Tổng quan về các vấn đề xã hội Trong xã hội, chúng ta luôn gặp các vấn đề gây trở ngại, khó khăn, ảnh hưởng đến phúc lợi và hạnh phúc con người cầ được khắc phục.. Qúa trình về vòng đời
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Chúng em xin chân thành cảm ơn giảng viên hướng dẫn Ts Lưu Hồng Minh đã giúp đỡ và hướng dẫn chúng em tận tình trong suốt thời gian học môn
xã học về các vấn đề xã hội , tạo cho chúng em những tiền đề, những kiến thức
để tiếp cận vấn đề, phân tích giải quyết vấn đề
Do kinh nghiệm và kiến thức còn hạn chế, trong quá trình hoàn thành bài tiểu luận không tránh khỏi thiếu sót Chúng em rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ thầy/ cô trong khoa để bài tiểu luận của chúng em được hoàn thiện hơn
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2MỤC LỤC
NỘI DUNG 1
1 Tổng quan về các vấn đề xã hội 1
2 Bối cảnh COVID-19 ở Việt Nam hiện nay 3
2.1 Bối cảnh đại dịch covid-19 tại Việt Nam 3
2.2 Tác động của covid-19 đến nền kinh tế Việt Nam 5
3 Ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 đến các vấn đề xã hội 8
3.1 Covid-19 ảnh hưởng đến hộ gia đình 8
3.2 Tác động của covid-19 đến doanh nghiệp 8
3.3 Tác động của covid-19 đến lao động việc làm 9
4 Những vấn đề nghiên cứu 10
- Tác động của COVID-19 đến hoạt động logistics tại Việt Nam 10
- Tác động của COVID-19 đến nghành du lịch Việt Nam 10
- Phát triển bền vững du lịch Việt Nam thời kì COVID-19 11
- Ảnh hưởng của COVID-19 đến giai cấp công nhân việt nam hiện nay 12
- Tác động của đại dịch Covid-19 với sức khỏe và điều kiện kinh tế - xã hội - việc làm của cán bộ y tế 12
Tài liệu tham khảo 13
Trang 3NỘI DUNG
1 Tổng quan về các vấn đề xã hội
Trong xã hội, chúng ta luôn gặp các vấn đề gây trở ngại, khó khăn, ảnh hưởng đến phúc lợi và hạnh phúc con người cầ được khắc phục Khi những vấn
đề trở ngại khó khăn đối với con người nói chung xã hội học nói riêng khi xảy ra đòi hỏi con người cần tìm hiểu chúng (nó có từ bao giờ? Nảy sinh như thế nào? ) Do đó con người cần nghiên cứu, tìm hiểu để nhận thức về nó, xem xét,
đo lường nó
Qúa trình về vòng đời của một vấn đề xã hội được mô tả như sau: Những vấn đề đó nảy sinh => Nhận thức =>Thảo luận => hành động tập thể => khắc phục vấn đề => xuất hiện vấn đề mới
Có một số điều kiện để trở thành vấn đề xã hội:
• Xã hội đạt được tới sự phát triển nhất định (nhận thức, qui mô, tổ chức,
…)
• Xã hội biến đổi nhanh chóng gây ra những đứt gãy lớn về cấu trúc xã hội
• Xã hội đạt được một mức độ dân chủ nhất định (giáo dục; báo chí; mạng xã hội;…)
Nửa đầu thế kỷ 20, nhiều nhà xã hội học cho rằng: vấn đề xã hội là bệnh
lý học xã hội; do lệch chuẩn hay phi tổ chức xã hội, tuy nhiên nửa sau thế kỷ 20,
họ cho rằng các quan điểm trên chưa bao quát hết ý nghĩa của các vấn đề xã hội
Có 2 dòng định nghĩa:
Dòng định nghĩa 1
Dòng định nghĩa này dựa trên ý kiến công luận, có nhiều người cho rằng vấn đề đó không đáng mong muốn và cân làm gì đó để khắc phục với 4 mệnh đề:
Trang 4- Một vấn đề xã hội không tồn tại đối với xã hội cho đến khi nó được thừa nhận bởi xã hội đó là có tồn tại
- Một vấn đề xã hội tồn tại khi có một sự khác biệt đáng kể giữa cái đang
là và cái mọi nghĩ cần phải là
- Một vấn đề xã hội là một hoàn cảnh xã hội mà một số lượng lớn người trong xã hội hay một vài bộ phận có ảnh hưởng trong xã hội đó coi nó là không đáng mong muốn, cần được quan tâm và sửa đổi
- Một hoàn cảnh xã hội được xem là vấn đề xã hội khi một số lượng lớn người trong xã hội hay một vài bộ phậm có ảnh hưởng trong xã hội đó thừa nhận rằng hoàn cảnh này vi phạm một giá trị hay tiêu chuẩn đã được thừa nhận và do vậy, nó cần phải giảm bớt, khắc phục hoặc được điều trị thông qua hành động tập thể
Dòng định nghĩa 2
Dòng định nghĩa 2 lấy tri thức khoa học làm chuẩn mực để xác định vấn
đề xã hội (Manis, 1985) Quan niệm này xuất hiện trong bối cảnh sự phát triển của khoa học đang trực tiếp dẫn đến các vấn đề xã hội:
- Một vấn đề xã hội là một tương tác giữa tri giác (nhận thức) chủ quan
của xã hội với một hoàn cảnh xã hội khách quan
- Một vấn đề xã hội nảy sinh khi có một khoảng cách hiện thực xã hội
với hệ giá trị, chuẩn mực
- Vấn đề xã hội là một thực tế xã hội có ảnh hưởng xã hội, tức là hệ quả
của nó, không chỉ liên quan đến một hay một ít các cá nhân, mà đến một phạm
vi nhất định trong xã hội
- Vấn đề xã hội cần nhận thức (giác ngộ) trong một nhóm đáng kể dân
chúng hoặc một nhóm các nhân vật có ảnh hưởng
Trang 5- Vấn đề xã hội phải là hiện thực xã hội nảy sinh từ bản thân các hoạt
động của con người và có khả năng giải quyết được thông quan hành động xã hội dưới những hình thái khác nhau
Tóm lại, vấn đề xã hội là một hoàn cảnh xã hội nhất định được nhận thức như một “vấn nạn” của xã hội, nó là một hoàn cảnh sản phẩm của con người, ảnh hưởng đáng kể đến một nhóm người nhất định, được nhận thức bởi một lực lượng xã hội nhất định, có thể và chỉ có thể khắc phục thông qua hành động xã hội Chính vì vậy, xác nhận và giải quyết vấn đề xã hội chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố xã hội như:
1 Hệ giá trị và chuẩn mực của một xã hội cũng như các nhóm xã hội là cơ
sở xác nhận một vấn đề xã hội (với những giá trị và chuẩn mực khác nhau có thể
có hay không phải là vấn đề xã hội)
2 Các lợi ích xã hội và quyền lực xã hội ảnh hưởng hết sức mạnh mẽ việc thừa nhận, đánh giá (xác định qui mô, phạm vi, nguyên nhân) và giải quyết vấn
đề xã hội)
3 Khoa học và kỹ thuật học ngày càng có ảnh hưởng đến niềm tin, giá trị
và chuẩn mực của xã hội Nó cũng cấp các dữ liệu khiến con người nhận thức được dễ hơn các vấn đề xã hội Cộng đồng người làm khoa học và ky thuật học ngày càng trở thành một nhóm xã hội có ảnh hưởng xã hội mạnh mẽ
2 Bối cảnh COVID-19 ở Việt Nam hiện nay
2.1 Bối cảnh đại dịch covid-19 tại Việt Nam
Đại dịch COVID-19 khởi phát từ Trung Quốc, là quốc gia láng giềng ở phía Bắc Việt Nam Do khoảng cách địa lý gần gũi và mật độ đi lại, giao thương bình thường giữa hai quốc gia là khá lớn nên Việt Nam không tránh khỏi ảnh hưởng từ sự lây lan của dịch bệnh Ca nhiễm đầu tiên được ghi nhận ở Việt Nam
là vào ngày 23/1/2020 (một trong những nước đầu tiên bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc đại lục ghi nhận ca nhiễm COVID-19) Tuy vậy, trước phản ứng kịp thời
Trang 6của Chính phủ Việt Nam, dịch COVID-19 đã được kiểm soát tương đối tốt Nhờ
đó Việt Nam đã giảm được đáng kể các thiệt hại về kinh tế cũng như về con người, đặc biệt là khi so sánh với các quốc gia lân cận ở trong cùng hoàn cảnh
Diễn biến về đại dịch COVID-19 tại Việt Nam có thể chia thành 4 giai đoạn chính:
- Giai đoạn 1: Từ khi ghi nhận ca mắc đầu tiên vào ngày 23/1 Giai đoạn này Việt Nam chỉ có 16 ca nhiễm bệnh đều có liên quan trực tiếp đến Vũ Hán, Trung Quốc và sau đó đã được chữa khỏi hoàn toàn
- Giai đoạn 2: Từ khi ghi nhận ca mắc số 17 vào ngày 6/3 Ở giai đoạn này, do dịch bệnh đã lan rộng trên phạm vi toàn thế giới, nên nguồn lây nhiễm
đã bao gồm nhiều quốc gia khác đến từ Châu Âu, Mỹ Số người nhiễm và nghi nhiễm đã tăng lên rất nhiều đòi hỏi những biện pháp quyết liệt hơn từ phía Nhà nước Từ ngày 22/3, Việt Nam đã tạm dừng nhập cảnh đối với người nước ngoài, đồng thời yêu cầu người Việt Nam trở về nước phải cách ly tập trung trong 14 ngày Từ ngày 1/4, Việt Nam cũng tiến hành cách ly xã hội trong vòng
15 ngày
- Giai đoạn 3: Từ khi ghi nhận ca lây nhiễm trong cộng đồng của bệnh nhân thứ 416 tại Đà Nẵng, kết thúc khoảng thời gian 100 ngày không có lây nhiễm trong cộng đồng Trong giai đoạn này Việt Nam cũng ghi nhận những ca
tử vong đầu tiên do COVID-19, chủ yếu ở những bệnh nhân với bệnh nền hiểm nghèo tại ổ dịch bệnh viện Đà Nẵng
Tính đến ngày 29/11/2020, theo thông tin từ Bộ Y Tế, Việt Nam đã ghi nhận 1341 ca nhiễm và 35 ca tử vong, trong đó có 1179 ca đã khỏi và chỉ còn
124 ca đang được điều trị Việt Nam đã trải gần 3 tháng không có ca lây nhiễm trong cộng đồng Các đường bay thương mại đến Việt Nam từ Nhật Bản và Hàn Quố cũng bắt đầu được mở lại sau 6 tháng tạm dừng Ngoài ra, triển vọng về việc có vắc-xin phòng bệnh đã trở nên khả quan hơn khi một số quốc gia đã bắt đầu thử nghiệm trên người ở quy mô lớn Cũng trong ngày này, Việt Nam ghi
Trang 7nhận bệnh nhân số 1342, lây nhiễm trong cộng đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, bằng các biện pháp cách ly quyết liệt, tình hình đã đươc kiểm soát tốt
2.2 Tác động của covid-19 đến nền kinh tế Việt Nam
Mặc dù đại dịch COVID-19 tác động lên nhiều lĩnh vực của nền kinh tế nước ta, nhưng thể hiện tập trung ở hai yếu tố chính là cung và cầu Đối với yếu
tố cầu, dịch bệnh COVID-19 cùng với việc thực hiện biện pháp giãn cách xã hội cần thiết, bắt buộc theo Chỉ thị số 16/CT-TTg, ngày 31-3-2020, của Thủ tướng Chính phủ, “Về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch COVID-19” làm tiêu dùng trong nước sụt giảm mạnh Trong khi đó, các nền kinh tế lớn (Mỹ, Trung Quốc, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc) cũng chịu ảnh hưởng lớn bởi dịch bệnh và thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội dẫn đến tăng trưởng kinh tế suy giảm, kéo theo sự sụt giảm về cầu nhập khẩu, trong đó có hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giảm 0,8% so với cùng kỳ năm 2019 và nếu loại trừ yếu tố giá thì còn giảm mạnh hơn, ở mức 5,3% (cùng
kỳ năm 2019 tăng 8,5%) Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa 6 tháng đầu năm
2020 tăng 3,4% so với cùng kỳ năm 2019 Những mặt hàng thiết yếu đối với cuộc sống như lương thực, thực phẩm, đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng; nhưng những mặt hàng như may mặc, phương tiện đi lại, văn hóa phẩm, giáo dục… chịu ảnh hưởng nặng nề bởi các biện pháp giãn cách xã hội có tốc độ giảm
Cũng trong 6 tháng đầu năm 2020, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống giảm tới 18,1% so với cùng kỳ năm 2019; doanh thu du lịch lữ hành giảm tới 53,2% - đây là lĩnh vực chịu tác động nghiêm trọng nhất bởi dịch bệnh
COVID-19 và từ việc thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội
Trang 8Đối với cầu đầu tư, 6 tháng đầu năm 2020, vốn đầu tư toàn xã hội tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước mức tăng thấp nhất trong giai đoạn 2016
-2020, trong đó khu vực nhà nước tăng 7,4%; khu vực ngoài nhà nước tăng 4,6%
và khu vực FDI giảm 3,8% Trong 6 tháng đầu năm 2019, vốn đầu tư toàn xã hội tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, khu vực nhà nước tăng 3%, khu vực ngoài nhà nước tăng 16,4% và khu vực FDI tăng 9,7% Như vậy, nhu cầu đầu tư của 2 khu vực: khu vực ngoài nhà nước và khu vực FDI sụt giảm trong 6 tháng đầu năm 2020 so với cùng kỳ năm trước Vốn đầu tư khu vực FDI giảm mạnh nhất, từ tăng trưởng 9,7% 6 tháng đầu năm 2019 xuống tăng trưởng
âm 3,8% so với cùng kỳ năm 2020; tăng trưởng vốn đầu tư từ khu vực ngoài nhà nước sụt giảm từ 16,4% 6 tháng đầu năm 2019 xuống còn 7,4% năm so với cùng
kỳ năm 2020 Tuy nhiên, điểm sáng duy nhất là vốn đầu tư của khu vực nhà nước tăng từ 3% 6 tháng đầu năm 2019 lên 7,4% so với cùng kỳ năm 2020 Trong thời điểm nền kinh tế gặp khó khăn và tổng cầu suy giảm, Nhà nước đã đóng vai trò quan trọng nhằm hạn chế sự suy giảm của tổng cầu
Đối với nhu cầu bên ngoài cũng có sự suy giảm, trong 6 tháng đầu năm
2020, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu giảm 1,1% so với cùng kỳ năm 2019, trong
đó khu vực kinh tế trong nước có kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tăng 11,7%; khu vực FDI (kể cả dầu thô) giảm 6,7% Điểm đáng lưu ý, trong 6 tháng đầu năm 2020, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước; khu vực kinh tế trong nước tăng 10,8% và khu vực FDI (kể cả dầu thô) tăng 5,9% Như vậy, khu vực kinh tế trong nước vẫn duy trì được kim ngạch xuất khẩu tăng trên 10%; khu vực FDI có kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2020 giảm và năm 2019 tăng, do đó làm cho kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế tăng vào năm 2019 và giảm vào năm 2020 Thực trạng này cho thấy kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế nước ta phụ thuộc rất lớn vào khu vực FDI và đại dịch COVID-19 tác động tiêu cực đến đầu tư và chuỗi giá trị toàn cầu cũng đang tác động đến xuất khẩu của nền kinh tế nước ta
Trang 9Nhìn chung, do ảnh hưởng đại dịch COVID-19, cầu của nền kinh tế (tiêu dùng, đầu tư, xuất khẩu) bị sụt giảm, từ đó làm suy giảm hoạt động sản xuất và tăng trưởng của nền kinh tế Các biện pháp của Chính phủ đang triển khai hiện nay chủ yếu hướng tới kích thích tổng cầu và phục hồi sản xuất
Đối với yếu tố cung, đại dịch COVID-19 làm đứt gãy chuỗi cung ứng đầu vào và lao động Chẳng hạn, trong ngành công nghiệp ô-tô, do linh kiện đầu vào khan hiếm cùng với thực hiện giãn cách xã hội nên các doanh nghiệp sản xuất
ô-tô trong nước như Honda, Nissan, Toyota, Ford, Hyundai… phải tuyên bố tạm dừng sản xuất, chỉ đến khi thời kỳ giãn cách xã hội kết thúc và chuỗi cung ứng được kết nối trở lại, các doanh nghiệp sản xuất ô-tô mới quay trở lại hoạt động
Nhiều doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có chuyên gia người nước ngoài và người lao động nước ngoài chịu tác động nặng nề từ COVID-19 khi nguồn cung lao động bị thiếu Chi phí sử dụng lao động trong thời kỳ này cũng cao hơn khi các doanh nghiệp phải đầu tư thêm khẩu trang, nước sát khuẩn, thực hiện các biện pháp an toàn trong lao động để tránh lây nhiễm vi-rút
Ở góc độ xã hội, COVID-19 tác động làm tăng tỷ lệ nghèo và cận nghèo
về thu nhập và làm sụt giảm thu nhập tạm thời của hộ gia đình và người lao động Theo kết quả khảo sát của UNDP và UN WOMEN (2020), “trong tháng 12-2019, trung bình tỷ lệ hộ nghèo là 11,3% Tỷ lệ này tăng lên tới 50,7% trong tháng 4-2020 Tỷ lệ hộ cận nghèo tăng từ 3,8% vào tháng 12-2019 lên 6,5% vào tháng 4-2020” Quan trọng hơn, những hộ gia đình thuộc nhóm dân tộc thiểu số
và hộ gia đình có lao động phi chính thức và gia đình những người nhập cư chịu tác động từ dịch bệnh lớn hơn Cũng theo kết quả điều tra của UNDP và UN WOMEN (2020), “thu nhập trung bình của các hộ gia đình dân tộc thiểu số trong tháng 4 và tháng 5-2020 lần lượt chỉ tương ứng 25,0% và 35,7% so với mức tháng 12-2019 Trong khi đó, những con số này cao hơn, lần lượt ước tính khoảng 30,3% và 52% đối với nhóm hộ gia đình người Kinh và người Hoa Trong tháng 4 và tháng 5-2020, thu nhập trung bình của hộ di cư được ước tính
Trang 10chỉ tương đương 25,1% và 43,2% so với mức của tháng 12-2019 Những con số này lần lượt là 30,8% và 52,5% đối với nhóm hộ gia đình không di cư”
COVID-19 tác động lên mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, hoạt động thương mại, lao động, việc làm và thu nhập của người lao động Tuy nhiên, đứng trước cú sốc này, Nhà nước nhanh chóng thực hiện các giải pháp mạnh, trước hết là để hạn chế sự lây lan của dịch bệnh, sau đó là để phát triển kinh tế Các giải pháp đã chứng tỏ thành công bước đầu khi khống chế được dịch bệnh, không để lây lan trong cộng đồng trong thời gian dài (trên 3 tháng) và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, nhất là hoạt động du lịch cũng đang bắt đầu trên con đường khởi sắc trở lại trước khi dịch bệnh bùng phát lần nữa vào cuối tháng 7-2020
3 Ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 đến các vấn đề xã hội
3.1 Covid-19 ảnh hưởng đến hộ gia đình
COVID-19 đã khiến thu nhập của các hộ gia đình và người lao động dễ bị tổn thương bị sụt giảm đáng kể và dẫn đến sự gia tăng nghèo tạm thời về thu nhập và đẩy các hộ nghèo lún sâu hơn vào tình trạng nghèo thu nhập Khác với tình trạng nghèo kinh niên – với thu nhập bình quân đầu người liên tục dưới mức nghèo trong một thời gian dài - nghèo tạm thời liên quan đến sự biến động của thu nhập thay đổi quanh ngưỡng chuẩn nghèo, dẫn đến động thái các hộ gia đình rơi vào hoặc thoát khỏi tình trạng nghèo trong những giai doạn thời gian ngắn Mặc dù không dễ dàng quan sát được trong các thời gian “bình thường”, động thái nghèo đói tạm thời tạo ra mối lo ngại lớn trong bối cảnh khủng hoảng, như đại dịch COVID-19 gây ra Nếu không có chính sách can thiệp đúng đắn và kịp thời, nghèo đói tạm thời có thể thay đổi các đặc điểm cấu trúc của hộ gia đình hoặc lao động, và vì thế họ có thể trở thành các hộ nghèo kinh niên
3.2 Tác động của covid-19 đến doanh nghiệp