Khái niệm xử phạt hành chính Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính lần đầu tiên được đề cập đến tại khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995, theo đó: “Xử phạt vi phạm h
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 4
1 Khái niệm Vi phạm Hành chính 4
2 Khái niệm xử phạt hành chính, đặc điểm 4
2.1 Khái niệm xử phạt hành chính 4
2.2 Đặc điểm xử phạt vi phạm hành chính 5
3 Các hình thức xử phạt hành chính 11
3.1 Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính 11
3.2 Các hình thức phạt bổ sung 12
4 Thẩm quyền sử phạt vi phạm hành chính 12
4.1 Nguyên tắc xác định thẩm quyền 12
4.2 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
13
5 Thực tiễn xử phạt Hành chính trong lĩnh vực phòng chống dịch Covid hiện nay 13
5.1 Hành vi bị cấm trong Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm
13
5.2 Các quy định về xử phạt hành chính đối với các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến phòng, chống bệnh truyền nhiễm
14
5.3 Các quy định về xử lý hình sự đối với các hành vi phạm pháp luật liên quan đến phòng, chống bệnh truyền nhiễm
17
KẾT LUẬN 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Vi phạm pháp luật hành chính cũng như mọi vi phạm pháp luật khác đều
là những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ Vì vậy, đấu tranh phòng chống các vi phạm pháp luật hành chính nói chung và các vi phạm luật hành chính nói riêng luôn là một nhiệm vụ trọng yếu của nước ta
Hơn thế nữa, trong giai đoạn hiện nay đất nước ta đang trong quá trình đổimới với việc xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường Thì áp dụng đúng pháp luật nói chung và đúng pháp luật về xử phạt hành chính nói riêng sẽ góp phần tích cực vào quá trình đổi mới đất nước, bảo
vệ trật tự, an ninh xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước, đảm bảo cho quá trình đổi mới đất nước được thành công
Trước sự đóng góp to lớn như thế của việc áp dụng pháp luật về xử phạt
vi phạm hành chính Chúng ta không thể bỏ qua câu hỏi: “Vậy pháp luật về xử pháp vi phạm hành chính đã được áp dụng như thế nào? Đã để lại những ưu nhược điểm nào? Có phù hợp với thực tế cuộc sống không?” Phải trả lời được những câu hỏi đó ta mới đưa ra được những giải pháp hữu hiệu để ngày càng hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống về xử phạt vi phạm hành chính nói riêng
Do khả năng nhận thức cũng như kiến thức về thực tế còn hạn chế, em xingóp một bài viết nhỏ về thực trạng áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính Bài viết sẽ không tránh khỏi những sai sót Mong quý thầy cô và các bạn giúp đỡ để bài viết của em được tốt hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4NỘI DUNG
Vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính là những khái niệm cơ bản trong pháp luật về xử lý vi phạm hành chính Hai khái niệm này có liên quan mật thiết với nhau, bởi lẽ, vi phạm hành chính là cơ sở để xử phạt vi phạm hành chính; ngược lại, xử phạt vi phạm hành chính là việc áp dụng chế tài hành chính đối với chủ thể vi phạm hành chính Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi tập trung nghiên cứu khái niệm xử phạt vi phạm hành chính và các quy định trực tiếp liên quan đến khái niệm này; những đặc điểm cơ bản của xử phạt vi phạm hành chính
1 Khái niệm Vi phạm Hành chính
Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính
2 Khái niệm xử phạt hành chính, đặc điểm
2.1 Khái niệm xử phạt hành chính
Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính lần đầu tiên được đề cập đến tại khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995, theo đó: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”.Khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 tiếp tục khẳng định: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật
về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”
Hiện nay, xử phạt vi phạm hành chính được định nghĩa chính thức tại khoản
2 Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Luật XLVPHC), theo đó:
“Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hìnhthức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính”
Theo định nghĩa tại khoản 2 Điều 2 Luật XLVPHC nêu trên thì nhìn chung,
xử phạt vi phạm hành chính được hiểu là việc áp dụng các biện pháp/chế tài mang tính cưỡng chế hành chính của Nhà nước đối với chủ thể có hành vi trái pháp luật về hành chính Các biện pháp/chế tài này bao gồm: Các hình thức xử
Trang 5phạt vi phạm hành chính mang tính trừng phạt, răn đe (Cảnh cáo; phạt tiền; tướcquyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn; đình chỉ hoạt động
có thời hạn; tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để
vi phạm hành chính; trục xuất) và các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm hành chính gây ra nhằm lập lại trật tự quản lý đã bị vi phạm hành chính xâm hại (Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu; buộc tháo dỡ công trình, phần công trìnhxây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép; buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh…)
2.2 Đặc điểm xử phạt vi phạm hành chính
Qua nghiên cứu khái niệm về xử phạt vi phạm hành chính, về cơ bản, có thể chỉ ra một số đặc điểm sau đây của hoạt động xử phạt vi phạm hành chính:
- Thứ nhất, về cơ sở tiến hành việc xử phạt vi phạm hành chính: Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với chủ thể vi phạm hành chính Hay nói cách khác, vi phạm hành chính là cơ sở để xử phạt vi phạm hành chính Hành vi bị coi là vi phạm hành chính phải được quy định trong các văn bản quy phạm, pháp luật Điểm d khoản 1 Điều 3:
Luật XLVPHC cũng quy định nguyên tắc Chỉ xử phạt vi phạm : “
hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định”
Trước đây, tại khoản 1 và khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1989, Ủy ban Thường vụ Quốc hội giao Hội đồng bộ trưởng, Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương thẩm quyền quy định những hành vi bị coi là vi phạm hành chính và các hình thức, biện pháp xử lý đối với hành vi
vi phạm:
“1 Căn cứ vào luật, pháp lệnh, Hội đồng bộ trưởng quy định hành
vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt và biện pháp hành chính khác áp dụng đối với từng loại hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý Nhà nước
2 Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung
ương, căn cứ vào văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên và đặc điểm cụ thể của địa phương, quy định các hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý Nhà nước ở địa phương; hìnhthức xử phạt và các biện pháp cưỡng chế khác đối với các hành vi
đó, trừ các hành vi đã được các cơ quan Nhà nước cấp trên quy định Các quy định về hình thức xử phạt vi phạm hành chính và
Trang 6biện pháp hành chính khác của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố,
đặc khu trực thuộc trung ương không được trái với các quy định
chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với vi phạm hành chínhtrong từng lĩnh vực quản lý nhà nước… Ngoài luật, pháp lệnh của”.
Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chỉ có nghị định của Chínhphủ được quy định hành vi vi phạm hành chính, hình thức, mức xửphạt và biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng vi phạm Theo sốliệu được tổng hợp, thống kê đến ngày 31/12/2018, có tổng số 101Nghị định được Chính phủ ban hành, trong đó có 89 Nghị định quyđịnh về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhànước
Văn bản của Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy bannhân dân các cấp không được quy định hành vi vi phạm hành chính
và đương nhiên không được căn cứ vào các văn bản do Bộ, cơ quanngang Bộ hoặc Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp banhành để xử phạt vi phạm hành chính Mặt khác, nếu trong thực tếđời sống có hành vi vi phạm nhưng chưa được Chính phủ, Quốc hộihoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định là hành vi vi phạm hànhchính thì cũng không được xử phạt
Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 23 Luật XLVPHC,Hội đồng nhân dân các thành phố trực thuộc Trung ương có thẩmquyền quy định mức phạt cao hơn (nhưng tối đa không quá 02 lần)đối với một số hành vi vi phạm hành chính trong một số lĩnh vực,nhưng không được quy định hành vi ngoài những hành vi Chínhphủ quy định trong các nghị định xử phạt vi phạm hành chính trongcác lĩnh vực quản lý nhà nước đó Cần lưu ý rằng, Hội đồng nhândân các thành phố trực thuộc Trung ương không có thẩm quyền quyđịnh (tự đặt ra) hành vi bị coi là vi phạm hành chính như trước đây
mà chỉ có thẩm quyền quy định mức phạt cao hơn (nhưng tối đakhông quá 02 lần) đối với một số vi phạm hành chính trong một số
Trang 7Recommandé pour toi
[SAPP] F3 Mock Exam with Answer CIT ACCA ACBD xyz
2018 -2030 acca f7 acbd
Top Notch 3a workbook answer key - Third Edition
Script Filipino TV Broadcasting Final
Trang 8lĩnh vực, căn cứ vào hành vi, khung tiền phạt hoặc mức tiền phạtđược quy định tại nghị định của Chính phủ và yêu cầu quản lý kinh
tế – xã hội đặc thù của địa phương
Ví dụ: Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội ban hành Nghịquyết số 07/2014/NQ-HĐND ngày 11/7/2014 quy định mức tiềnphạt đối với một số hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực xâydựng Các hành vi vi phạm và mức phạt tương ứng đã được quyđịnh tại Nghị định số 121/2013/NĐ-CP ngày 10/10/2013 của Chínhphủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xâydựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vậtliệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý pháttriển nhà và công sở, trên cơ sở đó Nghị quyết số 07/2014/NQ-HĐND đã nâng mức xử phạt đối với các hành vi này (căn cứ quyđịnh tại khoản 1 Điều 23 Luật XLVPHC và khoản 2 Điều 20 LuậtThủ đô
- Thứ hai, về nguyên tắc tiến hành việc xử phạt vi phạm hành chính:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật XLVPHC, khi tiến hành việc xử phạt vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt cần tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời vàphải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây
ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật
Việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúngquy định của pháp luật
Việc xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức
độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng
Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính
do pháp luật quy định Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi vi phạm hành chính đó Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính
Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đốivới tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân
Ngoài ra, khi tiến hành xử phạt đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính, bên cạnh các nguyên tắc chung được quy định tại Điều
Trang 93 của Luật XLVPHC, người có thẩm quyền xử phạt cũng cần phải lưu ý
áp dụng thêm các nguyên tắc riêng quy định tại Điều 134 Luật XLVPHC:
Việc xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính chỉ được thực hiện trong trường hợp cần thiết nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửachữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho
xã hội Trong quá trình xem xét xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính phải bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người chưa thành niên
Việc xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính còn căn cứ vào khả năng nhận thức của người chưa thành niên về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, nguyên nhân và hoàn cảnh vi phạm để quyết định việc xử phạt
Việc áp dụng hình thức xử phạt, quyết định mức xử phạt đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính phải nhẹ hơn so với người thành niên có cùng hành vi vi phạm hành chính, cụ thể là:
Trường hợp người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính thì không áp dụng hình thức phạt tiền
Trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm hành chính bị phạt tiền thì mức tiền phạt không quá 1/2 mức tiền phạt áp dụng đối với người thành niên; trường hợp không có tiền nộp phạt hoặc không có khả năng thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả thì cha mẹ hoặc người giám
hộ phải thực hiện thay
Trong quá trình xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính, bímật riêng tư của người chưa thành niên phải được tôn trọng và bảo vệ
Các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính phải được xem xét áp dụng khi có đủ các điều kiện quy định Việc áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính không được coi là đã bị xử
lý vi phạm hành chính
- Thứ ba, về chủ thể tiến hành việc xử phạt vi phạm hành chính:Việc xử phạt vi phạm hành chính phải do người có thẩm quyền thực hiệntheo quy định pháp luật Điểm b khoản 1
Điều 3 Luật XLVPHC quy định nguyên tắc “đúng thẩm quyền” trong xử phạt vi phạm hành chính Vi phạm nguyên tắcnày chính là vi phạm điều cấm tại khoản 5 Điều 12 của Luật
Hiện nay, có tổng số 183 chức danh có thẩm quyền xử phạt đượcquy định tại các điều từ Điều 38 đến Điều 51 Luật XLVPHC (chưa
kể các chức danh có chức năng nhiệm vụ thanh tra, chuyênngành do Chính phủ quy định[5]) Luật chỉ quy định liệt kê cácchức danh có thẩm quyền xử phạt và thẩm quyền áp dụng các hìnhthức xử phạt, mức xử phạt tiền, thẩm quyền áp dụng các biện phápkhắc phục hậu quả của các chức danh để trên cơ sở đó, Chính phủquy định cụ thể hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc
Trang 10phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; thẩm quyền
xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh đối với từng viphạm hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước (Điều 4Luật XLVPHC)
Bên cạnh đó, để bảo đảm tính linh hoạt trong việc áp dụng quy định
về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính khi tên gọi của các chứcdanh có sự thay đổi do sự thay đổi về tổ chức, Điều 53 LuậtXLVPHC quy định trường hợp chức danh có thẩm quyền xử phạt viphạm hành chính quy định tại Luật này có sự thay đổi về tên gọi thìcác chức danh đó có thẩm quyền xử phạt Ví dụ thẩm quyền xửphạt của Cảnh sát biển: Ngày 28/8/1998, Cục cảnh sát biển ViệtNam thuộc Bộ tư lệnh Hải quân được thành lập, đánh dấu sự rađời của Cảnh sát biển Việt Nam Năm 2002, Cục Cảnh sátbiển được chuyển về trực thuộc Bộ Quốc phòng và đồng thời cácVùng cảnh sát biển được chuyển về trực thuộc Cục Năm 2013,Cục Cảnh sát biển đổi tên thành Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển theoNghị định số 96/2013/NĐ-CP ngày 27/8/2013 của Chínhphủ Ngày 10/9/2014, các Vùng cảnh sát biển được đổi tên thành
Bộ tư lệnh Vùng cảnh sát biển theo quyết định của Bộ trưởng Quốcphòng Trong trường hợp này, những người có thẩm quyền thuộc
Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển và Bộ tư lệnh Vùng cảnh sát biển chỉ đơnthuần là sự thay đổi về tên gọi nên vẫn có thẩm quyền xử phạt theoquy định tại Điều 41 Luật XLVPHC (chức danh Tư lệnh Cảnh sátbiển và Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển cũng có thẩm quyền xử phạt viphạm hành chính như chức danh Cục trưởng Cục Cảnh sát biển vàChỉ huy trưởng Vùng Cảnh sát biển trước đây)
- Thứ tư, về trình tự, thủ tục tiến hành việc xử phạt vi phạm hành chính:Việc xử phạt vi phạm hành chính phải được người có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định Theo quy định tại khoản 5 Điều 12 của Luật XLVPHC, thì việc xử phạt không đúng trình tự, thủ tục chính là một trong những hành vi bị nghiêm cấm
Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại Mục 1 Chương III Phần thứ hai Luật XLVPHC (từ Điều 55 đến Điều 68) Theo đó, có hai loại thủ tục xử phạt vi phạm hành chính: Thủ tục xử phạt vi phạm hành chínhkhông lập biên bản (thủ tục đơn giản) và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính
có lập biên bản, hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính (thủ tục thông thường)
Cụ thể như sau:
Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 56 Luật XLVPHC là loại thủ tục xử phạt không lập biên bản, được áp dụng trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồngđối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức và người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ Thông thường thủ tục xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản được áp dụng đối với những vi phạm đơn giản, rõ ràng,