Phân tích thực trạng Ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam trong điều kiện hiện nay
Trang 15 Hà Lê Anh Phi
6 Thái Vũ Thu Trang
7 Lê Ngọc Minh Tú
8 Lê Thị Thúy Vy
Trang 2Câu 1: Phân tích thực trạng Ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam trong điều kiện hiện nay
1 Tổng quan về quy mô vốn, tài sản
Theo số liệu thống kê của NHNN vào cuối tháng 06/2012 ta có một số thông tin cơ bản về các NH tại Việt Nam theo bảng sau:
THỐNG KÊ MỘT SỐ CHỈ TIÊU CƠ BẢN
Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn
Tỷ lệ cấp tín dụng
so với nguồn vốn huy động
Số tuyệt
đối
Tốc
độ tăng trưởn
g
Số tuyệt đối
Tốc
độ tăng trưởng
Số tuyệt đối
Tốc
độ tăng trưởng
NHTM
NN 1,979,203 0.48 132,411 14.48 111,349 27.84 0.45 5.35 10.84 22.43 102.51 NHTM
- ROE, ROA tính toán trên cân đối tài khoản kế toán (Lợi nhuận = Tổng thu nhập - Tổng chi phí);
- Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động tính trên thị trường I (theo chỉ thị 01);
- Chỉ tiêu Tổng tài sản có tính theo Quyết định 16/2007/QĐ-NHNN
Hiện chưa công bố xếp hạng ngân hàng Việt Nam 2012 Dưới đây là bảng xếp hạng trước đó:
Trang 3Bảng xếp hạng các ngân hàng của Vietnam Credit
A Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB)
BBB
Sài Gòn Thương tín (Sacombank), Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank), Ngoại thương (VCB), Quân đội (MB), Công thương (Vietinbank), Ngoài quốc doanh (VPBank), Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV), Nhà Hà Nội (Habubank)
BB
Đông Nam Á (South East Asia), Sài Gòn Công thương (Saigon Bank), Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Agribank), Đông Á (EAB), Quốc tế (VIB), Hàng hải (Maritime Bank), Liên Việt (Lien Viet Bank), Sài Gòn – Hà Nội (Saigon-Hanoi Bank), Đại Dương (Ocean Bank)
B VID Public, Phát triển nhà TP.HCM, An Bình, Tiên Phong, Liên doanh Việt Thái, Dầu khí toàn cầu, Liên doanh Indovina, Sài Gòn, Nam Việt, Nhà ĐBSCL, Xăng dầu Petroimex, Phương Nam
CCC Liên doanh Shinhanvina, Việt Á, Liên doanh Việt Nga, Việt Nam Thương tín, Bắc Á, Mỹ Xuyên, Miền Tây, Phương Đông, Đại Á, Đệ Nhất, Nam Á, Đại Tín, Gia Định, Việt Nam Tín nghĩa, Kiên Long
D Ngân hàng TMCP Việt Hoa
Một số chỉ tiêu so sánh của vài ngân hàng lớn
Ngân hàng Tổng tài sản so
với toàn ngành (%)
Thị phần cho vay (%)
Thị phần huy động vốn (%)
Tỷ trọng lợi nhuận sau thuế (%)
Tỷ trọng LNST
so vốn chủ sở hữu (%)
Các định mức đánh giá xếp hạng của Vietnam Credit
- AAA: doanh nghiệp có khả năng cao nhất trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính của mình
- AA: có khả năng cao trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính của mình nhưng thấp hơn AAA
- A: mức độ rủi ro trong giao dịch với các doanh nghiệp này rất thấp, tuy nhiên chịu ảnh hưởng của những thay
đổi hoàn cảnh và môi trường kinh tế
- BBB: mức độ an toàn tương đối tốt, môi trường kinh tế và các thay đổi bất lợi có thể gia tăng mức độ rủi ro lớn
- BB: trở nên tổn thương rõ ràng khi các yếu tố như điều kiện kinh doanh, tài chính không thuận lợi
- B: dễ bị mất khả năng trả nợ mặc dù vẫn có khả năng thực hiện các cam kết tài chính
- CCC: có mức độ rủi ro cao, nếu điều kiện kinh tế bất lợi thì có ít khả năng thực hiện các cam kết tài chính
- CC: có nợ và nguy cơ không trả được nợ rất cao
- C: thấy rõ việc phá sản tuy nhiên vẫn đang cố găng dàn xếp việc trả nợ
- D: doanh nghiệp đã thực sự vỡ nợ
Trang 42 Công nghệ
Ngành Ngân hàng đã tập trung triển khai hiện đại hóa hệ thống thanh toán, tạo lập được hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ thanh toán tiên tiến Đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã thiết lập và đưa vào vận hành Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng, kết nối 66 đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước và gần 00 đơn vị thành viên trực tiếp thuộc 7 tổ chức tín dụng trong toàn quốc Năm 2010, số lượng giao dịch qua hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng đạt hơn 17 triệu món (tăng gần 4 lần so với năm 2006), tổng giá trị giao dịch đạt hơn 26,3 triệu tỷ đồng (tăng hơn 7 lần so với năm 2006)
Hầu hết các ngân hàng thương mại đã thiết lập được hệ thống ngân hàng lõi (core banking), phát triển hệ thống thanh toán nội bộ với kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, cho ph p các ngân hàng thương mại cung ứng các dịch vụ, phương tiện thanh toán hiện đại, mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng
Dự án hiện đại hóa ngân hàng và hệ thống thanh toán giai đoạn 2 (PSBM2) hoàn thành tháng 06 năm
2011 đã góp phần cải thiện đáng kể tốc độ cũng như uy tín của các giao dịch thanh toán liên ngân hàng tại Việt Nam, từ 2 tuần năm 2005 giảm xuống còn 1 ngày, với tốc độ tăng trưởng theo cấp số nhân (646%) các giao dịch tín dụng toàn quốc (2005 – tháng 6/2011) Các ngân hàng tham gia dự án chỉ mất vài phút để xử lý các giao dịch chuyển tiền của khách hàng so với thời gian nhiều ngày trong năm 2004 và 2005 Việc quản lý khách hàng và quỹ tín dụng đã góp phần tăng cường năng lực quản lý rủi ro của các đối tượng trong dự án Hiện nay, nhiều ngân hàng đã có thể cung cấp các dịch vụ ngân hàng trực tuyến tới khách hàng (15 00 khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng trực tuyến và 412.360 khách hàng đối thoại trực tiếp với ngân hàng về dịch vụ)
Ba liên minh thẻ Banknet, Smartlinh và VNBC đã hoàn thành kết nối liên thông hệ thống ATM trên phạm
vi toàn quốc cho ph p chủ thẻ của 3 liên minh thẻ có thể thực hiện các giao dịch trên hệ thống ATM của nhau Tại Hội nghị kinh doanh 2012 của Ngân hàng NN-PTNT (Agribank) ngày 17.1, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Văn Bình cho biết, tới đây, ngay khi thống nhất được tất cả các máy ATM trên toàn quốc về chung một đầu mối
Các phương tiện thanh toán mới, hiện đại trên cơ sở ứng dụng công nghệ cao như thẻ ngân hàng, Internet Banking, Homebanking, Ví điện tử,… đã dần được sử dụng rộng rãi trong các giao dịch thanh toán Trong
đó, dịch vụ thanh toán thẻ phát triển mạnh, số lượng thẻ phát hành trên toàn quốc đến nay đạt khoảng 35 triệu thẻ
tăng khoảng 10 lần so với cuối năm 2006 Hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho thanh toán thẻ được cải thiện, số lượng máy rút tiền tự động (ATM) và các thiết bị chấp nhận thẻ (POS) có tốc độ tăng trưởng nhanh, trên 12.000 ATM và trên 61.000 POS/EDC được lắp đặt (ATM tăng 5 lần và POS/EDC tăng 4 lần so với năm 2006); Một số ngân hàng thương mại bước đầu triển khai dịch vụ thanh toán tiền điện, tiền nước, cước phí điện thoại, viễn thông, truyền hình cáp, phí bảo hiểm và một số khoản thu khác như học phí, phí giao thông không dừng
Hành lang pháp lý cho hoạt động thanh toán nói chung và thanh toán điện tử nói riêng tiếp tục được hoàn thiện, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được rà soát, chỉnh sửa, bổ sung và ban hành mới để hướng dẫn và điều chỉnh các hoạt động thanh toán, giúp cho việc quản lý, vận hành, giám sát hoạt động thanh toán đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế
Trang 5Thanh toán điện tử tại Việt Nam đã bắt đầu phát triển, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế chưa tương xứng
với tiềm năng của nó Những hạn chế đang ảnh hưởng đến sự phát triển của thanh toán điện tử trong thời gian vừa qua, đó là:
- Còn thiếu cơ chế, chính sách khuyến khích thỏa đáng thúc đẩy thanh toán điện tử, do vậy mặc dù số lượng thẻ thanh toán tăng nhanh, nhưng vẫn chủ yếu là dùng để rút tiền mặt; thanh toán bằng thẻ qua POS còn ít, chưa thành thói quen; các đơn vị chấp nhận thẻ còn ưa chuộng thu tiền mặt
- Hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho thanh toán điện tử phát triển còn chưa đồng bộ; công tác chăm sóc khách hàng có lúc còn chưa thực sự tốt
- Một số quy định liên quan đến thanh toán điện tử ban hành còn chậm hoặc đã được ban hành nhưng chưa được thực hiện nghiêm túc Hành lang pháp lý cho các dịch vụ, phương tiện thanh toán điện tử mới, hiện đại cần tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn
- Công tác thông tin tuyên truyền, quảng bá, phổ biến, hướng dẫn cho người sử dụng tuy đã có nhiều cố gắng nhưng vẫn chưa đầy đủ và kịp thời; sự hiểu biết của người dân về các dịch vụ thanh toán điện tử còn hạn chế
- Ngoài ra, tâm lý e dè, ngại tìm hiểu và sử dụng công nghệ mới, sợ rủi ro trong thanh toán điện tử và thói quen sử dụng tiền mặt của người dân cũng là khó khăn trở ngại, cần có thời gian để khắc phục dần
Để đẩy mạnh phát triển thanh toán điện tử ở Việt Nam cùng với xu thế hội nhập và phát triển của Việt
nam với các nước trên thế giới, trong điều kiện các phương tiện và và dịch vụ thanh toán điện tử mới trên thế giới không ngừng phát triển mạnh mẽ dựa trên công nghệ mới, hiện đại, thân thuộc với người sử dụng thì:
- Một là, cần tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh khuôn khổ pháp lý và cơ chế chính sách cho phát triển thanh
toán điện tử
- Hai là, phát triển phương thức thanh toán điện tử, trọng tâm là phát triển thanh toán thẻ qua POS; đa
dạng hóa dịch vụ thẻ với nhiều sản phẩm tiện ích; sử dụng chính sách khuyến khích vật chất để các đơn vị chấp nhận thẻ tích cực thực hiện thanh toán bằng thẻ qua POS; đẩy mạnh phát triển các phương thức thanh toán điện tử khác, như thanh toán qua internet, điện thoại di động,…
- Ba là, tiếp tục mở rộng và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho thanh toán điện tử như: Tập trung nguồn
lực đầu tư để phát triển cơ sở hạ tầng cho mạng lưới chấp nhận thẻ; đẩy mạnh kết nối liên thông mạng lưới POS trên toàn quốc; hoàn thành xây dựng Trung tâm chuyển mạch thẻ thống nhất,…
- Bốn là, phối hợp với các đơn vị liên quan triển khai các biện pháp tăng cường đấu tranh, phòng chống
tội phạm liên quan đến thanh toán điện tử
- Năm là, đẩy mạnh công tác thông tin, quảng bá, tuyên truyền, phổ biến hướng dẫn trong toàn xã hội để
thanh toán điện tử trở thành phương tiện thanh toán quen thuộc với người dân
Trang 63 Nhân lực
Đối với một ngành kinh doanh dịch vụ như ngân hàng thì chất lượng đội ngũ nhân viên là yếu tố quan trọng quyết định sức mạnh của tổ chức Trong quá trình giao dịch trực tiếp với khách hàng, nhân viên chính là một yếu tố để khách hàng đánh giá về chất lượng dịch vụ ngân hàng Tuy nhiên, hiện nay nguồn nhân lực chất lượng cao, có đạo đức nghề nghiệp còn thiếu và chưa đáp ứng với nhu cầu thực tế Công tác tuyển dụng, đào tạo lại chưa được coi trọng đúng mức, nên rủi ro tác nghiệp và đạo đức gia tăng
Hiện tại, hệ thống NHTM đang phải đối mặt với sự tình trạng thừa nhân sự, và làn sóng chuyển dịch nhân
sự nhất là khi xu hướng hợp nhất, sáp nhập đang âm ỉ, chuẩn bị diễn ra mạnh mẽ trong thời gian tới Nhiều lãnh
đạo từ phó tổng giám đốc trở lên ở những NH nhỏ đã lo đón đầu “nhảy” sang NH khác khi biết NH cũ sẽ có sự thay đổi lớn về nhân sự sau khi hợp nhất, sáp nhập vì quá trình tái cấu trúc ngân hàng đòi hỏi các NHTM thay đổi, thậm chí hoán đổi nhân sự để phù hợp với chiến lược kinh doanh mới Sự biến động ấy đang diễn ra ở cả với NHTM lớn và NHTM nhỏ, cả với nhân sự cao cấp lẫn nhân viên NH cấp thấp Từ đầu năm đến nay nhiều NHTM
đã công bố thay tổng giám đốc (CEO) và nhiều lãnh đạo cao cấp khác Lý do của các thay đổi này có nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là có sự đổi chủ ngân hàng Đặc biệt, do từ đầu năm đến nay NHNN đang tạm ngưng cấp phép mở rộng mạng lưới hoạt động nên nhiều NHTM thừa nhân sự bậc trung và thấp Có thể thấy sự thay đổi về nhân sự ở hệ thống NHTM hiện nay về phương diện nào đó là quy luật tất yếu và tích cực trong lộ trình tái cấu NH, nhưng “biến động” lớn về nhân sự cũng đang khiến hiệu quả hoạt động của không ít NH bị ảnh hưởng Bên cạnh đó, sự biến động nhân sự liên tục trong hệ thống NHTM thời gian qua đã dẫn đến ngành NH hiện nay không còn “hot” với lương cao và cơ hội thăng tiến như những năm trước đây
Thêm vào đó, nguồn nhân lực mới cũng chưa đáp ứng được yêu cầu của các ngân hàng cả về số lượng và chất lượng: Chất lượng đào tạo đội ngũ nhân lực trẻ còn có khoảng cách xa so với yêu cầu thực tế như
thiếu hụt nghiêm trọng kiến thức về ngân hàng như một ngành kinh doanh, thiếu tự tin trong giao tiếp, dẫn đến thiếu khả năng trình bày một cách thuyết phục, thiếu khả năng kiểm soát cảm xúc, đặt biệt khi đặt vào tình huống giải quyết với khách hàng khó tính hoặc mâu thuẫn về lợi ích, thiếu khả năng tư duy sáng tạo, dẫn đến gặp khó khăn khi đặt vào tình huống cần sự chủ động đưa ra giải pháp, trình độ tiếng anh chưa đạt yêu cầu nếu phải phục
vụ các khách hàng nước ngoài tại quầy…
Giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho các ngân hàng trong thời gian tới là:
- Không ngừng đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, tính chuyên nghiệp cũng như trách
nhiệm, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ Ngoài ra, còn cần bồi dưỡng cho cán bộ tài chính - ngân hàng công nghệ quản lý kinh doanh hiện đại, năng lực đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác quản trị doanh nghiệp, tư vấn tái cơ cấu doanh nghiệp, quy trình quản trị kinh doanh và hệ thống kiểm soát nội bộ
- Có chiến lược và kế hoạch cụ thể phát triển nguồn và thị trường nhân lực Trước mắt tập trung đào tạo đội ngũ quản lý, nhân viên các ngành tài chính - ngân hàng, bảo hiểm, kế toán, kiểm toán, tư vấn tài chính
- Đa dạng hóa các kênh và phương thức đào tạo Tăng cường hợp tác giữa các trường đại học, các cơ sở nghiên cứu trong và ngoài nước với các bộ, ngành trung ương và địa phương
Trang 7- Khuyến khích thu hút và trọng dụng các chuyên gia ngân hàng trình độ cao từ các tổ chức, quốc gia trong khu vực và thế giới vào làm việc tại Việt Nam
- Xây dựng trên địa bàn thủ đô và một số đô thị lớn một số trung tâm đào tạo tài chính - ngân hàng đạt trình độ khu vực về chương trình và công nghệ giảng dạy Chuẩn hóa trình độ cán bộ, nhân viên tài chính - ngân hàng theo chuẩn mực quốc tế
- Từng bước mở cửa và hội nhập với thị trường dịch vụ tài chính - ngân hàng thế giới theo lộ trình đã cam kết
- Khuyến khích phát triển và tạo thuận lợi cho hoạt động của các hiệp hội ngành nghề trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng Đẩy mạnh hoạt động và tăng cường vai trò của hiệp hội ngành tài chính - ngân hàng trong việc
hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước trên các phương diện: xây dựng khuôn khổ pháp lý, đào tạo nhân lực, giám sát
sự tuân thủ quy định pháp luật của các thành viên tham gia thị trường, giao lưu trong nước và quốc tế
4 Vấn đề điều hành, quản trị tại các NHTM Việt Nam
Các NHTM, với đặc thù là các tổ chức kinh doanh “tiền”, có độ rủi ro cao và mức độ ảnh hưởng lớn thì vấn
đề quản trị là rất quan trọng, đặc biệt đối với một nước đang phát triển như Việt Nam, khi ngân hàng là nguồn tài chính bên ngoài cực kỳ quan trọng đối với doanh nghiệp Một ngân hàng yếu kém trong quản trị sẽ không chỉ gây tổn thất cho chính ngân hàng đó, mà còn tạo nên những rủi ro nhất định mang tính dây chuyền cho các đơn vị khác và ngược lại Rõ ràng, khả năng chống đỡ của ngân hàng càng cao, khả năng hỗ trợ cho khu vực doanh nghiệp sẽ càng lớn
Thực tế, việc quản trị tại nhiều NHTM chưa được quan tâm đúng mức và chưa được coi là mô hình thật sự
cần thiết cho phát triển kinh doanh Mô hình tổ chức và quản lý của các ngân hàng vẫn bộc lộ một số nhược điểm:
- Tại một số NHTM, vai trò thực tế của HĐQT và ban điều hành chưa được phân biệt rõ ràng Điều này có thể dẫn đến hai khả năng: HĐQT không tập trung được các luồng thông tin chủ yếu về hoạt động ngân hàng để xây dựng, kiểm tra các mục tiêu chiến lược và các quyết định phòng ngừa rủi ro; hoặc là HĐQT can thiệp quá sâu
vào các hoạt động quản lý thường ngày;
- Mô hình tổ chức của các NHTM chưa hoàn thiện, vẫn còn tình trạng các phòng ban nghiệp vụ từ trụ sở chính và chi nhánh được phân nhiệm theo nghiệp vụ và phân khúc theo địa giới hành chính, chưa chú trọng phân nhiệm theo nhóm khách hàng và loại hình dịch vụ như thông lệ quốc tế Đây là bất cập lớn nhất về cấu trúc quản
lý và phát triển sản phẩm mới, hạn chế khả năng phục vụ và đáp ứng nhu cầu khách hàng;
- Thiếu các bộ phận liên kết các hoạt động, các quyết định giữa các phòng ban nghiệp vụ, chưa tạo điều kiện cho HĐQT và ban điều hành bao quát toàn diện hoạt động và tập trung nhân lực vào các định hướng chiến lược
- Thiếu cơ sở dữ liệu về phân tích, dự báo môi trường kinh doanh, đánh giá nguồn lực và xác định tầm nhìn trung, dài hạn - công cụ quản lý cơ bản của các NHTM hiện đại, nên các NHTM còn lúng túng trong việc hoạch định chiến lược phát triển dài hạn
Trang 8- Các ngân hàng đã thiết lập các ủy ban theo thông lệ và qui định của Luật các TCTD, nhưng vai trò và hoạt động của những ủy ban này còn yếu Tại một vài ngân hàng, ủy ban quản lý rủi ro, ủy ban nhân sự và một số ủy ban khác đã được thành lập, nhưng hoạt động còn hạn chế và không thực hiện được chức năng tư vấn cho HĐQT Tại nhiều NHTM cổ phần, các cổ đông sáng lập thường là những cổ đông lớn và thường dành quyền kiểm soát tuyệt đối không những trong các vấn đề chiến lược và định hướng, mà cả trong các quyết định quan trọng thuộc thẩm quyền của ban điều hành
Một số NHTM chưa quan tâm đúng mức đến quản trị nội bộ: Quản trị nội bộ bao gồm tất cả các hoạt động
trong phạm vi nội bộ liên quan đến dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng, từ quản trị nguồn nhân lực, quản trị tài chính, quản trị khách hàng, đến quản trị rủi ro, quản trị thương hiệu, quản trị thị trường Thời gian gần đây, quản trị nội bộ đã được quan tâm nhiều hơn Nhiều ngân hàng đã mua các sản phẩm về quản trị ngân hàng, nhưng thói quen sử dụng thông tin và việc sử dụng triệt để các tính năng của sản phẩm để đưa ra các quyết định quản trị chưa cao Hệ thống kế toán quản trị chưa hoàn thiện, chưa đánh giá được hiệu quả của từng sản phẩm của các khối kinh doanh, nên chưa lượng hóa được rủi ro và lợi nhuận của NHTM Các giải pháp quản trị rủi ro đã được đưa ra, nhưng áp dụng chưa triệt để, chưa đem lại hiệu quả thiết thực cho hoạt động quản trị rủi ro
Những hạn chế về quản trị ngân hàng tại Việt Nam phần nhiều là do hành lang pháp lý và khuôn khổ cho hoạt động quản trị chưa hoàn thiện, thiếu một hệ thống luật đầy đủ về quản lý tổ chức và quản trị Có một sự
thật khá trớ trêu là từ trước tới nay, bộ luật liên quan trực tiếp tới các hoạt động tín dụng, hay tổ chức tín dụng lại không hề có mục nào đề cập cụ thể tới các vấn đề tổ chức và quản trị Kể cả khi Luật DN mới được sửa đổi vào năm 2005, vấn đề về quản trị DN của NHTM dường như vẫn bỏ ngỏ Không có luật, NHTM phải dựa vào các Nghị định để tự xây dựng cơ chế quản trị Đánh giá của giới luật sư cho thấy, bất chấp việc Việt Nam đã cho ra đời hàng loạt những bộ luật mới để chuẩn bị cho giai đoạn chính thức hòa nhập kinh tế quốc tế, nhưng các văn bản pháp lý về tổ chức, QTNH vẫn “như cũ”, thậm chí có một số điểm không còn phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn trong hoạt động của NHTM Trong khi đó, điểm yếu của hệ thống NHTM Việt Nam chính là nguồn vốn điều
lệ còn quá thấp, nguồn nhân lực, cán bộ nhân viên được đào tạo nhiều nhưng chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc
tế
Thời gian tới các NHTM Việt Nam cần:
Thứ nhất, là một bộ luật hoàn chỉnh Hội nhập quốc tế đã mở ra cơ hội để ngành ngân hàng trao đổi hợp tác,
tiếp cận các luồng vốn và trợ giúp kỹ thuật quốc tế cho ngân hàng Việt Nam, góp phần làm cho quản trị của hệ thống ngân hàng Việt Nam phù hợp hơn với trình độ và chuẩn mực quốc tế Song QTNH cần đứng trên giác độ tổng thể từ quản trị mục tiêu - chiến lược đến tổ chức - hoạt động và đặc biệt là quản trị rủi ro mới mang lại sự an toàn cho NHTM Để tạo một sự thay đổi có tính chiến lược về QTNH, một bộ Luật rành rẽ thay cho Nghị định là cần thiết
Thứ hai, là cơ cấu lại mô hình tổ chức của ngân hàng Mô hình tổ chức của một số NHTM hiện nay thích
hợp trong điều kiện hoạt động với qui mô nhỏ, mức độ tập trung quyền lực cao Khi một NHTM có qui mô ngày càng lớn với số lượng chi nhánh ngày càng nhiều, khối lượng và tính chất công việc ngày một phức tạp hơn thì
Trang 9mô hình tổ chức như vậy sẽ bộc lộ những hạn chế, nhất là trong việc tổ chức và bố trí các phòng nghiệp vụ cả ở cấp trung ương và chi nhánh hiện đang phân cấp quản lý theo loại hình nghiệp vụ, chưa chú trọng quản lý theo thị trường và đối tượng phục vụ Rõ ràng, với áp lực cạnh tranh, yêu cầu chuẩn hoá hoạt động tổ chức theo hướng gọn nhẹ, hiệu quả đang là đòi hỏi đối với cả các ngân hàng lớn cũng như các ngân hàng quy mô nhỏ
Thứ ba, là nâng cao năng lực quản trị nội bộ của các NHTM QTNH nói chung và quản trị rủi ro nói riêng,
cần dựa trên một số nguyên tắc sau: nguyên tắc chấp nhận rủi ro; nguyên tắc điều hành rủi ro cho phép; nguyên tắc quản lý độc lập các rủi ro riêng biệt; nguyên tắc phù hợp giữa mức độ rủi ro cho phép và khả năng tài chính; nguyên tắc hiệu quả kinh tế, nguyên tắc hợp lý về thời gian và phù hợp với chiến lược chung của ngân hàng v.v…
Để thực hiện tốt những nguyên tắc này, ngoài việc quản lý tốt tài sản nợ - tài sản có theo nguyên tắc của Uỷ ban Basel, xây dựng văn hoá quản trị lành mạnh, tạo môi trường thuận lợi cho việc áp dụng các nguyên tắc và thông
lệ quản trị rủi ro, các NHTM cần chú trọng nâng cao chất lượng công tác kiểm soát nội bộ trên cơ sở áp dụng hệ thống công nghệ ngân hàng hiện đại, để phát hiện những tiềm ẩn rủi ro, có biện pháp ngăn chặn kịp thời Nhưng cũng không nên quá nhấn mạnh đến kiểm tra, kiểm soát nội bộ dễ đánh mất tính sáng tạo trong công việc
Để đáp ứng được yêu cầu hội nhập, hệ thống NHTM Việt Nam vẫn còn nhiều việc phải làm, trong đó cần chú trọng áp dụng mô thức quản trị DN hiện đại theo thông lệ quốc tế, hướng tới sự phát triển bền vững của cả hệ thống
Câu 2: Định hướng chiến lược phát triển của NH Việt Nam trong điều kiện hiện nay? Nhận xét
1 Các xu hướng chính ảnh hưởng đến sự phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam
- Xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế có thể được coi là xu hướng chủ đạo chi phối sự phát triển của ngành ngân hàng trong những năm tới, đem lại nhiều cơ hội cho sự phát triển của khu vực tài chính của Việt Nam Quá trình hội nhập sâu rộng sẽ giúp ngành ngân hàng Việt Nam tiếp cận các nguồn vốn từ thị trường tài chính quốc tế một cách
dễ dàng hơn thông qua việc phát hành trái phiếu, niêm yết cổ phiếu trên các thị trường chứng khoán quốc tế để thu hút nguồn vốn đầu tư gián tiếp từ nước ngoài Cạnh tranh về sản phẩm dịch vụ tài chính ngân hàng gay gắt hơn sẽ kéo theo sự ra đời của những sản phẩm tài chính mới, đẩy mạnh phát triển các phương tiện, dịch vụ thanh toán mới, hiện đại trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thống Các TCTD Việt Nam có thể học hỏi được những kinh nghiệm quản lý, kiến thức và công nghệ tài chính hiện đại từ các định chế tài chính nước ngoài cùng với quá trình chuyển giao công nghệ gia tăng mạnh mẽ khi họ tham gia vào thị trường Việt Nam, qua đó nhanh chóng cải thiện được năng lực quản trị ngân hàng, năng lực canh tranh, trình độ ứng dụng công nghệ ngân hàng tiên tiến Việc dỡ bỏ các hạn chế hiện tại cho ph p các định chế tài chính và công ty chứng khoán 100% vốn nước ngoài tham gia vào thị trường trong nước và đóng góp lớn vào sự phát triển của các định chế tài chính và các dịch vụ tài chính trong nền kinh tế của Việt Nam Mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế cũng gián tiếp tác động lên hệ thống ngân hàng thông qua sự mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng nền kinh tế
Trang 10Tuy nhiên việc mở cửa và hội nhập, bên cạnh những tác động tích cực cũng mang lại những rủi ro nhất định,
sự biến động của thị trường trong nước tăng lên, đòi hỏi các ngân hàng trong nước cũng phải nhanh chóng nâng cao chất lượng hoạt động và khả năng quản trị điều hành Diễn biến của các dòng vốn, cùng với quá trình tự do hóa các giao dịch vốn theo các cam kết hội nhập quốc tế đã đặt ra thách thức lớn đối với việc điều hành chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá của NHNN Việt Nam, gây những bất ổn nhất định đến thị trường tài chính Việt Nam Trong tương lai, vẫn tiềm ẩn nhiều biến động bất thường và nguy cơ đảo chiều của luồng vốn quốc tế do vậy, cần cấu trúc lại mô hình tăng trưởng để phát triển tốt hơn nhờ vào tiêu dùng nội địa chứ không phải phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu và nguồn vốn từ bên ngoài
- Xu hướng phát triển mạnh mẽ của các nền kinh tế mới nổi và Châu Á Thái Bình Dương
Giai đoạn 2001-2010 đánh dấu sự nổi lên của những nền kinh tế lớn mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, Nga và Brazil (còn được gọi tắt là khối BRIC) và khu vực Châu Á Thái Bình Dương Tốc độ tăng trưởng ngoạn mục của những nền kinh tế này trong những năm qua như Trung Quốc với tốc độ trung bình hàng năm là hơn 10%, Nga hơn 7% đã góp phần vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thế giới Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, các nền kinh tế mới nổi này dự báo sẽ chiếm hơn 50% tăng trưởng của thế giới trong 20 năm tới và sẽ làm đầu tàu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thế giới, quy mô kinh tế châu Á sẽ vượt nhóm 7 nước công nghiệp lớn (G7) và trở thành khu vực kinh tế lớn nhất thế giới Việc phát triển nhanh của các nền kinh tế này sẽ ảnh hưởng lớn đến thương mại toàn cầu và hệ thống ngân hàng thế giới Việc giao dịch, trao đổi buôn bán sẽ không chỉ phụ thuộc vào một đồng tiền duy nhất như trước đây mà sẽ đa dạng hóa đồng tiền của các nước hơn
- Xu hướng phát triển khoa học kỹ thuật và kinh tế trí thức
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là xu hướng hình thành và phát triển của nền kinh tế tri thức đã tạo ra những lực đẩy mạnh mẽ cho sự phát triển của khu vực tài chính trên phạm vi toàn cầu Nhu cầu về các dịch
vụ tài chính nói chung và dịch vụ ngân hàng gia tăng mạnh mẽ Cùng với đó là sự cải tổ nhanh chóng về chất lượng của các dịch vụ dựa trên khoa học kỹ thuật hiện đại, đặc biệt là sự phát triển của mạng lưới công nghệ thông tin, mạng internet trên toàn cầu đã cho ra đời các dịch vụ ngân hàng hiện đại Trong năm 2012, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc tạo nên những bước phát triển đột phá cho dịch vụ ngân hàng sẽ là một xu hướng tất yếu
2 Định hướng phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong năm 2012
- Tập trung khai thác dịch vụ ngân hàng bán lẻ
Đây là một xu thế tất yếu của ngành ngân hàng Việt Nam khi mà hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, cạnh tranh ngày càng gay gắt, nhu cầu tiện ích của người dân ngày càng đa dạng thì các NHTM đều đang cố gắng
mở rộng thị phần, tiếp cận một lượng lớn người dân chưa biết đến các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng Hơn nữa dịch vụ ngân hàng bán lẻ trên thực tế đem lại nguồn doanh thu cao, ít rủi ro cho các ngân hàng Trên thực tế các NHTM ở Việt Nam cũng đã bước đầu tập trung khai thác thị trường bán lẻ thông qua việc mở rộng mạng lưới hoạt động nhằm cung ứng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng đến các cá nhân, hộ gia đình các doanh nghiệp nhỏ và
Trang 11vừa; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ ngân hàng, phát triển các loại dịch vụ mới, đa tiện ích như internet banking, home banking, PC banking, mobile banking…
Việc tập trung mở rộng và phát triển lĩnh vực bán lẻ sẽ là nhân tố quyết định tác động đến vai trò dẫn đầu của các NHTM trong tương lai Khả năng cung cấp nhiều sản phẩm hơn trong đó bao gồm nhiều sản phẩm mới thông qua sự đa dạng của các kênh phân phối sẽ giúp các NHTM sử dụng tối ưu những thuận lợi trong lĩnh vực dịch vụ tài chính trong tương lai Do đó, trong năm 2012, các NHTM cần chú ý hơn nữa trong việc mở rộng ứng dụng công nghệ ngân hàng, phát triển kênh phân phối hiệu quả, đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp để tiếp thị và giới thiệu sản phẩm, dịch vụ ngân hàng để phát triển tốt dịch vụ ngân hàng bán lẻ của mình
- Tổ chức lại kênh phân phối, tăng năng suất lao động
Đối với các ngân hàng thương mại, việc phát triển kênh phân phối cũng đang là một trong những giải pháp mang tính tiên quyết cho phát triển Tại Việt Nam, gần 50 năm phát triển vừa qua, hầu hết các ngân hàng mới chỉ
có duy nhất kênh phân phối truyền thống - hệ thống chi nhánh, việc tổ chức lại các kênh phân phối một cách đa dạng đóng vai trò là một trong những yếu tố làm lên thành công trong cuộc đua cạnh tranh ngày càng gay gắt về cung cấp các sản phẩm và dịch vụ
Hiện nay, hệ thống các chi nhánh của ngân hàng đang là kênh phân phối truyền thống cung cấp tới khách hàng các dịch vụ khách hàng cá nhân riêng lẻ Bên cạnh đó, cũng xuất hiện những kênh phân phối mới thông qua
sự trợ giúp của công nghệ thông tin như ATM, Mobile Banking với nhiều ưu điểm về thời gian và mức phí Đa dạng hoá kênh phân phối là việc lựa chọn một hoặc một số kênh phân phối nhằm tạo ra một hệ thống kênh phân phối hỗn hợp, bổ khuyết lẫn nhau trong hoạt động, nhằm tăng cường khả năng phục vụ khách hàng, tăng cường khả năng quan tâm tới từng khách hàng (cá nhân hoá dịch vụ), giảm mức phí và giảm bớt công việc cho nhân viên tại hệ thống chi nhánh Hơn nữa, việc thiết lập và gắn kết các kênh phân phối mới sẽ tạo ra khả năng cho các chi nhánh bán lẻ đem lại, từ đó tăng năng suất lao động
Sản phẩm dịch vụ ngân hàng có một trong những đặc tính là nhanh tàn lụi, không thể lưu trữ, nên việc xây dựng các kênh phân phối (mạng lưới bán hàng) trở thành một vấn đề hết sức trọng yếu trong kinh doanh ở các ngân hàng Xu hướng của các ngân hàng hiện này vẫn là tiếp tục củng cố các kênh phân phối truyền thống, bao gồm: (1) Hệ thống các Chi nhánh; (2) NH Đại lý (Thường được áp dụng đối với các NHTM chưa có chi nhánh)
và phát triển kênh phân phối hiện đại với ưu thế về nhiều mặt, bao gồm:
· Các chi nhánh tự động hoá hoàn toàn: hoàn toàn do máy móc thực hiện, dưới sự điều khiển của các thiết bị điện tử Ưu thế to lớn về: giảm chi phí giao dịch và tốc độ thực hiện nghiệp vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng;
· Chi nhánh ít nhân viên: Chi nhánh ít nhân viên có vị trí quan trọng trong hệ thống ngân hàng, nhất là các chi nhánh lưu động Ưu điểm của chúng là chi phí thấp, hoạt động linh hoạt;
· Ngân hàng điện tử (E Banking): Phương thức phân phối này thông qua đường điện thoại hoặc máy vi tính Nó cung cấp cho khách hàng rất nhiều tiện ích, tiết kiệm chi phí và thời gian, hoạt động được ở mọi lúc, mọi nơi;
Trang 12(ii) Ngân hàng qua mạng internet: đây là loại hình ngân hàng ở cấp cao hơn Khách hàng chỉ cần có máy tính
cá nhân nối mạng internet là có thể giao dịch được với ngân hàng mà không cần phải đến ngân hàng Ngoài chức năng kiểm tra tài khoản, khách hàng có thể sử dụng hàng loạt dịch vụ trực tuyến khác như vay, mua hợp đồng bảo hiểm, đầu tư chứng khoán, chuyển ngân, mở L/C, mở thư bảo lãnh…
- Tập trung hóa quản lý rủi ro và cơ cấu danh mục
Sau khủng hoảng, những vấn đề được nhiều nhà quản trị, các nhà lập pháp quan tâm nhất là vấn đề về quản lý rủi ro, hiệu quả hoạt động và nâng cao hiểu biết về hoạt động ngân hàng Điều này cũng xuất phát từ bối cảnh thực tế là một trong những nguyên nhân gây ra đổ vỡ ngân hàng là khâu quản lý rủi ro Do đó trong thời gian tới,
xu hướng tập trung hóa quản trị rủi ro và cơ cấu lại danh mục đầu tư sẽ được các ngân hàng đặc biệt quan tâm Hạn chế rủi ro hoạt động cũng là một phần cốt lõi của những yêu cầu cấp thiết được đặt ra đối với những ngân hàng đang tìm cách giảm thiểu những vấn đề về gian lận nội bộ, gian lận từ internet và rò rỉ thông tin Việc quản
lý danh mục đầu tư và kế hoạch phục hồi cũng được đặt ra nhằm giải quyết những khoản nợ xấu được cho là đang gia tăng do tác động từ khủng hoảng Theo đó, ở Việt Nam, việc cơ cấu lại danh mục đầu tư, giảm tỷ trọng cho vay vào các lĩnh vực nóng như bất động sản và chứng khoán, tăng tỷ trọng cho vay tiêu dùng và cho vay đầu tư kinh doanh phục vụ sản xuất sẽ được các ngân hàng đặc biệt quan tâm Khối NHTM cũng đã bước đầu xây dựng khung hệ thống quản lý rủi ro bao gồm cơ cấu tổ chức, các quy định nội bộ nhằm quản lý rủi ro ở mọi phạm vi từ khoản mục đến danh mục và các loại hình kinh doanh, các rủi ro tín dụng, thị trường và hoạt động… Cơ cấu tổ chức quản lý rủi ro cũng được hình thành khá rõ ràng, cụ thể có các Ủy ban quản lý rủi ro, Ủy ban kiểm toán, Ủy ban quản lý tài sản nợ có (ALCO), phòng quản lý rủi ro Hệ thống quản trị rủi ro cũng sẽ được xây dựng một cách tập trung, khối Quản trị rủi ro thường nằm ở hội sở chính của các ngân hàng, có trách nhiệm tính toán những rủi
ro có thể phát sinh trong toàn bộ hệ thống, đảm bảo khả năng thanh khoản và mức độ an toàn vốn của ngân hàng này và báo cáo lại cho Ban điều hành và Hội đồng quản trị Điều này giúp tiết kiệm chi phí, thời gian thay vì việc quản lý rủi ro phân tán, tại các chi nhánh như trước đây
- Xu hướng sáp nhập, mua lại sẽ diễn ra mạnh mẽ
Ở Việt Nam hiện nay, có thể thấy hệ thống các TCTD có số lượng tương đối lớn nhưng trình độ phát triển không đồng đều, quy mô hoạt động nhỏ và chưa thật sự hiệu quả Do đó, việc thực hiện cơ cấu lại hệ thống các TCTD, xử lý dứt điểm tình trạng các Ngân hàng thương mại yếu kém, khắc phục tình trạng thiếu thanh khoản, lành mạnh hóa và ổn định hoạt động của hệ thống ngân hàng, thiết lập trật tự kỷ cương thị trường tiền tệ được nêu trong Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 245/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 sẽ là một xu hướng tất yếu