1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH TẠI DNTN MINH SƠN

49 161 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Công Tác Tổ Chức Kế Toán Chi Phí Sản Xuất Và Tính Giá Thành Tại DNTN Minh Sơn
Người hướng dẫn Lê Thị Minh Tuyết
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 918,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong xu hướng quốc tế hóa toàn cầu, Việt Nam ngày nay đang từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới. Những năm vừa qua, Việt Nam được biết đến là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế vào loại cao trong khu vực cũng như trên thế giới. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc cạnh tranh buôn bán giữa các doanh nghiệp luôn diễn ra ngày càng khốc liệt. Hàng hóa xuất hiện trên thị trường ngày càng nhiều với các chủng loại, mẫu mã đa dạng, chất lượng cao, giá cả phù hợp và đặc biệt luôn đáp ứng nhu cầu thị hiếu ngày càng cao của người tiêu dùng. Để có thể đứng vững, tồn tại và phát triển trong thị trường đầy cạnh tranh đó, các doanh nghiệp phải xây dựng và đề ra cho doanh nghiệp những chiến lược sản xuất kinh doanh của mình sao cho đạt được lợi nhuận cao nhất ứng với chi phí bỏ ra là thấp nhất. Bên cạnh yếu tố chất lượng, mẫu mã thì giá thành sản phẩm luôn là vấn đề hàng đầu được các nhà sản xuất đặc biệt quan tâm bởi vì nó là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp về các mặt kỹ thuật, kinh tế, tổ chức và nó cũng là cơ sở để định giá bán và tính kết quả hoạt động kinh doanh. Để tính toán giá thành một cách chính xác, đầy đủ, kịp thời, phù hợp với đặc điểm sản xuất và qui trình công nghệ của từng doanh nghiệp thì yêu cầu đặt ra cho bộ phận kế toán là phải xác định đúng các đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, đối tượng tính giá thành, tính toán và phân bổ đúng các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm. Tóm lại, việc kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm rất quan trọng không những đối với các doanh nghiệp mà còn đối với các cơ quan chức năng của nhà nước như cơ quan thuế... Cụ thể hơn sản xuất hàng xuất khẩu đang được khuyến khích phát triển để tăng sự cạnh tranh trên thị trường thế giới. Nhà nước đã khuyến khích bằng các chính sách ưu đãi về thuế cũng như về vốn. Giống như các mặt hàng khác, những sản phẩm sản xuất từ mây, tre, lá… cũng đang bị cạnh tranh về mẫu mã, chủng loại cũng như giá cả trên thị trường thế giới. Đó cũng là điều bận tâm hàng đầu của DNTN Minh Sơn. Qua việc vận dụng những kiến thức đã học, cùng sự hướng dẫn của Cô Giáo Lê Thị Minh Tuyết và thông qua việc tìm hiểu những số liệu thực tế, với sự giúp đỡ của các anh, chị phòng kế toán, em chọn đề tài “ Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại DNTN Minh Sơn”

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI :

Trong xu hướng quốc tế hóa toàn cầu, Việt Nam ngày nay đang từng bướchội nhập với nền kinh tế thế giới Những năm vừa qua, Việt Nam được biết đến làmột trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế vào loại cao trong khu vực cũngnhư trên thế giới

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc cạnh tranh buôn bán giữa cácdoanh nghiệp luôn diễn ra ngày càng khốc liệt Hàng hóa xuất hiện trên thị trườngngày càng nhiều với các chủng loại, mẫu mã đa dạng, chất lượng cao, giá cả phùhợp và đặc biệt luôn đáp ứng nhu cầu thị hiếu ngày càng cao của người tiêu dùng

Để có thể đứng vững, tồn tại và phát triển trong thị trường đầy cạnh tranh đó,các doanh nghiệp phải xây dựng và đề ra cho doanh nghiệp những chiến lược sảnxuất kinh doanh của mình sao cho đạt được lợi nhuận cao nhất ứng với chi phí bỏ ra

là thấp nhất

Bên cạnh yếu tố chất lượng, mẫu mã thì giá thành sản phẩm luôn là vấn đềhàng đầu được các nhà sản xuất đặc biệt quan tâm bởi vì nó là chỉ tiêu kinh tế tổnghợp phản ánh hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp về các mặt kỹ thuật, kinh tế, tổchức và nó cũng là cơ sở để định giá bán và tính kết quả hoạt động kinh doanh

Để tính toán giá thành một cách chính xác, đầy đủ, kịp thời, phù hợp với đặcđiểm sản xuất và qui trình công nghệ của từng doanh nghiệp thì yêu cầu đặt ra cho

bộ phận kế toán là phải xác định đúng các đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, đốitượng tính giá thành, tính toán và phân bổ đúng các chi phí phát sinh trong quá trìnhsản xuất sản phẩm

Tóm lại, việc kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm rất quantrọng không những đối với các doanh nghiệp mà còn đối với các cơ quan chức năngcủa nhà nước như cơ quan thuế

Cụ thể hơn sản xuất hàng xuất khẩu đang được khuyến khích phát triển đểtăng sự cạnh tranh trên thị trường thế giới Nhà nước đã khuyến khích bằng cácchính sách ưu đãi về thuế cũng như về vốn Giống như các mặt hàng khác, nhữngsản phẩm sản xuất từ mây, tre, lá… cũng đang bị cạnh tranh về mẫu mã, chủng loạicũng như giá cả trên thị trường thế giới Đó cũng là điều bận tâm hàng đầu củaDNTN Minh Sơn

Qua việc vận dụng những kiến thức đã học, cùng sự hướng dẫn của Cô Giáo

Lê Thị Minh Tuyết và thông qua việc tìm hiểu những số liệu thực tế, với sự giúp đỡcủa các anh, chị phòng kế toán, em chọn đề tài “ Kế toán chi phí sản xuất và tính giáthành sản phẩm tại DNTN Minh Sơn”

2 MỤC TIÊU CẦN GIẢI QUYẾT TRONG ĐỀ TÀI:

Quá trình xử lý nghiệp vụ kinh tế, lưu chuyển chứng từ, hạch toán chi tiếttổng hợp chi phí và tính giá thanh của Doanh nghiệp Qua đó phân tích điểm mạnhđiểm yếu của hệ thống kế toán doanh nghiệp và đề ra một số kiến nghị để góp phầnvào việc xây dựng hệ thống kế toán của doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện hơn

3 PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:

3.1.Thu thập thông tin, số liệu

Trang 2

- Qua quan sát tìm hiểu tình hình thực tế tại doanh nghiệp

- Qua các báo cáo tài liệu do doanh nghiệp cung cấp

- Qua phỏng vấn chủ doanh nghiệp, kế toán

- Tham gia trực tiếp vào một số quá trình công việc

3.2.Phân tích số liệu:

- Dựa vào kiến thức đã học liên hệ các số liệu thực tế để so sánh và phân tích

- Tham khảo một số sách chuyên ngành kế toán

- Một số văn bản qui định chế độ kế toán hiện hành

4 PHẠM VI CỦA ĐỀ TÀI:

4.1.Về không gian

- Sự hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn thực tập Cô giáo Lê Thị Minh Tuyết

- Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại doanh nghiệp tư nhân sản xuất mây tre đan

4.2.Về thời gian:

- Đề tài được thực hiện từ ngày 10/3/2009 đến 25/05/2009

- Về số liệu được lấy từ số liệu cùa quý III năm 2008 của DNTN Minh Sơn

Nội dung chuyên đề gồm 3 chương.

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ ĐƠN VỊ THỰC TẬP:

Chương II: CƠ SỞ LÝ LUẬN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁTHÀNH SẢN PHẨM

Chương III: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢNXUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH TẠI DNTN MINH SƠN

Chương IV: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHĂM HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍSẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

Bài viết là sự nghiên cứu, học hỏi qua sách báo, tài liệu khoa học cùng vớikiến thức đã được trau dồi trong nhà trường và qua thực tế thu thập được trong thờigian thực tập Tuy nhiên, với mức độ hiểu biết và vốn kinh nghiệm hạn hẹp, nhữngthiếu sót là điều không thể tránh khỏi, rất mong sự thông cảm và góp ý của quý thầy

Trang 3

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ ĐƠN VỊ THỰC TẬP:

1.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

1.1.1 Lịch sử hình thành.

DNTN Minh Sơn được thành lập theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

số 4201000219 ngày 28 tháng 01 năm 2002 do Sở Kế Hoạch và Đầu Tư Tỉnh LâmĐồng cấp

Tên giao dịch Việt Nam: Doanh Nghiệp Tư Nhân Minh Sơn

Trụ sở chính : Khu Phố 7-TT Madagoui-Đạ Huoai-Lâm Đồng

24 người, nhưng đến nay DN đã có một đội quân tương đối mạnh trên160 người cóthể đảm nhận những hợp đồng tương đối lớn cho khách hàng

DNTN Minh Sơn là một doanh nghiệp đóng trên địa bàn thuộc Huyện Đạhuoai-Tỉnh Lâm Đồng, chủ yếu sản xuất những mặt hàng tiểu thủ công nghệ như:Giỏ mây các loại, giỏ khung sắt đan lục bình…

Dưới đây là các chỉ tiêu phản ánh tình hình sản xuất của Doanh nghiệp trongnhững năm gần đây:

Năm

Chỉ tiêu

2006(đồng)

2007(đồng)

2008(đồng)

Giá trị tổng sản lượng 2.926.767.471 2.689.500.954 2.119.080.544Lợi nhuận trước thuế 46.425.291 92.228.858 93.735.333

II/ LĨNH VỰC HOẠT ĐỘNG VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ:

1 Lĩnh vực hoạt động

1.1 -Đặc điểm sản phẩm.

Sản phẩm của Doanh Nghiệp chủ yếu là các loại giỏ đan bằng mây hay bằnglục bình Ngoài ra còn có những sản phẩm khác như: bàn ghế mây, xe đạp mây,các giỏ đựng hoa bằng mây… được sản xuất chủ yếu từ các loại mây như : mây chỉ,mây đỏ, mây rắc…và lục bình

1.2 -Qui trình sản xuất.

Với mục tiêu hiện đại hóa máy móc thiết bị để cải tiến chất lượng sản phẩmsản xuất ra nên Doanh Nghiệp đã trang bị quy trình sản xuất theo kiểu liên tục vàkhép kín Sản phẩm của Doanh nghiệp chỉ là một loại sản phẩm giỏ mây và lục bìnhcác loại Vì thế, sản phẩm làm ra đáp ứng được nhu cầu của khách hàng trong vàngoài nước

Thuyết minh cụ thể từng công đoạn sản xuất

- Đối với những sản phẩm sản xuất bằng mây các loại:

Sau khi mua nguyên liệu bằng mây về tùy theo từng loại mẫu mã của từng lôhàng một để xử lý nguyên vật liệu được hoàn thiện hơn,nhằm đảm bảo chất lượngcủa sản phẩm sản xuất theo yêu cầu của khách hàng.Ví dụ để sản xuất một bộ bànghế mây,sau khi mua các loại mây làm khung như : mây bột,mây mật,mây tre.các

Trang 4

loại mây được xử lý qua máy định hình để định hình theo đúng quy cách của kháchhàng,rồi mới dùng máy đánh bóng để đánh cho mây sạch và đẹp hơn Sau đó mớigiao cho công nhân đan mây để hoàn thiện phần chính của một bộ bàn ghế, đanxong sẽ có một bộ phận cắt, tỉa lại những sợi mây xấu, thừa, sau đó xông lưu huỳnh

và nhúng dầu bóng để cho sản phẩm không phải bị mốc

Dưới đây là mô hình qui trình công nghệ sản xuất

NGUYÊN VẬT LIỆUMÁY ĐỊNH HÌNHMÁY ĐÁNH BÓNG

ĐAN MÂYCẮT,TỈAXÔNG LƯU HUỲNH

NHÚNG BÓNG, HẤP KHÔ

ĐÓNG KIỆNNHẬP KHO

Trang 5

CHỦ DOANH NGHIỆP Ông: Vũ Viết Sơn

2 GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA DOANH NGHIỆP:

2.1 - Sơ đồ tổng quát bộ máy tổ chức của DNTN Minh Sơn:

Bộ máy quản lý của Doanh Nghiệp được tổ chức theo kiểu trực tuyến chứcnăng Bộ máy quản lý gồm 07 người trong tổng 167 công nhân viên của doanhnghiệp

2.1 - Giám đốc: Ông Vũ Viết Sơn

- Giám đốc là người có quyền hành cao nhất trong doanh nghiệp chịu tráchnhiệm cao nhất trước Nhà nước và tập thể lao động của doanh nghiệp về hiệu quảhoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

2.2- Các phòng ban.

Trong doanh nghiệp có các phòng sau:

- Phòng Kế toán : 3 người Trực tiếp chịu sự chỉ đạo

- Phòng kinh doanh: 3 người và quản lý của giám đốc

- 2 Tổ sản xuất : 160 người

* - Phòng Kế toán: Phụ trách việc thống kê, hạch toán kế toán và công tác

tài chính tại Doanh nghiệp

* - Phòng kinh doanh: Đảm nhiệm công tác thống kê kế hoạch của toàn

Doanh nghiệp về cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm, kho hàng, phụ trách ký kếthợp đồng với khách hàng trong và ngoài nước

* - Đội sản xuất nhận những đơn đặt hàng từ phòng kinh doanh để sản xuất

sản phẩm theo yêu cầu về thời gian cũng như chất lượng sản phẩm

3 CÔNG TÁC TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẠI DOANH NGHIỆP

3.1 Tổ chức bộ máy kế toán.

*/Cơ cấu.

Bộ máy phòng kế toán gồm có 3 người:

Thiết kế

Kế hoạch

Thống kê

Cung ứngVật tư

Tìm đối tác, ký hợp đồng

Quản lý kho sản phẩm và

tiêu thụ sản phẩm

KẾ TOÁN TRƯỞNG

ÔngHànNgọcQuang

TỔ CƠ KHÍ

Gồm có

20 người

TỔ ĐAN DÂY

Gồm có140người

KẾ TOÁN VIÊN

BàLêThịCúc

KẾ TOÁN VIÊN

BàTrầnThịHoa

Trang 6

- 1 kế toán trưởng: Ông Hàn Ngọc Quang: Chỉ đạo các nhân viên phòng kế

toán, có nhiệm vụ tổ chức công tác kế toán quản trị, nắm bắt tình hình sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Tổng hợp chi phí và tính giá thành, thuế đồng thời theodõi và nắm bắt các chứng từ phát sinh một cách đầy đủ và hợp lý theo yêu cầu của

cơ quan quản lý thuế

Tham mưu cho ban giám đốc các lĩnh vực sau:

- Kế toán cân đối tài sản

- Quản lý chế độ hạch toán thống kê

- Nghiên cứu tạo nguồn vốn và sử dụng hợp lý

- Giám sát, đôn đốc các hoạt động tài chính - kế toán của doanh nghiệp.+ Nhiệm vụ:

- Xây dựng kế hoạch tài chính - tín dụng gắn với kế hoạch sản xuất

- Ghi chép, tính toán và phản ánh chính xác, kịp thời, liên tục một cách có

hệ thống tình hình hiện có, tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, lao động, vật

tư, tiền vốn

- Thực hiện các biện pháp trong thu chi

- Tổ chức công tác kiểm tra, phân tích hoạt động về tình hình tài chínhtrong nội bộ doanh nghiệp theo định kỳ nhằm phát hiện sai sót, đề xuất các biệnpháp chấn chỉnh kịp thời

3.2 Hình thức tổ chức công tác kế toán

Quy mô sản xuất của DNTN Minh Sơn hoạt động chủ yếu tập trung tại doanhnghiệp và giao dịch với các đối tác trong cũng như ngoài nước Với địa bàn hoạtđộng như vậy, đặc biệt sản xuất mặt hàng tiểu thủ công nghệp nên để đáp ứng nhucầu quản lý kinh tế - Tài chính, doanh nghiệp đã chọn hình thức tổ chức công tác kếtoán tập trung Theo hình thức này, công tác kế toán được tiến hành tại phòng kếtoán của doanh nghiệp

Phòng kế toán của doanh nghiệp: Thực hiện việc hạch toán ban đầu, lập báocáo kế toán theo quy định chung của Nhà nước các nhân viên kế toán của phòng kếtoán chịu sự chỉ đạo trực tiếp của kế toán trưởng và Kế toán trưởng chịu tráchnhiệm trực tiếp trước Giám đốc của Doanh nghiệp

Hình thức này có ưu điểm là giúp doanh nghiệp kiểm tra, chỉ đạo kịp thời,giúp cho công tác quản lý tài chính và chỉ đạo công tác kế toán chặt chẽ, thông báo

số liệu kịp thời, nhanh chóng

1.4.3 Chính sách kế toán: (Chế độ kế toán áp dụng)

Doanh nghiệp tư nhân Minh sơn là một Doanh nghiệp loại vừa và nhỏ nhưng

đã áp dụng chế độ kế toán theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20 tháng 03năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính về việc Ban hành Chế độ kế toán Doanhnghiệp; Doanh nghiệp có văn bản gởi Chi cục thuế huyện Đạ Huoai Đăng ký ápdụng chế độ kế toán, hình thức kế toán ( Mẫu đăng ký thực hiện chế độ kế toán

áp dụng kèm theo)

Trang 7

1.4.4 Hình thức và phương pháp kế toán:

Niên độ kế toán: bắt đầu từ ngày 01/01 và kết thúc vào ngày 31/12 hằng năm

Đơn vị tiền tệ áp dụng: Đồng Việt Nam (VND)

Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: Kê khai thường xuyên

Quy trình hạch toán kế toán gồm 3 giai đoạn:

- Lập và luân chuyển chứng từ ban đầu,

- Ghi chép vào sổ tài khoản, khoá sổ kế toán,

- Lập báo cáo kế toán

Trình tự ghi chép: Do hình thức kế toán chứng từ ghi sổ đã được lập trình vàcài đặt vào máy vi tính nên hàng ngày, căn cứ vào các chứng từ gốc đã được kiểmtra, nhân viên kế toán phụ trách từng phần hành sẽ chạy chương trình kế toán cóliên quan đến phần hành của mình và nhập dữ liệu vào máy; Cuối tháng, kế toánphần hành sẽ xử lý số liệu do mình phụ trách in ra sổ chi tiết và chứng từ ghi sổ.Chứng từ ghi sổ sau khi đã lập xong sẽ chuyển đến kế toán trưởng ký duyệt, rồichuyển cho kế toán tổng hợp Và cũng đến cuối tháng, kế toán tổng hợp chạychương trình kế toán của mình để xử lý số liệu in ra các sổ cái, sổ đăng ký chứng từghi sổ Mỗi khi có nhu cầu kiểm tra, đối chiếu số liệu, kế toán tổng hợp có thể thamkhảo chứng từ gốc và các chứng từ có liên quan ở các phần hành khác Căn cứ vào

sổ cái, kế toán tổng hợp lên bảng cân đối số phát sinh của các tài khoản tổng hợp.Sau khi bảng cân đối số phát sinh được kiểm tra, đối chiếu với sổ đăng ký chứng từghi sổ, kế toán tổng hợp sẽ sử dụng để lập bảng cân đối kế toán và các báo biểu kếtoán khác

Riêng đối với các tài khoản có mở sổ chi tiết (như tài khoản 152X, 131X,331X) thì các chứng từ gốc sau khi đã được dùng để lập chứng từ ghi sổ và ghi vàocác sổ kế toán tổng hợp khác sẽ được chuyển đến các bộ phận kế toán chi tiết cóliên quan để làm căn cứ lên sổ kế toán chi tiết nội dung của từng tài khoản Cuốitháng, bộ phận kế toán chi tiết sẽ chạy chương trình của mình để cộng các sổ kếtoán chi tiết và lên bảng tổng hợp chi tiết theo từng tài khoản tổng hợp để đối chiếuvới sổ cái thông qua bảng cân đối số phát sinh Các bảng tổng hợp chi tiết sau khiđược kiểm tra, đối chiếu số liệu cùng bảng cân đối số phát sinh sẽ dùng làm căn cứlập báo cáo tài chính

Để dễ hiểu, ta có thể tóm lược trình tự hạch toán chi phí sản xuất theo hìnhthức chứng từ ghi sổ qua sơ đồ sau:

Trang 8

1.5 Hệ thống tài khoản sử dụng:

DNTN Minh sơn đã sử dụng hệ thống tài khoản được ban hành kèm theo

quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20 tháng 03 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài

Chính; Kế toán của DNTN Minh Sơn đã sử dụng các tài khoản 621, 622, 627 để tập

hợp chi phí SXKD, tài khoản 154 để tổng hợp chi phí sản xuất kinh doanh dở dang

để tính giá thành sản phẩm và tài khoản 155 để nhập kho sản phẩm

Chú giải:

: Ghi hàng ngày

: Ghi cuối tháng

: Quan hệ đối chiếu

Sổ chi tiết các TK 621, 622, 627

Trang 9

Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí lao động vật hóa

và hao phí lao động sống cần thiết mà doanh nghiệp đã bỏ ra để tiến hành hoạt độngsản xuất trong một thời kỳ nhất định

Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải cóđầy đủ các yếu tố cơ bản, đó là: lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động

Sự tham gia của các yếu tố sản xuất vào quá trình sản xuất của doanh nghiệp có sựkhác nhau và nó hình thành các khoản chi phí tương ứng

Các chi phí mà doanh nghiệp chi ra cấu thành nên giá trị của sản phẩm, lao

vụ, dịch vụ để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội Giá trị của sản phẩm, dịch vụbao gồm 3 bộ phận là: Giá trị sản phẩm, dịch vụ = c + v + m

Trong đó:

- c: là toàn bộ giá trị tư liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình tạo rasản phẩm, dịch vụ như: khấu hao TSCĐ, chi phí nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ,năng lượng Bộ phận này được gọi là hao phí lao động quá khứ (vật hóa)

- v: là chi phí về tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động tham

gia vào quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm, dịch vụ Và khoản chi phí này được gọi

là hao phí lao động sống cần thiết

- m: là giá trị mới do lao động sống tạo ra trong quá trình hoạt động tạo

ra giá trị sản phẩm, dịch vụ

Ở góc độ doanh nghiệp, để tạo ra sản phẩm, dịch vụ thì doanh nghiệp phải bỏ

ra 2 bộ phận chi phí là c và v Và đó là chi phí sản xuất mà doanh nghiệp phải bỏ ra

để tạo ra sản phẩm, dịch vụ

Để đơn giản, ta có thể nói chi phí sản xuất là những chi phí mà doanh nghiệpphải bỏ ra trong từng thời kỳ để tiến hành hoạt động sản xuất sản phẩm Gồm:

- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

- Chi phí nhân công trực tiếp

- Chi phí sản xuất chung

a Phân loại theo nội dung kinh tế (theo yếu tố) của chi phí sản xuất:

Theo cách phân loại này, những khoản chi phí có chung tính chất kinh tế sẽđược xếp chung vào một yếu tố, không kể chi phí đó phát sinh ở địa điểm nào vàdùng vào mục đích gì trong sản xuất kinh doanh Theo cách này, chi phí sẽ đượcchia thành 5 yếu tố chi phí như sau:

- Chi phí về nguyên vật liệu: Bao gồm giá trị các loại nguyên vật liệu, nhiênliệu, phụ tùng thay thế xuất dùng trong kỳ, ngoại trừ các loại nguyên vật liệu

Trang 10

dùng không hết trả lại khi chuyển cho kỳ sau, xuất cho xây dựng cơ bản hoặc bán rabên ngoài

- Chi phí nhân công: Bao gồm toàn bộ các khoản phải trả cho người lao động(tiền lương, tiền công, phụ cấp có tính chất lương, các khoản trợ cấp ) và cáckhoản trích theo lương (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn)

- Chi phí khấu hao tài sản cố định: là toàn bộ các khoản trích khấu hao tài sản

cố định của doanh nghiệp trong kỳ

- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Gồm các khoản chi phí phải trả cho công tyđiện lực, công ty điện thoại, nước, vệ sinh và các dịch vụ khác

- Chi phí khác bằng tiền: Gồm những khoản chi tiêu bằng tiền tệ (chưa đượcthể hiện trong các khoản trên) phát sinh trong kỳ như: lệ phí, tiếp khách, hội nghị,công tác…

Cách phân loại này giúp cho việc tập hợp và lập báo cáo chi phí sản xuất theoyếu tố chi phí, cho biết được chi phí của doanh nghiệp theo từng yếu tố

b Phân loại theo công dụng kinh tế (theo khoản mục chi phí) của chi phí SX:

Chi phí sản xuất phân loại theo cách này, tùy theo từng loại hình hoạt độngcủa doanh nghiệp sẽ được chia thành các khoản mục chi phí khác nhau Đối vớidoanh nghiệp sản xuất công nghiệp thì chi phí sản xuất được chia thành các khoảnmục sau:

- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm toàn bộ những chi phí vềnguyên liệu, vật liệu dùng trực tiếp cho sản xuất sản phẩm, dịch vụ

- Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm toàn bộ chi phí về tiền lương, tiềncông và các khoản trích theo lương của công nhân viên trực tiếp tham gia vào sảnxuất

- Chi phí sản xuất chung: Bao gồm tất cả những chi phí về khấu hao tài sản

cố định dùng cho sản xuất, chi phí dùng để quản lý, phục vụ chung ở phạm vi phânxưởng

c Phân loại theo mối quan hệ giữa chi phí và đối tượng chịu chi phí:

Theo cách phân loại này, chi phí được chia làm 2 loại:

- Chi phí trực tiếp: Là những chi phí liên quan trực tiếp đến đối tượng chịu

chi phí và được hạch toán vào đối tượng có liên quan Thông thường chi phí trựctiếp là những chi phí đơn nhất cấu tạo bởi một yếu tố như chi phí nguyên vật liệu,chi phí tiền lương

- Chi phí gián tiếp: Là những khoản chi phí liên quan đến nhiều đối tượng

chịu chi phí, do đó nó được phân bổ vào các đối tượng có liên quan theo tiêu thứcnhất định Chi phí gián tiếp thường là những chi phí tổng hợp của nhiều chi phí đơnnhất Như chi phí sản xuất chung sẽ được phân bổ theo số giờ lao động trực tiếp, sốlượng sản phẩm

d Phân loại theo thời gian phát huy tác dụng của chi phí sản xuất.

Theo cách phân loại này, chi phí được chia làm 2 loại:

- Chi phí trả trước: là những chi phí thực tế đã phát sinh, nhưng phát huy tácdụng cho nhiều kỳ sản xuất sau nữa Như: chi phí biện pháp cải tiến kỹ thuật, chiphí trả trước tiền thuê nhà .các chi phí này sẽ được phân bổ vào giá thành củanhiều thời kỳ phù hợp với đặc điểm phát huy tác dụng của nó

- Chi phí phải trả: là những chi phí thực tế có thể chưa phát sinh nhưng cầnthiết phải tính vào giá thành của kỳ này, để đảm bảo tính chính xác của giá thành

Ví dụ: tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất phải được tính vào giá thành

Trang 11

của các tháng trong năm, mặc dù có thể ở những tháng đầu Công ty chưa phải trả

tiền lương nghỉ phép

e Phân loại căn cứ vào lĩnh vực hoạt động.

Theo cách phân loại này, chi phí được chia làm 3 loại:

- Chi phí hoạt động chính: bao gồm các chi phí liên quan đến hoạt động sản

xuất, tiêu thụ và quản lý doanh nghiệp

- Chi phí hoạt động tài chính: Gồm những chi phí liên quan đến hoạt động

đầu tư tài chính như: góp vốn liên doanh, đầu tư chứng khoán, cho vay vốn

- Chi phí bất thường: là những chi phí phát sinh ngoài kế hoạch như: thiên

tai, hỏa hoạn, các khoản phạt vi phạm hợp đồng

1.2 Giá thành sản phẩm:

Giá thành sản xuất sản phẩm là chi phí sản xuất tính cho sản phẩm, dịch vụ

mà doanh nghiệp tiến hành sản xuất đã hoàn thành Giá thành sản xuất sản phẩm

được tính toán và xác định theo từng loại sản phẩm, dịch vụ cụ thể hoàn thành và

chỉ tính cho những sản phẩm đã hoàn thành toàn bộ quy trình sản xuất, tức là thành

phẩm hoặc hoàn thành một số giai đoạn công nghệ sản xuất nhất định, tức là bán

thành phẩm

1.2.2 Phân loại: Xét về mặt hạch toán và theo quá trình kinh doanh của

doanh nghiệp thì gồm 2 loại giá thành sản xuất thực tế sản phẩm, dịch vụ và giá

thành sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ

- Giá thành sản xuất thực tế sản phẩm, dịch vụ là toàn bộ hao phí của các yếu

tố dùng tạo ra sản phẩm, dịch vụ Trong đó, bao gồm: chi phí nguyên liệu trực tiếp,

chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung tính cho sản phẩm, dịch vụ

hoàn thành Giá thành sản xuất sản phẩm, dịch vụ được tính như sau:

vụ dở dangđầu kỳ

+ phí sản xuấtChi

-Chi phísản phẩm, dịch

vụ dở dang cuốikỳ

- Giá thành sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ (hay còn gọi là giá thành toàn bộ là

chi phí thực tế của số sản phẩm, dịch vụ đã tiêu thụ của doanh nghiệp) Nó bao gồm

giá thành sản xuất thực tế sản phẩm, dịch vụ đã tiêu thụ và chi phí bán hàng, chi phí

quản lý doanh nghiệp của số sản phẩm, dịch vụ đó

tế của sảnphẩm, dịch

vụ đã tiêuthụ

+

Chiphí bánhàng phân

bổ cho sảnphẩm, dịch

vụ đã tiêuthụ

+

Chiphí quản lýdoanhnghiệpphân bổcho sảnphẩm, dịch

vụ đã tiêuthụ

Xét về mặt quản lý giá thành thì giá thành sản xuất có thể chia thành giá

thành kế hoạch và giá thành định mức của sản phẩm, để có thể so sánh, phân tích

Trang 12

tình hình thực hiện kế hoạch giá thành hoặc việc chấp hành định mức chi phí, địnhmức giá thành.

- Giá thành kế hoạch là giá thành được tính trước khi bắt đầu sản xuất kinhdoanh của kỳ kế hoạch, đây là một chỉ tiêu không thể thiếu trong kế hoạch sản xuấtcủa doanh nghiệp Giá thành kế hoạch được xây dựng trên cơ sở các định mức bìnhquân tiên tiến tại thời điểm trước khi bắt đầu kỳ kế hoạch Do vậy, giá thành kếhoạch chính là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp để tiết kiệm chi phí sản xuất, hạthấp giá thành sản phẩm Vì vậy, việc dự tính giá thành kế hoạch là một công việckhông thể thiếu để thực hiện tốt chế độ hạch toán kế toán

- Giá thành định mức là giá thành được tính trước khi bắt đầu sản xuất kinhdoanh Nó được xây dựng trên cơ sở định mức chi phí hiện hành và căn cứ vào địnhmức bình quân tiên tiến ngay trong kỳ hiện tại Vì vậy, giá thành định mức luônthay đổi để phù hợp với các định mức chi phí trong quá trình thực hiện kế hoạch.Cho nên, giá thành định mức là thước đo chính xác được dùng để xác định tiết kiệmhay lãng phí trong kỳ đó

Tùy theo từng loại hình doanh nghiệp hoạt động ở các lĩnh vực khác nhau,nếu quá trình sản xuất và quá trình tiêu thụ (bán hàng) diễn ra đồng thời (như đốivới các hoạt động dịch vụ du lịch, vận tải, bưu điện ) thì giá thành sản xuất thực tế

và giá thành sản phẩm tiêu thụ được xác định đồng thời

Ý nghĩa của giá thành sản xuất thực tế được sử dụng khi nhập, xuất khothành phẩm còn giá thành sản phẩm tiêu thụ được sử dụng để tính toán, xác định kếtquả bán hàng (kết quả kinh doanh) của doanh nghiệp Và ở đây, giá thành sản xuấtthực tế là thước đo hao phí lao động thực tế cần được bù đắp, là cơ sở để xác địnhhiệu quả sản xuất kinh doanh Nó phản ánh một cách tổng quát kết quả phấn đấucủa doanh nghiệp trong quá trình quản lý sản xuất Và hơn thế nữa, nó còn là mộtchỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật phản ánh chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh vàquản lý tài chính

1.3 Phân biệt chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm:

Công việc này có ý nghĩa rất lớn đối với các doanh nghiệp ứng dụng tính giáthành sản phẩm, dịch vụ Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệmật thiết với nhau, nhưng phạm vi và nội dung của chúng có những điểm khác nhau

mà ta cần phải xét đến

- Chi phí sản xuất chỉ tính đến những chi phí phát sinh trong một kỳ nhấtđịnh (tháng, quý, năm), không tính đến chi phí đó có liên quan đến số sản phẩmhoàn thành hay chưa Giá thành sản phẩm là giới hạn số chi phí sản xuất liên quanđến khối lượng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành (thành phẩm)

- Chi phí sản xuất tính trong một kỳ, còn giá thành sản phẩm liên quan đếnchi phí sản xuất của kỳ trước chuyển sang, chi phí phát sinh của kỳ này và số chiphí này chuyển sang kỳ sau

- Chi phí sản xuất không gắn liền với khối lượng, chủng loại sản phẩm hoànthành Trong khi đó, giá thành sản phẩm lại liên quan đến khối lượng, chủng loạisản phẩm hoàn thành

2 Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:

2.1 Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất:

Là phạm vi giới hạn để tập hợp các chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ theo

đó Việc lựa chọn đối tượng hạch toán chi phí sản xuất ở từng doanh nghiệp có sựkhác nhau, điều đó phụ thuộc vào đặc điểm, tình hình tổ chức kinh doanh, yêu cầu

Trang 13

và trình độ quản lý cũng như quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của doanhnghiệp.

Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là:

- Nơi phát sinh chi phí như: giai đoạn công nghệ, phân xưởng sản xuất, toàn

bộ quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm

- Đối tượng chịu chi phí như: sản phẩm, nhóm sản phẩm, bộ phận hoặc chitiết sản phẩm, công việc lao vụ hoặc đơn đặt hàng

Ở đây, thực chất của việc xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất làxác định ở hoạt động hay phạm vi của chi phí phát sinh làm cơ sở cho việc tập hợpchi phí

Việc xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất đúng và phù hợp với đặcđiểm hoạt động và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp có ý nghĩa rất lớn trong việc

tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất, từ việc tổ chức hạch toán ban đầu đến tổchức tổng hợp số liệu, ghi chép trên tài khoản, sổ chi tiết

2.2 Đối tượng tính giá thành sản phẩm:

Là những kết quả sản xuất nhất định đòi hỏi phải được tính tổng giá thành vàgiá thành đơn vị Đối tượng tính giá thành có thể là: thành phẩm, bán thành phẩm,công việc lao vụ hoàn thành

Khi tính giá thành sản phẩm, dịch vụ trước hết phải xác định được đối tượngtính giá thành Ngoài ra, ta còn phải căn cứ đặc điểm tình hình hoạt động sản xuấtkinh doanh, loại sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp sản xuất và thực hiện để xácđịnh đối tượng tính giá thành cho phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp

- Nếu doanh nghiệp sản xuất sản phẩm có tính chất đơn chiếc như đóng tàu,sửa chữa ô tô thì đối tượng tính giá thành là từng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành

- Nếu doanh nghiệp sản xuất, chế tạo hàng loạt sản phẩm như ô tô, xe máy,

ti vi hay vận tải hàng hóa, hành khách hoặc kinh doanh buồng ngủ, nhà hàng ănuống trong hoạt động du lịch thì đối tượng tính giá thành là từng loại sản phẩm hoặchoạt động dịch vụ đã hoàn thành

Mặt khác, khi xác định đối tượng tính giá thành ta còn phải căn cứ quy trìnhcông nghệ sản xuất của doanh nghiệp

- Nếu quy trình sản xuất giản đơn thì đối tượng tính giá thành là loại sảnphẩm hoàn thành ở cuối quy trình công nghệ

- Nếu quy trình sản xuất phức tạp theo kiểu liên tục thì đối tượng tính giáthành là từng chi tiết, bộ phận sản phẩm hoàn thành và thành phẩm cuối cùng đãhoàn chỉnh

Đơn vị tính giá thành của từng loại sản phẩm, dịch vụ phải là đơn vị tính đãđược xã hội thừa nhận và phù hợp với đơn vị tính trong kế hoạch sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Chẳng hạn như: cái, chiếc, m2, m3, 1 tấn, km, 1 hànhkhách, 1 phòng/1 ngày đêm (kinh doanh buồng ngủ) hoặc đối với những sản phẩmkhông thể so sánh được thì có thể tính giá thành trên 1.000đ doanh thu (như đối vớicác hoạt động dịch vụ khác trong kinh doanh du lịch, bưu điện )

Xác định đối tượng tính giá thành đúng và phù hợp với điều kiện và đặc điểmcủa doanh nghiệp giúp cho kế toán tổ chức mở sổ kế toán, các bảng tính giá và tínhgiá thành sản phẩm theo từng đối tượng quản lý và kiểm tra tình hình thực hiện kếhoạch giá thành sản phẩm có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu quản lý nội bộ của doanhnghiệp

Trang 14

Cụ thể:

- Trường hợp doanh nghiệp tổ chức sản xuất nhiều hàng loạt, chu kỳ sảnxuất ngắn, sản phẩm hoàn thành, nhập kho thường xuyên, liên tục thì kỳ tính giáthành thích hợp là hàng tháng vào ngày cuối tháng (cũng phù hợp với kỳ báo cáo)

- Trường hợp doanh nghiệp tổ chức sản xuất đơn chiếc hoặc hàng loạtnhững chu kỳ sản xuất sản phẩm dài, sản phẩm hoặc loạt sản phẩm chỉ hoàn thànhkhi kết thúc chu kỳ sản xuất thì kỳ tính giá thành thích hợp là khi sản phẩm hoặcloạt sản phẩm hoàn thành (có thể không phù hợp với kỳ báo cáo)

4 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất:

Tập hợp chi phí sản xuất là việc theo dõi, ghi chép và hệ thống hóa chi phísản xuất phát sinh tại doanh nghiệp trong từng thời kỳ vào từng đối tượng chịu chiphí thích hợp Và thường thì những phương pháp dưới đây sẽ được các doanhnghiệp áp dụng

4.1 Tập hợp chi phí sản xuất theo chi tiết bộ phận sản phẩm:

Theo phương pháp này, chi phí sản xuất sẽ được tập hợp và phân loại theotừng chi tiết, bộ phận sản phẩm, dịch vụ Khi áp dụng phương pháp này thì giáthành sản phẩm, dịch vụ được xác định bằng tổng số chi phí của các chi tiết, bộphận cấu thành nên sản phẩm, dịch vụ đó

Phương pháp này chỉ áp dụng ở những doanh nghiệp chuyên môn hóa sảnxuất cao, sản xuất ít loại sản phẩm hoặc mang tính chất đơn chiếc và có ít bộ phậnchi tiết cấu thành sản phẩm

4.2 Tập hợp chi phí sản xuất theo sản phẩm:

Theo phương pháp này, chi phí sản xuất phát sinh được tổng hợp và phânloại theo từng thứ sản phẩm riêng biệt, không phụ thuộc vào tính chất phức tạp củasản phẩm và quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm

Nếu quy trình chế biến trải qua nhiều phân xưởng khác nhau thì các chi phíđược tập hợp theo từng phân xưởng Trong đó các chi phí trực tiếp sẽ được phânloại theo từng sản phẩm, các chi phí sản xuất chung được tập hợp và phân bổ chotừng sản phẩm theo các tiêu thức phù hợp

Khi áp dụng phương pháp này thì giá thành sản phẩm được xác định bằngphương pháp trực tiếp hoặc phương pháp tổng cộng chi phí

Và phương pháp này chủ yếu được áp dụng ở các doanh nghiệp thuộc loạihình sản xuất hàng loạt, khối lượng lớn như: doanh nghiệp khai thác khoáng sản

4.3 Tập hợp chi phí sản xuất theo nhóm sản phẩm:

Theo phương pháp này, chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp và phân loạitheo nhóm sản phẩm cùng loại

Khi áp dụng phương pháp này thì giá thành sản phẩm được xác định bằngphương pháp liên hợp, tức là sử dụng đồng thời một số phương pháp như: phươngpháp trực tiếp, phương pháp hệ số, phương pháp tỷ lệ

Phương pháp này áp dụng ở các doanh nghiệp sản xuất nhiều chủng loại sảnphẩm có quy cách khác nhau như: doanh nghiệp đóng giày, may mặc, dệt kim

Trang 15

4.4 Tập hợp chi phí sản xuất theo đơn đặt hàng:

Theo phương pháp này, chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp theo từng

đơn đặt hàng riêng biệt Khi đơn đặt hàng hoàn thành thì tổng số chi phí tập hợp

theo đơn đặt hàng đó là giá thành thực tế của sản phẩm, khối lượng công việc hoàn

thành theo đơn đặt hàng

Phương pháp này áp dụng rộng rãi ở các doanh nghiệp sản xuất đơn chiếc:

doanh nghiệp chế tạo, sửa chữa, đóng tàu cũng như các doanh nghiệp xây lắp

4.5 Tập hợp chi phí sản xuất theo đơn vị sản xuất:

Theo phương pháp này, chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp theo từng

đơn vị sản xuất (tổ, đội, phân xưởng ) Trong mỗi đơn vị sản xuất, các chi phí

được tập hợp theo mỗi đối tượng chịu chi phí: chi tiết sản phẩm, sản phẩm, nhóm

sản phẩm

Khi áp dụng phương pháp này thì giá thành sản phẩm có thể xác định bằng

phương pháp trực tiếp, phương pháp tổng cộng chi phí, phương pháp hệ số

4.6 Tập hợp chi phí sản xuất theo toàn bộ dây chuyền sản xuất:

Với phương pháp này, chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp theo toàn bộ

dây chuyền sản xuất Giá thành sản phẩm được xác định bằng phương pháp trực

tiếp hoặc phương pháp tổng cộng chi phí hay phương pháp liên hợp

Phương pháp này được áp dụng cho các doanh nghiệp có dây chuyền sản

xuất giản đơn, sản xuất ít loại sản phẩm

4.7 Tập hợp chi phí sản xuất theo giai đoạn công nghệ:

Các chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp và phân loại theo từng giai đoạn

công nghệ, trong từng giai đoạn công nghệ, các chi phí được phân tích theo từng

loại sản phẩm hoặc bán thành phẩm

Phương pháp này áp dụng cho các doanh nghiệp mà toàn bộ quy trình công

nghệ sản xuất được chia làm nhiều giai đoạn công nghệ và nguyên vật liệu chính

được chế biến liên tục từ giai đoạn đầu đến giai đoạn cuối theo một trình tự nhất

định

5 Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang:

Sản phẩm dở dang là những sản phẩm chưa hoàn thành đầy đủ các giai đoạn

công nghệ chế biến quy định trong quy trình công nghệ kỹ thuật sản xuất sản phẩm

và những sản phẩm đã hoàn thành nhưng chưa được kiểm tra chất lượng, chưa được

làm thủ tục kiểm nghiệm nhập kho thành phẩm và đang nằm tại xưởng

Chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang là những chi phí đã phát sinh trong

tháng nhưng đến cuối tháng còn nằm dưới dạng sản phẩm dở dang

Đối với những doanh nghiệp có sản phẩm dở dang nhiều và không đồng đều

giữa các kỳ, thì để tính giá thành sản phẩm cuối mỗi kỳ, kế toán phải xác định số

lượng và giá trị của sản phẩm dở dang cuối kỳ Cụ thể là doanh nghiệp phải tiến

hành kiểm sản phẩm dở dang (cân, đong, đo, đếm) và phải xác định mức độ hoàn

thành của sản phẩm dở dang, sau đó kế toán đánh giá sản phẩm dở dang

Việc đánh giá sản phẩm dở dang được thực hiện bằng nhiều phương pháp

khác nhau tùy thuộc vào loại hình sản xuất sản phẩm, phương pháp sản xuất sản

phẩm của doanh nghiệp theo nguyên tắc đảm bảo tính giá thành sản phẩm được

chính xác và đơn giản trong công tác tính toán

5.1 Phương pháp ước lượng sản phẩm hoàn thành tương đương:

Gồm các bước sau:

- Bước 1: Quy đổi về sản phẩm hoàn thành tương đương.

Số lượng sản = Số lượng sản x Mức độ hoàn

Trang 16

dở dangcuối kỳ

+

Chiphí nguyênvật liệuchính phátsinh trongkỳ

x

Sốlượng sảnphẩm dởdang cuốikỳ

Sốlượng sảnphẩm hoànthành trongkỳ

+

Sốlượng sảnphẩm dởdang cuốikỳ

+

Chiphí chếbiến khácphát sinhtrong kỳ

x

Sốlượng sảnphẩm hoànthành tương

đương

Sốlượng sảnphẩmhoànthànhtrong kỳ

+

Sốlượng sảnphẩmhoànthànhtươngđương

Lưu ý: Chi phí chế biến khác ở đây, gồm: chi phí vật liệu phụ, chi phí nhân

công trực tiếp và chi phí sản xuất chung

Nếu vật liệu phụ được bỏ ngay từ đầu vào quá trình sản xuất và chỉ bỏ mộtlần thì được phép đánh giá như nguyên vật liệu chính

Phương pháp này có ưu điểm là tương đối chính xác vì đề cập đến đầy đủ cáckhoản mục chi phí trong sản phẩm dở dang và tính toán theo mức độ hoàn thànhcủa sản phẩm dở dang Tuy nhiên, công tác tính toán rất phức tạp và đòi hỏi bộphận kỹ thuật phải xác định chính xác mức độ hoàn thành của sản phẩm dở dangtrên từng công đoạn của dây chuyền sản xuất

5.2 Phương pháp đánh giá theo 50% chi phí chế biến:

- Thực chất phương pháp này cũng như phương pháp ước lượng sản phẩmhoàn thành tương nhưng mức độ hoàn thành của sản phẩm dở dang được xác định

là 50%

5.3 Phương pháp đánh giá theo chi phí nguyên vật liệu chính:

Theo phương pháp này thì sản phẩm dở dang cuối kỳ chỉ tính đến chi phínguyên vật liệu chính còn các chi phí chế biến khác (vật liệu phụ, nhân công trựctiếp, sản xuất chung) thì được tính hết cho sản phẩm hoàn thành

Trang 17

Chiphí nguyênvật liệuchính phátsinh trongkỳ

x

Số lượngsảnphẩm dởdangcuối kỳ

Sốlượng sảnphẩm hoànthành trongkỳ

+

Sốlượng sảnphẩm dởdang cuốikỳ

Phương pháp này thường được áp dụng ở các doanh nghiệp mà nguyên vậtliệu chính được bỏ ngay khâu đầu tiên của quá trình sản xuất và chiếm tỷ trọng lớntrong giá thành sản phẩm

5.4 Phương pháp đánh giá theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:

Với phương pháp này thì sản phẩm dở dang chỉ tính đến chi phí nguyên vậtliệu trực tiếp (nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ và vật liệu khác trực tiếp sản xuấtsản phẩm), còn các chi phí chế biến khác (nhân công trực tiếp, chi phí sản xuấtchung) được tính hết cho sản phẩm hoàn thành

+

Chiphí nguyênvật liệutrực tiếpphát sinhtrong kỳ

x

Sốlượng sảnphẩm dởdang cuốikỳ

Sốlượng sảnphẩm hoànthànhtrong kỳ

+

Sốlượng sảnphẩm dởdang cuốikỳ

Phương pháp này áp dụng cho các doanh nghiệp mà nguyên vật liệu trực tiếpđược bỏ vào ngay khâu đầu tiên của quá trình sản xuất sản phẩm và chiếm tỷ trọnglớn trong giá thành sản phẩm sản xuất ra

5.5 Phương pháp đánh giá theo khối lượng sản phẩm, dịch vụ đã hoàn thành:

Với phương pháp này, để tính được chi phí của sản phẩm, dịch vụ dở dangcuối kỳ, trước hết ta phải kiểm kê khối lượng sản phẩm, dịch vụ dở dang cuối kỳ vàxác định số sản phẩm, dịch vụ đã thực hiện trong kỳ Sau đó, ta tiến hành phân bổchi phí cho từng bộ phận theo công thức sau:

Tổng khối lượng sảnphẩm, dịch vụ hoàn thànhPhương pháp này chỉ áp dụng chủ yếu cho các doanh nghiệp hoạt động dịch

vụ như: may đo, giặt là quần áo, sửa chữa đồ gia dụng, đồ điện tử Đối với nhữnghoạt động này, sản phẩm hoàn thành đã tiêu thụ hay còn gọi là thực hiện khi đã trao

Trang 18

trả sản phẩm cho khách hàng, còn sản phẩm đã hoàn thành nhưng chưa trao trả chokhách thì được coi là sản phẩm, lao vụ dở dang (chưa thực hiện).

Ở các doanh nghiệp này, việc xác định chi phí sản phẩm, dịch vụ dở dangcuối kỳ là xác định đối với những sản phẩm chưa được xem là tiêu thụ, bởi vì quátrình sản xuất và tiêu thụ ở các doanh nghiệp đó gắn liền với nhau

5.6 Phương pháp đánh giá theo chi phí định mức:

Với phương pháp này, cuối kỳ ta phải tiến hành kiểm kê khối lượng sảnphẩm, dịch vụ dở dang hoặc chưa thực hiện (chưa xác định tiêu thụ đối với doanhnghiệp hoạt động dịch vụ) Xác định mức độ hoàn thành của sản phẩm, dịch vụ dởdang cuối kỳ căn cứ vào định mức chi phí của từng đơn vị sản phẩm, dịch vụ cụ thể

để tính chi phí của sản phẩm, dịch vụ dở dang cuối kỳ, theo công thức:

Chi phí của

sản phẩm, dịch vụ

dở dang cuối kỳ =

Khối lượngsản phẩm dở dang

Định mức chiphí

Tùy theo từng đối tượng cụ thể mà ta xác định tỷ lệ % hoàn thành của từngkhối lượng sản phẩm, dịch vụ để xác định chi phí sản phẩm dở dang theo định mức,bởi vì, định mức chi phí khác nhau theo từng đối tượng sản phẩm, dịch vụ

Hiển nhiên, mỗi phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang đều có ưu, nhượcđiểm riêng và điều kiện áp dụng khác nhau Vì thế, khi tổ chức vận dụng vào doanhnghiệp, ta cần phải xem xét phương pháp nào là phù hợp với đặc điểm cụ thể củadoanh nghiệp cũng như trình độ và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp đó

6 Phương pháp tính giá thành sản phẩm:

Thực chất của việc xác định giá thành sản phẩm là lựa chọn phương pháptính toán, phân bổ các chi phí đã cấu thành trong sản phẩm, lao vụ phù hợp với đặc

điểm tổ chức sản xuất của doanh nghiệp, với tính chất của quy trình công nghệ sản

xuất sản phẩm, với yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp và các quy địnhthống nhất chung của Nhà nước

Theo quy định hiện hành, giá thành sản phẩm được tính theo 3 khoản mục:

- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

- Chi phí nhân công trực tiếp

- Chi phí sản xuất chung

Tuy nhiên, tùy theo yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp mà các khoảnmục trên có thể được phân ra chi tiết hơn

Kết quả tính giá thành sản phẩm sẽ được phản ánh trong các báo biểu tính giáthành, thể hiện trình tự và phương pháp tính giá thành mà doanh nghiệp đã áp dụng

Như vậy, phương pháp tính giá thành là phương pháp kỹ thuật sử dụng sốliệu chi phí sản xuất đã tập hợp được của kế toán và các tài liệu liên quan để tínhtổng giá thành sản xuất và giá thành đơn vị của sản phẩm, dịch vụ đã hoàn thànhtheo đối tượng tính giá thành sản phẩm đã xác định

Dưới đây là một số phương pháp tính giá thành đang được vận dụng trongcác doanh nghiệp sản xuất

6.1 Phương pháp tính giá thành trực tiếp (phương pháp giản đơn):

Với phương pháp này thì chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân côngtrực tiếp thường được hạch toán trực tiếp vào các đối tượng chịu chi phí, còn chi phísản xuất chung gắn liền với địa điểm phát sinh chi phí, nên đến cuối kỳ, ta có thểtiến hành phân bổ cho các đối tượng hạch toán chi phí sản xuất theo các tiêu thứcphù hợp

Trang 19

Phương pháp này áp dụng trong trường hợp đối tượng tập hợp chi phí sản

xuất cũng chính là đối tượng tính giá thành sản phẩm và được dùng cho các doanh

nghiệp có số lượng mặt hàng ít, chu kỳ sản xuất ngắn

Và thường để tính toán, ta phải dựa vào những công thức cơ bản sau:

kỳ

+

Chiphí sảnxuất phátsinh trongkỳ

-Chiphí sảnxuất dởdang cuốikỳ

Giá thành

đơn vị sản phẩm

Tổng giá thành thực tế sản phẩm hoàn thànhtrong kỳ

Tổng số lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳ

6.2 Phương pháp tính giá thành loại trừ sản phẩm phụ:

Phương pháp này được vận dụng trong các doanh nghiệp có quy trình công

nghệ sản xuất giản đơn, trong cùng quy trình công nghệ vừa thu được sản phẩm

chính vừa thu được sản phẩm phụ (như doanh nghiệp sản xuất đường ) Theo

phương pháp này, đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là toàn bộ quy trình công

nghệ, đối tượng tính giá thành là sản phẩm chính hoàn thành

6.3 Phương pháp tính giá thành hệ số:

Phương pháp này được vận dụng trong các doanh nghiệp có quy trình công

nghệ sản xuất giản đơn, trong cùng quy định công nghệ thu một lúc được nhiều loại

sản phẩm chính khác nhau Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là quy trình công

nghệ Đối tượng tính giá thành là từng loại sản phẩm chính hoàn thành

6.4 Phương pháp tính giá thành tỷ lệ:

Được vận dụng trong các doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất giản

đơn, trong cùng quy trình công nghệ cùng lúc thu được nhiều sản phẩm với quy

cách khác nhau, như các doanh nghiệp may mặc, bánh kẹo, mì ăn liền Đối tượng

hạch toán chi phí sản xuất là nhóm sản phẩm Đối tượng tính giá thành là từng quy

cách sản phẩm trong nhóm

6.5 Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng:

Phương pháp này được áp dụng thích hợp cho các doanh nghiệp tổ chức sản

xuất đơn chiếc hoặc hàng loạt nhỏ và vừa theo các đơn đặt hàng Những doanh

nghiệp này thường có chu kỳ sản xuất kinh doanh dài, nên kỳ tính giá thành được

xác định là khi đơn đặt hàng đã hoàn thành Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và

đối tượng tính giá thành được xác định theo các đơn đặt hàng

6.6 Phương pháp tổng cộng chi phí (phương pháp phân bước):

Phương pháp này được vận dụng ở các doanh nghiệp có quy trình công nghệ

sản xuất phức tạp Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là giai đoạn công nghệ Đối

tượng tính giá thành là thành phẩm hoặc bán thành phẩm Kỳ tính giá thành là ngày

cuối mỗi tháng không phụ thuộc vào chu kỳ sản xuất sản phẩm

Theo phương pháp này thì việc tính giá thành được tiến hành theo 2 phương

án:

Phương án có bán thành phẩm (có tính giá thành của bán thành phẩm)

Phương án không có bán thành phẩm (không tính giá thành của bán thành

phẩm)

6.7 Phương pháp tính giá thành theo định mức:

Trang 20

Được áp dụng tại các doanh nghiệp có quy trình công nghệ ổn định và đã xâydựng được hệ thống các định mức kinh tế kỹ thuật tiên tiến và hợp lý.

Phương pháp này có tác dụng tích cực trong việc kiểm tra tình hình thực hiệnđịnh mức, dự toán chi phí sản xuất, tình hình sử dụng có hiệu quả hay lãng phí chiphí sản xuất

6.8 Phương pháp tính giá thành theo quá trình sản xuất:

Đây là một trong số hai phương pháp tính giá thành trong kế toán quản trị,phương pháp này được sử dụng trong các doanh nghiệp sản xuất đại trà một loại sảnphẩm và quá trình sản xuất đi qua nhiều công đoạn khác nhau

Các sản phẩm theo phương pháp này thường có những đặc điểm sau:

- Có cùng hình thái vật chất và kích thước (như sữa, xi măng )

- Có kích thước nhỏ, không có giá trị cao (như giấy, tập học sinh )

- Được đặt mua sau khi sản xuất

Ngoài ra, do sản phẩm được sản xuất trong nhiều phân xưởng cho đến khichúng được hoàn thành và nhập kho thành phẩm, nên ta cần chú ý một số điểm saukhi tập hợp chi phí:

- Mỗi phân xưởng được mở một TK "Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang"riêng để tập hợp chi phí sản xuất của phân xưởng đó, trên cơ sở đó sẽ xác định đượcgiá thành đơn vị Và điều này sẽ được thể hiện rõ trên "Báo cáo sản xuất" của từngphân xưởng

- Ba khoản mục chi phí sản xuất được phân bổ trực tiếp vào bất kỳ phânxưởng nào mà chúng phát sinh Chi phí sản xuất của phân xưởng đứng sau luôn baogồm chi phí sản xuất của phân xưởng đứng trước nó chuyển sang và cả chi phí sảnxuất trực tiếp phát sinh tại phân xưởng đó

- Bán thành phẩm của phân xưởng đứng trước trở thành đối tượng chế biếncủa phân xưởng đứng sau và cứ thế sản phẩm vận động qua các phân xưởng đểđược hoàn thành Sản phẩm hoàn thành của phân xưởng cuối cùng chính là thànhphẩm của doanh nghiệp, được nhập kho và chờ tiêu thụ

Riêng đối với khoản mục chi phí sản xuất chung, ta cần phải lưu ý thêm một

số điểm sau:

- Nếu khối lượng sản xuất của phân xưởng ổn định từ kỳ này sang kỳ khác vàchi phí sản xuất chung phát sinh đều đặn, không có sự biến động giữa các kỳ thìtoàn bộ chi phí sản xuất chung đều được kết chuyển vào TK "Chi phí sản xuất kinhdoanh dở dang" của phân xưởng đó

- Nếu sản lượng sản xuất không ổn định và chi phí sản xuất chung có biếnđộng lớn thì có thể phân bổ chi phí sản xuất chung Kế toán phải xác định hệ sốphân bổ chi phí sản xuất chung hợp lý để tính được mức thực tế phân bổ cho cácphân xưởng

Trang 21

- Có thể kết hợp phương pháp trực tiếp với phương pháp tổng cộng chi phítrong trường hợp đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là bộ phận sản phẩm, còn đốitượng tính giá thành là sản phẩm hoàn chỉnh.

7 Nhiệm vụ hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:

Nhiệm vụ hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm được xácđịnh là:

- Phản ánh chính xác và kịp thời mọi chi phí phát sinh theo đúng các khoảnmục được quy định

- Vận dụng các phương pháp phân bổ chi phí và tính giá thành phù hợp vớiđặc điểm quản lý và quy trình công nghệ của doanh nghiệp để tính chính xác và kịpthời giá thành sản xuất sản phẩm

- Cung cấp các tài liệu cần thiết cho việc lập dự toán, phân tích các hoạt độngkinh tế và phương diện giá thành cũng như khai thác các khả năng tiềm tàng, sửdụng có hiệu quả chi phí để hạ giá thành sản phẩm và nâng cao lợi nhuận của doanhnghiệp

II KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT:

Chi phí sản xuất ở các doanh nghiệp bao gồm nhiều loại, chính vì thế, tùytheo tiêu thức phân loại mà chi phí sản xuất ở các doanh nghiệp sẽ khác nhau Tuynhiên, cách phân loại có ý nghĩa lớn trong việc tổ chức kế toán tập hợp chi phí sảnxuất thực tế ở các doanh nghiệp và việc vận dụng các tài khoản kế toán trong việc

kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là phân loại chi phí theo mốiquan hệ giữa chi phí với đối tượng tập hợp chi phí Và theo cách phân loại này, thìnhững khoản chi phí được tính vào giá thành sản phẩm gồm 3 loại sau:

- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

- Chi phí nhân công trực tiếp

- Chi phí sản xuất chung

1 Kế toán chi phí sản xuất:

1.1 Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:

1.1.1 Khái niệm:

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là các chi phí về nguyên liệu, vật liệu trựctiếp dùng để sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện lao vụ, dịch vụ, như nguyên vật liệuchính (kể cả giá thành sản phẩm mua ngoài), vật liệu phụ, nhiên liệu, vật liệu khác

1.1.2 Nguyên tắc hạch toán:

- Hạch toán vào tài khoản 621 những chi phí nguyên vật liệu sử dụng trựctiếp để sản xuất, chế tạo sản phẩm trong kỳ sản xuất kinh doanh Chi phí nguyên vậtliệu trực tiếp phải được tính giá thực tế

- Trong kỳ, thực hiện ghi chép, tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếpphát sinh

- Cuối kỳ, kết chuyển hoặc tiến hành tính, phân bổ và kết chuyển chi phínguyên vật liệu trực tiếp vào các tài khoản có liên quan để tính giá thành sản phẩm

- Chỉ những nguyên vật liệu thực sự sử dụng vào sản xuất, chế tạo sảnphẩm, thực hiện lao vụ, dịch vụ mới được kết chuyển vào các tài khoản có liênquan

1.1.3 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:

a Chứng từ: Phiếu xuất kho vật tư, phiếu chi, hóa đơn bán hàng

b Tài khoản sử dụng:

Trang 22

- Chi phí nguyên vật liệu trực

tiếp phát sinh trong kỳ - Cuối kỳ, kết chuyển hay

phân bổ cho các đối tượng hạch toán chiphí

Tài khoản 621 được mở chi tiết theo từng nơi phát sinh chi phí hoặc từng đốitượng chịu chi phí

c Trình tự hạch toán:

(1) Giá thực tế vật liệu xuất dùng trực tiếp sản xuất sản phẩm, thực hiện lao

vụ, dịch vụ (FIFO, LIFO, BQGQ )

(2) Giá trị nguyên vật liệu dùng không hết vào sản xuất để tại xưởng

(3) Giá trị nguyên vật liệu dùng không hết vào sản xuất trả lại kho

(4) Vật liệu thu mua đưa thẳng vào sản xuất

(5) Vật liệu chế biến đưa thẳng vào sản xuất

1.2.2 Nguyên tắc hạch toán:

- Không hạch toán vào tài khoản này những khoản phải trả về lương và cáckhoản phụ cấp cho nhân viên phân xưởng, nhân viên bán hàng và nhân viên quảnlý

- Tài khoản 622 phải được mở sổ chi tiết theo đối tượng tập hợp chi phí sảnxuất Cuối kỳ, kết chuyển vào các tài khoản có liên quan để xác định giá thành

- Không sử dụng tài khoản này cho các hoạt động thương mại

1.2.3 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp:

a Chứng từ:

Bảng thanh toán lương, bảng thanh toán tiền thưởng và bảng thanh toánBHXH được lập dựa trên bảng chấm công, phiếu xác nhận sản phẩm hoặc khốilượng công việc hoàn thành, phiếu nghĩ lương BHXH

b Tài khoản sử dụng:

622

- Chi phí nhân công trực

tiếp phát sinh trong kỳ

- Cuối kỳ, kết chuyển hayphân bổ vào các đối tượng hạch toán chiphí sản xuất

Tài khoản 622 có thể được mở chi tiết theo nơi phát sinh chi phí hay đốitượng chịu chi phí

(1) Chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương được quy nạp cho cácđối tượng chịu chi phí có liên quan

Trang 23

(2) Trích trước tiền lương nghỉ phép phải trả cho công nhân trực tiếp sảnxuất.

- Chi phí nhân viên phân xưởng: Tiền lương, phụ cấp lương, các khoản tríchbảo hiểm của nhân viên

- Vật liệu xuất dùng phục vụ cho phân xưởng

- Công cụ, dụng cụ xuất dùng phục vụ phân xưởng

- Khấu hao TSCĐ thuộc phân xưởng (kể cả máy móc thiết bị trên dâychuyền công nghệ và các TSCĐ khác thuộc phân xưởng)

- Chi phí dịch vụ thuê, mua ngoài phục vụ phân xưởng

- Các chi phí bằng tiền khác

Trong kỳ, kế toán tập hợp chi phí sản xuất chung thuộc các phân xưởng.Cuối kỳ, kế toán kết chuyển hoặc phân bổ chi phí sản xuất chung vào các đối tượnghạch toán chi phí sản xuất theo một trong các tiêu thức phù hợp sau:

- Theo định mức chi phí phân xưởng

- Theo định mức tiền lương công nhân sản xuất

- Theo chi phí nhân công trực tiếp

- Theo giờ công định mức hay thực tế

1.3.2 Nguyên tắc hạch toán:

- Tài khoản này được mở chi tiết cho từng phân xưởng, bộ phận sản xuất

- Cuối kỳ, kết chuyển vào tài khoản có liên quan để tính giá thành

- Không sử dụng cho các hoạt động thương mại

1.3.3 Kế toán chi phí sản xuất chung:

chung phát sinh trong kỳ

- Các khoản ghi giảm chiphí

- Cuối kỳ, kết chuyển hayphân bổ chi phí sản xuất chung cho cácđối tượng hạch toán chi phí sản xuất

Tài khoản 627 cũng được mở chi tiết cho từng phân xưởng

c Trình tự hạch toán:

(1) Lương và các khoản trích theo lương cho nhân viên phân xưởng của bộphận sản xuất theo quy định

Trang 24

(2) Trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ.

(3) Vật liệu xuất dùng chung cho phân xưởng, như để sửa chữa, bảo dưỡng

TSCĐ dùng chung cho quản lý điều hành hoạt động của phân xưởng

(4) Xuất công cụ, dụng cụ sản xuất có giá trị nhỏ cho hoạt động phân xưởng

bộ phận sản xuất

(5) Trích khấu hao máy móc, thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải, nhà cửa,

vật kiến trúc và những TSCĐ khác do phân xưởng, bộ phận sản xuất quản lý và sử

dụng

(6) Chi phí điện, nước, điện thoại, thuê mua nhà xưởng, cửa hàng, nhà kho,

chi phí sửa chữa TSCĐ thuê ngoài thuộc phân xưởng bộ phận sản xuất kinh

doanh

d Sổ sách kế toán:

- Sổ kế toán chi tiết: Sổ chi tiết chi phí sản xuất chung

- Sổ kế toán tổng hợp: Sổ cái TK 627

2 Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất:

2.1 Tài liệu kế toán:

Bao gồm các chứng từ ghi sổ, hệ số phân bổ phí và các tài liệu có liên quan

- Chi phí sản xuất chung

- Phế liệu thu hồi từ sản xuất (nếucó)

- Giá thành thực tế của sản phẩm,lao vụ hoàn thành

SD: Chi phí sản xuất dở dang cuối

kỳ

(1) Cuối kỳ, kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

(2) Cuối kỳ, kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp

(3) Cuối kỳ, kết chuyển chi phí sản xuất chung

(4) Đối với chi phí sản xuất chung cố định vượt mức hao phí bình thường

không tính vào giá thành mà tính vào giá vốn hàng bán

(5) Phế liệu, phế phẩm thu hồi được

2.3 Sổ sách kế toán:

- Sổ kế toán chi tiết: Sổ chi tiết chi phí sản xuất dở dang

- Sổ kế toán tổng hợp: Sổ cái TK 154

III KẾ TOÁN TÍNH GIÁ THÀNH:

Khi xác định được đối tượng tính giá thành phù hợp với điều kiện của doanh

nghiệp, cũng như phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ và phương pháp

tính giá thành sản xuất, dựa trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất đã tập hợp được và

các tài liệu có liên quan (chi phí sản xuất kinh doanh dở dang ) để tính giá thành

sản xuất sản phẩm theo phương pháp tính toán giá thành đã lựa chọn theo đối tượng

tính giá thành cụ thể

1 Tài liệu tính giá thành:

Tùy thuộc vào phương pháp tính giá thành mà có các tài liệu cụ thể, song

những tài liệu cần thiết cho mọi phương pháp là:

Ngày đăng: 23/05/2014, 09:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng phân bổ các TK - THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH TẠI DNTN MINH SƠN
Bảng ph ân bổ các TK (Trang 8)
Bảng tính giá thành sản xuất sản phẩm - THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH TẠI DNTN MINH SƠN
Bảng t ính giá thành sản xuất sản phẩm (Trang 26)
BẢNG TÍNH LƯƠNG VÀ BẢO HIỂM CÔNG NHÂN SẢN XUẤT - THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH TẠI DNTN MINH SƠN
BẢNG TÍNH LƯƠNG VÀ BẢO HIỂM CÔNG NHÂN SẢN XUẤT (Trang 32)
BẢNG TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM - THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH TẠI DNTN MINH SƠN
BẢNG TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM (Trang 43)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w