1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy luật lưu thông tiền tệ và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta hiện nay

26 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy luật lưu thông tiền tệ và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta hiện nay
Người hướng dẫn TS. LƯU THỊ KIM HOA
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế chính trị
Thể loại Báo cáo môn học
Năm xuất bản 2005
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 180,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Vật ngang giá chung là một thứ hàng hóa có khả năng trao đổi trựctiếp với một hàng hóa bất kỳ và khi vai trò vật ngang giá chung đó được cốđịnh ở một thứ hàng hóa thì sinh ra hình thái

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

KHOA TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC

  

ĐỀ ÁN MÔN HỌC :

KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN

SỐ ĐỀ ÁN : 44 TÊN ĐỀ ÁN :

QUY LUẬT LƯU THÔNG TIỀN TỆ VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN ĐỐI VỚI NƯỚC TA HIỆN NAY

SVTH : NGUYỄN THỊ CẨM HUỆ MSSV : 103240017 - STT : 17

LỚP : 40 – K 29

Trang 2

THÁNG 01 NĂM 2005

LỜI NÓI ĐẦU

Ngày nay, tiền thâm nhập vào cuộc sống hằng ngày của mọingười, có ở mọi lúc, mọi nơi, góp phần tạo ra những tiến bộ to lớn đốivới lịch sử văn minh của loài người bằng cách thúc đẩy thương mại vàcác hoạt động kinh tế phát triển

Trong các chặng đường đổi mới, tiền tệ đóng vai trò quan trọngvà những hiện tượng về tiền đa dạng đã trở thành hấp dẫn không chỉcho các nhà kinh tế mà còn cho cả các nhà kinh doanh muốn xem xét,dự đoán những dao độnt về giá cả, mức lạm phát, lãi suất … Đểhoạch định những phương án kinh doanh có hiệu quả Đặc biệt hiệnnay lạm phát đang là mối quan tâm của toàn cầu Nó đụng chạm tớimọi hệ thống kinh tế

Có thể nói các vấn đề trên đều liên quan đến quy luật lưu thôngtiền tệ, đặc biệt khi lạm phát lại các sản phẩm của quy luật này Dođó việc tìm hiểu, vận dụng quy luật trên là rất cần thiết Qua sách báovà những gì tiếp thu được từ phía thầy cô, với sự học hỏi của bản thân,tôi xin được phép trình bày về quy luật lưu thông tiền tệ Đồng thờicũng mạng phép nêu lên vài suy nghĩ và phương pháp vận dụng quyluật vào thực tiễn ở nước ta Mong rằng với những kiến thức tuy cònhạn chế nhưng cũng hy vọng phần nào đóng góp sức lực của mình chosự phát triển kinh tế nước nhà Hay qua đó được các bạn và thầy côđóng góp ý kiến để cho tôi hoàn chỉnh hơn về suy nghĩ của mình

Đề ánh được thực hiện với sự hướng dẫn nhiệt tình của TS LƯU

THỊ KIM HOA Qua đây, em xin trân trọng gởi đến cô lời cảm ơn chân

thành

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG I : QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ CHỨC

NĂNG CỦA TIỀN TỆ

1.1 Quá trình hình thành và các hình thức tiền tệ : 1

1.1.1 Quá trình hình thành : 1

1.1.2 Các hình thức tiền tệ : 2

1.1.2.1 Thời kỳ hóa tệ : 2

1.1.2.2 Thời kỳ kim tệ : 2

1.1.2.3 Thời kỳ tiền giấy : 3

1.1.2.4 Tiền qua Ngân hàng – Tiền điện tử : 3

1.2 Bản chất và chức năng của tiền : 4

1.2.1 Bản chất của tiền : 4

1.2.2 Vai trò của tiền : 5

1.2.2.1 Thứ nhất, là chức năng thước đo giá trị : 5

1.2.2.2 Thứ hai, là chức năng phương tiện trao đổi của tiền :6 1.2.2.3 Thứ ba là chức năng phương tiện tích lũy : 7

CHƯƠNG II : QUY LUẬT LƯU THÔNG TIỀN TỆ VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN ĐỐI VỚI NƯỚC TA HIỆN NAY. 2.1 Quy luật lưu thông tiền tệ : 8

2.1.1 Quy luật lưu thông tiền tệ với K Marx: 8

2.1.2 Quy luật lưu thông tiền tệ với quan điểm của Irving Ficher : 9

2.1.3 Quy luật lưu thông tiền tệ với trường phái Cambridge : 11

2.1.4 Quy luật lưu thông tiền tệ với Keynes : 13

2.1.5 Quy luật lưu thông tiền tệ với Friedman : 14

2.1.6 Quy luật lưu thông tiền tệ với quan niệm tiền tệ trung lập : 14

2.1.7 Lạm phát : .15

2.1.7.1 Nguyên nhân dẫn đến lạm phát, tác động: 16

2.1.7.2 Các loại lạm phát và cách khắc phục : 17

2.2 Ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta hiện nay trong việc vận dụng quy luật lưu thông tiền tệ : 17

CHƯƠNG III : MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP 3.1 Một số quan điểm : 20

3.2 Các giải pháp đề nghị : 20

Trang 4

CHƯƠNG I : QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ CHỨC

NĂNG CỦA TIỀN TỆ

Từ khi xuất hiện, tiền tệ đã đóng một vai trò rất quan trọng trongnền kinh tế và người ta đã ví “Tiền thực sự là huyết mạch” làm cho hànghóa lưu thông như máu đưa oxy và chất dinh dưỡng nuôi cơ thể Vậy tiền

do đây mà có?

1.1 Quá trình hình thành và các hình thức tiền tệ :

1.1.1 Quá trình hình thành :

Lịch sử đã cho thấy rằng trong thời kỳ đầu của chế độ công xãnguyên thủy với công cụ lao động thô sơ, người ta tự cung cấp cho nhau sốsản phẩm ít ỏi mà họ săn bắt và hái lượm được Đến khi ý thức về phâncông lao động được hình thành và họ đã có được số lượng sản phẩm thừatương đối, từ đó làm nảy sinh quan hệ trao đổi nhưng là những sản phẩmcần thiết cho sự sống còn của mình Đó chỉ là sự trao đổi hoàn toàn mangtính chất ngẫu nhiên, sự trao đổi hàng lấy hàng theo công thức H – H’

Ví dụ : 1 con cừu = 1kg thóc

Khi công cụ lao động được cải tiến, phân công lao động xã hội pháttriển, trao đổi hàng hóa thường xuyên hơn, thị trường hàng hóa đã phongphú, đa dạng hơn Phạm vi trao đổi càng mở rộng thì việc trao đổi trực tiếpkhông còn phù hợp Khi đó, người ta đặt ra “vật trung gian” làm phươngtiện trao đổi, nghĩa là có sự tách rời hai giai đoạn mua và bán theo côngthức : H – Vật trung gian – H’

Chính sự ra đời của “vật trung gian” trong trao đổi mở đầu cho sựxuất hiện của tiền tệ

“Vật ngang giá chung là một thứ hàng hóa có khả năng trao đổi trựctiếp với một hàng hóa bất kỳ và khi vai trò vật ngang giá chung đó được cốđịnh ở một thứ hàng hóa thì sinh ra hình thái tiền tệ của giá trị

Như vậy, tiền tệ là một loại hàng hóa đặc biệt dùng làm vật nganggiá cho tất cả các hàng hóa, là sự thể hiện chung của giá trị, là sự thể hiệnlao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những giá sản xuấthàng hóa, do quá trình phát triển lịch sử của trao đổi hàng hóa tạo ra

Từ phân tích trên ta có thể khẳng định rằng nguồn gốc của tiền tệ làkết quả của quá trình phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng hóa

Là một loại hàng hóa đặc biệt, tiền tồn tại dưới hình thức nào?

Trang 5

1.1.2 Các hình thức tiền tệ :

Trong tiến trình của tiền tệ từ xưa cho đến nay, người ta phân tíchlàm bốn thời kỳ :

1.1.2.1 Thời kỳ hóa tệ :

Đây là hình thức tiền đầu tiên của nhân loại, nó là hình thái tiền tệđược áp dụng trong một thời gian quá dài so với các hình thái tiền khác.Người ta chọn một loại hàng hóa có giá trị sử dụng cần thiết chung chonhiều người, có thể bảo tồn lâu ngày và mang tính phổ biến đặc trưng chođịa phương

Khi đã có “hóa tệ” làm trung gian để trao đổi trong sản xuất và muabán, thương mại phát triển mạnh và hoạt động kinh tế bành trướng rất mauchóng Nhưng nhìn chung, hóa tệ có nhiều điều bất tiện : Khi trao đổingười ta phải thỏa thuận về tỷ lệ giá cả của hàng hóa, số lượng hàng hóa

…., nó chỉ được công ở từng địa phương … Mặt khác, theo quy luật pháttriển của nền sản xuất thì trao đổi hàng hóa sẽ không còn nằm trong phạm

vi nhỏ hẹp của địa phương Điều đó đòi hỏi có một vật trung gian khácmang tính chất phổ biến, dễ phân chia, dễ vận chuyển, tồn tại lâu làmchức năng tiền tệ Đó là nguyên nhân ra đời của tiền tệ kim loại

1.1.2.2 Thời kỳ kim tệ :

Tiền tệ đòi hỏi phải được mọi người chấp nhận một cách phổ biến,phải khá quý, làm phương tiện trao đổi trong thời gian dài, có sức mua ổnđịnh, không thể nhân lên một cách không có giới hạn đến mức bất cứ aicũng có thể có thoải mái, không mất công sức gì, đồng thời có thể đượcchia nhỏ, tiện lợi Do những đòi hỏi trên đã làm cho những kim loại quýđóng vai trò tiền tệ một cách tự nhiên

Có cùng một tiến triển đã đẩy các nước có nguồn kinh tế, pháp lýkhác nhau đến chỗ sử dụng các kim loại quý nhất là vàng bạc làm công cụtrao đổi vì chúng đáp ứng được những yêu cầu của một đồng tiền đã nêu ởtrên

Trong thế kỷ thứ 18, 19 có các loại tiền như : chế độ song bản vị,nhưng đến khi vàng càng trở nên quý hiếm và cách xa bạc thì chế độ songbản vị chuyển thành chế độ bản vị vàng

Kinh tế và các vấn đề xã hội khác càng phát triển, các câu hỏi vàyêu cầu càng được đặt ra cao hơn, người ta bắt đầu tìm kiếm những phươngtiện khác tiện lợi hơn để làm tiền Thêm vào đó, xã hội ngày càng trở nênthiếu tài nguyên do dân số gia tăng, vì mọi nguồn lực không phải vì vô

Trang 6

hạn, sự tiết kiệm các dạng nguyên liệu như kim loại là rất cần thiết Đó làmột trong những lý do giúp tiền giấy ra đời và phát triển nhanh chóng từcuối những năm 1600 cho đến nay.

1.1.2.3 Thời kỳ tiền giấy :

Tiền giấy chỉ là một loại tiền dấu hiệu, bản thân nó không có giá trịnên được sử dụng là phương tiện trao đổi thì phải dựa vào sự tín nhiệm củacon người Sự xuất hiện đầu tiên của tiền giấy là giao sao hay giao tử ởTrung Quốc vào triều Tống Lưu thông tiền giấy đã trãi qua hai giai đoạn :giai đoạn tiền giây khả hoán và giai đoạn tiền giấy bất khả hoán

Tiền giấy khả hoán, nghĩa là tiền giấy có thể đổi ra vàng hay bạcbất cứ lúc nào Tiền giấy khả hoán tồn tại từ thế kỷ thứ 17, được củng cốbởi học thuyết của David Ricardo, kéo dài đến tận những năm 30 thế kỷXX

Kể từ năm 1931, sau cuộc khủng hoảng kinh tế, tất cả các nước ápdụng hệ thống không chuyển đổi được của đồng tiền Kể từ đó, ở mọi nơi,tiền giấy ngân hàng không có khả năng chuyển đổi Đó là tiền giấy bấtkhả hoán, nó là loại tiền được quy ước bởi luật pháp dùng để lưu hànhtrong trao đổi và hoàn toàn không đổi ra vàng hay bạc được Đó là tiềngiấy pháp định do nhà nước phát hành và được luật pháp của quốc gia quyđịnh rằng giấy này tương đương với một giá trị nhất định trong trao đổi Ởđây chính pháp luật đã gán cho tờ giấy một giá trị cao hơn giá trị của bảnthân nó

Ngày nay, hầu hết các quốc gia điều có tiền giấy, vì đơn giản là tiềngiấy có thể được làm ra những số lượng rất lớn với chi phí rất hạ hơn so vớiloại nguyên liệu hay hàng hóa nào khác để tạo ra tiền Khi nền kinh tếngày càng bành trước và nhu cầu về số lượng của tiền tăng lên khôngngừng thì thực sự chỉ tiền giấy là loại tiền tiết kiệm nhất các nguồn lựckhan hiếm trong xã hội

Với sự phát triển mạnh mẽ của ngân hàng đã tạo điều kiện hìnhthành loại tiền khác, đó là tiền qua ngân hàng và tiền điện tử

1.1.2.4 Tiền qua Ngân hàng – Tiền điện tử :

Bút tệ là thứ tiền vô hình sử dụng bằng cách ghi chép trong sổ sáchkế toán ngân hàng Mọi nghiệp vụ thanh toán tiền bạc giữa người này vớingười kia được thực hiện bằng cách ghi giảm trong tài khoản của ngườiphải trả một số tiền để chuyển sang tài khoản của người nhận tại ngân

Trang 7

hàng Bút tệ là lệch chuyển khoản hay sec Nó xuất hiện đầu tiên tại Anhvào giữa thế kỷ thứ 19.

Tiền tệ ra đời đánh dấu bước ngoặc trong nhận thức về tiền của mỗicon người Đó là thứ tiền hoàn toàn dựa trên tín nhiệm của công chúng đốivới cơ quan đã phát hành tiền đó

Lúc mà khoa học kỹ thuật đi sâu vào đời sống của kinh tế xã hội thìtiền điện tử ra đời Tiền điện tử là các giá trị được số hóa, lưu trữ và xử lýthông qua kỹ thuật thông tin được quản lý bởi các định chế tài chính.Người sở hữu món tiền đã được tiến hành “tiền điện tử” sẽ có một công cụduy nhất là một tấm thẻ nhựa để tiến hành việc dùng tiền khi có nhu cầu.Tiền điện tử cho phép thanh toán ngay, giảm thiểu thời gian luân chuyểnchứng từ qua ngân hàng hoặc ghi chép chứng từ thanh toán Do đó việc sửdụng thẻ thanh toán đang là xu hướng của những nước phát triển

Ngày nay, ngoài ra các loại tiền trên còn có các loại giấy tờ có giátrị như : cổ phiếu của các công ty cổ phần, trái phiếu của nhà nước và cáccông ty, tín phiếu của kho bạc … Gọi chung là các loại giấy nợ

1.2 Bản chất và chức năng của tiền :

1.2.1 Bản chất của tiền :

Trong quá trình phát triển của mình, tiền đã trải qua nhiều hình thứckhác nhau mà ngày nay chủ yếu là tiền giấy và tiền qua ngân hàng, chúngdựa trên sự tín nhiệm của con người chứ không có giá trị bản thân chínhđiều này đã gây ra nhiều tranh cãi và đã hình thành nhiều quan điểm khácnhau về bản chất của tiền

Từ thế kỷ 16, Thomas – Nen, đại diện cho thuyết tiền tệ kim thuộccho rằng : vàng, bạc tự nhiên, mới là tiền tệ và họ cho rằng chữ vàng, bạcmới đủ khả năng thực hiện chức năng của tiền tệ

Trái ngược quan điểm trên, đến thế kỷ thứ 18, khi các loại tiền dấuhiệu ra đời và nó vẫn phục vụ cho trao đổi được thì trường phái tiền tệ duydanh lại đề cao tiền dấu hiệu và họ kết luận rằng : tiền tệ chỉ là một côngcụ kỹ thuật tiện cho trao đổi hàng hóa, chỉ là đơn vị thanh toán trừu tượngnên bản thân tiền tệ không có giá trị nội tại và nhà nước hoàn toàn có thểphát hành tiền giấy với những dấu hiệu quy ước là có thể phục vụ cho traođổi hàng hóa

Khi nghiên cứu nguồn gốc của tiền dựa trên sự phát triển của cáchình thái giá trị, K.Marx – nhà duy vật biện chứng – đã khẳng định nhưsau “Một khi người ta đã hiểu rằng nguồn gốc của tiền tệ là ở ngay trong

Trang 8

hàng hóa thì người ta đã khắc phục được cái khó khăn chính trong sự phântích tiền tệ” (tài liệu số 4, trang 71) Ông cho rằng nếu đóng vai trò là vậttrung gian trao đổi thì tiền dấu hiệu vẫn đảm nhận được vai trò tiền tệ, cònvàng thì trở thành tiền trong những điều kiện nhất định và một khi đã đượcthừa nhận đóng vai trò tiền tệ thì vàng vẫn là hàng hóa.

Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật ở thế kỷ 20, không chỉcó sự tồn tại của tiền vàng hay tiền giấy nữa mà xét ở góc độ rộng hơn thìcác loại sec, tiền qua ngân hàng, chứng khoán … Nếu chúng có thể chuyểnđổi thành tiền mặt thì cũng được xem là tiền Điều đó đúng như Samuelsonđã kết luận : “Bản chất của tiền tệ ngày nay đã được phơi bày rõ ràng,người ta muốn có tiền tệ với danh nghĩa là tiền chứ không phải là hànghóa, không phải vì bản thân nó mà vì những thứ mà dùng nó sẽ muađược… Bản chất của tiền tệ là dùng để làm phương tiện trao đổi” (Tài liệusố 6, trang 332)

Để hiểu rõ hơn về bản chất của tiền, ta đi vào phân tích vai trò, chứcnăng của tiền

1.2.2 Vai trò của tiền :

Với giả định rằng : “chúng tôi giả định vàng là hàng hóa giữ chứcnăng tiền tệ” (tài liệu số 5, trang 186) thì Marx cho rằng chức năng củatiền thực hiện trong điều kiện kinh tế hàng hóa phát triển là : Chức năngthước đo giá trị, chức năng phương tiện lưu thông, chức năng phương tiệncất trữ, chức năng tiền tệ thế giới

Ngày nay, mặc dù vàng vẫn được thừa nhận là thước đo giá trị, làphương tiện cất trữ và tiền thế giới nhưng do yêu cầu của nền kinh tế hànghóa thị trường, người ta đã hạn chế sử dụng vàng làm phương tiện trao đổi

Do đó ta có thể xem xét ở ba chức năng sau :

1.2.2.1 Thứ nhất, là chức năng thước đo giá trị :

Theo Marx đây là chức năng cơ bản nhất của tiền vì bản chất củachức năng này là đo lường giá trị của tất cả các hàng hóa bằng tiền Điềunày có nghĩa là tiền tệ đo giá trị của hàng hóa thông qua lượng thời gianlao động xã hội cần thiết kết tinh trong hàng hóa Không chỉ Marx mà cácnhà kinh tế học hiện đại đều chấp nhận lý luận này

Với chức năng này tiền tệ biểu thị và so sánh giá cả của tất cả cáchàng hóa, từ đó sẽ làm cho đời sống kinh tế được đơn giản hóa hơn nhiều

Vì thực tế cho thấy rằng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa thìchủng loại hàng hóa trên thế giới ngày càng phong phú và vô số Nếu

Trang 9

không có đơn vị thanh toán chung thì người ta sẽ phải mất nhiều thời gianđể xác định những quan hệ tỷ lệ giữa các hàng hóa với nhau khi trao đổiđược thực hiện Mà việc làm đó đôi khi không chính xác trong khi thờigian là vàng bạc Nhưng đâu phải người ta chỉ tính đến giá cả hiện tại màcòn phải dự đoán cho cả tương lai Việc làm đó chỉ xảy ra được khi có mộtđơn vị thanh toán chung Ngoài ra tiền tệ còn giúp cho người tiêu dùng sosánh, đánh giá nhằm lựa chọn loại hàng hóa có lợi nhất cho mình.

Đối với nền kinh tế thị trường : ở tầm vĩ mô trong hệ thống kế toánquốc gia, đồng tiền với chức năng thước đo giá trị đã được vận dụng đểtính tổng mức GDP, GNP trong từng kỳ Điều đó giúp cho quá trình phânphối tổng sản phẩm quốc dân và đánh giá hiệu quả nền kinh tế để có biệnpháp tận dụng những nguồn tàinguyên quốc gia phục vụ cho sự nghiệp xâydựng và phát triển đất nước Ở phạm vi quy mô, chức năng trên của tiền là

cơ sở để các doanh nghiệp hoạch toán, tổng hợp chi phí sản xuất, tính giáthành sản phẩm, đánh giá hiệu quả kinh doanh nhằm tìm ra phương thứcđầu tư có lợi nhất

1.2.2.2 Thứ hai, là chức năng phương tiện trao đổi của tiền :

Khi tiền chưa xuất hiện, người ta trao đổi theo công thức H – H’ đểthực hiện được quy trình H – H’ đòi hỏi việc hao phí thời gian để tìm mộtnhu cầu phù hợp về sản phẩm trao đổi Điều đó làm hạn chế quá trình lưuthông hàng hóa, đặc biệt khi phân công lao động sâu sắc và kinh tế có nềnchuyên môn hóa cao thì công thức H – H’ không đáp ứng được

Thực hiện chức năng phương tiện trao đổi, tiền vận động theo côngthức H – T – H’ đối với người sản xuất khi hàng hóa tiêu thụ được tức làđã chuyển từ hình thái H sang hình thái T, giá trị hàng hóa được thực hiện.Với lượng tiền sở hữu, người ta có thể chuyển đổi ra bất kỳ hàng hóa nàocần cho nhu cầu của họ Từ đó đã toát lên ý nghĩa thực của tiền trong nềnkinh tế là tạo khả năng thanh toán tức thì, mà điều đó, đó rất cần cho nềnkinh tế hàng hóa thị trường phát triển

Là phương tiện trao đổi tiền có thể tồn tại dưới nhiều dạng khácnhau như : tiền vàng, tiền giấy, sec … Nhưng khi làm chức năng phươngtiện lưu thông thì tiền tệ phải là tiền mặt Để làm tròn chức năng trunggian trao đổi thì tiền tệ phải là một đơn vị để đo lường giá trị, do đó người

ta phải định giá đơn vị tiền tệ

Với chức năng này, tiền góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa,đồng thời qua quá trình đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ còn

Trang 10

giúp ta phát hiện những khiếm khuyết trong sản xuất như mẫu mã, chấtlượng hàng hóa, điều tiết cung cầu – trong từng khu vực của nền kinh tế.

Vai trò của tiền trong trao đổi hàng hóa được David Hume nói rằng :

“Tiền với một cách chính xác không là mục tiêu của thương mại, nhưng nólà phương tiện để mọi người trao đổi hàng hóa lẫn nhau, tiền không phải làchiếc bánh của cổ xe thương mại, nhưng nó là nhiên liệu để khởi độngchiếc xe ấy dễ dàng và êm ái” (Tài liệu số 3, trang 92)

1.2.2.3 Thứ ba là chức năng phương tiện tích lũy :

Hoạt động kinh tế là một hoạt động xảy ra trong thời gian hàng hóasản xuất ra có thể hư hao nhanh chóng, không thể tồn trữ lâu ngày, nhưngnếu đem trao đổi để lấy tiền thì nhờ đó có thể bảo tồn trong thời gian vôđịnh giá trị của những sản phẩm do con người sản xuất ra Và do tiền đượctạo ra không chỉ để sử dụng hết mà còn dành cho việc tích lũy đề phòngbất trắc hoặc để chuyển nhu cầu tiêu dùng từ thời điểm này sang thời điểmkhác Tiền tệ cất trữ là tiền tệ rút ra khỏi lưu thông

Trong thời kỳ sản xuất hàng hóa giản đơn, hình thức cất trữ là cấtgiấu Nhưng ngày nay, trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, cácdoanh nghiệp muốn mở rộng sản xuất, các tầng lớn dân cư muốn muanhững vật phẩm có giá trị sử dụng cao thì người ta tích lũy dưới dạng tiềngiấy hoặc số dư trên tài khoản ký thác tại ngân hàng Bởi vì khi thực hiệnchức năng này đồng tiền đã tạo điều kiện lưu giữ một khả năng sử dụngngay tức khắc trong khi các dạng dự trữ tài sản khác đòi hỏi phải có thờigian và chi phí giao dịch khi cần chuyển sang tiền để sử dụng

Tóm lại, tiền và những vật khác nhau, ở các thời điểm khác nhau,tuy vậy, nó luôn quan trọng đối với nhân dân và nền kinh tế

Trong khoa học kinh tế ngày nay, tiền tệ được xem như là một trongnhững công cụ mà nhà nước có thể vận dụng nhằm đạt tới những mục tiêukinh tế mong muốn Hơn nữa trong các nền kinh tế hiện đại, tiền tệ thườngtỏ rõ ảnh hưởng quan trọng đối với các chu trình kinh tế, lạm phát, kinhdoanh và lãi suất A Smith đã hoàn toàn hợp lý khi đã thấy được sự xuấthiện của tiền là một quá trình khách quan theo yêu cầu của trao đổi hànghóa, nó là phương tiện khắc phục khó khăn của trao đổi hàng hóa trực tiếp,là “Chiếc bánh xe vĩ đại của lưu thông hàng hóa” (tài liệu số 2)

Ngày nay hầu như ai cũng dùng tiền Hằng ngày, hằng tuần, hàngnăm chúng ta tồn tại, sinh hoạt và phát triển cá nhân dựa trên những giaodịch liên quan đến tiền Tiền xuất hiện, phát triển, hiện diện khắp nơi,thúc đẩy hoạt động thương mại và kinh tế Nhưng tiền đi vào nền kinh tế

Trang 11

bằng cách nào và bao nhiêu tiền trong nền kinh tế là tốt nhất? Để trả lờicâu hỏi này, chúng ta sẽ tìm hiểu về quy luật lưu thông tiền tệ Đối vớinước ta, quy luật này đã và đang ảnh hưởng ra sao.

CHƯƠNG II : QUY LUẬT LƯU THÔNG TIỀN TỆ VÀ Ý NGHĨA

THỰC TIỄN ĐỐI VỚI NƯỚC TA HIỆN NAY.

2.1 Quy luật lưu thông tiền tệ :

Vai trò, chức năng của tiền tệ đã được đề cập ở trên từ đó ta thấy rõsự quan trọng của tiền Và chính vì thế mà các vấn đề về tiền luôn gâynhiều tranh cãi Về quy luật lưu thông tiền tệ cũng có rất nhiều cách nhìn,tiếp cận và nghiên cứu khác nhau chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu về cáctrường phái này

2.1.1 Quy luật lưu thông tiền tệ với K Marx:

Bắt nguồn từ yêu cầu của sản xuất và lưu thông hàng hóa, Marx đãnghiên cứu sự ra đời của tiền tệ là kết quả của quá trình phát triển lâu dàicủa sản xuất và trao đổi hàng hóa Do đó, trên quan điểm xem lưu thônghàng hóa quyết định lưu thông tiền tệ, Marx cho rằng : “số lượng tiền cầnthiết cho lưu thông nhiều hay ít là hoàn toàn tùy thuộc vào số lượng hànghóa đang lưu thông, mức giá cả cao hay thấp và tốc độ lưu thông của tiềnnhanh hay chậm Từ phân tích đó, ta có công thức :

K C =

Với : + KC : Khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông

+ H : Tổng số giá trị của hàng hóa lưu thông

+ V : Tốc độ lưu thông tiền tệ

Như vậy, Marx đã gọp hai nhân tố sản lượng hàng hóa và mức giácả thành khái niệm tổng giá cả hàng hóa (H), nhân tố này tỉ lệ thuận vớitổng khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông, còn tốc độ lưu thông tiền tệ(V) là số vòng lưu thông của một số lượng tiền tệ nhất định và nó tỉ lệnghịch với lượng tiền cần thiết cho lưu thông (KC)

Nếu gọi KT là lượng tiền thực có trong lưu thông (là lượng tiền mà tachủ động cung ứng vào lưu thông) thì yêu cầu của quy luật này phải bảođảm quan hệ cân đối giữa KT và KC, nghĩa là KT = KC

Có hai trường hợp vi phạm quy luật lưu thông tiền tệ là :

K T < K C hoặc là K T > K C

Trang 12

Thực tế ta thấy số lượng tiền tệ trong lưu thông ít hơn nhiều so vớitổng số giá cả hàng hóa bán ra bởi mỗi đơn vị tiền tệ trong một thời giannhất định được luân chuyển từ tay người này sang tay người khác để phụcvụ cho lưu thông hàng hóa Hai trường hợp vi phạm KC của Marx đưa racho ra hai khái niệm: Thiếu tiền trong trường hợp KT < KC gọi là thiểu phátvà thừa tiền khi KT > KC gọi là lạm phát Về vấn đề này, tôi sẽ trình bàyriêng ra cho rõ ràng hơn.

2.1.2 Quy luật lưu thông tiền tệ với quan điểm của Irving Ficher :

(Tài liệu số 3, trang 101 – 108).

Xuất phát từ sự kiện thực tế lịch sử là việc nâng cao mức giá cảhàng hóa nói chung do phát hiện ra các mỏ vàng, bạc tự nhiên ở Bắc Mỹvào thế kỷ 16 – 17 bổ sung nguồn vàng, bạc ở Châu Âu đã làm cho giá cảtăng lên 3 – 4 lần, David Hume đã kết luận là giá cả hàng hóa được xácđịnh bởi khối lượng tiền tệ trong lưu thông, và nếu khối lượng hàng hóatăng thì giá cả hàng hóa sẽ hạ xuống, còn giá trị tiền tệ sẽ tăng lên Khikhối lượng tiền tệ đi vào lưu thông tăng quá nhiều hay tăng đột ngột làmcho vật giá tăng lên

Tiếp tục tư tưởng của David Hume, P Fishet cho rằng nói chung tiềnkhông có giá trị trong lĩnh vực lưu thông và chỉ có khả năng mua nó đượcxác định bởi một lượng của cải mua được bằng một lượng tiền nhất định

Để thiết lập công thức “phương trình trao đổi”, Fisher dựa vào nhậnxét rất thông thường : nếu ta lấy một thời gian nhất định, như một ngày,một tuần hay một tháng … Số tiền lưu hành trong thời gian đó trãi ngangbằng giá trị của các vụ trả tiền đã được thực hiện trong thời gian đó

Ví dụ : trong một ngày ở một huyện có các vụ trả tiền sau :

Vụ thứ nhất : A mua lúa của B hết 7.000 (ĐVT)

Vụ thứ hai : C mua vải của D hết 5.000 (ĐVT)

Vụ thứ ba : E trả công cho F là 3.000 (ĐVT)

Tổng cộng số tiền lưu hành ngày hôm đó ở huyện là 15.000 (ĐVT)tức là bằng giá trị của hàng hóa, dịch vụ trao đổi trong ngày Fisher gọi sốtiền lưu hành trên là M, tốc độ lưu hành của số tiền đó là V, hiệu lực củasố tiền lưu hành là MV Gọi P là giá trung bình, Y là tổng số hàng hóa,dịch vụ trao đổi, giá trị của các hàng hóa dịch vụ này là PY

Phương trình sẽ là : MV = PYDựa vào phương trình, ta có thể suy diễn như sau : Nếu P tăng thêmthì M sẽ tăng thêm hoặc Y tăng, V giảm thì M cũng sẽ tăng và ngược lại

Trang 13

Phương trình trao đổi trên biểu diễn mối liên hệ giữa thu nhập với sốlượng và tốc độ của tiền Như vậy lượng tiền nhân với số lần đã cho máđồng tiền đó được chi ra trong một năm phải bằng thu nhập danh nghĩa.

Fisher cho rằng tốc độ là khá bất biến trong thời gian ngắn, cho nênông đưa ra học thuyết số lượng tiền tệ : Học thuyết này cho rằng khi lượngtiền (M) tăng gấp đôi thì MV tăng gấp đôi và do đó PY cũng phải tăng gấpđôi Học thuyết này của Fisher cho rằng : “Những sự vận động trong mứcgiá cả chỉ là kết quả của những thay đổi trong số lượng tiền tệ” (Tài liệusố 3, trang 107)

Phương trình được viết lại như sau :

M = x PYKhi thị trường tiền tệ cân bằng, số lượng tiền mà nhân dân nắm giữ(M) bằng số lượng tiền được yêu cầu (Md) Đặt N = Md, vì V là hằng sốnên đặt K = , ta có phương trình như sau :

Md = K x PY (với K là thời gian trung bình nhân dân

nắm giữ tiền mặt)Như vậy, Fhser cho rằng khối lượng tiền tệ được yêu cầu thuần túylà hàm số của thu nhập, lãi suất không ảnh hưởng gì đến Md Ông nghĩrằng cần về tiền tệ được xác định bởi (1) Mức giao dịch phát sinh do mứcthu nhập danh nghĩa (PY) : (2) Các tổ chức trong nền kinh tế mà ảnhhưởng đến cách dân chúng tiến hành giao dịch, cách này quyết định tốc độvà từ đó quyết định K

Nhưng trong thực tế giữa M và P không chỉ có một tương quan đơnthuần mà giữa mối tương quan đó, có nhiều yếu tố khác

Trước hết là tốc độ V của tiền Có nhiều trường hợp M không đổi,nhưng P vẫn tăng, vì sao? Vì V tăng khi con người thay đổi cách tiêu xàimạnh hơn, tiền lưu thông sẽ nhanh hơn khi khối lượng của hàng hóa, dịchvụ chưa thay đổi kịp, giá của nó sẽ tăng lên Hoặc là có khi M tăng nhưng

P không tăng là do khuynh hướng tiết kiệm của các chủ thể kinh tế tănglên, tốc độ V chậm bớt, làm cho tổng giá trị thay đổi không tăng

Ngoài ra còn có sự tham gia của số lượng hàng hóa và dịch vụ đemtrao đổi Khi M tăng, nếu Y còn tồn kho nhiều thì P cũng khó tăng lên.Nếu P có tăng thì cũng là tạm thời nếu nền kinh tế còn thừa khả năng sảnxuất

Trong thời gian ngắn : V và Y ít thay đổi vì trong thời gian ngắnkhuynh hướng tiêu thụ của cả nước ít biến đổi, làm cho V ít biến đổi và Y

Ngày đăng: 11/06/2023, 19:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS. PTS. Dương Thị Bình Minh. Lý thuyết tài chính – tiền tệ. NXB Giáo dục 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết tài chính – tiền tệ
Tác giả: Dương Thị Bình Minh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
2. Vũ Ngọc Nhung. Những vấn đề tiền tệ và Ngân hàng – NXB TP.HCM 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề tiền tệ và Ngân hàng
Tác giả: Vũ Ngọc Nhung
Nhà XB: NXB TP.HCM
Năm: 1998
3. GS. TS. Lê Văn Tư, Lê Thùy Vân, Lê Nam Hải. Tiền tệ, Ngân hàng, Thị trường tài chính. NXB Thống Kê 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền tệ, Ngân hàng, Thị trường tài chính
Tác giả: GS. TS. Lê Văn Tư, Lê Thùy Vân, Lê Nam Hải
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2001
4. Karl Marx. Góp phần phê phán chính trị kinh tế học. NXB Sự Thật Hà Nội 1971 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần phê phán chính trị kinh tế học
Tác giả: Karl Marx
Nhà XB: NXB Sự Thật Hà Nội
Năm: 1971
5. Karl Marx - Tư Bản. NXB Sự Thật - Hà Nội 1989, quyển I, tập 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư Bản
Tác giả: Karl Marx
Nhà XB: NXB Sự Thật
Năm: 1989
6. Tạp chí “Thị trường tài chính tiền tệ” 1.8.2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường tài chính tiền tệ
7. Tạp chí “Thị trường tài chính tiền tệ” 15.8.2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường tài chính tiền tệ
8. Tạp chí “Thời báo kinh tế Sài Gòn” 15.4.2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời báo kinh tế Sài Gòn

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w