Kiến thức ở chương mở đầu hóa học THPT lại rất mới so với những gì mà các em đã được làm quen ở cáp 2 nên sau nhiều năm giảng dạy chương trình lớp 10 tôi luôn mong muốn tìm ra được phươn
Trang 1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT CHU VĂN AN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC TỰ SÁNG TẠO CHO HỌC SINH LỚP 10 THÔNG QUA SƠ ĐỒ TƯ DUY KHI DẠY
ÔN TẬP ĐẦU NĂM, CHƯƠNG NGUYÊN TỬ VÀ CHƯƠNG BẢNG TUẦN HOÀN CÁC NGUYÊN TỐ HÓA HỌC
NĂM HỌC 2022-2023
Người thực hiện: Lê Minh Thanh Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn Đơn vị công tác: Trường THPT Chu Văn An
SKKN thuộc lĩnh mực : Hóa Học
THANH HOÁ NĂM 2023
Trang 2MỤC LỤC PHẦN 1: MỞ ĐẦU I.1 Lí do chọn đề tài
I.2 Mục đích nghiên cứu
I.3 Đối tượng nghiên cứu
I.4 Phương pháp nghiên cứu
PHẦN II: NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN
II.1.Cơ sở lí luận
II.2 Thực trạng trước khi áp dụng giải pháp
II.3 Nội dung sáng kiến
II.3.1 Nội dung giải pháp
a Các bước thực hiện một sơ đồ tư duy
b Quá trình hướng dẫn học sinh xây dựng sơ đồ tư duy
c Những điều cần tránh khi ghi chép trên sơ đồ tư duy
II.3.2 Sử dụng một sơ đồ tư duy trong việc chuẩn bị bài
của học sinh và dạy bài mới của giáo viên
a Nhiệm vụ của học sinh chuẩn bị bài ở nhà
b Sử dụng sơ đồ tư duy khi vào tiết học mới
II.3.3 Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy bài luyện tập
II.4.Hiệu quả áp dụng
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
III.1 Kết luận
III.2 Kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 1 1 1 1 2 2 2 3 3 3 4 6
6 6 6 9 12 13 13 13 14
Trang 3PHẦN 1: MỞ ĐẦU I.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Hóa học là môn khoa học tự nhiên, nghiên cứu tính chất, sự vật, hiện tượng có tính ứng dụng thực tiễn cao Trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy bộ môn Hóa học ở trường THPT Chu Văn An, tôi nhận thấy rằng học sinh gặp khó khăn khi phải ghi nhớ các khái niệm, định nghĩa, tính chất của các chất…việc ghi nhớ của các em gần như tái hiện lại nguyên văn trong SGK làm cho việc học tập trở nên nhàm chán, máy móc, thụ động, không sáng tạo Kiến thức ở chương mở đầu hóa học THPT lại rất mới so với những gì mà các em đã được làm quen ở cáp 2 nên sau nhiều năm giảng dạy chương trình lớp 10 tôi luôn mong muốn tìm ra được phương pháp giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản, hình thành phương pháp, kỹ năng, kỹ xảo, tạo thái độ và động cơ học tập đúng đắn để học sinh có khả năng tiếp cận và chiếm lĩnh những nội dung kiến thức mới ở chương nguyên tử Bên cạnh sử dụng công nghệ thông tin thì để đa dạng hóa các hình thức dạy học, khắc sâu kiến thức một cách lôgic mà lại phát huy được khả năng tiềm ẩn của học sinh, trong quá trình giảng dạy thường hướng dẫn học sinh ghi nhớ bài học dưới dạng từ khóa
và chuyển cách ghi bài truyền thống sang phương pháp ghi bài bằng sơ đồ tư duy Tôi thấy phương pháp này là thực sự cần thiết nhằm giúp học sinh rút ngắn thời gian học, giúp các em dễ nhớ, nhớ lâu, dễ dàng hệ thống hoá kiến thức với lượng lớn, đồng thời phát triển tư duy cho các em Vì vậy, tôi đã đưa phương pháp dạy học “ Phát triển năng lực tự học tự sáng tạo cho học sinh lớp 10 thông qua sơ đồ tư duy khi dạy ôn tập đầu năm , chương nguyên tử , bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học năm học 2022-2023”.
Đề tài nhằm bổ sung một số giải pháp giúp khắc phục những khó khăn, hạn chế khi tổ chức giờ dạy học hóa học theo phương pháp nhóm hoặc sử dụng công nghệ thông tin đơn thuần; giúp học sinh tăng sự hứng thú hấp dẫn với môn học mang lại hiệu quả cao trong quá trình dạy hóa học 10
I.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Học sinh tiếp cận thành công chương trình hóa học THPT, có hứng thú với môn hóa học mà giáo viên đã sử dụng phương pháp hoạt động nhóm, sử dụng công nghệ thông tin và kết hợp sử dụng phương pháp sơ đồ tư duy thì hiệu quả sẽ rất rõ rệt
I.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
- Học sinh lớp 10A3 năm học 2022-2023 của trường THPT Chu Văn An
- Giáo viên tổ hóa trường THPT Chu Văn An
I.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Các phương pháp nghiên cứu lí luận: đọc và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài, phân tích và tổng hợp, khái quát hóa
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: thiết kế và tổ chức giờ học theo phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy cho học sinh lớp 10
- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động: qua các sản phẩm
Trang 4của học sinh, kết quả bài kiểm tra
PHẦN 2: NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN
II.1.CƠ SỞ LÍ LUẬN
Hóa học là môn học có nhiều ứng dụng trong đời sống hàng ngày và trong sản xuất công nghiệp Trong quá trình dạy và học môn hóa học, khi học sinh thấy được sự kỳ diệu trong các thí nghiệm và liên hệ với thực tế thì sẽ thích học hóa hơn Sách giáo khoa đã phần nào đáp ứng được điều này qua các hình ảnh thí nghiệm.Tuy nhiên, khi học và tiếp cận lưu giữ kiến thức học sinh cần thêm sự tư duy logic với lý thuyết bằng sơ đồ tư duy là một cách hệ thống hóa kiến thức ngắn gọn dễ nhớ
Với một Sơ đồ tư duy, một danh sách dài những thông tin đơn điệu có thể biến thành một bản đồ đầy màu sắc, sinh động, dễ nhớ, được tổ chức chặt chẽ Nó kết hợp nhịp nhàng với cơ chế hoạt động tự nhiên của não chúng ta Việc nhớ và gợi lại thông tin sau này sẽ dễ dàng, đáng tin cậy hơn so với khi
sử dụng kỹ thuật ghi chép truyền thống Do đó học sinh sẽ tự khắc sâu được kiến thức sau khi kết thúc chuyên đề được tiếp cận
Đầu tiên người giáo viên sẽ gợi mở để học sinh xác định được vấn đề trung tâm là gì sau đó sẽ phát triển ra các ý khác Tất cả học sinh đều tham gia
và từ vấn đề trung tâm mỗi em học sinh có thể đi tìm các hướng khác nhau Cuối cùng cả tập thể( nhóm hoặc cả lớp) sẽ thông nhất những sơ đồ chính xác nhất
Trong quá trình thực hiện người giáo viên nên tránh một số lưu ý sau: không nên áp đặt thứ tự các ý phát triển của học sinh; không nên mặc định vấn
đề trung tâm của chuyên đề; không nên bác bỏ các ý tưởng phát triển không liên quan của học sinh…
II.2 THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI SỬ DỤNG GIẢI PHÁP
Ở trường THPT Chu Văn An cũng như các trường THPT khác: học sinh khi vào lớp 10 có tư tưởng sợ bộ môn hóa học không phải vì các em khi học ở
cấp 2 gần như có rất ít kiến thức về hóa học kể cả kiến thức cơ bản nhất Nên đa
số học sinh bị rỗng môn hóa dẫn đến các em không có sự yêu thích và đam mê đối với môn học, từ đó học sinh chưa có ý thức tự học, tự nghiên cứu Vì vậy
mà kiến thức của học sinh về hóa học là rất yếu
Hiện nay, trong giảng dạy hóa học ở phổ thông, đã chú ý đến việc đánh giá kiến thức hóa học đồng thời đánh giá kĩ năng tự học, kĩ năng làm việc khoa học Tuy nhiên học sinh chưa có kĩ năng tự học tự nghiên cứu do đó mà kiến thức của học sinh nói chung và kiến thức về hóa học nói riêng là rất yếu khi các em mới được tuyển vào học tập tại trường
Việc học tập khó khăn do các em không nhớ được kiến thức đã học ở cấp 2 là một rào cản rất lớn
II.3 NỘI DUNG SÁNG KIẾN
Kết hợp cùng với các phương pháp khác, phương pháp này sẽ giúp học sinh khắc sâu các vấn đề chính, vấn đề trọng tâm của bài học bằng cách khái
Trang 5quát rất rõ ràng từ các sơ đồ.Việc vận dụng phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy vào giảng dạy Hóa học 10 là phù hợp với xu thế chung về đổi mới phương pháp dạy học mà ngành giáo dục nước ta đã đề ra Giáo viên đã được đào tạo
và tập huấn thường xuyên về đổi mới phương pháp dạy học, trong đó có phương pháp dạy học theo sơ đồ tư duy
Sử dụng sơ đồ tư duy - “công cụ vạn năng cho bộ não” là phương pháp
ghi chú đầy sáng tạo, hiện đang được ngành giáo dục khuyến khích đưa vào thực hiện trong giảng dạy và học tập
Vì vậy, việc sử dụng sơ đồ tư duy là một công cụ hữu ích cả trong giảng dạy của giáo viên và trong học tập của HS
Sơ đồ tư duy có những ưu điểm sau :
- Lôgic, mạch lạc
- Trực quan, dễ nhìn, dễ hiểu, dễ nhớ
- Nhìn thấy “bức tranh tổng thể mà lại chi tiết”
- Dễ dạy, dễ học
- Kích thích hứng thú học tập và sáng tạo của học sinh
- Giúp mở rộng ý tưởng, đào sâu kiến thức
- Giúp hệ thống hóa kiến thức, ôn tập kiến thức
- Giúp ghi nhớ nhanh , nhớ sâu, nhớ lâu kiến thức
Điểm mạnh nhất của sơ đồ tư duy là giúp phát triển ý tưởng và không bỏ sót ý tưởng, từ đó phát triển óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo
II.3.1 NỘI DUNG GIẢI PHÁP
a Các bước thực hiện một sơ đồ tư duy
- Bước 1 : Vẽ chủ đề ở trung tâm.
Bước đầu tiên trong việc tạo ra một sơ đồ tư duy là vẽ chủ đề ở trung tâm trên một mảnh giấy (đặt nằm ngang)
Quy tắc vẽ chủ đề :
+ Vẽ chủ đề ở trung tâm để từ đó phát triển ra các ý khác
+ Có thể tự do sử dụng tất cả màu sắc mà bạn thích
+ Không nên đóng khung hoặc che chắn mất hình vẽ chủ đề vì chủ
đề cần được làm nổi bật dễ nhớ
+ Có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng
- Bước 2 : Vẽ thêm các tiêu đề phụ.
Bước tiếp theo là vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm Quy tắc vẽ tiêu đề phụ :
+ Tiêu đề phụ nên được viết bằng CHỮ IN HOA nằm trên các nhánh dày
để làm nổi bật
+ Tiêu đề phụ nên được vẽ gắn liền với trung tâm
Trang 6+ Tiêu đề phụ nên được vẽ theo hướng chéo góc để nhiều nhánh phụ khác
có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng
- Bước 3 : Trong từng tiêu đề phụ, vẽ thêm các ý chính và các chi
tiết hỗ trợ
Quy tắc vẽ ý chính và chi tiết hỗ trợ :
+ Chỉ nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh
+ Bất cứ lúc nào có thể, bạn hãy dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm không gian vẽ và thời gian Mọi người ai cũng có cách viết tắt riêng cho những từ thông dụng Bạn hãy phát huy và sáng tạo thêm nhiều cách viết tắt cho riêng bạn
Mỗi từ khóa - hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trên nhánh Trên mỗi khúc nên chỉ có tối đa một từ khóa Việc này giúp cho nhiều từ khóa mới và những ý khác được nối thêm vào các từ khóa sẵn có một cách dễ dàng (bằng cách vẽ nối ra từ một khúc) Tất cả các nhánh của một ý nên tỏa ra từ một điểm Tất cả các nhánh tỏa ra từ một điểm (thuộc cùng một ý) nên có cùng một màu Chúng ta thay đổi màu sắc khi đi từ một ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn
Ví dụ :
- Bước 4 : Ở bước cuối cùng này, hãy để trí tưởng tượng của bạn
và các em HS bay bổng Bạn có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, cũng như giúp lưu chúng vào trí nhớ của bạn tốt hơn
b Quá trình hướng dẫn học sinh xây dựng sơ đồ tư duy.
- Bước 1: Trước hết giáo viên phải cho học sinh làm quen với sơ đồ
tư duy Bởi vì thực tế cho thấy rằng rất nhiều học sinh cũng chưa biết sơ đồ tư duy là cái gì, cấu trúc ra sao và vẽ như thế nào, vì thế giáo viên trước hết cần phải cho học sinh làm quen và giới thiệu về sơ đồ tư duy cho học sinh Giáo viên nên giới thiệu cho học sinh về nguồn gốc, ý nghĩa hay tác dụng của việc
sử dụng sơ đồ tư duy trong học tập môn Hoá học
Giáo viên có thể đưa ra một số sơ đồ tư duy sau đó yêu cầu học sinh diễn giải, thuyết trình về nội dung của sơ đồ tư duy theo cách hiểu riêng của mình Với việc thực hiện bước này sẽ giúp học sinh bước đầu làm quen và hiểu về sơ đồ tư duy
Ví dụ : Trong bài ôn tập đầu năm giáo viên sẽ đưa ra hệ thống hoá các khái niệm về chất yêu cầu học sinh diễn giải sơ đồ
Trang 7- Bước 2: Sau khi đã làm quen với sơ đồ tư duy giáo viên có thể giao
cho học sinh hoặc cùng học sinh xây dưng lên một sơ đồ tư duy ngay tại lớp với các bài ôn tập, hệ thống hóa kiến thức
Ví dụ : Trong bài ôn tập đầu năm giáo viên cùng học sinh phân loại các hợp chất vô cơ đã học trong chương trình lớp
Trang 8- Bước 3 : Sau khi học sinh vẽ xong sơ đồ tư duy, giáo viên có thể
để học sinh tự trình bày ý tưởng về sơ đồ tư duy mà mình vừa thực hiện được
c Những điều cần tránh khi ghi chép trên sơ đồ tư duy
- Ghi lại nguyên cả đoạn văn dài dòng
- Ghi chép quá nhiều ý vụn vặt không cần thiết
- Dành quá nhiều thời gian để ghi chép
II.3.2 SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG VIỆC CHUẨN BỊ BÀI CỦA HỌC SINH VÀ DẠY BÀI MỚI CỦA GIÁO VIÊN
a Nhiệm vụ của học sinh chuẩn bị bài ở nhà.
Giáo viên định hướng cho học sinh chuẩn bị bài ở nhà bằng cách lập một sơ đồ tư duy về bài học, những đề mục sẽ có trong bài học mới Điều này
sẽ bắt buộc học sinh phải đọc bài và nghiên cứu bài trước, giúp học sinh nắm được một cách khái quát những điều sẽ có trong bài học mới
Ví dụ : Trước khi học bài “ Cấu tạo vỏ nguyên tử “ giáo viên yêu cầu học sinh về vẽ một sơ đồ tư duy về các đề mục có trong bài
b Sử dụng sơ đồ tư duy khi vào tiết học mới.
Giáo viên giới thiệu bài mới và vẽ chủ đề chính của bài học lên bảng bằng một hình vẽ bất kì trên bảng của lớp, cho học sinh ngồi theo nhóm thảo luận sơ đồ tư duy của mỗi học sinh đã chuẩn bị trước ở nhà đối với sơ đồ
tư duy của các bạn trong nhóm
Giáo viên đặt câu hỏi chủ đề nội dung chính hôm nay có mấy nhánh lớn cấp số 1 (các đề mục có trong bài) và gọi học sinh lên bảng vẽ nối tiếp chủ đề, chia thành các nhánh lớn trên bảng có ghi chú thích tên từng nhánh lớn
Sau khi học sinh vẽ xong các nhánh lớn cấp số 1, giáo viên đặt câu hỏi tiếp ở nhánh thứ nhất có mấy nhánh nhỏ cấp số 2 học sinh sẽ hoàn thành nội dung sơ đồ tư duy của bài học mới ngay tại lớp Học sinh tự chỉnh sửa điều chỉnh bổ sung những phần còn thiếu vào sơ đồ tư duy của từng cá nhân
Ví dụ 1 : Khi học bài “ Cấu tạo vỏ nguyên tử “, sau khi học sinh vẽ xong nhánh cấp 1, giáo viên sẽ sử dụng hệ thống câu hỏi để triển khai kiến thức và hoàn thiện sơ đồ tư duy của bài học :
Trang 9+ Với mẫu hành tinh nguyên tử, các nhà khoa học Rơ-dơ-pho, Bo, Zom-mơ-phen đã xác định các electron chuyển động quanh hạt nhân như thế nào?
+ Ngày nay, dưới ánh sáng của khoa học hiện đại sự chuyển động của các electron quanh hạt nhân đã được nhìn nhận như thế nào?
+ Vỏ nguyên tử được chia thành các đơn vị tổ chức nào ? …
Sơ đồ minh hoạ
Ví dụ 2 : Khi học bài “ Sự biến đổi tuần hoàn tính chất của các nguyên
Trang 10tố hoá học Định luật tuần hoàn “ sau khi giáo viên làm rõ một số khái niệm về tính kim loại - tính phi kim sẽ yêu cầu học sinh chia nhóm vẽ sơ đồ tư duy bằng cách đặt câu hỏi gợi ý cho các em để các em có thể vẽ tiếp các nhánh con
và bổ sung dần các ý nhỏ ( nhánh con cấp 2, cấp 3…), sau đó cho các nhóm lên trình bày trước lớp để các học sinh khác bổ sung Giáo viên kết luận qua đó giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu quả, đồng thời kích thích hứng thú học tập của học sinh
Sơ đồ minh họa
Trang 11III.3.3 SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY BÀI LUYỆN TẬP.
Qua thực tế giảng dạy bộ môn chúng tôi thấy rằng loại bài luyện tập là rất quan trọng nhằm củng cố, hệ thống hóa và khắc sâu kiến thức đồng thời rèn luyện kỹ năng vận dụng giải bài tập hóa học Cấu trúc bài luyện tập ở SGK có 2 phần :
- Phần 1 : Kiến thức cần nhớ
- Phần 2 : Bài tập
Cách viết của SGK ở phần 1 thường là hệ thống lại các kiến thức theo kiểu hàng ngang nếu giáo viên không biết vận dụng phương pháp tích cực thì dạy phần này tương đối tẻ nhạt, đơn thuần giáo viên ra câu hỏi học sinh trả lời, hiệu quả cách dạy này không cao
Khi sử dụng sơ đồ tư duy để hệ thống hóa các kiến thức của một chương lên trên một tờ giấy trong đó thể hiện đầy đủ các nội dung kiến thức và được đặt trong mối liên hệ của chúng nên học sinh dễ nhớ và có điều kiện nhớ lâu
Để dạy phần 1 giáo viên có hai phương pháp để triển khai :
+ Cho học sinh lập một sơ đồ tư duy ở nhà về nội dung kiến thức cần nhớ, khi dạy phần này giáo viên tổ chức cho học sinh nhận xét một vài bản
đồ để chọn ra sơ đồ hoàn chỉnh nhất sau đó giáo viên có thể bổ sung ý kiến của mình vào để có một sơ đồ chuẩn dùng cho học sinh nắm các kiến thức của bài học
+ Giáo viên đưa ra các từ khoá kiến thức để học sinh triển khai nội dung Sau đây là một số bản đồ tư duy tôi đã cho học sinh xây dựng trong tiết luyện tập :