan điểm khác nhau Trả lời câu hỏi thứ nhất, những người theo quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật, hiện tượng tồn tại biệt lập, tách rời nhau, cái này tồn tại bên cạnh cái kia Chúng không
có sự phụ thuộc, không có sự ràng buộc và quy định lẫn nhau Nếu giữa chúng có sự quy định lẫn nhau thì cũng chỉ là những quy định bề ngoài, mang tính ngẫu nhiên
Tuy vậy trong số những người theo quan điểm siêu hình cũng có một số người cho rằng, các sự vật, hiện tượng có mối liên hệ v7i nhau và mối liên hệ rất đa dạng, phong phú, song các hình thức liên hệ khác nhau không có khả năng chuyển hóa lẫn nhau Chẳng hạn, gi7i vô cơ và gi7i hữu cơ không có liên hệ gì v7i nhau, tồn tại độc lập, không thâm nhập lẫn nhau, tổng số đơn giản của những con người riêng lẻ tạo thành xã hội, vv Trái lại, những người theo quan điểm biện chứng lại cho rằng, các sự vật, hiện tượng, các quá trình khác nhau vừa tốn tại độc lập, vừa quy định, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau
Trả lời câu hỏi thứ hai, những người theo chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ nghĩa duy tâm chủ quan trả lời rằng, cái quyết định mối liên hệ, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng là một lực lượng siêu tự nhiên (như trời) hay ở ý thức, cảm giác của con người
Những người theo quan điểm duy vật biện chứng khẳng định tính thống nhất vật chất của thế gi7i là cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng Các sự vật, hiện tượng tạo thành thế gi7i, dù có đa dạng, phong phú, có khác nhau bao nhiêu, song chúng đều chỉ là những dạng khác nhau của một thế gi7i duy nhất, thống nhất thế gi7i vật chất Nhờ
có tính thống nhất đó, chúng không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau, mà tồn tại trong sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau theo những quan hệ xác định Chính trên cơ sở đó, triết học duy vật biện chứng khẳng định rằng, liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế gi7i
Trong phép biện chứng, khái niệm mối liên hệ dùng để chỉ: sự quy định, sự tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế gi7i
Trang 5Ví dụ, giữa cung và cầu (hàng hoá, dịch vụ) trên thị trường luôn luôn diễn ra quá trình: cung và cầu quy định lẫn nhau; cung và cầu tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, chuyển hoá lẫn nhau, từ đó tạo nên quá trình vận động, phát triển không ngừng của cả cung và cầu
Đó chính là những nội dung cơ bản khi phân tích về mối quan hệ biện chứng giữa cung
và cầu
* Khái niệm mối liên hệ phổ biến được sử dụng v7i hai hàm nghĩa:
+ Dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ (ví dụ như: khi khẳng định rằng mối liên
hệ là cái vốn có của tất thảy mọi sự vật hiện tượng trong thế gi7i, không loại trừ sự vật, hiện tượng nào, lĩnh vực nào);
+ Đồng thời, khái niệm này cũng dùng để chỉ: những liên hệ tồn tại (được thể hiện) ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế gi7i (tức là dùng để phân biệt v7i khái niệm các mối liên
hệ đặc thù chỉ biểu hiện ở một hay một số các sự vật, hiện tượng, hay lĩnh vực nhất định)
Ví dụ, mối liên hệ giữa cung và cầu là mối liên hệ phổ biến, tức cũng là mối liên hệ chung, nhưng mối liên hệ đó được thể hiện cụ thể khác nhau, có tính chất đặc thù tuỳ theo từng loại thị trường hàng hoá, tuỳ theo thời điểm thực hiện Khi nghiên cứu cụ thể từng loại thị trường hàng hoá, không thể không nghiên cứu những tính chất riêng có (đặc thù) đó Nhưng dù khác nhau bao nhiêu thì chúng vẫn tuân theo những nguyên tắc chung của mối quan hệ cung cầu
Có nhiều cấp độ, phạm vi của mối liên hệ phổ biến, trong đó phép biện chứng duy vật v7i tư cách là khoa học triết học có nhiệm vụ nghiên cứu các mối liên hệ phổ biến nhất, làm tiền đề phương pháp luận chung cho việc nghiên cứu các mối liên hệ cụ thể trong từng lĩnh vực nghiên cứu của các khoa học chuyên ngành; đó là các mối liên hệ như: cái chung và cái riêng, bản chất và hiện tượng, nguyên nhân và kết quả
2 Tính chất của mối liên hệ phổ biến
Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú là những tính chất cơ bản của các mối liên hệ
- Tính khách quan của các mối liên hệ
Theo quan điểm biện chứng duy vật, các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế gi7i là có tính khách quan Theo quan điểm đó, sự quy định, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng (hoặc trong bản thân chúng) là cái vốn có của nó, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý chí của con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình
- Tính phổ biến của các mối liên hệ
Theo quan điểm biện chứng thì không có bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồn tại tuyệt đối biệt lập v7i các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác Đồng thời, cũng không có bất cứ sự vật, hiện tượng nào không phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm những yếu tố cấu thành v7i những mối liên hệ bên trong của nó, tức là bất cứ một tồn tại
Trang 6nào cũng là một hệ thống, hơn nữa là hệ thống mở, tồn tại trong mối liên hệ v7i hệ thống khác, tương tác và làm biến đổi lẫn nhau
- Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ
Quan điểm biện chứng của chù nghĩa Mác - Lênin không chỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biến của các mối liên hệ mà còn nhấn mạnh tính phong phú, đa dạng của các mối liên hệ Tính đa dạng, phong phú của các mối liên hệ được thể hiện ở chỗ: các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác nhau đều có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, giữ
vị trí, vai trò khác nhau đối v7i sự tồn tại và phát triển của nó; mặt khác, cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật, hiện tượng nhưng trong những điều kiện cụ thể khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng thì cũng có những tính chất và vai trò khác nhau Như vậy, không thể đồng nhất tính chất và
vị trí, vai trò cụ thể của các mối liên hệ khác nhau đối v7i mỗi sự vật, hiện tượng nhất định, trong những điều kiện xác định Đó là các mối liên hệ bên trong và bên ngoài, mối liên hệ bản chất và hiện tượng, mối liên hệ chủ yếu và thứ yếu, mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp, v.v của mọi sự vật, hiện tượng trong thế gi7i
Quan điểm về tính phong phú, đa dạng của các mối liên hệ còn bao hàm quan niệm
về sự thể hiện phong phú, đa dạng của các mối liên hệ phổ biến ở các mối liên hệ đặc thù trong mỗi sự vật, mỗi hiện tượng, mỗi quá trình cụ thể, trong những điều kiện không gian
và thời gian cụ thể
3 Ý nghĩa phương pháp luận
- Từ tính khách quan và phổ biển của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải có quan điểm toàn diện
Quan điểm toàn diện đòi hỏi trong nhận thức và xử lý các tình huống thực tiễn cần phải xem xét sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật, hiện tượng và trong sự tác động qua lại giữa sự vật, hiện tượng đó v7i các sự vật, hiện tượng khác Chỉ trên cơ sở đó m7i có thể nhận thức đúng về sự vật, hiện tượng và xử lý có hiệu quả các vấn đề của đời sống thực tiễn Như vậy, quan điểm toàn diện đối lập v7i quan điểm phiến diện, siêu hình trong nhận thức và thực tiễn
V.I.Lênin cho rằng: "Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và "quan hệ gián tiếp" của sự vật đó"1 - Từ tính chất đa dạng, phong phú của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, khi thực hiện quan điểm toàn diện thì đồng thời cũng cần phải kết hợp v7i quan điểm lịch sử - cụ thể
Quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu trong việc nhận thức và xử lý các tình huống trong hoạt động thực tiễn cần phải xét đến những tính chất đặc thù của đối tượng nhận thức và tình huống phải giải quyết khác nhau trong thực tiễn Phải xác định rõ vị trí, vai trò khác nhau của mỗi mối liên hệ cụ thể trong những tình huống cụ thể để từ đó có được những
Trang 7Recommandé pour toi
UNIT 10 english 7 - tieng anh
Superlative of adjectives cho đề tài tiểu luận
Giáo trình tiếng anh
みんなの日本語初級1第2版-Sách bài tập (1-18)
Suite du document ci-dessous
10
1
94
46
Trang 8giải pháp đúng đắn và có hiệu quả trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn Như vậy, trong nhận thức và thực tiễn không những cần phải tránh và khắc phục quan điểm phiến diện, siêu hình mà còn phải tránh và khắc phục quan điểm chiết trung, ngụy biện
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến xét dư7i góc độ thế gi7i quan thì nó phản ánh tính thống nhất của vật chất và thế gi7i Các sinh vật, hiện tượng trên thế gi7i dù có đa dạng,
có khác nhau như thế nào chăng nữa thì chúng cũng chỉ là những dạng khác nhau của một thế gi7i duy nhất đó là thế gi7i vật chất Xét dư7i góc độ nhận thức lí luận, nó là cơ
sơ lí luận của quan điểm toàn diện V7i tư cách là một nguyên tắc phương pháp luận trong việc nhận thức các sự vật, hiện tượng, quan điểm toàn diện đòi hỏi để có nhận thứccđúng về sự vật chúng ta cần xem xét nó: một là : trong mối liên hệ qua lại giữa các
bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật đó, hai là : trong mối liên hệ qua lại giữa các sự vật đó v7i các sự vật khác, kể cả trực tiếp lẫn gián tiếp Hơn thế nữa quan điểm toàn diện đòi hỏi để nhận thức đúng sự vật, chúng ta cần xem xét nó trong mối quan hệ v7i nhu cầu thực tiễn của con người
Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải đi từ ctri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đến chỗ khái quát để rút ra bản chất chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật hay hiện tượng đó Nhưng quan điểm toàn diện không đồng nhất v7i cách xem xét dàn trải, liệt kê những quy định khác nhau của sự vật hay hiện tượng đó, nó đòi hỏi phải làm nổi bật cái cơ bản nhất, cái quan trọng nhất của sự vật hay hiện tượng đó V7i tư cách là nguyên tắc phương pháp luận trong hoạt động thực tiễn, nguyên lí về mối liên hệ phổ biến đòi hỏi để cải tạo được sự vật, chúng ta phải bằng hoạt động thực tiễn của mình biến đổi những mối liên hệ nội tại của sự vật cũng như mối liên hệ qua lại giữa sự vật đó v7i các sự vật khác Muốn vậy phải sử dụng đồng bộ nhiều phương pháp, nhiều phương tiện khác nhau để tac động nhằm thay đổi những liên hệ tương ứng Để tránh những phưng pháp luận sai lầm trong việc xem xét sự vật, hoạt động cần tránh chủ nghĩa chiết trung, thuật nguỵ biện Mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại trong không gian thời gian nhất định và mang dấu ấn của không gian thời gian đó Do đó chúng ta cần có quan điểm lịch
sử cụ thể khi xem xét và giải quyết mọi vấn đề thực tiễn đặt ra
II Vận dụng
1 Mối liên hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên
Môi trường sinh thái là toàn bộ các điều kiện vô cơ, hữu cơ của các hệ sinh thái ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và mọi hoạt động khác của xã hội loài người Nó là những điều kiện tự nhiên, xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong quan hệ v7i con người Còn tăng trưởng kinh tế nhằm cải thiện và phát triển đời sống của con người Vì vậy giữa môi trường sinh thái và tăng trưởng kinh tế có mối liên hệ biện chứng chặt chẽ Như chúng ta đã biết môi trường sống được sinh ra và tồn tại trong tự nhiên, vì vậy có thể nói nó tồn tại một cách khách quan độc lập v7i ý thức conngười Tuy nhiên sự phát triển của môi trường lại hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức của con người, con
Trang 9người có thể tác động làm cho môi trường tốt lên hoặc xấu đi Tăng trưởng kinh tế lại được sinh ra, tồn tại và phát triển hoàn toàn phụ thuộc vào con người nên nó tồn tại chủ quan
Môi trường chịu tác động trực tiếp của con người, tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào con người từ đó ta có thể thấy môi trường cũng chịu tác động của tăng trưởng kinh tế và ngược lại, mối quan hệ giữa chúng được thông qua một thực thể đó là con người Môi trường là địa bàn để tăng trưởng kinh tế hoạt động vì tăng trưởng kinh tế diễn ra trên diện rộng và cần khai thác tài nguyên thiên nhiên nhằm phục vụ cho lợi ích của con người Nhưng tài nguyên của môi trường khôngphải là vô hạn Nếu chỉ tăng trưởng kinh tế mà không nghĩ đến việc cải tạo môi trường thì một ngày nào đó tăng trưởng kinh tế phải dừng lại do môi trường bị suy thoái
Lúc đó con người phải gánh chịu hậu quả do chính con người gây ra Một sản phẩm
do con người tạo ra lại phá huỷ cái mà con người chịu tác động trực tiếp vì con người không thể sống mà không chịu sự tác động của môi trường Ngược lại, nếu tăng trưởng kinh tế gắn v7i việc bảo vệ môi trường thì không những nó làm cho đời sống của con người ngày càng được cải thiện mà nó còn làm cải thiện cả môi trường do kinh tế pháttriển nhà nư7c có ngân sách cho những dự án bảo vệ môi trường, nguồn tài nguyên
bị khai thác được thay thế dần bởi các nguồn tài nguyên tự tạo
2 Những hậu quả ô nhiễm môi trường do phát triển kinh tế mang lại
Những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to l7n trên mọi lĩnh vực, nhất
là nền kinh tế tăng trưởng nhanh, đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế - xã hội đã bộc lộ nhiều bất cập và tạo ra nhiều áp lực l7n lên môi trường, các hệ sinh thái và đa dạng sinh học của đất nư7c Tình trạng ô nhiễm môi trường tiếp tục diễn biến phức tạp, v7i nhiều điểm nóng, chất lượng môi trường nhiều nơi suy giảm mạnh Đáng lo ngại, các sự cố môi trường tiếp tục gia tăng nghiêm trọng, nhiều vụ ảnh hưởng trên phạm vi rộng, diễn biến phức tạp, gây khó khăn cho công tác quản lý và khắc phục hậu quả Hầu hết các sự cố môi trường xảy ra do chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh đổ thải trộm hoặc do công trình xử
lý, lưu trữ chất thải gặp sự cố, cháy nổ, rò rỉ hóa chất, tràn dầu… dẫn đến lượng l7n chất thải chưa qua xử lý xả thải ra môi trường Điển hình như sự cố môi trường biển tại bốn tỉnh miền trung liên quan đến Công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (FHS); sự
cố cháy nổ tại Công ty cổ phần Bóng đèn phích nư7c Rạng Đông… không những ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường, sức khỏe của người dân, mà còn đe dọa đến trật tự an ninh xã hội của đất nư7c
Mặt khác, hiện chất lượng không khí ở các đô thị, nhất là các thành phố l7n như Hà Nội, TP HCM có xu hư7ng giảm và ngày càng nghiêm trọng V7i sự gia tăng các nguồn
ô nhiễm không khí, chất lượng không khí vượt ngưỡng cho phép đã ảnh hưởng l7n đến đời sống và sức khỏe người dân Trong khi đó, chất thải rắn sinh hoạt chưa được phân loại tại nguồn; tỷ lệ chôn lấp chiếm hơn 70%, chủ yếu là không hợp vệ sinh; vẫn còn gần
Trang 1036,5% chất thải sinh hoạt khu vực nông thôn chưa được thu gom, xử lý… Những nguyên nhân gây suy thoái môi trường ở nư7c ta thời gian qua, trư7c hết là do quy mô nền kinh
tế và dân số nư7c ta ngày càng tăng, mức độ công nghiệp hóa và đô thị hóa ngày càng cao; khai thác tài nguyên thiên nhiên ồ ạt và thiếu kiểm soát, phát sinh nhiều nguồn gây ô nhiễm, chất thải ngày càng tăng về thành phần và khối lượng Trong khi đó, cơ sở hạ tầng thu gom và xử lý chất thải còn thiếu và không được đầu tư đồng bộ, dẫn đến các áp lực lên môi trường ngày càng cao, tác động xấu đến chất lượng môi trường, nhất là dẫn đến suy thoái các hệ sinh thái và đa dạng sinh học
- Ô nhiễm sông ngòi: Sông ngòi không chỉ ở thành phố mà cả vùng nông thôn cũng đang phải đối mặt v7i tình trạng ô nhiễm nặng nề do rác thải sinh hoạt, rác thải làng nghề, rác thải nông nghiệp và rác thải từ các khu công nghiệp vẫn đang từng ngày, từng giờ đổ xuống, làm ảnh hưởng trực tiếp t7i môi trường sống, sức khỏe của cộng đồng
Bãi rác công nghệvà chất thải: Nhiều dự án luyện, cán thép l7n, ti tan, bauxite nhôm Tây Nguyên vàgần 5.500 công-ten-nơ và 1.323 kiện hàng chủ yếu chứa phế liệu đang nằm tại các cảng biển… có nguy cơ biến Việt Nam thành nơi tập trung “rác” công nghệ và chất thải
- Ô nhiễm từ sản xuất nông nghiệp: Nguồn chất thải vào môi trường từ trồng trọt và chăn nuôi đang có xu hư7ng gia tăng, trong khi việc kiểm soát chưa đạt hiệu quả cao, tổng khối lượng chất thải trong chăn nuôi của nư7c ta hiện khoảng hơn 73 triệu tấn/năm Tình trạng sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong trồng trọt một cách tràn lan, không có kiểm soát đã gây ô nhiễm môi trường đất, nư7c
- Ô nhiễm từ khai thác khoáng sản: Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, từ năm 2009 -
2011, mỗi năm Việt Nam xuất khẩu 2,1 - 2,6 triệu tấn khoáng sản các loại (không kể than, dầu thô) v7i điểm đến chủ yếu là Trung Quốc, nhưng chỉ mang lại giá trị 130 - 230 triệu USD Riêng năm 2012, lượng khoáng sản xuất khẩu vẫn gần 800.000 tấn thông qua đường chính ngạch
“Nếu chúng ta bắn vào thiên nhiên một phát đạn, thì thiên nhiên sẽ bắn trả lại ta bằng đại bác ” Thực tế cho thấy, đi kèm v7i quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chúng ta đang phải gánh chịu những hậu quả do chính chúng ta gây ra Trong vòng 7 năm trở lại đây, các thảm hoạ tự nhiên như bão xoáy, lụt lội, hạn hán…ngày càng tăng nhanh cả về tần suất lẫn cường độ như hạn hán ở miền Trung, bão lụt ở đồng bằng sông Cửu Long, cháy rừng ở U Minh… đã cư7p đi sinh mạng của nhiều người, thâm hụt vào ngâ nsách quốc gia hàng trăm tỷ đồng - một con số không nhỏ đối v7i một quốcgia còn nghèo như Việt Nam Ngoài ra, đi đôi v7i sự suy giảm môi trường, các bệnh về thời tiết cũng gia tăng, thiệt hại người do các bệnh về đường nư7c tăng như sốt rét, tiêu chảy Các bệnh liên quan đến đường ruột bệnh giun, bệnh sán máng, giun trong máu… các bệnh về hô hấp như viêm phổi, ung thư phổi… Cuộc sống của con người đang bị đe doạ
Hệ thống chính sách, pháp luật về BVMT còn chồng chéo và bất cập; các công cụ quản lý môi trường chưa phát huy được hiệu lực, hiệu quả; cách tiếp cận và công cụ quản