1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ôn Tập Chương I - Giới Thiệu Ngôn Ngữ Và Nnh.docx

17 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ôn Tập Chương I - Giới Thiệu Ngôn Ngữ Và Nnh
Trường học Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Ôn tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 387,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ CƯƠNG DẪN LUẬN NGÔN NGỮ HỌC NỘI DUNG ÔN TẬP CÂU HỎI ÔN TẬP Câu 1 Nêu nội dung các khái niệm sau ngôn ngữ, giao tiếp, tín hiệu, cái biểu đạt, cái được biểu đạt a Ngôn ngữ Ngôn ngữ là gì? + Ngôn ngữ[.]

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG DẪN LUẬN NGÔN NGỮ HỌC NỘI DUNG ÔN TẬP

CÂU HỎI ÔN TẬP Câu 1: Nêu nội dung các khái niệm sau: ngôn ngữ, giao tiếp, tín hiệu, cái biểu đạt, cái được biểu đạt

a Ngôn ngữ

- Ngôn ngữ là gì?

+ Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp bằng lời của loài người

+ Tuy nhiên, có một cách hiểu được thừa nhận rộng rãi hơn cả Đó là, ngôn ngữ là hệ thống các âm thanh,

từ ngữ và các quy tắc kết hợp chúng, làm phương tiện giao tiếp cho một cộng đồng

+ Ngôn ngữ chính là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của con người; phương tiện phát triển tư duy, truyền đạt truyền thống văn hóa - lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác

- Bản chất của ngôn ngữ:

+ Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt Nó không phải là hiện tượng sinh vật (tự nhiên), mang tính

di truyền như các đặc tính sinh vật khác Ngôn ngữ chỉ phát sinh, phát triển trong xã hội loài người, do ý muốn, nhu cầu của chính loài người Ngôn ngữ là một sản phẩm mang tính xã hội đặc biệt, thể hiện ý

thức xã hội, và là bộ phần cấu thành quan trọng của văn hóa Thứ hai, ngôn ngữ không phải là sản phẩm

của cá nhân mà là cái chung của XH Ngôn ngữ không của riêng nhà nước, đảng phái, thể chế chính trị, tôn giáo, giai cấp nào Nó ứng xử bình đẳng với tất cả mọi người trong XH cho dù mỗi đối tượng có thể

sử dụng nó theo cách của mình, với bản sắc của mình Thứ ba, ngôn ngữ không bị biến đổi bằng cách

mạng chính trị XH và sự phát triển của nó luôn mang tính kế thừa

+ Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, bởi vì bản thân ngôn ngữ vốn đã có bản chất tín hiệu và cơ cấu tổ chức của nó có tính hệ thống Ngoài ra, ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu phức tạp

 Các yếu tố trong hệ thống ngôn ngữ chính là các đơn vị ngôn ngữ, như âm vị, hình vị, từ và câu Những quan hệ chủ yếu trong ngôn ngữ là: quan hệ kết hợp (hay quan hệ tuyến tính, quan hệ ngang), quan hệ đối vị (hay quan hệ liên tưởng, quan hệ dọc), và quan hệ tôn ti Các đơn vị ngôn ngữ làm thành các cấp bậc (rank) khác nhau và có quan hệ tôn ti (hirerarchic relation), tức là các đơn vị bậc thấp “nằm trong” các đơn vị bậc cao, và các đơn vị bậc cao “bao gồm” (bao chứa) các đơn vị bậc thấp Ví dụ: câu bao gồm các từ, từ bao gồm các hình vị, hình vị bao gồm các âm vị; ngược lại âm vị nằm trong hình vị, hình vị nằm trong từ, từ nằm trong câu

 Tín hiệu ngôn ngữ có tính đa trị, nghĩa là một cái biểu đạt tương ứng với nhiều cái được biểu đạt khác nhau

 Và so với các hệ thống tín hiệu khác, ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu có tính thiết chế xã hội đậm nét nhất, nó có quy luật phát triển nội tại của mình, không bị phụ thuộc vào ý muốn cá nhân

Trang 2

 Và cũng chính vì sự phát triển của ngôn ngữ luôn mang tính kế thừa nên nó cũng là phương tiện giao tiếp của quá khứ, hiện tại và của những con người thuộc các thời đại khác nhau Điều này ít nhiều khác với các loại tín hiệu khác thường được tạo ra để phục vụ nhu cầu của con người trong một giai đoạn nhất định, có thể dễ dàng thay đổi

b Giao tiếp

- Giao tiếp là hoạt động trao đổi tư tưởng, tình cảm, trí tuệ, sự hiểu biết… giữa những người tham gia giao tiếp với nhau, từ đó có sự tác động đến nhau

- Chu trình giao tiếp bằng ngôn ngữ là chu trình vừa truyền đi vừa thu về

- Không phương tiện giao tiếp nào sánh được với ngôn ngữ về độ phong phú thông tin, mức độ phức tạp trong tổ chức Nói cách khác, phương tiện giao tiếp nào ngoài ngôn ngữ có thể được “diễn giải” lại bằng ngôn ngữ mà không có chiều ngược lại

- Chức năng giao tiếp của ngôn ngữ làm nó trở thành động lực tối quan trọng bảo đảm sự tồn tại và phát triển của XH loài người

c Tín hiệu

- Một thực thể vật chất kích thích vào giác quan của con người (làm cho người ta tri giác được) và có giá trị biểu đạt một cái gì đó ngoài thực thể ấy Đó chính là tín hiệu

VD: Cái đèn đỏ trong bảng đèn tín hiệu giao thông đường bộ là một tín hiệu, bởi vì, khi nó hoạt động

(sáng lên), người ta thấy nó và suy diễn tới sự cấm đoán, không được đi qua chỗ nào đó

- Điều kiện để một thực thể trở thành tín hiệu:

+ Tín hiệu phải là vật chất, kích thích đến giác quan của con người và con người cảm nhận được qua giác quan của con người, chẳng hạn: âm thanh, màu sắc, ánh sáng, hình vẽ, vật thể,

+ Phải đại diện cho một cái gì đó, gợi ra cái gì đó không phải là chính nó Tức là cái mà nó đại diện cho, không trùng với chính nó

VD: Tín hiệu đèn đỏ báo hiệu nội dung cấm đi Nội dung này và bản thể vật chất của cái đèn đỏ không hề

trùng nhau

+ Nhận thức được quan hệ đại diện nghĩa là nó cũng sẽ chỉ là tín hiệu khi mối liên hệ giữa nó với "cái mà

nó chỉ ra" được người ta nhận thức, tức là người ta phải biến liên hội nó với cái gì

+ Sự vật đó phải nằm trong một hệ thống tín hiệu nhất định để được xác định tư cách tín hiệu của mình

cùng với các tín hiệu khác VD, cái đèn đỏ vừa nói bên trên là một tín hiệu, thế nhưng, nếu tách nó ra, đưa

vào chùm đèn trang trí thì nó lại không phải là tín hiệu nữa Sở dĩ như thế là vì chỉ có nằm trong hệ thống tín hiệu đèn giao thông, nó mới có tư các tín hiệu, được xác định cùng với đèn xanh, đèn vàng nhờ vào sự đối lập quy ước giữa chúng với nhau

=> Để trở thành một tín hiệu, bất kì một hiện tượng ngôn ngữ nào đã xuất hiện trong giao tiếp của loài người cũng phải bao gồm 2 mặt khác nhau là mặt biểu hiện và mặt được biểu hiện Mặt biểu hiện làm nhiệm vụ trung chuyển những ý nghĩ, tình cảm, xúc cảm, nhu cầu khác nhau của người nói tới được cơ

Trang 3

quan thụ cảm của người nghe Nếu không có cái biểu hiện thì quá trình giao tiếp giữa người nói và người nghe sẽ bị hoàn toàn cắt đứt Lúc đó, người ta gọi là ngôn ngữ không hành chức

=> Với mỗi một tín hiệu ngôn ngữ, theo nguyên lí chung của việc thành lập một tín hiệu, bao giờ cũng

phải có hai mặt: Đó là mặt biểu hiện (hình thức tín hiệu) và mặt được biểu hiện (nội dung tín hiệu).

Mặt hình thức của tín hiệu là những dạng âm thanh khác nhau mà trong quá trình nói năng con người đã thiết lập lên mã cụ thể cho mình, đó chính là đặc trưng âm thanh cụ thể của từng ngôn ngữ Còn mặt nội dung (cái được biểu hiện) là những thông tin, những thông điệp về những mảnh khác nhau của thế giới hiện tại mà con người đang sống, hoặc những dấu hiệu hình thức để phân cắt tư duy, phân cắt thực tại

VD: Cá (cái biểu thị) – tên gọi => động vật có xương sống, ở nước, thở bằng mang, bơi bằng vây (nội

dung ý nghĩa)

=> Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu âm thanh, bởi vì đối với tất cả các ngôn ngữ tự nhiên, phương tiện biểu đạt trước hết là âm thanh Trẻ em biết nói trước khi biết đọc, biết viết chứng tỏ rằng ngôn ngữ loài người trước hết là ngôn ngữ âm thanh Người Việt gọi ngôn ngữ là “tiếng” (tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Nhật, v.v…) chính là xuất phát từ đặc trưng này của ngôn ngữ

=> Các tín hiệu ngôn ngữ đã tác động trực tiếp đến con người thông qua hai giác quan quan trọng nhất là thính giác và thị giác

=> Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, nó hoàn toàn khác với các tín hiệu nhân tạo của con người (hệ thống đèn giao thông, biển chỉ đường, trống báo hiệu, v.v…), và khác với hệ thống giao tiếp của loài vật

**** Hệ thống là gì?

- Hệ thống là một tổng thể những yếu tố có quan hệ qua lại và quy định lẫn nhau, tạo thành một thể thống nhất có tính phức hợp hơn

- Cụ thể thì hệ thống là:

+ Một tập hợp các yếu tố

Trang 4

+ Các yếu tố đó phải có quan hệ qua lại với nhau, quy định lẫn nhau (để làm cho mỗi yếu tố có thể thể hiện được mình và có được tư cách, cương vị của mình trong cái tập hợp – hệ thống “của mình”)

+ Các yếu tố đó phải có quan hệ với nhau theo những cách thức nhất định, tạo thành một chỉnh thể có tính phức hợp hơn

**** Tại sao ngôn ngữ là một hệ thống?

- Ngôn ngữ là một hệ thống vì đáp ứng đủ điều kiện của hệ thống:

+ Tổng thể các yếu tố (Đơn vị ngôn ngữ)

+ Các yếu tố có quan hệ với nhau theo nhiều kiểu loại và thang bậc, cuối cùng tập hợp lại thành tổng thể phức hợp – hệ thống ngôn ngữ Hệ thống ngôn ngữ có cấu trúc của nó

d Cái biểu đạt và cái được biểu đạt

- Khi nói đến cái biểu đạt và cái được biểu đạt là nhắc đến bản chất của ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt

Âm (CBĐ) + Nghĩa (CĐBĐ) => Tín hiệu Ngôn ngữ => sự kết hợp, thể thống nhất giữa hình thái âm thanh và một khái niệm

- CBĐ: hình thức ngữ âm, hình ảnh âm học/âm hình – các âm thanh mà con người có thể nghe được

- CĐBĐ: khái niệm, nội dung nhận thức, tư tưởng tình cảm của con người

- Ví dụ:

Từ “xe” trong tiếng Việt là 1 ký hiệu NN Âm /se/ là cái biểu đạt = h.a âm thanh, còn khái niệm “xe” là cái được biểu đạt = kn

=> Cái biểu đạt /se/ được tạo nên từ chất liệu âm thanh -> chữ viết chỉ ghi lại cái biểu đạt của ký hiệu NN, chứ ko phải cái đc biểu hiện của ký hiệu NN

Câu 2: Đơn vị ngôn ngữ

=> Từ, hình vị và âm vị chính là các đơn vị của ngôn ngữ: những yếu tố có sẵn trong hệ thống

=> Câu không phải đơn vị có sẵn vì: được tạo ra trong lời nói, giao tiếp bằng cách kết hợp các từ theo mô hình, quy tắc

=> Mỗi loại đơn vị làm thành một tiểu hệ thống (cấp độ)

 Quan hệ giữa các đơn vị ngôn ngữ là quan hệ phức tạp, đa dạng, với 3 quan hệ căn bản nhất là:

- Quan hệ tôn ti, cấp bậc: đơn vị cao hơn phải có thuộc tính ngữ pháp khác về chất so với đơn vị thuộc tính bậc thấp hơn

Âm vị, hình vị, từ, ngữ đoạn, câu

- Quan hệ kết hợp: các đơn vị kết hợp với 1 hoặc những đơn vị khác, làm thành một chuỗi

Trang 5

VD: Họ tặng tôi một cây bút

Họ <-> tặng <-> tôi <-> một <-> cây <-> bút

=> Đây là quan hệ có tính tương cận giữa các yếu tố trên chuỗi lời nói ra/trên tuyến tính như một trục nằm ngang – trục kết hợp/trục ngữ đoạn

- Quan hệ đối vị: là quan hệ giữa một đơn vị ngôn ngữ với những đơn vị đồng hạng khác có thể thay thế được cho nó tại vị trí mà nó hiện diện trong câu (trên trục kết hợp), là quan hệ xâu chuỗi một yếu tố hiện diện với những yếu tố đồng hạng khác, đứng sau lưng nó, tạo thành cột dọc Cột này gồm những yếu tố hoàn toàn thay thế được cho nhau Mỗi cột dọc là một hệ đối vị

=> quan hệ kết hợp – hiện thực, quan hệ đối vị - liên tưởng

- Âm vị: là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất mà người ta có thể phân ra được trong chuỗi lời nói Ví dụ: các âm

[b], [t], [a], … hoàn toàn không thể chia nhỏ chúng hơn nữa Âm vị có chức năng nhận cảm và chức năng phân biệt nghĩa Bản thân các âm vị là vật chất (âm thanh), cho nên nó có tác động đến giác quan (tai) của con người, nhờ đó con người có thể lĩnh hỗi được Âm vị không biểu thị ý nghĩa nào cả nhưng lại có tác

dụng phân biệt ý nghĩa Ví dụ, “bào” có nghĩa là một dụng cụ của thợ mộc để làm mòn, nhẵn gỗ, còn

“vào” có nghĩa là “một hành động đi từ ngoài tới trong” Sự phân biệt nằm ở sự đối lập giữa âm [b] và [v] tạo nên

??? Vì sao âm vị được gọi là đơn vị tiền tín hiệu? (do nó là đơn vị tự thân không mang nghĩa)

- Trước hết, âm vị là vật chất (âm thanh), tác động đến giác quan (tai) của con người, nhờ đó con người

có thể lĩnh hội được => đảm bảo được một trong những điều kiện để trở thành tín hiệu

- Tuy nhiên, âm vị lại không biểu thị ý nghĩa nào cả, mà chỉ có tác dụng phân biệt ý nghĩa => âm vị là một đơn vị tự thân không mang nghĩa Chính vì thế, âm vị có cái biểu đạt nhưng lại không có cái được biểu đạt

=> Vì vậy, âm vị được gọi là đơn vị tiền tín hiệu

***********************************************************************************

- Hình vị: là một hoặc chuỗi kết hợp với một vài âm vị, biểu thị một khái niệm Nó là đơn vị nhỏ nhất có

ý nghĩa Chức năng của hình vị là chức năng ngữ nghĩa

Ví dụ: kết hợp “quốc gia” trong tiếng Việt gồm hai hình vị “quốc” là “nước” và “gia” là “nhà”, “paravoz” trong tiếng Nga bao gồm ba hình vị: “par” là hơi nước, “voz” là sự chuyên chở, “-o” là hình vị nối.

Trang 6

- Từ: là chuỗi kết hợp của một hoặc một vài hình vị mang chức năng gọi tên và chức năng ngữ nghĩa Ví

dụ: tủ, ghế, đi, cười, …

- Ngữ đoạn (cụm):

- Câu: là chuỗi kết hợp của một hay nhiều từ, chức năng của nó là chức năng thông báo

Câu 3: Nêu các chức năng cơ bản của ngôn ngữ Phân tích ví dụ minh họa

(Phân tích các chức năng của ngôn ngữ trên cơ sở một phát ngôn được đưa ra)

a Chức năng giao tiếp

- Giao tiếp: là sự truyền đạt thông tin từ người này đến người khác với một mục đích nhất định nào đó: thái độ, tư tưởng, tình cảm con người được thể hiện => 1 quá trình truyền đi và thu về

- Hoạt động giao tiếp cần:

+ Người nói (viết) và hành vi nói ra (hành vi tạo lập diễn ngôn – văn bản)

+ Thông điệp cần truyền đi

+ Người nghe (đọc) và hành vi hiểu diễn ngôn (văn bản)

+ Bối cảnh giao tiếp và phương tiện chung để giao tiếp: phương tiện phổ biến, tiện lợi, năng lực nhất là NGÔN NGỮ

- Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của con người, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của

XH loài người

b Chức năng công cụ tư duy

- Ngôn ngữ là phương tiện của tư duy, nó “tàng trữ” kết quả của hoạt động tư duy: khái niệm, nội dung

=> ngôn ngữ phản ánh tư duy

- Xét về phương diện lịch sử: con người thấy cần phải nói với nhau một cái gì đó (kết quả nhận thức, tư duy, hoạt động tinh thần, …) => sáng tạo ra ngôn ngữ

Trang 7

- Quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy => phức tạp và được tiếp cận nghiên cứu từ nhiều điểm xuất phát khác nhau

- Phân biệt tư duy và ý thức:

+ Ý thức: một tập hợp hoàn chỉnh gồm những yếu tố nhận thức và cảm xúc, có liên quan chặt chẽ với nhau, trong đó tư duy là một trong những quá trình nhận thức đó

+ Tư duy là bộ phận cơ bản cấu thành ý thức

=> Quan hệ ngôn ngữ - tư duy là quan hệ ngôn ngữ - ý thức:

+ Ngôn ngữ là hình thức tồn tại, phương tiện vật chất thể hiện tư duy Nhờ ngôn ngữ mà ý thức con người được hiện thực hóa Nhờ tư duy mà ngôn ngữ không chỉ là vỏ vật chất âm thanh trống rỗng

+ Ngôn ngữ không chỉ là công cụ biểu đạt tư duy mà còn là công cụ của hoạt động tư duy, trực tiếp tham gia hình thành và phát triển tư duy

* Biết tư duy trừu tượng gắn liền với ngôn ngữ: biểu hiện phân biệt về chất giữa loài người và các loài động vật khác

* Truyền đạt tri thức bằng ngôn ngữ chính là việc ngôn ngữ tham gia vào quá trình xây dựng các liên hệ tạm thời (không cần tự trải nghiệm cũng biết, cũng hiểu được các hiện tượng, sự vật nhờ có người khác nói cho)

+ Nhờ ngôn ngữ, con người “tái cấu trúc hóa” thế giới vật chất và tinh thần theo cách của mình: đa dạng, phong phú, và bền vững hơn

c Chức năng cấu thành, lưu giữ và truyền tải văn hóa

=> ngôn ngữ là sự biểu hiện của linh hồn dân tộc, ngôn ngữ dân tộc là linh hồn của dân tộc, mà linh hồn dân tộc cũng chính là ngôn ngữ dân tộc

- Ngôn ngữ là nhân tố quan trọng bậc nhất trong số các nhân tố cấu thành nền văn hóa dân tộc, cũng là tấm gương phản ánh nội dung văn hóa, lưu giữ, truyền tải văn hóa từ người qua người, qua thế hệ Vì vậy, văn hóa vật chất và tinh thần của mỗi tộc người bao giờ cũng được ghi lại, được phản ánh trong ngôn ngữ của chính tộc người đó

- Ngôn ngữ và văn hóa tộc người gắn bó khăng khít với nhau: quá trình học tập và tiếp thu ngôn ngữ cũng

chính là quá trình tìm hiểu và tri nhận thế giới Tuy vậy, ngôn ngữ và văn hóa không bao giờ là một.

d Một số chức năng khác

+ Tạo lập văn bản: tạo các văn bản, diễn ngôn dưới dạng ngôn ngữ nói hoặc viết

+ Miêu tả: phản ánh trải nghiệm của người nói về thế giới và truyền đạt những thông tin được khẳng định, phủ định hay được kiểm nghiệm

+ Xã hội: xác lập, duy trì và thông báo về mối quan hệ giữa người nói và người nghe

+ Biểu cảm: biểu thị, truyền đạt thông tin về quan điểm, thái độ đối với những trải nghiệm đã qua của người nói

Trang 8

 Trong một câu nói, các chức năng có thể chồng lên nhau

 Chức năng miêu tả, biểu cảm, xã hội = chức năng giao tiếp

Câu 4: Mối quan hệ ngôn ngữ - tư duy - văn hóa.

- Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức Không có hệ thống tín hiệu này - tức ngôn ngữ thì ý thức nói chung và tư duy nói riêng không thể tồn tại và thể hiện được Ngôn ngữ, theo C Mác là cái vỏ vật chất của tuy duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, không có ngôn ngữ, con người không thể

có ý thức Ngôn ngữ là hình thức vật chất của các hình thức và quy luật của tư duy Con người không thể

tư duy nếu không dùng tới ngôn ngữ

- Ngôn ngữ (tiếng nói và chữ viết) vừa là phương tiện giao tiếp, đồng thời là công cụ của tư duy Nhờ ngôn ngữ, con người mới có thể khái quát hóa, trừu tượng hóa, mới có thể suy nghĩ, tách khỏi sự vật cảm tính

- Ý thức, tư duy không phải là một hiện tượng thuần túy cá nhân mà là một hiện tượng có tính chất xã hội,

do đó nếu không có phương tiện trao đổi xã hội về mặt ngôn ngữ thì ý thức, tư duy không thể hình thành và phát triển được.

- Ngôn ngữ và tư duy là một thể thống nhất nhưng không phải là quan hệ đồng nhất Ngôn ngữ tồn tại ở dạng vật chất còn tư duy thuộc tinh thần Ngôn ngữ được con người cảm nhận được bằng giác

quan như cao độ, trường độ, sắc thái…còn tư duy là sự nhận thức suy nghĩ bên trong thuộc bộ não của con người theo trật tự lôgic nhất định Ngôn ngữ mang tính dân tộc (sảm phẩm dân tộc) còn tư duy mang tính nhân loại (mọi dân tộc có chung những sản phẩm của tư duy về vấn đề nào đó: chủ quyền, hòa bình, giáo dục, y tế…)

- Ngôn ngữ ra đời vốn không có mục đích tự thân mà xuất phát từ nhu cầu thiết yếu của con người - nhu cầu giao tiếp Chính sự hình thành ngôn ngữ là tiền đề nhiều mặt để hình thành văn hóa, mặc dù theo cách sắp xếp truyền thống ngôn ngữ vốn là một bộ phận, một thành tố bên cạnh các thành tố khác như nghệ thuật, tôn giáo của văn hóa Khi nhắc đến vai trò của ngôn ngữ trong việc hình thành “con người xã hội”, Engels đã cho rằng “Sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ” ngôn ngữ không chỉ là tiền đề để tạo ra con người mà còn là tiền đề để tạo ra văn hóa mà trước hết là tạo ra “con người” Và đến lượt mình văn hóa lại trở thành tiền đề giúp cho sự phát triển của ngôn ngữ, yếu tố nối kết các giá trị ngôn ngữ và văn hóa chính là tính ước lệ Bởi suy cho cùng cả ngôn ngữ và văn hóa đều là những thiết chế xã hội Nói cách khác về nguyên tắc cả hoạt động ngôn ngữ và văn hóa đều là hoạt động tinh thần cả hai đều dựa vào quá trình ước lệ gắn với tâm lý xã hội Cả hai thiết chế xã hội này đều hoạt động theo nguyên tắc

kế thừa truyền thống Chính vì thế bản thân chúng chứa đựng những đặc điểm riêng nhất về sắc thái cộng đồng dân tộc Trong đó cả hai đều có vai trò quan trọng tác động lẫn nhau trong quá trình phát triển Nói như V.F Humboldt văn hóa chính là “linh hồn” của ngôn ngữ còn ngôn ngữ chính là tấm gương thực sự phản chiếu nền văn hóa dân tộc

 Trong một mô hình tam phân: Tư duy, Ngôn ngữ - Văn hóa thì thuộc tính cơ bản là ở chỗ cả văn

hóa và ngôn ngữ đều là sản phẩm của tư duy Văn hóa có tính truyền thống và bền vững, qua bộ lọc

của thời gian, kết tinh thành các giá trị lưu giữ từ đời này qua đời khác Văn hóa phát triển qua các thời

Trang 9

đại khác nhau, có khả năng tiếp xúc và biến đổi Người ta cho rằng văn hóa là cái giá trị còn lại sau khi các giá trị khác đã “đội nón ra đi”

 Văn hóa thể hiện nhận thức và phản ánh thế giới của một cộng đồng, ngôn ngữ cũng như vậy

Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa vừa là tất yếu vừa là tương hỗ Lôgích (tư duy) là cái nền chung trong đó ngôn ngữ là công cụ, văn hóa là giá trị, trở thành đặc trưng Đặc trưng văn hóa hòa vào tư duy và thể hiện trong ngôn ngữ Văn hóa thể hiện qua cách nghĩ của người bản ngữ trong giao

tiếp cộng đồng Văn hóa trừu tượng nhưng sản phẩm của nó lại cụ thể Câu ca dao:

“Anh đi anh nhớ quê nhà, Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương"

là sản phẩm ngôn ngữ Việt, trong từ ngữ của nó thuộc từ vựng đời thường, nhưng sau cái ngôn từ dung dị

ấy có cả nền văn hóa Việt Quan hệ giữa ngôn ngữ, tư duy và văn hóa (bản ngữ) là một đặc trưng quan trọng của ngôn ngữ, quan hệ này làm thành một mô hình tam phân:

=> Ngôn ngữ làm công cụ diễn đạt tư duy, nhưng ngôn ngữ cũng có tính độc lập với tư duy Tính

độc lập của ngôn ngữ với tư duy thể hiện ở chỗ tư duy tồn tại trên những cách thức phản ánh khác nhau của người bản ngữ, và những cách thức ấy được “ngữ hoá” trong ngôn từ Động từ là từ loại chỉ ra các dạng vận động trong thế giới tự nhiên và xã hội và tư duy Hiện tượng “danh hoá” động từ là kết quả tất yếu của sự chuyển vai ngữ pháp từ trong nhận thức nhờ vào khả năng trừu tượng hóa và sự tri nhận độc lập của người bản ngữ

=> Trong ngôn ngữ có nhiều lối diễn đạt khác nhau, nhưng “lối” không chỉ là sản phẩm cá nhân mà còn

là cách thức cá nhân vận dụng lối chung của cộng đồng Văn hóa là sản phẩm của tư duy, là truyền thống định hình và kết tinh trong quá trình phát triển tư duy của cộng đồng, trong cách thức phản ánh bằng bản ngữ

=> Con người luôn biết kết hợp những phương pháp tư duy với cách thức biểu đạt của ngôn ngữ và văn hóa bản ngữ Giao tiếp ngôn ngữ có mục tiêu cuối cùng là diễn đạt tư duy văn hóa chứ không thuần tư duy lôgích Tư duy văn hóa là sản phẩm tinh thần của một dân tộc, một cộng đồng và nó có dấu ấn riêng rất rõ Ngôn ngữ không di truyền như văn hóa nhưng văn hóa thì in đậm vào cách thức suy nghĩ của con

Tư duy

Ngôn ngữ Văn hóa

Trang 10

người, và nó thể hiện ra ở ngôn ngữ => “Đặc trưng tinh

tộc ấy”

*** => Chúng ta đang nói ngôn ngữ trong tư duy và ngôn ngữ trong văn hóa nên có thể lấy trường hợp người bản ngữ Việt để phân tích điều này.

6.1 Khi sử dụng ngôn ngữ, người Việt rất chú ý đến phương châm lịch sự Phương châm lịch sự này thể

hiện trên cả hai phương diện là chiến lược giao tiếp và chuẩn mực giao tiếp Ví dụ, nói năng có lễ độ thì được coi là một đặc trưng về phương diện chuẩn mực xã hội, tôn trọng những phẩm chất xã hội như thứ bậc, địa vị, tuổi tác Người nói tỏ ra lễ phép, khiêm nhường cho nên nói năng sao cho phải lời là đặc trưng của người Việt, khôn khéo và tế nhị, tránh làm tổn thương đối tác (“lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”) Những câu tường thuật, những câu hỏi, những câu cầu khiến khi nói đều gắng để không gây sốc cho người nghe Những từ xưng hô, những từ nghi vấn trong tiếng Việt rất đặc trưng cho văn hóa ứng xử của người Việt Chỉ có người bản ngữ Việt mới hiểu biết hết các khía cạnh về văn hóa, về xã hội trong lịch sự

Dù là lịch sự dương tính hay lịch sự về âm tính, theo cách nói của Levinson, đều dựa trên phạm trù có tính tâm lý giao tiếp ta gọi là thể diện

6.2 Trong tiếng Việt các hành động ngôn từ thể hiện khá rõ những điều các nhà ngôn ngữ học đã nói.

Chẳng hạn, phạm trù thể diện mà chúng tôi vừa đề cập (lịch sự dương tính và lịch sự âm tính), người Việt, bằng hành động ngôn từ của mình, bằng văn hóa Việt, thể hiện một cách sâu sắc và uyển chuyển tư duy, tình cảm, cách thức phản ánh thế giới và cả cương vị xã hội của mình, cái cương vị của quyền lực trong giao tiếp Chúng ta thấy lịch sự dương tính có những đặc điểm nổi trội bao hàm cái chung giữa người nói và người nghe, tác động qua lại, sự hợp tác trong hội thoại Đây là tinh thần rất quan trọng của Grice, Brovvn và Levinson: nguyên tắc hợp tác trong hội thoại3) Chiến lược đó được thể hiện bằng rất nhiều điều mà người nói cố gắng gây sự chú ý với người nghe Chẳng hạn, người nói thường sử dụng lối nói nhấn mạnh, cường điệu Người nói luôn luôn quan tâm đến lợi ích của người nghe và kéo người nghe lại phía mình trong nhóm xã hội hay cộng đồng Giao tiếp của người Việt rất lịch sự nhưng phức tạp hơn, chẳng hạn, khi đem quan hệ gia đình vào, chúng ta thấy người đối thoại với mình có thể chỉ là “người dưng nước lã” nhưng lại được gọi là cậu, chú, bác, cô, dì, lịch sự bằng cách “gia đình hoá” các quan hệ

xã hội Mặt khác, trong giao tiếp, một người trong gia đình khi bước vào xã hội thì vai vế xưng hô thường được nâng lên một cấp Lúc ở nhà thì xưng là anh em với nhau nhưng khi vào quan hệ xã hội thì gọi người ít tuổi hơn mình là chú, là cô, nghĩa là đứng ở cương vị của con mình để nói với em mình chứ không phải là bản thân mình

6.3 Trong giao tiếp, người ta cũng lẩn tránh sự bất đồng, chen vào đấy có khi là những yếu tố hài hước,

gây ra sự hứng thú, cũng có lúc là các hành vi mời mọc, hứa hẹn và cũng có lúc nói lên niềm tin, niềm lạc

sẻ, có lúc tìm cách giải thích các lý do của hành động và mong muốn được đáp ứng lại, gợi ý với người nghe và mang lại cho người nghe một cái gì đó có lợi Trên thương trường thì ngôn ngữ truyền thông, ngôn ngữ quảng cáo, tiếp thị luôn chú ý đến lịch sự trong lời quảng cáo (các slogan) chinh phục khách hàng Khi làm PR, ở các bài diễn văn chính trị, các bài nói trước công chúng thì người nói cũng luôn luôn chú ý đến lịch sự (dương tính) Mặt khác lịch sự âm tính cũng có nét đặc thù Như chúng ta đã biết, lịch

sự âm tính là một nửa của khái niệm thể diện mà Brovvn và Levinson giới thiệu Nửa bên kia là lịch sự dương tính đã phân tích Lịch sự âm tính là phương diện hướng thể diện vào địa hạt của người tiếp nhận

Ngày đăng: 12/06/2023, 00:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w