Khi nghiên cứu về Ảnh hưởng của đại dịch Covid 19 đến giáo dục tác giả Burgess & Sievertsen 2020 trong nghiên cứu “The impact of COVID-19 on education” đã chỉ ra ảnh hưởng của Covid 19 t
Trang 1MỞ ĐẦU
Covid-19 là một thực tế khốc liệt Ảnh hưởng của nó từng ngày từnggiờ đã thay đổi mạnh mẽ, rộng lớn và sâu sắc đến đời sống con người trêntoàn cầu, không phân biệt giàu nghèo, quan chức hay dân thường, sắc tộc haytôn giáo Trong đó hệ thống giáo dục đã bị ảnh hưởng trên toàn thế giới
Trong một báo cáo vào tháng 8/2020, Tổ chức Liên hợp quốc nhậnđịnh: Đại dịch Covid – 19 đã tạo ra sự gián đoạn hệ thống giáo dục lớn nhấttrong lịch sử, ảnh hưởng đến gần 1,6 tỷ người học ở hơn 190 quốc gia và tất
cả các quốc gia Việc đóng cửa trường học và các cơ sở học tập khác đã ảnhhưởng đến 94% số sinh viên trên thế giới, con số này tương đương đến 99% ởcác quốc gia có thu nhập trung bình và thấp [18] Tại Việt Nam, hơn 1.7 triệusinh viên không thể học tập trung trong bối cảnh giãn cách xã hội Để ngườihọc có thể “dừng đến trường nhưng không dừng học”, các trường đại họcViệt Nam đã và đang ứng phó với đại dịch theo nhiều cách khác nhau
Đến thời điểm hiện tại, Việt Nam đã trải qua 4 đợt bùng phát dịch bệnhCOVID-19 ở hầu hết các tỉnh, thành trên cả nước Giống như các quốc giakhác, đại dịch COVID-19 không chỉ tác động mạnh mẽ đến các hoạt độngkinh tế-xã hội, mà còn ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động giáo dục ở Việt Nam
Cụ thể, vào khoảng tháng 3 đến tháng 4 năm 2020 khi đợt dịch đầu tiên bùngphát trong nước, tất cả các trường học buộc phải đóng của và toàn bộ họcsinh, sinh viên phải nghỉ học để phòng dịch theo Chỉ thị số 16/CT-TTg củaChính phủ Theo thống kê đến tháng 4/2020, tất cả 63 tỉnh, thành đã cho họcsinh, sinh viên nghỉ ở nhà [1] Đến nay, do diễn biến phức tạp của dịch bệnh,Chính phủ Việt Nam đã nhiều lần thực hiện các đợt giãn cách xã hội trênphạm vi toàn tỉnh, thành phố hoặc thậm chí trên quy mô toàn quốc Trong bốicảnh đó, nhằm phòng ngừa sự lây lan của dịch bệnh COVID-19; vừa duy trìchất lượng dạy học và hoàn thành chương trình đúng tiến độ, đảm bảo việc
Trang 2bằng hình thức trực tuyến (online) đối với hầu hết các cấp học Vì vậy nhóm
tập trung phân tích tổng quan các tài liện liên quan đến chủ đề “Ảnh hưởng của đại dịch COVID 19 đến giáo dục”
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Các tài liệu nước ngoài
Giáo dục đã thu hút được sự quan tâm rất lớn của các nhà nghiên cứutrên thế giới Khi nghiên cứu về Ảnh hưởng của đại dịch Covid 19 đến giáo
dục tác giả Burgess & Sievertsen (2020) trong nghiên cứu “The impact of COVID-19 on education” đã chỉ ra ảnh hưởng của Covid 19 tới hoạt động
giáo dục ở các góc độ thiệt hại về kĩ năng lĩnh hội được thông qua hoạt độngcủa nhà trường, thiệt hại dưới góc độ hoạt động đánh giá kết quả học tậpkhông đảm bảo và thiệt hại đối với khả năng kiếm việc đối với sinh viên tốtnghiệp trong giai đoạn này [14]
Tổ chức Quality Service - QS (2020) với nghiên cứu “The impact of the coronavirus on global higher education” khảo sát trực tuyến hơn 11000
sinh viên trên toàn thế giới, đã chỉ ra ảnh hưởng của dịch Covid 19 tới sinhviên gồm việc phải thay đổi kế hoạch học tập đặc biệt là kế hoạch đi học ởnước ngoài do việc đóng cửa trường học, các kì thi bị hoãn thậm chí là hủy,kinh tế gia đình chịu thiệt hại sau dịch [17] Ảnh hưởng này cũng là kết luận
từ nghiên cứu “The Impact of COVID-19 on Higher Education” của tổ chức
Art and Science khảo sát trên phạm vi toàn nước Mỹ Bên cạnh việc thay đổi
kế hoạch học tập, việc các trường chuyển các khóa học sang đào tạo trựctuyến cũng làm thay đổi thói quen học tập của sinh viên, và phần đông sinhviên thích thú với các khóa học online Kết quả nghiên cứu của QS qua khảosát 400 giảng viên cũng chỉ ra các ứng phó của các trường đại học trong bốicảnh dịch Covid 19 gồm chuyển đổi sang hình thức dạy - học trực tuyến, thayđổi kế hoạch năm học cũng như hình thức đánh giá và tuyển sinh Ảnh hưởngcủa dịch Covid đến hoạt động của các trường cũng được nêu ra trong đánh
Trang 3giá, cụ thể là quy mô tuyển sinh của các nhà trường, các vấn đề liên quan đếnhoạt động dạy - học trực tuyến [14].
Bên cạnh ảnh hưởng thì Các nghiên cứu về rào cản cũng đã được cácnhà nghiên cứu phân tích cụ thể Theo Mungania rào cản học trực tuyến lànhững trở ngại gặp phải trong quá trình học online (khi bắt đầu, trong quátrình và khi đã hoàn thành khóa đào tạo) có thể tác động tiêu cực đến trảinghiệm học tập của người học [16] Như vậy, việc xác định những khó khăn
và rào cản của sinh viên trong quá trình học trực tuyến là vô cùng cần thiết.Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra các yếu tố ảnhhưởng đến việc học trực tuyến của người học Chẳng hạn như nghiên cứu củaRenu Balakrishnan và cộng sự đã chỉ ra 4 rào cản liên quan đến tâm lý, kinh
tế, xã hội, kỹ thuật [18] khi đó, nghiên cứu của Wong đã đưa ra một số hạn
chế của chương trình học đó là: “Hạn chế về công nghệ, các hạn chế liên quan đến cá nhân người học và các hạn chế khác Đối với cá nhân người học, việc sử dụng các công nghệ mới có thể là một bất lợi hoặc rào cản trong chương trình học online Việc thiếu thông tin, kỹ năng giao tiếp và công nghệ
có thể là rào cản đối với chương trình học online vì người học có thể cảm thấy thất vọng từ môi trường học tập độc đáo này”.
Qua đó chúng ta có thể thấy các nhà nghiên cứu nước ngoài đã tậptrung phân tích 2 nội dung lớn liên quan đến vấn đề giáo dục là: các yếu tốảnh hưởng của đại dịch COVID 19 và các yếu tố rào cản đến vấn đề học tậptrực tuyến
2 Tài liệu Việt Nam
2.1 Hướng nghiên cứu tác động của đại dịch COVID 19 tới vấn đề giáo dục của các trường đại học nói chung
Tình hình phức tạp của dịch bệnh COVID 19 đã thách thức hệ thốnggiáo dục trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, đặc biệt là các
Trang 4dịch bệnh vừa đảm bảo được chất lượng học tập của sinh viên Nhóm tác giảTrần Thị Vân Hoa, Phạm Thị Huyền, Nguyễn Quỳnh Hoa (2020) với đề tài
“Đại dịch Covid 19: cơ hội và thách thức cho giáo dục đại học Việt Nam”,
Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 274 đã cho chúng ta một cái nhìn toàn diện
và tổng thể về giáo dục của Việt Nam.Nghiên cứu thực hiện bằng khảo sátnhanh trên Google doc từ 9-11/4/2020 với mẫu nghiên cứu là 826 bao gồm cảcán bộ, giảng viên các trường đại học ở Việt Nam cho thấy dù gặp nhiều khókhăn, song các trường đại học đã dần chủ động hơn trong việc vượt qua tháchthức với đại dịch Covid 19 93.1% giảng viên các trường đại học cho biếttrường họ cho phép sinh viên không đến trường trong 2 tuần đầu tiên Trong
đó có 52.7% trả lời là được nghỉ dạy và học hoàn toàn, 40.4% giảng viênkhẳng định thời gian này giảng viên được đào tạo về sử dụng phần mềmtrong giảng dạy trực tuyến còn sinh viên tiếp tục nghỉ học Điều này cho thấyngay từ những ngày đầu xuất hiện dịch bệnh, một số trường đại học Việt Nam
dù bị động những đã bắt đầu chuẩn bị các điều kiện về hạ tầng công nghệthông tin và đào tạo giảng viên để tổ chức cung cấp các giải pháp cho dạy vàhọc trực tuyến đảm bảo tiến độ học tập Tuy nhiên nhóm các trường thuộckhối ngành đào tạo sức khỏe và an ninh quốc phòng vẫn chiếm tỷ lệ caotrong nhóm các trường vẫn tiếp tục cho sinh viên đi học tập trung và tham giavào lực lượng chống dịch lần lượt là 29.6% và 25% 94.2% tại các cơ sở giáodục việc triển khai dạy học trực tuyến là bắt buộc Phần mềm MicrosoftTeams được các giáo viên sử dụng nhiều nhất là 30.6%, tiếp theo là Zoomvới 27.4% lựa chọn Các trường đại học cũng đã có sự đầu tư hạ tầng côngnghệ thông tin khi có 69.1% giảng viên sử dụng các phần mềm bản quyền,23.8% giảng viên sử dụng phần mềm miền phí, phần còn lại là nhà trường hỗtrợ tiền mua hoặc giảng viên tự mua Trong nghiên cứu tác giả cũng chỉ rathêm những cơ hội và thách thức đối với các trường đại học khi triển khaidạy học trực tuyến Về cơ hội 77.9% giảng viên được khảo sát khẳng địnhđại dịch COVID 19 đã đem lại cơ hội xóa bỏ ranh giởi về địa điểm học
Trang 5tập 77.2% giảng viên khẳng định cơ hội đổi mới phương pháp giảng dạy vàhọc 77.3% giảng viên khẳng định họ có cơ hội nâng tầm kỹ năng sử dụngcông nghệ thông tin trong tổ chức giảng dạy đại học chính quy Tuy nhiênthách thức lớn đối với các trường đại học vần là vấn đề kinh phí khi có hơn50% ý kiến khảo sát cho rằng trường thiếu vốn đề đầu tư cơ sơ hạ tầng côngnghệ thông tin phù hợp với trực tuyến Gần 35% ý kiến khảo sát cho rằngnguồn thu của trường có thể bị giảm trên 15% nếu dịch bệnh kéo dài đến hết
4 tháng [5] Nghiên cứu đã cho chúng ta hình dung một bức tranh toàn diện
về giáo dục của Việt Nam trước ảnh hưởng của đại dịch Covid 19 với những
cơ hội và thách thức đối với các cơ sở giáo dục đại học nhằm có những gợi ý
để giúp các cơ sỏ giáo dục đại học có đối sách để tồn tại và phát triển lâu dài
Cơ hội và thách thức sẽ tùy theo mức độ thích ứng của các trường đại
học Nghiên cứu về “Tác động của đại dịch Sars- Cov-2 đối với họa động giáo dục tại trường đại học Trà Vinh” của tác giả Nguyễn Văn Nguyên
(2020) với số mẫu lớn hơn 2.055 sinh viên đã phân tích một bức tranh tổngquát liên quan đến vấn đề học tập trực tuyến Điện thoại thông minh và máytính bảng là thiết bị được sinh viên sử dụng nhiều nhất để vào học trực tuyếntrong nghiên cứu này, chỉ có một số ít sinh viên sử dụng máy tính bàn và máytính xách tay để truy cập vào lớp học Tuy nhiên kết quả nghiên cứu cũng chỉ
ra hầu hết các sinh viên đều gặp khó khăn trong việc nộp các bài tập, trong đórất cao là 273 phiếu, cao là 744 phiếu, trung bình là 690 phiếu, thấp là 398phiếu, rất thấp là 59 phiếu [6] Hầu hết các vấn đề phổ biến trong lớp học trựctuyến là việc kết nối âm thanh/video và kết nối internet kém ảnh hưởng đếnquá trình tiếp thu kiến thức của sinh viên
Đi sâu vào phân tích cụ thể các khó khăn không chỉ là chi phí về đầu tưcông nghệ hay là kết nối internet, tác giả Vũ Hữu Thành (2021) trongnghiên cứu “Đa dạng hóa phương thức giảng dạy: cơ hội từ Covid 19 đã chỉ
ra 4 khó khăn cụ thể từ phía giáo viên, học sinh và chính công nghệ: (1)
Trang 6nguồn phát video trực tuyến cần ổn định và có chất lượng hình ảnh tốt, (2)giảng viên cần diễn đạt được thoải mái nội dung bài giảng như trên lớp, (3)
âm thanh không có tạp âm, (4) tương tác thoải mái với lớp học, (5) tạo ra bảnthu có chất lượng tốt Từ đó tác giả cũng đề xuất 4 nhóm giải pháp để giảiquyết các khó khăn kể trên là: (1) giải pháp về phần cứng, (2) giải pháp vềphần mềm, (3) giải pháp về nền tảng trực tuyến và phát lại, (4) giải pháp về
kỹ thuật điều hành lớp học [9] Như vậy qua đề tài dưới các tác động bất lợicủa Covid trong vấn đề học tập buộc các cá nhân cần có những giải pháp đểthích nghi và đảm bảo chất lượng học tập cho sinh viên Tuy nhiên nghiêncứu ở phạm vi nhỏ chỉ hướng đến giải quyết các tình huống cụ thể vì vậy nómang tính cá nhân hóa mà có thể không phù hợp cho số đông Hơn nữa đề tàicũng chưa có những khảo sát cụ thể để đánh giá hiệu quả của phương phápnày từ phái sinh viên hay học viên cao học Hầu hết các giảng viên đều gặpthách thức lớn khi đường truyền kết nối mạng không ổn định, sinh viên vùngsâu vùng sa điều kiện kinh tế xã hội của gia đình còn thấp nên không thamgia đầy đủ được các lớp học Ngoài ra đề tài còn đề cập thêm đến vấn đề anninh mạng như vi rút, mất dữ liệu cá nhân, các mỗi đe dọa, tấn công và sứckhỏe tinh thần của sinh viên khi tiếp xúc nhiều đến màn hình máy tính và cácthiết bị công nghệ đã làm hại đến đôi mắt và sức khỏe nói chung Từ nhữngkhó khăn đó đề tài đã đề cập những giải pháp khuyến nghị cụ thể để nâng caochất lượng dạy và học trực tuyến
Qua các nghiên cứu chung về tác động của đại dịch COVID 19 chúng
ta có thể thấy chuyển từ hình thức học tập truyền thống sang hình thức trựctuyến đã mang đến những cơ hội nhưng cũng không ít những thách thức khókhăn cho nhà trường, giáo viên và chính bản thân sinh viên để có thể thíchnghi và mang lại hiệu quả học tập tốt nhất
Trang 72.2 Hướng nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức, hành
vi, thái độ và sự hài lòng của sinh viên đối với phương thức giảng dạy trưc tuyến
“COVID và hành vi học tập của sinh viên Việt Nam” của TS Cao
Minh Trí và cộng sự (2021) qua khảo sát 600 sinh viên tại 3 trường đại học ởthành phố Hồ Chí Minh đã xác định: Thông tin dịch bệnh Covid 19 và Chínhsách của Nhà trường là hai nhân tố tác động đến nhận thức, thái độ và hành vihọc tập của sinh viên trong thời điểm Covid 19 diễn biến phức tạp Chínhsách giãn cách xã hội vì dịch Covid 19 đã khiến sinh viên phải làm quen vớiphương thức học tập trực tuyến, thi trực tuyến hoặc có những trường hợpphải hoãn lại những dự định học tập của sinh viên [12] Kết quả nghiên cứucòn cho thấy chính sách nhà trường có mức độ tác động khá lớn đối với biếnhành vi học tập của sinh viên Trước với mức độ lây lan phức tạp của dịchbệnh, ngành giáo dục cũng như các trường học đã có những thay đổi trongchính sách học tập Với những trường áp dụng phương pháp học trực tuyến,sinh viên phải tập làm quen với những thay đổi trong chính sách học tập, nhưsinh viên phải tập làm quen với cách thức giảng dạy và môi trường học tậptrực tuyến Từ đó dẫn đến những phản ứng khác nhau trước những thay đổiđó
Đoàn Thị Thanh Thúy (2021) trong nghiên cứu “Học tập trực tuyến trong thời kỳ COVID 19- Nghiên cứu định của sinh viên đại học” đã xác định
hai nhân tố nhận thức rủi ro COVID 19 và nhận thức dễ sử dụng thông quannhận thức sự hữu ích tác động đến ý định tham gia các khóa học trực tuyếncủa sinh viên được Khi sinh viên nghĩ rằng những người quan trọng như bạn
bè hay gia đình của mình tin ràng nên học trực tuyến nhờ sự tiện lời của nócũng như để tránh lây lan COVID 19 và nhiều loại virus khác, họ sẽ hìnhthành ý định học trực tuyến mạnh mẽ hơn Chính vì thế mà các sinh viên cóthể cảm nhận được mức độ hữu ích mà công nghệ có thể ảnh hưởng đến ý
Trang 8định học trực tuyến của họ trong tương lai Kết quả nghiên cứu cũng chothấy tác động của nhận thức rủi ro COVID 19 lên nhận thức dễ sử dụng khá
là cao [10] Như vậy ý định học trực tuyến của sinh viên bị tác động trực tiếp
và gián tiếp của chuẩn mực chủ quan, nhận thức rủi ro COVID-19, nhận thức
viên hệ đại học chính quy trường Đại học Mở TP.HCM, đề tài hướng đếnphân tích và tìm ra 4 nhân tố chính ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của sinhviên đối với phương thức giảng dạy kết hợp trong thời gian dịch bệnh COVID
19 là phương pháp giảng dạy, nội dung giảng dạy, đặc điểm của hệ thống họctập kết hợp, cơ sở hạ tầng và công nghệ Trong đó về công nghệ đa phần sinhviên đều phản ánh những khó khăn mà họ gặp phải khi tham gia hình thứchọc kết hợp giữa trực tiếp và trực tuyến trong thời gian dịch bệnh COVID
19 là: đường truyền Internet không ổn định, mất tập trung bị ảnh hưởng bởitiếng ồn xung quanh, cúp điện, máy tính bị hư, [13]Tuy nhiên nghiên cứuvẫn chưa phân tích sâu mà mới chỉ nêu ra được các yếu tố tác động như thếnào đến mức độ hài lòng của sinh viên, yếu tố nào là tác động mạnh nhất?
5 nhân tố chính tác động tới sự hài lòng của sinh viên được sắp xếp
theo thứ tự giảm dần tầm quan trọng trong nghiên cứu “Nhân tố ảnh hướng tới mức độ hài lòng của sinh viên đối với chất lương đào tạo trực tuyến tại các trường đại học ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ COVID 19” của
TS Nguyễn Hoàng Sinh và Hoàng Thị Hòa là: (1) Có trang thiết bị điện tửriêng; (2) Có Internet hoặc 3G-4G ổn đinh, (3) Phương pháp học trực tuyến,(4) Nội dung phù hợp với học trực tuyến, (5) Giảng viên tương tác với sinh
Trang 9viên khi giảng bài Kết quả nghiên cứu cung cáo một căn cứ khoa học thựctiễn cho các nghiên cứu khóa về nhân tố ảnh hưởng tới mức độ hài lòng củasinh viên khu vực Thành phố Hồ Chí Minh trong đào tạo trực tuyến nóichung và trong giai đoạn Covid 19 nói riêng [8] Kết quả nghiên cứu là cơ sở
để tác giả sử dụng làm tư liệu phục vụ cho đề tài nghiên cứu của mình
Đối với sinh viên chuyên ngành Kinh tế tại thành phố Hồ Chí Minh qua
nghiên cứu 267 sinh viên cho thấy nhận thức dễ sử dụng, nhận thức sự hữu ích, chất lượng thông tin, chất lượng hệ thống, giảng viên hướng dẫn, dịch vụ
hỗ trợ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi có ảnh hưởng tích cực
đến sự hài lòng của người học đối với hình thức học tập trực tuyến Trong đónhân tố nhận thức sự hữu ích có sự ảnh hưởng lớn nhất trong các nhân tố đưa
ra Cụ thể người dùng quan tâm đến cách mà hệ thống học tập trực tuyếncung cấp thông tin và lợi ích hay hiệu quả mà nó mang lại Nhân tố có mức
độ ảnh hưởng lớn thứ hai là nhận thức kiểm soát hành vi Trên thực tế khi
một sinh viên sử dụng dịch vụ học trực tuyến sẽ có những sự lo lắng về việctương tác, thao tác với máy tính và trang web học trực tuyến Sự lo lắng càngcao thì sinh viên càng không thể xử lý tốt các thông tin hay yêu cầu khi sửdụng, nên việc sinh viên nhận thức được khả năng hành vi của mình hay sinhviên tự tin trao đổi thông tin, thao tác trên hệ thống sẽ tạo cho sinh viên thái
độ tích cực hơn đối với hệ thống học trực tuyến [3]
2.3 Hướng nghiên cứu về các yếu tố rào cản trong học tập trực tuyến của sinh viên
TS Nguyễn Thị Bích Trâm khi nghiên cứu về các “Rào cản của chuyển đổi phương thức học tập chính quy thành trực tuyến trong đại dịch”
đã phân tích cụ thể các nhóm ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học trực
tuyến: (1) rào cản thuộc về công nghệ với các lỗi tải xuống, hệ thống trực
tuyến quá tải, sự cố cài đặt máy tính hoặc điện thoại không tương thích vớiphần mềm học, sự cố không đăng nhập được, sự cố với âm thanh và video
Trang 10như có hình mà không có tiếng Thêm vào đó, khi không phải học tập trung,các sinh viên thường có xu hướng về nhà ở các tỉnh thành vùng sâu, vùng xa
do đó các sự cố như mất điện, đường truyền Internet kém, chập chờn, không
ổn định ở các địa phương cũng là rào cản lớn đối với việc học trực tuyến (2) Rào cản liên quan đến môi trường học tập: Qua phỏng vấn, sinh viên nhận
thấy việc học trực tuyến rất dễ bị phân tâm bởi nhiều lý do, nhất là đến từ môitrường xung quanh người học Đầu tiên là bối cảnh xung quanh mỗi khi sinhviên có giờ học trực tuyến Môi trường là nhà riêng và các thành viên tronggia đình cũng cùng thực hiện giãn cách xã hội nên khi học tập trực tuyến,sinh viên không thể tập trung bởi tạp âm, tiếng ồn xung quanh từ các đoạnhội thoại và sinh hoạt của các thành viên trong gia đình, tiếng xe cộ trênđường, âm thanh phát ra các cơ sở sản xuất, làm việc lân cận Thậm chí, môitrường xung quanh người học còn tác động mạnh mẽ và ngăn cản tương tácvới giảng viên như: “thầy cô đặt câu hỏi mà em không dám bật mic do chỉtoàn nghe tiếng khoan tường của hàng xóm”, “em không dám nói lớn vì bànội đang ngủ”…dẫn đến sinh viên bỏ qua các câu hỏi mang tính tương táccủa giảng viên hoặc tắt mic tránh việc cả lớp nghe thấy các tiếng tạp âm xung
quanh (3) Rào cản liên quan đến khả năng tương tác khi học trực tuyến đã
làm hạn chế khả năng nay, đa số sinh viên vẫn ưu thích học tập trung tại lớphọc hơn để có thể tương tác thay vì không bật được mic hay phải gõ vào phầnchat mất nhiều thời gian, đôi lúc không đủ thời gian để trả lời câu hỏi của
thầy cô (4) Rào cản liên quan đến thiết kế hoạt động giảng dạy khi
chương trình thiết kế cho các lớp đại học chính quy là học trực tiếp nên khichuyển đổi đã gây nên sự lúng túng, chưa thực sự thu hút được sinh viên Đặcbiệt là một số hoạt động phổ biến trong lớp học thông thường như thảo luậnnhóm, hoạt động đóng vai (role playing), quan sát phản ứng của người học(observation) hay các chuyến đi thực địa (field trips) bị hạn chế trong bốicảnh học trực tuyến Thứ hai, bên cạnh những công cụ hỗ trợ việc học trựctuyến như video clips, hình ảnh, bảng biểu, v.v, giọng nói, cách nói và bài
Trang 11giảng định dạng PowerPoint của giảng viên vẫn là các công cụ chính trongviệc truyền tải bài giảng tuy nhiên thiết kế vẫn còn nhàm chán và nhiều chữnên chưa gây được sự chú ý đối với sinh viên [11] Bài viết đã phân tích rấtchi tiết và cụ thể những rào cản ảnh hưởng đến chất lượng học tập của sinhviên, là tài liệu tham khảo rất hữu ích để các đề tài nghiên cứu phía sau có thể
đi sâu tìm hiểu và lý giải cụ thể hơn bên cạnh những khó khăn từ phía sinhviên thì các khó khăn từ phía giáo viên và nhà trường để có một cái nhìn toàndiện hơn về vấn đề
Tác giả Đặng Thị Thúy Hiền và cộng sự cũng có một kết quả phát hiệngiống với TS Nguyễn Thị Bích Trâm khi rào cản về công nghệ và môi trườnglại một lần nữa được nêu ra Tuy nhiên đề tài này với đối tượng là sinh viêntại Khoa Du lich – Đại học Huế qua quá trình khảo sát 250 sinh viên tác giả
đã chỉ ra 4 nhóm chính trong việc học online của sinh viên Khoa Du lịch là
(1) Rào cản kinh tế, (2) Rào cản về sự tương tác, (3) Rào cản tâm lý và (4) Rào cản về môi trường Trong đó rào cản về sự tương tác và những rào cản
về môi trường là những rào cản lớn nhất Hầu hết các sinh viên nhận xét là họmuốn quay lại giảng đường sau khi kết thúc dịch Covid-19 và nếu tiếp tụchọc online trong thời gian tiếp theo thì giảng viên nên tạo ra những bài giảngthú vị và lôi cuốn hơn Từ những kết quả đã phân tích, nghiên cứu đề xuấtmột số biện pháp góp phần tháo dỡ những rào cản, khắc phục những trở ngại
mà sinh viên gặp phải trong quá trình học online [4]
Cũng quan tâm đến vấn đề khó khăn rào cản của sinh viên khi học trựctuyến, tác giả Bùi Quang Dũng, Nguyễn Thị Hoài Phương, Trương Thị XuânNhi đã đi sâu phân tích cụ thể hơn các yếu liên quan trực tiếp đến sinh viên
Trong đó đề tài đã chỉ rõ yếu tố tâm lý, môi trường và phương tiện/thiết bị học tập được xem là những nguyên nhân chính khiến cho việc học trực tuyến
của sinh viên gặp nhiều trở ngại Cũng giống như tác giả Nguyễn VănNguyện thì điện thoại di động là thiết bị học tập trực tuyến được sử dụng rộng
Trang 12rãi và phổ biến hơn cả (chiếm 71%) vì tính tiện lợi của nó Về các yếu tố chủquan gây khó khăn cho sinh viên thì 25% sinh viên cho rằng bản thân thiếu
kỹ năng tương tác với giảng viên và kỹ năng sử dụng phương tiện, thiết bịcông nghệ thông tin còn hạn chế chiếm 24% Đáng chú ý tỷ lệ sinh viên cótâm lý chán nản, không hứng thú với việc học trực tuyến chiếm đến 43% Cóthể nói trạng thái tinh thần của sinh viên trong quá trình học cũng phản ánhhiệu quả học tập trực tuyến Bên cạnh đó còn có các yếu tố khách quan: cácthiết bị và không gian học tập được xem là một trong những khó khăn lớnnhất của sinh viên trong học tập trưc tuyến Trong đó việc đường truyền mạngkhông đổn định là khó khăn lớn nhất chiếm đến 65% mà như các nghiên cứuphía trên cũng đã đề cập tới Bên cạnh đó, những khó khăn khác về điều kiệnhọc tập như không gian địa điểm học tập bất lợi với tỷ lệ 31%; cũng như việckhông có hoặc phương tiện học tập không đảm bảo đã gây ảnh hưởng khôngnhỏ đến quá trình học tập trực tuyến của sinh viên (chiếm
24%) Ngoài ra, khi học tập tại nhà, có đến 29% sinh viên nhận địnhrằng: “Bản thân bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn xung quanh trong quá trình họctrực tuyến” Có thể thấy rằng, sinh viên hiện đang chịu nhiều yếu tố tác độngchủ quan lẫn khách quan, ảnh hưởng đến hoạt động học tập trực tuyến củabản thân [2] Tuy nhiên, nhìn chung, nguyên nhân chính được chỉ ra là do vấn
đề kết nối internet, kỹ năng học tập và một số biểu hiện liên quan đến yếu tốtâm lý trong quá trình học tập của sinh viên
Như vậy các nghiên cứu đi trước đều cho rằng các yếu tố tác động đếnrào cản trong học tập của sinh viên sẽ bao gồm cả các yếu tố chủ quan vàkhách quan Yếu tố chủ quan là yếu tố về tâm lý và sự tương tác của sinhviên là yếu tố chỉnh được chỉ ra trong các nghiên cứu, bên cạnh đó yếu tố vềmôi trường học tập, điều kiện kinh tế, thiết bị công nghệ, phương pháp giảngdạy của thầy cô là những nhân tố khách quan
3 Khoảng trống trong nghiên cứu.