1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Tiểu luận) môn học văn hoá việt nam và hội nhập quốc tế đề tài tam giáo đồng nguyên trong xã hội việt nam thời phong kiến và sự tồn tại của nó ở việt nam hiện nay

21 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tam giáo đồng nguyên trong xã hội Việt Nam thời phong kiến và sự tồn tại của nó ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Mậu Đình Thắng
Người hướng dẫn TS. Trần Hồng Thúy
Trường học Học viện Ngoại Giao
Chuyên ngành Văn hóa Việt Nam và hội nhập quốc tế
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 821,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU: Vai trò của đề tài trong môn Văn hóa Việt Nam“Tam giáo đồng nguyên” có thể được coi như một khái niệm gắn bó mật thiết với chủ đề “Văn hóa Việt Nam”, bởi lẽ tôn giáo luôn lu

Trang 1

BỘ NGOẠI GIAO Học viện Ngoại giao Khoa Truyền thông và văn hóa đối ngoại

Trang 2

MỤC LỤC

I PHẦN MỞ ĐẦU

II PHẦN NỘI DUNG

Phần 1: Cơ sở lý luận của “tam giáo đồng nguyên”

……….3

1 Khái niệm tam giáo đồng nguyên và tam giáo trong thế đứng độc lập31.1.Khái niệm Tam giáo đồng nguyên3

1.2.Tam giáo ở thế đứng độc lập4

2.Nguyên nhân xuất hiện hiện tượng tam giáo đồng nguyên ở Việt Nam6

Phần 2: Những vấn đề của “tam giáo đồng nguyên” trong xã hội Việt Nam qua các thời kì ……… ……….……… 7 1.Tam giáo đồng nguyên trong xã hội phong kiến … ……… .7

1.1.Tam giáo đồng nguyên thời Lý – Trần7

1.2.Tam giáo đồng nguyên thời Lê – Nguyễn10

1.3.Tam giáo đồng nguyên cuối XIX – đầu XX12

2.Tam giáo đồng nguyên hiện nay14

Phần 3: Quan điểm cá nhân về “tam giáo đồng nguyên” trong xã hội Việt Nam qua các thời kì ……… ……… 16 III PHẦN KẾT LUẬN ……… ……… ……… … 17

IV DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… ……… ……… 18

2

Trang 3

I PHẦN MỞ ĐẦU: Vai trò của đề tài trong môn Văn hóa Việt Nam

“Tam giáo đồng nguyên” có thể được coi như một khái niệm gắn bó mật thiết với chủ đề “Văn hóa Việt Nam”, bởi lẽ tôn giáo luôn luôn tác động lên các mặt của đời sống trong suốt chặng đường lịch sử mà nó trải dài Đó không chỉ là một trong những yếu tố quan trọng cấu thành đời sống tín ngưỡng của người Việt, màcòn tồn tại như một yếu tố nội sinh gắn kết dân tộc trong các cuộc đấu tranh trường chinh để gánh vác vận mệnh Tổ quốc Các hình thức dung hợp được thể hiện trong Tam giáo được coi là những bài học lịch sử đáng giá trong việc kế thừa và phát huy truyền thống Việt Nam trên tinh thần biện chứng và khoan dungvăn hóa Trong văn hóa ứng xử, “Tam giáo đồng nguyên” là một trong những nhân tố cốt lõi trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa Việt, khơi dậy lòng tự hào dân tộc và tinh thần hướng về nguồn cội trong thời đại giao lưu và hội nhập quốc tế hiện nay Hiện nay, tầm quan trọng của Tam giáo trong đời sống đang ngày càng trở nên quan trọng, như một số nhà nghiên cứu đã nhận định Tam giáo như một

“vật mang” văn hóa Nhà sử học Anh Arnold Toynbee từng nói: “Khi một dân tộc nào đó đánh mất tín ngưỡng tôn giáo của mình thì nền văn minh của họ tất sẽsuy thoái, cuối cùng bị một nền văn minh khác thay thế”

II PHẦN NỘI DUNG

Phần 1: Cơ sở lý luận của “tam giáo đồng nguyên”

1 Khái niệm tam giáo đồng nguyên và tam giáo trong thế đứng độc lập 1.1 Khái niệm Tam giáo đồng nguyên

“Tam giáo” bao hàm Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo Trong hai tiếng

“đồng nguyên”, "đồng" là "cùng; "nguyên" là căn cơ Như thế, “tam giáo đồng nguyên” được định nghĩa là cả ba tôn giáo đều là bản nguyên, nền tảng, và cùng xuất phát từ một gốc Ba tôn giáo không ngừng dung hợp, tác động, hỗ trợ lẫn nhau và cùng hướng đến mục tiêu chung là nuôi dưỡng đời sống tinh thần người Việt Trong đó, Phật giáo giữ vai trò là cơ sở để hòa trộn hai yếu tố còn lại Đây được xem là một nét đặc sắc trong tôn giáo Việt Nam

“Tam giáo đồng nguyên” xuất hiện một cách hết sức tự nhiên trong đời sống của người dân Có lẽ, điểm khác nhau của Tam giáo chỉ nằm trên giáo điều

3

Trang 4

và những phương pháp chúng thể hiện, nhưng bản chất cốt lõi nhiều khi chỉ là những cách diễn đạt khác nhau về cùng một khái niệm Cách thức không tương đồng, nhưng căn cơ là duy nhất: “tam vị nhất thể” Về cơ bản, bên cạnh hướng đến một gốc rễ nhất quán, những cái riêng của Tam giáo cũng không mâu thuẫn

mà tích cực hỗ trợ nhau Do đó, Tam giáo được kết hợp khéo léo để vận dụng theo giới tính, các giai đoạn cuộc đời Ví dụ phụ nữ âm tính hơn thiên về Phật, đàn ông dương tính hơn thiên về Nho Khi trai trẻ thì ra sức học Nho, khi khổ ải trầm luân thì cầu khấn Phật trời phù hộ, khi ốm đau già yếu thì mời đạo sĩ trị bệnh trừ tà hoặc tập luyện dưỡng khí an thần Ngoài sự thể hiện trên khía cạnh con người, tam giáo còn hỗ trợ tích cực trong việc phát triển và phổ biến lẫn nhau Ví dụ như việc các nhà sư muốn đọc kinh Phật phải biết đọc chữ Hán do vậy dễ hiểu là có không ít nhà sư khá tinh thông Nho học Sự hình thành tự nhiêntrong tư tưởng này của người dân Việt Nam cũng tương đồng với sự hình thành

“tam giáo đồng nguyên" trong tư tưởng của Trung Hoa 1

1.2 Tam giáo ở thế đứng độc lập 2

 Phật giáo

- Nguồn gốc: Tôn giáo này được Thái tử Sidharta (hay sau này là Thích ca

mâu ni) sáng lập vào khoảng thế kỉ thứ VI TCN tại Ấn Độ Chứng kiến sự phân chia giai cấp trong xã hội Ấn Độ, với mục đích giải thoát đau khổ cho con người,Sidharta đã sáng tạo ra “Tứ Diệu đế” (4 chân lý) Trong quá trình phát triển, Phậtgiáo chia làm hai tông phái lớn: Tiểu thừa (cỗ xe nhỏ) và Đại thừa (cỗ xe lớn)

- Phật giáo được du nhập vào Việt Nam khoảng đầu thế kỷ I và bằng nhiều

con đường khác nhau, chủ yếu qua đường thủy thông qua việc buôn bán với thương gia Ấn Độ và đường bộ qua giao lưu văn hóa với Trung Quốc Những năm 168 - 189, Khâu-đà-la đã đến Luy Lâu, và nơi đây đã trở thành trung tâm Phật giáo đầu tiên ở Việt Nam Ngoài phái Tiểu thừa, theo thời gian cũng đã có nhiều tông phái khác xuất hiện như: Đại thừa giáo, thiền phái Trúc Lâm, Tào Động, Liên Tôn

1 Th.S Nguyễn Thị Hiền, Tìm hiểu hiện tượng “tam giáo đồng nguyên” thời Lý Trần”, Trang thông tin điện tử Trường Chính trị tỉnh Kon Tum, 2021

2 Phạm Thị Hồng Thúy (chủ biên), "Đại cương văn hóa Việt Nam", Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội, 4/2011, tr.52-62

4

Trang 5

- Đặc trưng cơ bản của Phật Giáo ở Việt Nam: Phật giáo thấm đượm chủ

nghĩa yêu nước của người Việt trong cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước, từng là cơ sở của khối đại đoàn kết các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam Tính tổnghợp của Phật giáo được biểu hiện: Một là, tính tổng hợp giữa phật giáo và tín ngưỡng truyền thống Hai là, tính tổng hợp giữa các tông phái Phật giáo Ba là, tính tổng hợp giữa Phật giáo và các tôn giáo khác, ví dụ điển hình nhất là tam giáo đồng nguyên Phật giáo Việt Nam thiên tính nữ, thiên về xu hướng nhập thế

và là phương tiện để biểu đạt chủ nghĩa nhân đạo và tính vị tha của dân tộc Việt Nam

 Nho giáo

- Nguồn gốc: Nho gia là một trường phái triết học của Trung Hoa do

Khổng tử sáng lập ra vào khoảng thế kỉ thứ VI TCN Đến thời nhà Hán thì được gọi là Nho giáo Về cơ bản, nho giáo là một học thuyết có hệ thống và phương pháp, dạy về Nhân đạo, tức là dạy về đạo làm người trong gia đình và trong một

xã hội Đại Đồng Ở đó xã hội thái bình, thịnh trị, có tính kỉ cương, mọi người đều được hạnh phúc, đồng thời cũng chủ trương giáo dục dân chúng để thực hiện

xã hội tương lai đó Về mặt sách vở, sách kinh điển của Nho giáo là “Tứ thư” và

“Ngũ kinh”

- Sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam chia thành 3 giai đoạn lớn: giai

đoạn đầu Nho giáo được truyền bá và Việt Nam (thế kỉ I-X); giai đoạn Nho giáo được tiếp nhận chủ động ở Việt Nam (thế kỉ X-XV); giai đoạn Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống của nhà nước phong kiến Việt Nam (thế kỉ XV-XIX)

- Đặc trưng cơ bản của Nho Giáo ở Việt Nam: Nho giáo khúc xạ qua lăng

kính của chủ nghĩa yêu nước Đối với người Việt Nam, nước là của chính người dân Nho giáo khúc xạ qua tâm lý làng xã của con người Việt Nam Người dân làng xã luôn quan niệm Nho giáo là thứ học vấn của tầng lớp cai trị, giữ thái độ

"kính nhi, viễn chi" Các nguyên tắc, tư tưởng của Nho giáo chỉ được chấp nhận trong chừng mực, "Phép vua thua lệ làng" Tuy nhiên, nho giáo đề cao sự học theo kiểu “ôn cố chi tân”, hướng đến cái học kinh điển trong tư tưởng mà không

5

Trang 6

hướng đến sự tìm tòi cái mới; hạn chế của nho giáo là tư duy bảo thủ và tiêu cực,tập trung tính quy luật mà cho rằng đó là sự áp đặt.

 Đạo giáo

- Nguồn gốc: Đạo giáo được hình thành ở Trung Quốc Khác với Đạo nho,

Đạo gia và Đạo giáo có sự khác biệt Đạo gia do Lão Tử sáng lập, chủ trương sống thuận theo quy luật tự nhiên, xóa bỏ mọi ràng buộc của xã hội Trong khi Đạo giáo là một hệ thống thần linh phức tạp, gồm những lực lượng tự nhiên được nhân cách hóa, những vĩ nhân đức hạnh được tôn làm thần, và các Đạo sĩ

đã trở thành bất từ nhờ đắc đạo Đạo giáo lấy tư tưởng về Đạo của Lão tử để đặt tên và đưa vào trong tôn giáo của mình Đạo giáo gồm hai phái: đạo giáo phù thủy và đạo giáo thần tiên

- Sự du nhập của Đạo giáo vào Việt Nam: Cuối thế kỷ II, rất đông đạo sĩ

Trung Hoa chạy xuống phương Nam (vùng Giao Chỉ) Từ đây, các tín ngưỡng

ma thuật bản địa là môi trường để Đạo giáo dễ dàng ăn sâu, thâm nhập vào đời sống của cư dân tại Giao Chỉ Vì thâm nhập bằng con đường đó, nên Đạo giáo với tư cách là 1 triết lý sống ít được dân Việt Nam biết đến mà chủ yếu được quan niệm như Đạo phù thủy với bùa chú, pháp thuật

- Đặc trưng cơ bản cùa Đạo giáo ở Việt Nam: khi du nhập vào Việt Nam,

Đạo giáo chỉ có tông mà không có phái, tức chỉ có tư tưởng mà không hình thànhcác môn phái cụ thể và phát triển chủ yếu là khuynh hướng bùa chú, bùa phép Đạo giáo ở Việt Nam không còn tồn tại biệt lập với tư cách là một tôn giáo mà hòa trộn với tín ngưỡng bản địa Đạo giáo còn hòa trộn với Nho giáo – tạo nên triết lý sống an nhàn, ở ẩn, không màng danh lợi của nhiều nhà nho Việt Nam

2 Nguyên nhân xuất hiện hiện tượng tam giáo đồng nguyên ở Việt Nam 3

Với những nét tương đồng về “địa-văn hóa” của Việt Nam với Đông Á nói chung, Trung Hoa và Ấn độ được xem là những nền văn minh lớn đại diện cho văn hóa Đông Á, để lại những tác động sâu sắc đến các nước khác trên nhiều mức độ, trong đó có Việt Nam Trong tổ chức cộng đồng, con người Việt Nam đã

tự hình thành một lối sống trọng tình, trọng quan hệ, thiên về kinh nghiệm, trực

3 Th.S Nguyễn Thị Hiền, Tìm hiểu hiện tượng “tam giáo đồng nguyên” thời Lý Trần”, Trang thông tin điện tử Trường Chính trị tỉnh Kon Tum, 2021

6

Trang 7

giác và duy linh (nền văn hóa nông nghiệp) Các nguyên tắc tư duy tổng hợp biện chứng dẫn đến một lối sống linh hoạt, luôn ứng biến trong hoàn cảnh Tư duy toàn diện và một phong cách canh tác linh hoạt cũng thể hiện một thái độ dung hợp với các yếu tố, khoan dung trong ứng xử, mềm dẻo trong đối phó.

Trên nền tảng nền văn hoá bản địa, các tôn giáo Phật-Nho-Đạo giáo khi

du nhập vào nước ta đã linh hoạt ứng biến để phù hợp với văn hoá chủ thể Việt Nam Để khẳng định vị trí trong đời sống tâm linh người Việt, Tam giáo phát

triển dưới nhiều hình thức khác nhau, dần ăn sâu, cắm rễ vào mảnh đất Đại Việt Dần dần, các tôn giáo này hòa nhập với truyền thống văn hóa của dân tộc Việt vàbản thân chúng hỗn dung lẫn nhau, ở cùng một nguồn gốc và định hướng, hình thành khái niệm Tam giáo Đồng Nguyên

Bên cạnh đó, sự xuất hiện của Tam giáo đồng nguyên còn xuất phát từ chính nhu cầu về chính trị, tư tưởng, văn hoá rất tự nhiên của nhân dân Việt Nam Để đối phó với những cuộc xâm lăng của phương Bắc, cũng như xây dựng

lực lượng mạnh mẽ trên nhiều khía cạnh, cần đặt ra một yêu cầu về sự thống nhất giữa sức mạnh vật chất và tinh thần, thống nhất tư tưởng, hình thành sự dung hợp giữa yếu tố văn hoá ngoại sinh với yếu tố văn hoá địa phương Lúc này, các đặc trưng của Tam giáo như: Ý thức dân tộc, tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng, cùng với các yếu tố triết học, đạo đức đã trở thành những nhân tố tinh thần tiêu biểu ảnh hưởng đến đời sống tinh thần xã hội thời kỳ, cũng như đến tư tưởng chính trị

Phần 2: Những vấn đề của “tam giáo đồng nguyên” trong xã hội Việt Nam qua các thời kì

1 Tam giáo đồng nguyên trong xã hội phong kiến

1.1 Tam giáo đồng nguyên thời Lý – Trần

 Tổng quan về Tam giáo đồng nguyên thời Lý – Trần.

Nhìn chung, các nhà nước Lý – Trần đã chủ trương một chính sách khoan dung hòa hợp và chung sống hòa bình giữa các tín ngưỡng tôn giáo Bằng chứng

là các Nhà nước thời Lý – Trần đều tổ chức thi Tam giáo để kén chọn người có kiến thức rộng cả về 3 hệ tư tưởng nhằm giúp vua trị nước Về cơ bản, tinh thần

“tam giáo đồng nguyên” không chỉ thể hiện tinh thần vô ngã vị tha của Phật

7

Trang 8

giáo, mà cao hơn thế, tinh thần này còn được phát huy, chuyển hoá, để nhắc nhở rằng chớ quá coi trọng xuất thân, chớ phân chia tôn giáo, dân tộc Nói như Phan Huy Chú, “thời Lý – Trần, dù là chính đạo hay dị đoan đều được tôn chuộng, không phân biệt” 4

b) Nho giáo

Thời Lý, Nho giáo được nhà nước chấp nhận, nhưng vẫn giữ một vị trí khá khiêm tốn Năm 1070, Văn Miếu được xây dựng, thờ Chu Công, Khổng Tử, làm nơi dạy học Hoàng Thái tử Năm 1075, nhà Lý tổ chức khoa thi Thái học sinh đầu tiên, năm 1076, mở trường Quốc Tử Giám Qua thời Trần, Nho giáo khởi sắchơn Nhiều trường Nho học được mở, khoa cử đều kỳ hơn Tầng lớp nho sĩ ngày một phát triển, văn có Lê Văn Hưu, Trạng Hiền,…; võ có Trần Hưng Đạo, Trần Nhật Duật… Họ đã dần dần nắm giữ các chức vụ quan trọng trọng bộ máy nhà nước

c) Đạo giáo

Thời Lý-Trần, đạo sĩ luôn đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh Họ thường được triều đình mời vào cung làm các lễ tống trừ ma quỷ, làm phép cầu đạo Những đạo sĩ nổi tiếng dưới thời kỳ này như Thông Huyền đạo nhân, Giác Hải thiền sư Một minh chứng rõ nét cho sự sùng bái Đạo giáo là ngay khi nhà Trần lên ngôi, Trần Thủ Độ đã sai các đạo sĩ giỏi phong thuật đi khắp núi sông cả nước để phong ấn vượng khí đế vương

4 Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí Khảo mục chí, T III, Nxb Sử học, Hà Nội, 1961, tr 54

5 PGS.TS Nguyễn Quang Ngọc, Tiến trình Lịch Sử Việt Nam, Nhà Xuất Bản Giáo Dục, Tr 95-99

6 Trần Trọng Dương, báo Công an nhân dân, Tản mạn về tín ngưỡng và tam giáo trong văn hóa Đại Việt, 2021.

8

Trang 9

 Mối quan hệ tam giáo đồng nguyên thời Lý Trần trong thể chế chính

trị và đời sống tinh thần

a) Tam giáo trong thể chế chính trị

Trong thế kỉ thứ X, nhà nước độc lập mới được xây dựng, phải đối mặt với nhiều hiểm họa trong và ngoài nước Trong bối cảnh đó, bạo lực và quân sự là ứng xử trội của các ông vua và bộ máy nhà nước Song, đó cũng là bước đầu thời

kì phát triển mạnh mẽ của Phật giáo Nguyên nhân bởi lẽ đương thời tầng lớp phong kiến thế tục cầm quyền phần lớn là chỉ huy quân sự ít học, nên các nhà sư thông thạo Phật-Nho trở thành những trí thức cần thiết cho triều đại Mặt khác, ởnhững thế kỷ đầu độc lập, nhà nước non trẻ lại đang cần 1 một công cụ tinh thần

để xây dựng và quản lý đất nước Các vua đã chọn Phật giáo của Ấn Độ làm hệ

tư tưởng chính thống, dễ được lòng dân hơn là Nho giáo của phương Bắc 7

Tuy nhiên cuối thời Trần, đã có xuất hiện một số xung đột giữa Nho giáo và Phật giáo Với đòi hỏi của chế độ phong kiến tập quyền, cũng như hạn chế của Phật giáo: tốn công quỹ cho việc xây chùa, tổ chức những lễ hội xa hoa, những

kẻ xuất gia để trốn tránh lao động Vì vậy, rất nhiều Nho sĩ đã nhiệt thành cổ vũ cải cách thể chế theo hướng Nho giáo hóa, đồng thời bài xích Phật giáo Tiêu biểu là Trương Hán Siêu với tuyên bố: “Đã là kẻ sĩ đại phu, nếu không phải đạo Nghiêu Thuấn, không bày tỏ, không phải đạo Khổng Mạnh, không trước thuật…”.8

Để rồi, sự phát triển của Nho giáo đã lấn át Phật giáo Về cơ bản, Nho giáo quy định chặt chẽ chế độ tôn ty trật tự của xã hội phong kiến Và nó là một lẽ tất yếu, bởi Phật giáo về chủ trương xuất thế cầu giải thoát, về lâu dài không thể đảm đương nổi công việc quản lý xã hội Đến đầu thế kỷ XV, Nho giáo đóng vai trò chủ đạo, còn Phật giáo và Đạo giáo tuy vẫn tiếp tục phát triển, nhưng đã lùi

ra khỏi vũ đài chính trị để phát triển ở trong lòng xã hội

b) Tam giáo trong đời sống tinh thần 9

Ở cấp độ duy tâm, các Thiền sư thường kết hợp tư tưởng nhất quán của Khổng Tử với chủ trương tất cả quy về tâm của Phâ …t để phát biểu mô …t vấn đề

7 Lê Anh Dũng, Nhịp cầu giáo lý, Tư tưởng Tam giáo đồng nguyên của dân tộc Việt Nam qua các thời đại, 2004.

8 Nguyễn Thị Linh, Nho giáo thời Lý-Trần, 2017

9 Nguyễn Công Lý, Tạp chí Hán Nôm số 2 (51), 2002, tr 3-11.

9

Trang 10

hiê …n thực Xuyên suốt thời kì này, cũng có nhiều tác phẩm kết hợp giữa Phật với Lão-Trang trên nền tảng là tư tưởng siêu thoát như thơ Tuệ Trung Thượng sĩ Trần Tung Nói về hiện tượng “Tam giáo đồng nguyên”, có thể được đúc kết qua hai câu thơ của thiền sư Viên Chiếu: “Trú tắc kim ô chiếu/ Dạ lai ngọc thố minh.” Ngụ ý bảo tuy ứng dụng của Phật và Thánh trong đời khác nhau, nhưng đều nhằm đem lại cho đời ánh sáng (giác ngộ), như ngày cần ánh sáng mặt trời (kim ô), đêm cần ánh sáng vầng trăng (ngọc thố).10

1.2 Tam giáo đồng nguyên thời Lê – Nguyễn

 Tổng quan về tam giáo đồng nguyên thời Lê –Nguyễn

Với mục tiêu xây dựng một nhà nước Đại Việt theo thể chế phong kiến tập quyền, tư tưởng của Nho giáo đã thỏa mãn yêu cầu của xã hội bấy giờ, tạo tiền

đề cho sự hưng thịnh của tôn giáo này Bên cạnh đó thông qua việc không ngừngdung hợp các yếu tố tư tưởng, đạo đức của Phật giáo, Đạo giáo và các yếu tố vănhóa truyền thống của dân tộc Việt Nam, thời kì này xuất hiện một hình thức Tam giáo đồng nguyên với Nho giáo là cốt lõi, đánh dấu bước chuyển sang hệ tư tưởng Nho giáo là chủ yếu, Nho giáo bắt đầu chi phối hoàn toàn chính trị, giáo dục, quan hệ xã hội, Phật giáo, Đạo giáo chuyển xuống vị trí thứ yếu trong Tam giáo

10 Lê Anh Dũng, Nhịp cầu giáo lý, "Tư tưởng Tam giáo đồng nguyên của dân tộc Việt Nam qua các thời đại", 2004

11 Thích Tâm Chánh, Pháp tu Tịnh Độ của Phật giáo Việt Nam thời Lê – Nguyễn, 2021

10

Ngày đăng: 12/06/2023, 09:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập 2: Từ Lý Nam Đế (544) đến Lý Thái Tông (1054), NXB thành phố Hồ Chí Minh, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập 2: Từ Lý Nam Đế (544) đến Lý Thái Tông (1054)
Tác giả: Lê Mạnh Thát
Nhà XB: NXB thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2001
2.Nguyễn Khắc Viện, Bàn về đạo Nho, Nhà xuất bản Trẻ, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về đạo Nho
Tác giả: Nguyễn Khắc Viện
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
Năm: 1998
3.Nguyễn Thọ Đức, Nho giáo và tư tưởng dân chủ, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 2 (136), 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và tư tưởng dân chủ
Tác giả: Nguyễn Thọ Đức
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển
Năm: 2017
4.Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí. Khảo mục chí, T III, Nxb Sử học, Hà Nội, 1961, tr 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí. Khảo mục chí, T III
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Sử học
Năm: 1961
5.Phan Ngọc , Bản sắc Văn hóa Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin HN, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc Văn hóa Việt Nam
Tác giả: Phan Ngọc
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin HN
Năm: 2002
6.PGS.TS Nguyễn Quang Ngọc, Tiến trình Lịch Sử Việt Nam, Nhà Xuất Bản Giáo Dục, Tr 95 đến 99 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình Lịch Sử Việt Nam
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Quang Ngọc
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Giáo Dục
7.Tống Thị Quỳnh Hương, Quá trình cách tân Phật giáo Nhật bản thời Minh Trị và công cuộc chấn hưng Phật giáo Việt Nam (Cuối thế kỉ XIX- Đầu thế kỉ XX):Những điểm tương đồng và khác biệt, tr. 326-327 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình cách tân Phật giáo Nhật bản thời Minh Trị và công cuộc chấn hưng Phật giáo Việt Nam (Cuối thế kỉ XIX- Đầu thế kỉ XX):Những điểm tương đồng và khác biệt
Tác giả: Tống Thị Quỳnh Hương
8.Thái Vĩnh Thắng, Ảnh hưởng của nho giáo đối với văn hóa pháp luật Việt Nam, 2009, Tr. 34-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của nho giáo đối với văn hóa pháp luật Việt Nam
Tác giả: Thái Vĩnh Thắng
Năm: 2009
9.Thích Nhật Từ (biên tập), Lãnh đạo chánh niệm & hòa bình, NXB Tôn giáo, 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lãnh đạo chánh niệm & hòa bình
Tác giả: Thích Nhật Từ
Nhà XB: NXB Tôn giáo
Năm: 2019
10. Trần Hoàng Dũng, Sự dung hợp và tiếp biến của tư tưởng Tam giáo đồng nguyên ở Việt Nam so với Trung Hoa, Tạp chí nghiên cứu Phật học, NCS Trường ĐHKHXH&NV ĐHQGHN, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự dung hợp và tiếp biến của tư tưởng Tam giáo đồng nguyên ở Việt Nam so với Trung Hoa
Tác giả: Trần Hoàng Dũng
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu Phật học
Năm: 2012
11. TS. Trần Thị Hồng Thúy (chủ biên), Đại cương văn hóa Việt Nam, NXB Lao động – Xã hội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Thị Hồng Thúy
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w