1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Tiểu luận) báo cáo môn học lịch sử ngoại giao việt nam tên chủ đề hoạt động đối ngoại của khởi nghĩa lam sơn (1418 1427)

13 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt động đối ngoại của Khởi nghĩa Lam Sơn (1418 -1427)
Tác giả Nhóm 9
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thùy Minh
Trường học Học viện Ngoại giao Khoa Chính Trị Quốc Tế & Ngoại Giao
Chuyên ngành Lịch sử Ngoại giao Việt Nam
Thể loại Báo cáo môn học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 545,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, nghệ thuật đấu tranh ngoại giao song song với đấu tranh quân sự trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh xâm lược vào thế kỷ XV được xem là một minh chứng tiêu biểu... Tro

Trang 1

HỌC VIỆN NGOẠI GIAO KHOA CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ & NGOẠI GIAO

BÁO CÁO Môn học: Lịch sử ngoại giao Việt Nam

TÊN CHỦ ĐỀ: Hoạt động đối ngoại của Khởi nghĩa Lam Sơn

(1418 -1427)

Giảng viên phụ trách:

TS Nguyễn Thùy Minh

Lớp: QHQT49-C1.4

Ngày nộp: 07/12/2022

Số từ: 3423

Sinh viên thực hiện: Nhóm 9 Hoàng Thảo Linh (QHQT49-C1-1261) Phùng Hà Chi (QHQT49-C1-1142)

Lê Na Hoàng Trang (QHQT49-C1-1945)

Lê Ngọc Hà (QHQT49-C1-1187) Nguyễn Thị Nga (QHQT49-C1-1329)

Trang 3

I Lời mở đầu

Báo cáo thuyết trình học phần Lịch sử Ngoại giao Việt Nam trình bày về chủ đề: “Hoạt động đối ngoại của khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427)” Báo cáo gồm các phần nội dung như sau:

1 Sơ lược về bối cảnh lịch sử & sự ra đời của nghĩa quân Lam Sơn

2 Nghệ thuật đấu tranh ngoại giao kết hợp đấu tranh quân sự trong khởi nghĩa Lam Sơn

a Bước đầu kết hợp đấu tranh ngoại giao kết hợp đấu tranh quân sự

và binh vận để đánh địch ( 1423 - 1424)

b Đấu tranh ngoại giao để phát huy những thắng lợi của đấu tranh quân sự

c Tiến công ngoại giao kết hợp chặt chẽ với tiến công quân sự để kết thúc chiến tranh, giải phóng hoàn toàn đất nước

3 Tổng kết

II Nội dung báo cáo

1 Lời dẫn:

Nhìn một cách tổng quan, có thể khẳng định rằng ngoại giao đóng vai trò quan trọng trong lịch sử đấu tranh bảo vệ tổ quốc của Việt Nam Các triều đại phong kiến Việt Nam đã kết hợp một cách linh hoạt hoạt động ngoại giao và hoạt động quân sự nhằm giành lại chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ trước sự xâm lược của thế lực phong kiến phương Bắc Trong đó, nghệ thuật đấu tranh ngoại giao song song với đấu tranh quân sự trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh xâm lược vào thế kỷ XV được xem là một minh chứng tiêu biểu

Trang 4

Trước hết, có 2 định nghĩa cần được làm rõ Thứ nhất, khái niệm “ngoại giao” (trong “nghệ thuật đấu tranh ngoại giao”) trong bài viết này không bao hàm hoạt động tương tác giữa các chủ thể quan hệ quốc tế hiện đại Trong các nghiên cứu về quan hệ của Việt Nam với các quốc gia thời kỳ quân chủ, đặc biệt là với Trung Quốc, khái niệm “bang giao” thường được sử dụng để phân biệt mối quan

hệ đặc biệt này với các mối quan hệ ngoại giao khác trên thế giới lúc bấy giờ Đặc trưng cơ bản nhất của “bang giao” là nó vận hành theo trật tự trên - dưới (giữa nước phong cấp và nước được phong cấp, thường giữa các quốc gia gần nhau về mặt địa lý), trong đó triều cống, cầu phong và lễ sính là những nghi thức nổi bật để duy trì trật tự này Như vậy, mọi bàn luận về hoạt động ngoại giao trong khuôn khổ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thế kỷ XV cần phải dựa trên cơ sở đó

Trong giai đoạn này, hoạt động ngoại giao/bang giao gắn liền với đấu tranh giải phóng dân tộc, do đó đi đôi với hoạt động quân sự và được gọi là “nghệ thuật đấu tranh ngoại giao kết hợp với đấu tranh quân sự” Từ “nghệ thuật” ở đây chỉ phương pháp, cách thức được vận dụng đạt đến độ linh hoạt, tài tình nhằm phục vụ một mục đích cụ thể Do đó, bài viết sẽ tập trung phân tích và đánh giá cách nghĩa quân Lam Sơn sử dụng ngoại giao kết hợp chặt chẽ với bạo lực quân sự trong suốt quá trình chiến đấu cho đến khi giành thắng lợi hoàn toàn

Trang 5

2 Sơ lược về bối cảnh lịch sử & sự ra đời của nghĩa quân Lam Sơn:

Cuối thế kỷ XIV, nhà Trần suy yếu Đến thế kỷ XV, nhà Hồ thay nhà Trần cai trị đất nước nhưng không thể cải thiện được tình hình lúc bấy giờ Cùng lúc đó, nhà Minh thay nhà Nguyên cai trị Trung Hoa và đang bước đầu củng cố bộ máy

và lực lượng Cũng như các triều đại trước đó, xâm lược nước Nam cũng không nằm ngoài kế hoạch của nhà Minh Nhà Hồ đã kiên quyết chống trả hành vi gây hấn từ phương Bắc nhưng vì bộ máy chính quyền và quân đội còn non trẻ, lại không được lòng nhân dân nên sớm bị đánh bại Đất nước ta rơi vào ách đô hộ của giặc Minh

Từ khi giặc Minh bắt đầu thống trị nước ta đã có nhiều cuộc khởi nghĩa cả quy mô lớn, nhỏ Trong đó, khởi nghĩa Lam Sơn ( bùng nổ năm 1418) do Lê Lợi lãnh đạo là cuộc khởi nghĩa có quy mô và tổ chức lớn nhất

3 Nghệ thuật đấu tranh ngoại giao kết hợp đấu tranh quân sự trong khởi nghĩa Lam Sơn:

a Bước đầu kết hợp đấu tranh ngoại giao kết hợp đấu tranh quân sự và binh vận để đánh địch ( 1423 - 1424)

Cho đến năm 1423, nghĩa quân Lam Sơn đã chiến đấu được 5 năm Mặc dù giành được thắng lợi ở một số trận đánh và ảnh hưởng đáng kể đến quân địch, lực lượng của nghĩa quân vẫn còn mỏng Với mục tiêu cao cả đánh đuổi hoàn toàn quân Minh - một thế lực có quy mô lớn mạnh hơn nhiều lần ra khỏi bờ cõi nước Nam, việc mở rộng và củng cố lực lượng là một yêu cầu mang tính sống còn lúc bấy giờ Trên cơ sở nguyên tắc căn bản trong quân sự - thời gian là tối

Trang 6

quan trọng, lại nhân lúc triều đình nhà Minh đang bối rối với các mối đe dọa từ phía Bắc và phía Tây, bộ tham mưu nghĩa quân Lam Sơn chủ trương giảng hòa với địch Đầu năm 1423, Nguyễn Trãi đã viết thư cho tổng binh địch là Trần Trí

và cử người mang thư và lễ vật đi thương lượng với địch Địch tiếp đón niềm nở

và chấp nhận yêu cầu hoà giải như tính toán của phe ta Hiển nhiên, nghĩa quân Lam Sơn không trông chờ vào thắng lợi dựa hoàn toàn vào đàm phán Do đó, chủ trương của Lê Lợi và ban chỉ huy là “ngoài giả hoà thân, trong rèn chiến cụ” ( theo Nguyễn Trãi) - tận dụng khoảng thời gian tạm hoà hoãn để xây dựng lực lượng đủ khả năng chiến đấu lâu dài Có thể nói đây là một quyết định đúng đắn dựa trên tình hình hiện tại - khi quân lực chưa đủ mạnh, nghĩa quân biết lượng sức mình để ra kế sách phù hợp Hơn nữa, kế sách đó phù hợp với tổ chức kháng chiến của dân tộc ta: dân ít, đất chật nên kháng chiến buộc phải trường kỳ Sau hai năm lui về Thanh Hoá từ tháng 5/1423, nghĩa quân đã huấn luyện một đội quân tinh nhuệ với tinh thần chiến đấu cao đồng thời tích trữ lượng lớn quân trang, lương thực kịp thời đối phó với mọi bất trắc có thể xảy ra

Trong khi đó, địch đã nắm được tin nghĩa quân đang củng cố lực lượng ngày càng lớn mạnh Đứng trước nguy cơ bị tấn công, chúng đáp trả bằng việc cắt đứt hoà ước giữa hai bên Đây chính là thời điểm phe ta sẵn sàng quyết liệt chiến đấu khi quân đã đủ mạnh Lê Lợi đem quân vào Nghệ An lập căn cứ mới, ra kế hoạch chủ động tấn công các thành luỹ của địch dọc đường tiến quân và đã giành được nhiều thắng lợi Trong số đó, việc hạ thành Trà Long là sự kiện có ý nghĩa quan trọng nhất, đánh dấu thắng lợi đầu tiên của việc sử dụng ngoại giao phục vụ mục đích quân sự Khi nghĩa quân vừa bao vây, vừa dụ hàng và dồn thành Trà Long vào thế khốn đốn thì nhà Minh ra chỉ thị xin giảng hoà với hứa hẹn phong Lê Lợi làm tri phủ Thanh Hoá Lê Lợi cảnh giác, “tương kế tựu kế” -ngoài mặt giả bộ chấp nhận lời đề nghị của địch và yêu cầu giải quyết Cẩm Bành đang cố thủ trong thành Trà Long để “thông đường về” Phía địch yêu cầu Cẩm Bành ngừng chiến đấu, Cẩm Bành vì thế ra đầu hàng “Thành Trà Long bị

hạ mà không tốn một mũi tên, hòn đạn” Có thể thấy, nghĩa quân đã tận dụng

Trang 7

Recommandé pour toi

123 - lll

Phương pháp nghiên cứu khoa học kinh tế 100% (3)

ĐỀ THI THỬ SỐ 50 (2019-2020)

Phương pháp nghiên cứu khoa học kinh tế 67% (6)

Suite du document ci-dessous

15

6

Trang 8

một cách khôn khéo lời dụ dỗ giảng hoà của phía địch, nắm trúng sơ hở để hạ thành địch mà không cần dùng vũ lực Sau 5 năm chiến đấu, nghĩa quân Lam Sơn đã tạo ra bước ngoặt trong thế trận và chiến lược khi bắt đầu kết hợp một cách linh hoạt phương pháp tấn công truyền thống - bạo lực quân sự và binh vận

- đấu tranh ngoại giao hay nói như “Chí Linh Sơn phú” - “nhiều phương lừa đánh địch của Nguyễn Trãi”

b Đấu tranh ngoại giao để phát huy những thắng lợi của đấu tranh quân sự

Kể từ khi xuất quân từ căn cứ địa Chí Linh - Lam Sơn tháng 10 năm 1424, cho đến tháng 8 năm 1425, nghĩa quân đã giải phóng được một nửa nước về phía Nam Sau hàng loạt thắng lợi, uy thế lừng lẫy, quân ta đã đủ mạnh đảm bảo chiến đấu lâu dài Nhiệm vụ chiến lược tiếp theo là tập trung giải phóng phần lãnh thổ phía Bắc Việc suy tôn Lê Lợi là “Đại thiên hành hoá” chứng tỏ nghĩa quân đã xác định rõ và sẵn sàng quyết liệt đối đầu lâu dài với quân địch, đồng thời cho thấy khí thế đánh đuổi xâm lược vô cùng mãnh liệt Về phía quân Minh, lực lượng địch trấn giữ phía Bắc nước ta đang trong tình thế khốn đốn sau nhiều cuộc tiến công cả về quân sự lẫn ngoại giao Do đó, nhà Minh cử hai đạo viện binh tiến vào Đại Việt: một do Vương An Lão chỉ huy theo đường Vân Nam, đạo còn lại do Vương Thông chỉ huy từ Quảng Tây kéo sang Đáp lại, nghĩa quân chia lực lượng tiến công theo 3 hướng chính: 2 đạo quân đối đầu với

2 đạo viện binh địch, vừa hành quân vừa hạ các thành luỹ nhỏ dọc đường; đạo quân còn lại tiến ra Đông Quan uy hiếp Sau khi viện binh bị đánh tan tác, thành Đông Quan trở thành tâm điểm của cuộc chiến không chỉ bởi vị trí chiến lược

mà còn vì phần lớn lực lượng quân Minh kéo vào cố thủ tại đây Trước tình hình

đó, bộ tham mưu nghĩa quân đã đưa ra quyết định sáng suốt: đem đại quân tiến

ra Bắc, mở ra một giai đoạn đấu tranh mới đánh dấu bằng chiến thắng vang dội Tốt Động - Chúc Động

Trang 9

Trận Tốt Động - Chúc Động đã thay đổi sâu sắc cục diện chiến tranh Quân ta giành thế chủ động trong khi phía địch dần lâm vào thế “trí cùng lực kiệt” Dựa vào đó, nghĩa quân Lam Sơn không ngừng gây sức ép bằng việc vây hãm thành Đông Quan và đánh phá các căn cứ ngoại vi buộc Vương Thông phải bối rối đề nghị giảng hoà Theo đó, Vương Thông buộc phải trao trả tất cả thành trì và rút quân về nước; đổi lại, nghĩa quân nới rộng vòng vây Đông Quan tạo điều kiện cho hắn kéo quân về, duy trì mối giao hảo với nhà Minh Thỏa thuận đã được cả hai bên chấp nhận Nguyễn Trãi tận dụng thành công việc Vương Thông giảng hoà để dụ hàng các thành địch, nhờ đó nghĩa quân thu phục được rất nhiều căn

cứ mà không cần dùng vũ lực Tình hình có vẻ khả quan; dẫu vậy, kết thúc chiến tranh một cách triệt để bằng nghị hoà không bao giờ nằm trong kế sách của nghĩa quân Phe ta hiểu rõ bản chất cùng tham vọng bành trướng của kẻ thù nên không thể nới lỏng sự cảnh giác Đó là một bài học đối ngoại mà quân dân một nước có lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm lâu đời, hay nói chính xác hơn, một dân tộc phía Nam có truyền thống đấu tranh chống lại sự đô hộ của thế lực bành trướng phương Bắc không thể không ghi nhớ

c Tiến công ngoại giao kết hợp chặt chẽ với tiến công quân sự

để kết thúc chiến tranh, giải phóng hoàn toàn đất nước:

Vương Thông đã tráo trở phá huỷ nghị hoà, cử người về triều đình xin tiếp viện Triều đình nhà Minh vẫn ngoan cố với ý định xâm lược, cử 2 đạo viện binh lớn do Mộc Thạnh và Liễu Thăng chỉ huy Do đã cảnh giác từ trước, tất cả những kế hoạch trên đều được quân ta dò la nắm bắt Bộ tham mưu nghĩa quân ngay lập tức đưa ra kế sách phản ứng nhanh, tiếp tục áp dụng phương pháp tấn công ngoại giao song song với tấn công quân sự Bài toán chiến lược ngay lúc này là: nên đánh thành Đông Quan trước hay đánh chặn viện binh trước? Và nếu đánh viện binh, liệu có nên tấn công cùng lúc cả 2 đạo quân lớn hay chỉ tập

Trang 10

giờ, quân ta đã nắm trong tay lực lượng tinh nhuệ và hệ thống căn cứ tương đối rộng lớn cộng với ý chí đang rất quyết liệt Xác định rõ đây là hồi cuối cùng của cuộc chiến, là cơ hội ngàn vàng để đánh đuổi hoàn toàn quân Minh xâm lược, nghĩa quân hiển nhiên cần phải dồn lực chiến đấu đến cùng Tuy vậy, chính bởi đây là thời điểm vô cùng thích hợp, cộng với việc nghĩa quân đang phải đối đầu với một thế lực lớn mạnh hơn gấp nhiều lần về mọi mặt (mặc dù triều đình và quân đội nhà Minh đang bị xáo trộn), việc đưa ra một chiến lược được tính toán

rõ ràng và cẩn trọng là tối quan trọng để đảm bảo thắng lợi Hiểu rõ điều này, Nguyễn Trãi ra quyết định: “ Đánh thành là hạ sách; ta đánh vào thành vững, hàng tháng, hàng năm không hạ nổi (làm cho) quân ta sức mệt, khí nản Nếu viện binh của giặc lại đến thì trước mặt, sau lưng đều bị giặc đánh, đó là con đường nguy! Sao bằng nuôi dưỡng sức quân, giữ lấy nhuệ khí để đợi viện binh của giặc Viện binh bị phá thì thành tất phải hàng Làm một việc mà được cả hai,

đó mới là kế vạn toàn vậy!”1

Như vậy, nhiệm vụ trước mắt của nghĩa quân là tiêu diệt viện binh địch Hiển nhiên, quân ta không thể phụ thuộc hoàn toàn vào bạo lực vũ trang Kế sách của Nguyễn Trãi đã xác định rõ diệt quân tiếp viện tạo nền tảng cho việc dụ hàng thành Đông Quan Mặt khác, Nguyễn Trãi nắm rõ rằng 2 đạo viện binh đang tiến vào biên giới được chỉ đạo hoàn toàn độc lập bởi 2 tướng khác nhau với 2 tính cách, thái độ và tinh thần chiến đấu khác nhau Ông sử dụng nghệ thuật “tâm công” một cách khéo léo tuỳ vào từng đối tượng để đẩy chúng vào thế khó theo tính toán của nghĩa quân Hiểu rõ Liễu Thăng là một tên tướng trẻ hiếu chiến, hung hăng và đang khao khát lập công trạng, nghĩa quân quyết định tiến công tiêu diệt đạo quân của hắn, đồng thời Nguyễn Trãi viết thư với lời lẽ tỏ vẻ nhún nhường, khiêu khích đẩy hắn chủ quan tự lao vào trận địa mai phục Với Mộc Thạnh - một tên tướng già có kinh nghiệm tham chiến lâu năm trên chiến trường

An Nam, hiểu rõ sức mạnh của quân dân nước Nam và đang bị nao núng ý chí, Nguyễn Trãi gửi thư đe dọa, phân tích tình hình và dụ dỗ hắn đầu hàng Kết quả

1 Viện sử học, Nguyễn Trãi toàn thư , NXB: Khoa Học Xã Hội Hà Nội, 1976, tập II, tr.243.

Trang 11

là Liễu Thăng tử trận, đạo quân hắn chỉ đạo bị tiêu diệt gọn; Mộc Thạnh do dự không dám đánh, cuối cùng phải tháo chạy về nước Nghĩa quân Lam Sơn đã đánh bại hoàn toàn một đạo quân viện trợ bằng bạo lực quân sự và ngăn chặn đạo quân còn lại bằng tấn công ngoại giao

Song song với đó, nghĩa quân dồn dập gây sức ép dụ dỗ quân địch trong thành Đông Quan đầu hàng Nguyễn Trãi thường xuyên gửi thư chỉ trích sự bội tín, lật lọng của Tổng binh Vương Thông bằng lời lẽ gay gắt, báo cáo và phân tích tình hình bại trận của phía địch, đồng thời chỉ rõ cái được - mất khi địch cố thủ trong thành trong khi nghĩa quân tiếp tục bao vây chặt, dẹp tan mọi náo động xung quanh thành Sau khi đánh bại viện binh địch (đồng nghĩa với việc chỗ dựa cuối cùng của Vương Thông đã không còn), quân ta tiếp tục dồn hắn vào đường cùng khi gửi trả các di vật của tướng lĩnh tử trận và đánh trả mãnh liệt bất cứ một xao động nào ở các cửa thành Lần này, Nguyễn Trãi vừa mềm mỏng tỏ rõ thiện chí kết thúc chiến tranh bằng thương lượng, vừa cứng rắn đe dọa sẽ tấn công quân

sự nếu địch vẫn còn cố thủ Trước sức ép quân sự và ngoại giao ngày càng tăng, Vương Thông buộc phải đầu hàng Ngày 10/12/1427, hội thề Đông Quan diễn

ra, ấn định rằng Vương Thông buộc phải rút toàn bộ quân về nước vào ngày 29/12/1427 Lê Lợi sẽ cử đoàn sang Trung Quốc mang biểu cầu phong, nối lại mối quan hệ hòa hảo với nhà Minh Đất nước ta sạch bóng quân xâm lược III Tổng kết:

Nhìn chung, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh xâm lược thế kỷ

XV là một chiến dịch có quy mô, tổ chức lớn và toàn diện Trong đó, bên cạnh bạo lực quân sự - công cụ đấu tranh truyền thống, ngoại giao ( chủ yếu là binh vận, địch vận) được vận dụng một cách khéo léo và có tính hiệu quả cao Xét về mối quan hệ giữa ngoại giao và quân sự trong khuôn khổ cuộc khởi nghĩa, các thắng lợi về mặt quân sự chính là cơ sở cho tấn công ngoại giao; mặt khác, ngoại giao tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc tiến công quân sự Nói tóm lại, ngoại

Ngày đăng: 12/06/2023, 08:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w