Sơ lược lịch sử phát triển của phương pháp phổ khối lượngPhương pháp phổ khối lượng, viết tắt MS Mass Spectrometry, là một phương pháp phân tích công cụ quan trọng để phân tích thành phầ
Trang 1Sơ lược lịch sử phát triển của phương pháp phổ khối lượng
Phương pháp phổ khối lượng, viết tắt MS (Mass Spectrometry), là một phương pháp phân tích công cụ quan trọng để phân tích thành phần và cấu trúc của các hợp chất vô cơ
và hữu cơ Lịch sử phát triển của phương pháp được bắt đầu từ cuối thế kỉ XX Goldstein (1886) và Wein (1898) đã chỉ ra rằng một chùm tia ion dương có thể tách biệt ra khỏi nhau dưới tác dụng của một điện trường và từ trường Thompson (1913) đã chỉ ra là khí neon tự nhiên gồm hai loại có khối lượng nguyên tử khác nhau (isotop) là 20 và 22 (g/mol) Năm 1919, Aston đã chế tạo được thiết bị nghiên cứu iostop qua đó đo được khối lượng của chúng Về sau Thompson đã chế tạo ra được thiết bị ghi nhận các ion trên giấy ảnh Vào những năm 30 của thế kỉ XX (Frank 1926, Condon 1928) đã chế tạo ra máy phổ khối lượng hoàn thiện hơn đo các ion theo tỉ số m/e Trong thời kì này người ta
đã thu được các thành công trong lĩnh vực nghiên cứu isotop Smythe (1934) đã thu được
1 mg 39K trong 7 giờ phân tích Oliphant (1934) đã tách ra và thu gom được 10-8 của liti iostop tinh khiết, Nier (1940) đã tách ra được 235U và 238U Alverez và Conrad (1939) đã thu được 3He trong tự nhiên Thompson cũng là người sử dụng máy phổ khối lượng trong phân tích hóa học, xác định khối lượng nguyên tử và phân tử Conrad (1930) đã đưa ra thông báo đầu tiên về nghiên cứu phổ khối lượng các hợp chất hữu cơ Tiếp theo là sự phát triển nhanh chóng trong lĩnh vực này
Năm 1940 phổ khối được sử dụng vào việc phát hiện dầu mỏ và những năm 1950 được
sử dụng phân tích các mẫu hocmon và steroit Sự kết hợp ký sắc khối phổ ( GC/MS) được thực hiện vào những năm 1960 còn sự kết hợp sắc ký lỏng khối phổ ( LC/MS) được tiến hành vào nhưng năm 1970 Đồng thời phát triển nhanh chóng nhiều kỹ thuật mới của phương pháp khối lượng như phương pháp loại bỏ bom nguyên tử (FAB), phương pháp phun nhiệt (TS), khối phổ tứ cực, khối phổ kế thời gian bay (TOF), kỹ thuật xác định các chất có phân tử khối lớn ( MALDI)…và nhiều kỹ thuật mới khác Phạm vi ứng dụng của phương pháp phổ khối lượng rất rộng lớn đặc biệt có ý nghĩa quan trọng với ngành hóa học hữu cơ, hóa sinh và ngành hóa học vô cơ, nguyên tố đồng vị, vì vậy các sách và tài liệu về phổ khối lượng được phân thành hai loại : “ Phổ khối của các hợp chất hữu cơ và hóa sinh” và “ Phổ khối của các nguyên tố và các hợp chất vô cơ ”