1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đại học Bách khoa tp HCM BTL môn Kinh tế Chính trị MácLênin Chủ đề: Lý luận về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và sự phát triển của thành phần kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

41 301 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý luận về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và sự phát triển của thành phần kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Người hướng dẫn Nguyễn Trung Hiếu
Trường học Trường Đại Học Bách Khoa tp HCM
Chuyên ngành Kinh tế Chính trị Mác-Lênin
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 807,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG (8)
    • 1.1 Các khái niệm cơ bản (8)
      • 1.1.1 Thị trường (8)
      • 1.1.2 Kinh tế thị trường (8)
      • 1.1.3 Khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (9)
    • 1.2 Tính tất yếu khách quan của phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (10)
      • 1.2.1 Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phù hợp với xu hướng phát triển khách quan của Việt Nam trong bối cảnh thế giới hiện nay (11)
      • 1.2.2 Do tính ưu việt của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (11)
      • 1.2.3 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với nguyện vọng mong muốn dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh của người dân Việt Nam (12)
    • 1.3 Những đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam (12)
      • 1.3.1 Quá trình nhận thức đi tới nền kinh tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở nước ta (12)
      • 1.3.2 Về hệ thống mục tiêu phát triển (14)
      • 1.3.3 Về quan hệ sở hữu và thành phần kinh tế (16)
      • 1.3.4 Về quan hệ quản lý nền kinh tế (18)
      • 1.3.5 Về quan hệ phân phối (19)
      • 1.3.6 Về quan hệ giữa gán tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội (20)
  • CHƯƠNG 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THÀNH PHẦN KINH TẾ (22)
    • 2.1 Khái quát về thành phần kinh tế tư nhân (22)
      • 2.1.1 Khái niệm về thành phần kinh tế tư nhân (22)
      • 2.1.2 Cơ cấu của thành phần kinh tế tư nhân (22)
      • 2.1.3 Các loại hình tổ chức kinh doanh của kinh tế tư nhân (22)
      • 2.1.4 Vai trò của thành phần kinh tế tư nhân (23)
    • 2.2 Thực trạng phát triển của thành phần kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay (23)
      • 2.2.1 Những thành tựu trong thành phần kinh tế tư nhân và nguyên nhân đạt được những thành tựu đó (23)
      • 2.2.2 Những mặt hạn chế trong thành phần kinh tế tư nhân và nguyên nhân (28)
      • 2.3.1 Phương hướng nhằm thúc đẩy sự phát triển của thành phần kinh tế tư nhân ở nước ta trong thời gian tới (32)
      • 2.3.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy sự phát triển của thành phần (33)
  • KẾT LUẬN (2)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (36)

Nội dung

Đại học Bách khoa tp HCM BTL môn Kinh tế Chính trị MácLênin Chủ đề: Lý luận về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và sự phát triển của thành phần kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay Kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại; không có mô hình KTTT chung cho mọi quốc gia và mọi giai đoạn phát triển. Mỗi nước có những mô hình KTTT khác nhau phù hợp với điều kiện của quốc gia đó. KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một kiểu KTTT phù hợp với Việt Nam, phản ánh trình độ phát triển và điều kiện lịch sử của Việt Nam1, là sự vận dụng sáng tạo của Đảng và là con đường, phương án duy nhất để tạo ra những bước phát triển nhảy vọt cũng như nhiều thành tựu đáng ghi nhận trong lĩnh vực kinh tế lẫn xã hội ở Việt Nam hiện nay. Nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta gồm nhiều thành phần kinh tế, mỗi thành phần kinh tế lại nắm giữa vai trò khác nhau trong trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân: kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển… Trong đó, vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế Việt Nam ngày càng được coi trọng và khuyến khích bằng nhiều biện pháp, chính sách, cơ chế… được Nhà nước đề ra và đã trở thành động lực quan trọng cho sự phát triển và đổi mới của nền kinh tế. Tuy nhiên, trong kinh tế tư nhân cũng đang nảy sinh ra rất nhiều vấn đề cần phải có giải pháp phù hợp để tiếp tục đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế, cũng như giữa được vai trò động lực cho sự phát triển của mình. Nhận thức được vấn đề đó, nhóm đã chọn đề tài: “Lý luận về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và sự phát triển của thành phần kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN

Trang 2

BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM

phân công

% Điểm BTL

Điểm BTL

Ký tên

1 2115013 Ngyễn Trung Tín 1.3 – 2.1 100%

2 2112394 Vũ Ngọc Thuận 1.1 – 1.2 100%

3 2113309 Nguyễn Thị Thu Hằng 2.3 100%

4 2111918 Hứa Hoàng Nhật Mở đầu,

Kết luận 100%

Họ và tên nhóm trưởng: Nguyễn Trung Tín

SốĐT: 0818151188 ;Email:tin.nguyentrungcv259@hcmut.edu.vn

Nhận xét của GV:

….………

……… ………

………

………

GIẢNG VIÊN

(Ký và ghi rõ họ, tên)

Nguyễn Trung Hiếu

NHÓM TRƯỞNG

(Ký và ghi rõ họ, tên)

Nguyễn Trung Tín

Trang 4

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 5

ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM 5

1.1 Các khái niệm cơ bản 5

1.1.1 Thị trường 5

1.1.2 Kinh tế thị trường 5

1.1.3 Khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 6

1.2 Tính tất yếu khách quan của phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 7

1.2.1 Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phù hợp với xu hướng phát triển khách quan của Việt Nam trong bối cảnh thế giới hiện nay 8

1.2.2 Do tính ưu việt của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thúc đẩy phát triển đối với Việt Nam 8

1.2.3 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với nguyện vọng mong muốn dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh của người dân Việt Nam 9

1.3 Những đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam 9

1.3.1 Quá trình nhận thức đi tới nền kinh tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở nước ta 9

1.3.2 Về hệ thống mục tiêu phát triển 11

1.3.3 Về quan hệ sở hữu và thành phần kinh tế 13

1.3.4 Về quan hệ quản lý nền kinh tế 15

1.3.5 Về quan hệ phân phối 16

1.3.6 Về quan hệ giữa gán tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội 17

CHƯƠNG 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THÀNH PHẦN KINH TẾ 19

TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG 19

XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 19

2.1 Khái quát về thành phần kinh tế tư nhân 19

2.1.1 Khái niệm về thành phần kinh tế tư nhân 19

2.1.2 Cơ cấu của thành phần kinh tế tư nhân 19

2.1.3 Các loại hình tổ chức kinh doanh của kinh tế tư nhân 19

2.1.4 Vai trò của thành phần kinh tế tư nhân 20

2.2 Thực trạng phát triển của thành phần kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay 20

2.2.1 Những thành tựu trong thành phần kinh tế tư nhân và nguyên nhân đạt được những thành tựu đó 20

2.2.2 Những mặt hạn chế trong thành phần kinh tế tư nhân và nguyên nhân 25

Trang 5

2.3 Phương hướng và giải pháp thúc đẩy sự phát triển của thành phần kinh tế

tư nhân ở nước ta trong thời gian tới 29

2.3.1 Phương hướng nhằm thúc đẩy sự phát triển của thành phần kinh tế tư nhân ở nước ta trong thời gian tới 29 2.3.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy sự phát triển của thành phần kinh tế tư nhân ở nước ta trong thời gian tới 30

KẾT LUẬN 32 TÀI LIỆU THAM KHẢO 33

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài đối với thực tiễn

Kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại; không có mô hình KTTT chung cho mọi quốc gia và mọi giai đoạn phát triển Mỗi nước có những mô hình KTTT khác nhau phù hợp với điều kiện của quốc gia đó KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một kiểu KTTT phù hợp với Việt Nam, phản ánh trình độ phát triển và điều kiện lịch sử của Việt Nam1, là sự vận dụng sáng tạo của Đảng và là con đường, phương án duy nhất để tạo ra những bước phát triển nhảy vọt cũng như nhiều thành tựu đáng ghi nhận trong lĩnh vực kinh tế lẫn xã hội ở Việt Nam hiện nay

Nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta gồm nhiều thành phần kinh tế, mỗi thành phần kinh tế lại nắm giữa vai trò khác nhau trong trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân: kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển… Trong đó, vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế Việt Nam ngày càng được coi trọng và khuyến khích bằng nhiều biện pháp, chính sách, cơ chế… được Nhà nước đề ra và đã trở thành động lực quan trọng cho sự phát triển và đổi mới của nền kinh tế Tuy nhiên, trong kinh tế tư nhân cũng đang nảy sinh ra rất nhiều vấn đề cần phải có giải pháp phù hợp để tiếp tục đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế, cũng như giữa được vai trò động lực cho sự phát triển của mình

Nhận thức được vấn đề đó, nhóm đã chọn đề tài: “Lý luận về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và sự phát triển của thành phần kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Về đối tượng nghiên cứu: nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam;

Về phạm vi nghiên cứu: sự phát triển của thành phần kinh tế tư nhân trong giai

đoạn từ 2010 đến 2020

3 Mục đích nghiên cứu

1 Bộ Giáo Dục đào tạo (2021), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác- Lê nin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, trang 107

Trang 7

Thứ nhất, làm rõ các khái niệm, tính tất yếu và các đặc trưng của nền KTTT

định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay;

Thứ hai, khái quát về sở hữu tư nhân và thành phần kinh tế tư nhân ở Việt Nam; Thứ ba, phân tích những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của thành phần kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay;

Thứ tư, phân tích những cơ hội và thách thức đối với sự phát triển của thành phần kinh tế tư nhân ở Việt Nam;

Thứ năm, đề xuất định hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của

thành phần kinh tế tư nhân trong thời gian tới

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ yếu nhất là các phương pháp: phương pháp thu thập số liệu; phương pháp phân tích và tổng hợp;

mô hình hóa, thống kê và so sánh…

5 Kết cấu đề tài

Ngoài mục lục, phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm có

2 chương:

Chương 1: Lý luận về nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam

Chương 2: Sự phát triển của thành phần kinh tế tư nhân trong nền KTTT định

hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay

Trang 8

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Thị trường

Thị trường là tổng hòa những QHKT trong đó nhu cầu của các chủ thể được

đáp ứng thông qua việc trao đổi, mua bán với sự xác định giá cả và số lượng hàng hóa, dịch vụ tương ứng với trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội2

Thị trường có thể được nhận diện ở cấp độ cụ thể thông qua các hình thức tổ chức giao dịch, mua bán như chợ, cửa hàng, phòng giao dịch hay siêu thị… Ở cấp độ trừu tượng hơn, là thông qua các mối quan hệ liên quan đến trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch vụ…, là tổng thể các mối QHKT gồm cung, cầu, giá cả; quan hệ hàng - tiền; quan hệ giá trị; quan hệ hợp tác, cạnh tranh; quan hệ trong nước, ngoài nước 3

1.1.2 Kinh tế thị trường

1.1.2.1 Khái niệm kinh tế hàng hóa và cơ chế thị trường

Kinh tế hàng hóa là nền kinh tế có sự phân công lao động và trao đổi hàng hóa,

dịch vụ giữa người này với người khác Nó trái với nền kinh tế tự cung tự cấp trong đó người ta tự sản xuất sản phẩm và tự tiêu dùng4

Cơ chế thị trường là hệ thống các quan hệ mang tính tự điều chỉnh tuân theo

yêu cầu của các quy luật kinh tế, là phương thức cơ bản để phân phối và sử dụng các nguồn vốn, tài nguyên, công nghệ, sức lao động… Cơ chế thị trường được A Smith ví như “một bàn tay vô hình có khả năng tự điều chỉnh các quan hệ kinh tế”5

2 Bộ Giáo Dục đào tạo (2021), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác- Lê nin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, trang 35

3 Bộ Giáo Dục đào tạo (2021), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác- Lê nin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, trang 36

4 Cẩm Hường, Kinh tế hàng hóa và kinh tế thị trường khác nhau như thế nào? truy cập từ:

https://khacnhaugiua.vn/kinh-te-hang-hoa-va-kinh-te-thi-truong-khac-nhau-nhu-the-nao/], truy cập cuối

10/3/2023.

5 Bộ Giáo Dục đào tạo (2021), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác- Lê nin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, trang 38

Trang 9

1.1.2.2 Khái niệm kinh tế thị trường

Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường Đó

là nền KTHH phát triển cao, ở đó mọi quan hệ sản xuất và trao đổi đều được thông qua thị trường, chịu sự tác động, điều tiết của các quy luật thị trường

Sự hình thành kinh tế thị trường là khách quan trong lịch sử: từ kinh tế tự nhiên,

tự túc; kinh tế hàng hóa rồi từ kinh tế hàng hóa phát triển thành kinh tế thị trường Kinh tế thị trường cũng trải qua quá trình phát triển ở các trình độ khác nhau từ kinh tế thị trường sơ khai đến kinh tế thị trường hiện đại ngày nay Kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại

1.1.2.3 Đặc trưng của nền kinh tế thị trường

Thứ nhất, có sự đa dạng của các chủ thể kinh tế, nhiều hình thức sở hữu Các

chủ thể kinh tế bình đẳng trước pháp luật;

Thứ hai, thị trường đóng vai trò quyết định trong việc phân bố các nguồn lực xã

hội thông qua hoạt động của các thị trường bộ phận như thị trường hàng hóa, thị trường dịch vụ, thị trường sức lao động, thị trường tài chính, thị trường bất động sản, thị trường khoa học công nghệ,

Thứ ba, giá cả được hình thành theo nguyên tắc thị rường; cạnh tranh vừa là

môi trường, vừa là động lực thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh; nhà nước là chủ thể thực hiện chức năng quản lý, chức năng kinh tế; thực hiện hiện khắc phục những khuyết tật của thị trường, thúc đẩy những yếu tố tích cực, đảm bảo sự bình đẳng xã hội

và sự ổn định của toàn bộ nền kinh tế

Thứ tư, là kinh tế mở, thị trường trong nước quan hệ mật thiết với thị trường

quốc tế

1.1.3 Khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

KTTT định hướng XHCN là nền kinh tế vận hành theo các quy luật của thị

trường đồng thời góp phần hướng tới từng bước xác lập một xã hội mà ở đó dân giàu,

Trang 10

nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; có sự điều tiết của Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo6

Khái niệm KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam cho thấy dây là nền kinh tế vừa mang những đặc trưng chung của nền KTTT, vừa mang những đặc trưng riêng

Do vận hành theo các quy luật của thị trường nên nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam bao hàm đầy đủ các đặc trưng chung vốn cho của nền KTTT nói chung;

Bên cạnh đó nền KTTT định hướng XHCN lại vừa có những đặc trưng riêng

Thứ nhất, thể hiện ở định hướng XHCN, với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh,

dân chủ, công bằng văn minh” Một hệ giá trị toàn diện bao gồm cả dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh là hệ giá trị của xã hội tương lai mà loài người phải phấn đấu để đạt được; định hướng XHCN thực chất là hướng tới các giá trị cốt lõi ấy Do đó, nền KTTT mà hoạt động của các chủ thể hướng tới góp phần xác lập các giá trị xã hội toàn diện như vậy là nền KTTT định hướng XHCN

Thứ hai, để đạt được những giá trị như vậy, nền KTTT Việt Nam, cũng như các

nền KTTT khác, cần có vai trò điều tiết của Nhà nước; riêng đối với Việt Nam, Nhà nước cần đặt dưới sự lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam

Nhìn chung, nền KTTT định hướng XHCN là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của KTTT, đồng thời bảo đảm định hướng XHCN Đây là kiểu mô hình KTTT phù hợp với đặc trưng lịch sử, trình độ phát triển, hoàn cảnh chính trị - xã hội của Việt Nam7

1.2 Tính tất yếu khách quan của phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Phát triển KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam là tất yếu xuất phát từ những lí

do cơ bản sau:

6 Bộ Giáo Dục đào tạo (2021), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác- Lê nin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, trang 108

7 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội XII

Trang 11

1.2.1 Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phù hợp với

xu hướng phát triển khách quan của Việt Nam trong bối cảnh thế giới hiện nay

Nền KTTT là nền KTHH phát triển ở trình độ cao Sự phát triển của nền KTHH theo các quy luật tất yếu đạt tới trình độ nền KTTT Đó là quy luật Ở Việt Nam, sự hình thành KTTT là tất yếu khách quan vì các điều kiện cho sự hình thành và phát triển KTTT đang tồn tại khách quan

Mong muốn dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh là mong muốn chung của nhiều quốc gia trên thế giới, việc hướng tới xác lập những giá trị đó trong nền KTTT ở Việt Nam là tất yếu, phù hợp Song không thể có một định nghĩa KTTT trừu tượng chung cho mọi quốc gia, dân tộc Thực tiễn cho thấy, KTTT TBCN đã đạt đến giai đoạn phát triển cao và phồn thịnh ở các nước phát triển; song những mâu thuẫn vốn có trong lòng xã hội tư bản vẫn không khắc phục được hoàn toàn Muốn tiếp tục phát triển thì không chỉ thể dừng lại ở KTTT TBCN Do đó, sự lựa chọn mô hình KTTT định hướng XHCN của Việt Nam là phù hợp với xu thế thời đại

và đặc điểm phát triển của dân tộc

1.2.2 Do tính ưu việt của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thúc đẩy phát triển đối với Việt Nam

Thực tiễn cho thấy, KTTT là phương thức phân bổ nguồn lực hiệu quả so với các mô hình kinh tế phi thị trường, là động lực thúc đẩy LLSX phát triển nhanh và có hiệu quả Dưới tác động của các quy luật thị trường nền kinh tế luôn phát triển theo hướng năng động, kích thích tiến bộ kỹ thuật – công nghệ, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và giá thành hạ Xét trên góc độ đó, sự phát triển của KTTT không hề mâu thuẫn với mục tiêu của CNXH

Do vậy, trong phát triển của Việt Nam cần phải phát triển KTTT để thúc đẩy LLSX phát triển nhanh và có hiệu quả, thực hiện mục tiêu của CNXH là “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Tuy nhiên, trong quá trình phát triển KTTT cần chú ý tới những thất bại và khuyết tật của thị trường để có sự can thiệp, điều tiết kịp thời của nhà nước pháp quyền XHCN Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn cách làm, bước đi đúng quy luật kinh tế khách quan để đi đến mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Trang 12

1.2.3 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với nguyện vọng mong muốn dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh của người dân Việt Nam

Trên thế giới có nhiều mô hình KTTT, nhưng nếu việc phát triển mà dẫn tới tình trạng dân không giàu, nước không mạnh, thiếu dân chủ, kém văn minh thì không quốc gia nào mong muốn Cho nên, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh là khát vọng của nhân dân Việt Nam Để hiện thực hóa khát vọng như vậy, việc thực hiện KTTT mà trong đó hướng tới những giá trị mới, do

đó là tất yếu khách quan

Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam, các điều kiện cần cho sự ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa như: phân công lao động xã hội, các hình thức khác nhau của sở hữu TLSX… không hề mất đi Vì thế, nền KTTT sẽ còn tồn tại lâu dài ở nước

ta và việc hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là một tất yếu khách quan

Phát triển KTTT định hướng XHCN sẽ phá vỡ tính chất tự cung, tự cấp, lạc hậu của nền kinh tế; thúc đẩy LLSX phát triển; tăng cường tích tụ và tập trung sản xuất; tạo cơ chế phân bổ và sử dụng nguồn lực xã hội hợp lí… Điều này là phù hợp với khát vọng của người dân Việt Nam

1.3 Những đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam

1.3.1 Quá trình nhận thức đi tới nền kinh tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở nước ta

Sau những năm tháng kháng chiến chống giặc ngoại xâm, chúng ta cũng dần giành lại nền độc lập cho riêng mình, thành lập bộ máy Nhà Nước để chăm lo cho đời sống người dân Cũng chính bởi sự non trẻ từ những ngày đầu thành lập, khó khăn sau chiến tranh, Mỹ cấm vận, chúng ta chưa có cái nhìn sâu xa, tầm nhìn dài hạn nên không thể tránh khỏi khi đưa ra những quyết định “nóng vội” dẫn đến những sai lầm như những năm 1975 nền kinh tế kế hoạch hóa “bao cấp” Càng làm đời sống người dân rơi vào khốn khó, lầm than Tuy vậy, Nhà nước đã nhanh chóng nhìn nhận lại

Trang 13

những quyết định vội vàng, thiếu sáng suốt của mình và sửa chữa bằng cách đưa đất nước vào con đường đổi mới năm 1986

Tại đại hội của Đảng (1986) mở ra thời kỳ đổi mới đất nước, đã phê phán sâu sắc các quan điểm chủ trương giáo điều, chủ quan, nóng vội, duy ý chí, không tôn trọng quy luật khách quan trong đường lối phát triển kinh tế đất nước Đại hội đề ra đường lối đổi mới để đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế- xã hội Tuy nhiên ở thời điểm này, quan điểm của Đảng tập trung vào tháo gỡ những rào cản, những yếu tổ cản trở, kìm hãm sản xuất để giải phóng sức sản xuất còn quan điểm về phát triển nền kinh tế thị trường mới ở những ý tưởng ban đầu Tiếp nối ý tưởng ban đầu đó, Đại hội VII của Đảng (1991) đã hình thành quan điểm về phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa và Đại hội VIII của Đảng (1996) tiếp tục khẳng định chủ trương “phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Và đến Đại hội IX của Đảng (2001) lần đầu tiên xác định

“nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” và đó là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên xã hội chủ nghĩa Sau đó, ở các kì Đại hội X (2006) và XI (2011) của Đảng

đã lần lượt nêu rõ phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và xác định hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một trong ba đột phá chiến lược để phát triển đất nước Cuối cùng, tổng kết 30 năm đổi mới đất nước, tại Đại hội XII của Đảng đã thể hiện những nhận thức mới nhất, đầy đủ nhất về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa8

Đại hội đã xác định nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền kinh tế mang những đặc trưng phản ánh điều kiện lịch sử khách quan ở Việt Nam, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của

8Nguyễn Văn Thạo (2019) Nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa qua những năm đổi

mới Truy cập từ:

http://hdll.vn/vi/nghien-cuu -trao-doi/nhan-thuc-ve-kinh-te-thi-truong-dinh-huong-xa-hoi-chunghia-qua-nhung-nam-doi-moi.html

Trang 14

đất nước Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không đối lập một cách trừu tượng với nền kinh tế thị trường của các quốc gia khác trên thế giới, bởi về cơ bản nó bao hàm những đặc điểm chung của các nền kinh tế khác Bên cạnh

đó, nền kinh tế thị trường ở nước ta là nền kinh tế hiện đại và hội nhập quốc tế, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

1.3.2 Về hệ thống mục tiêu phát triển

1.3.2.1 Mục tiêu kinh tế – xã hội – văn hóa

KTTT định hướng XHCN là hướng tới phát triển LLSX, xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật của CNXH kết hợp với xây dựng QHSX tiến bộ, phù hợp nhằm ngày càng hoàn thiện cơ sở kinh tế- xã hội của CNXH Đồng thời, việc sử dụng cơ chế thị trường cùng các hình thức và phương pháp quản lý của KTTT là để kích thích sản xuất, khuyến khích sự năng động, sáng tạo của người lao động, giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo đảm từng bước xây dựng thành công CNXH 9

1.3.2.2 Mục tiêu chính trị – xã hội

Thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Đây chính là sự khác biệt về mục tiêu giữa KTTT của nước ta so với các nền KTTT khác Mục tiêu này bắt nguồn từ cơ sở kinh tế- xã hội của thời kỳ quá độ lên CNXH và là sự phản ánh mục tiêu chính trị- xã hội mà nhân dân ta đang phân đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Bởi lẽ, mục tiêu đó bắt nguồn từ cơ sở kinh tế - xã hội trong thời kì quá độ vượt bậc lên CNXH là sự phản ánh mục tiêu chính trị - xã hội mà nhân dân ta đang phấn đấu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” bao gồm năm mục tiêu chính tồn tại trong mối quan hệ thống nhất:

Dân giàu là tạo ra một xã hội mà nơi đó người dân giàu có, sung túc về vật chất,

là cơ sở để thỏa mãn như cầu tinh thần đa dạng, phong phú của riêng mỗi người Vấn

đề này cũng đã được chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập, khi người cho rằng: “Nếu nước độc

9 Bộ Giáo Dục đào tạo (2021), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác- Lê nin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, trang 112

Trang 15

lập mà dân không hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì”10 Và trong bài viết của bản thân mình, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã rất nhiều lần, nhấn mạnh đến mục tiêu này, rằng “Xã hội XHCN là xã hội hướng tới giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội, hài hòa với lợi ích chính đáng của con người”, “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá của con người”11

Nước mạnh – một quốc gia mạnh là một quốc gia mạnh toàn diện về cả nội lực

và ngoại lực của quốc gia đó Là sự tổng hợp từ văn hóa, kinh tế, chính trị và cả quốc phòng trong việc nâng cao vị thế quốc tế của cả một dân tộc, một đất nước Nhận thức

rõ về điều này, Đảng ta đã khẳng định: “Có CNXH, Tổ quốc ta mới có kinh tế hiện đại, văn hóa khoa học tiên tiến, quốc phòng vững mạnh; do đó bảo đảm cho đất nước ta vĩnh viễn độc lập tự do và ngày phát triển phồn vinh”12

Dân chủ theo chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”13, cũng có thể hiệu là nền xã hội vì nhân dân, lấy nhân dân làm gốc mà phát triển, như câu “dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra” Trong bài viết của mình, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng nhấn mạnh: “Dân chủ

là bản chất của chế độ XHCN, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng CNXH, xây dựng nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng VIệt Nam Chúng ta chủ trưởng không ngừng phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN thực sự của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, trên cơ sở liên minh giữa công nhân, nông dân và tri thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”

Công bằng là một mục tiêu không thể thiếu khi chúng ta muốn phát triển nền XHCN một cách đúng đắn và hiệu quả Bởi lẽ “không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng” Chúng ta muốn những áp bức, bóc lột, bất công của xã hội cũ, muốn dân giàu, nước mạnh mà thiếu công bằng sẽ gây ra những hậu quả khôn lường do bất bình đẳng

10 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, H, 2011, trang 64

11 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (2021) “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” Truy cập từ: https://nhandan.vn/mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-ve-chu-nghia-xa-hoi-va-con- duong-di-len-chu-nghia-xa-hoi-o-viet-nam-post646305.html

12 Đảng Cộng Sản Việt Nam (1977), Báo cáo chính trị của BCH Tư Đảng tại ĐHĐBTQ lần thứ IV, trang 40,41

13 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 6, Nxb CTQG, H, 2000, trang 515

Trang 16

trong xã hội Dễ gây ra hỗn loạn, xung đột để lại những tác hại mà chúng ta phải mất rất lâu thời gian sau này mới có thể thay đổi được

Văn minh không chỉ là là văn minh vật chất – kỹ thuật mà còn là văn minh tinh thần, không chỉ trong mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên mà còn là giữa người với người, văn minh trong tổ chức xã hội, văn minh trong cuộc sống và lối sống của bản thân mình Đây là đích đến mà chúng ta hướng đến, là kết quả của sự kế thừa những thành tựu văn minh nhân loại kết hợp với sự kế thừa những giá trị tốt đẹp của truyền thống dân tộc Xã hội XHCN phải là một xã hội hiện đại, văn minh, giàu bản sắc dân tộc14

Cả năm mục tiêu trên là sự tổng quát, gắn kết không tách rời bà bổ sung cho nhau, mục tiêu này làm cơ sở, điều kiện, tiền đề cho mục tiêu kia Tất cả đều là những giá trị bền vững, lâu dài, từng bước thực hiện hóa trong quá trình xây dựng và đổi mới đất nước trên hành trình XHCN ở nước ta

Bên cạnh việc phát triển LLSX hiện đại, quá trình phát triển KTTT ở Việt Nam còn gắn với xây dựng quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp nhằm thúc đẩy, ngày càng hoàn thiện cơ sở kinh tế - xã hội của CNXH

Việc sử dụng cơ chế thị trường, cùng các hình thức, phương pháp quản lý nhằm kích thích sự sáng tạo, sức sản xuất, năng động của cong người lao động Từ đó thúc tiến, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo đảm từng bước xây dựng thành công CNXH

1.3.3 Về quan hệ sở hữu và thành phần kinh tế

Sở hữu bao hàm nội dung kinh tế và nội dung pháp lí

Về nội dung kinh tế, sở hữu là cơ sở, là điều kiện của sản xuất Nội dung kinh tế

biểu hiện ở khía cạnh những lợi ích, trước hết là những lợi ích kinh tế mà chủ thể sở hữu sẽ được thụ hưởng khi xác định đối tượng sở hữu đó thuộc về mình trước các quan

hệ với người khác Vì vậy, khi có sự thay đổi phạm vi và quy mô các đối tượng sở hữu, địa vị của các chủ thể sở hữu sẽ thay đổi trong đời sống xã hội hiện thực

14 Trần Hữu Tiến (2007), “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, tạp chí Cộng Sản

Trang 17

Về nội dung pháp lý, sở hữu thể hiện những quy định mang tính chất pháp luật

về quyền hạn, nghĩa vụ của chủ thể sở hữu Về mặt pháp lý, sở hữu giả định và đòi hỏi

sự thừa nhận về mặt luật pháp Khi đó, những lợi ích kinh tế mà chủ thể sở hữu được thụ hưởng sẽ không bị các chủ thể khác phản đối; việc thụ hưởng được coi là chính đáng và hợp pháp

Nội dung kinh tế và nội dung pháp lý của sở hữu thống nhất biện chứng trong một chỉnh thể Nội dung pháp lý là phương thức để thực hiện lợi ích một cách chính đáng Khi không xét trong nội dung pháp lý, lợi ích biểu hiện tập trung của nội dung kinh tế không được thực hiện một cách hợp pháp Khi không xét tới nội dung kinh tế, nội dung pháp lý của sở hữu chỉ mang giá trị về mặt hình thức

Về thành phần kinh tế, trong văn kiện Đại hội XII của Đảng chỉ ra rằng, có 4

nền kinh tế mà chúng ta cần quan tâm:

Thứ nhất, kinh tế nhà nước là nền kinh tế tập trung vào những lĩnh vực trọng

điểm và những địa điểm có vị trí chiến lược về cả phương diện kinh tế và quốc phòng

Thứ hai, kinh tế tập thể, hợp tác xã là nền kinh tế dựa trên việc hợp tác mà hai

bên cùng đạt được những lợi ích mà mình mong muốn, áp dụng những phương thức quản lý, vận hành và sản xuất tiên tiến

Thứ ba, kinh tế tư nhân là nền kinh tế mà nhà nước khuyến khích, thúc đẩy phát

triển ở hầu hết mọi ngành nghề, lĩnh vực kinh tế và góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước

Thứ tư, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong nền kinh

tế Việt Nam, bởi lẽ đây là con đường quan trọng trong việc chuyển giao công nghệ, giúp Việt Nam giao tiếp và bắt kịp với những công nghệ hiện đại trên toàn thế giới Là cầu nối không thể thiếu, chống lại sự lạc hậu, thụt lùi với các nền kinh tế ở các quốc gia khác

KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam là nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác, cạnh tranh cùng phát triển theo pháp luật Vì thế, phát triển nền kinh tế thị

Trang 18

trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không chỉ là quản lý, củng cố nền kinh tế công hữu xuất phát từ nhà nước mà còn là sự thúc đẩy phát triển đa dạng các loại hình kinh tế khác, đặc biệt là kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân, từ đó khai thác đầy

đủ, toàn diện ở mọi lĩnh vực, mọi nguồn lực, nâng cấp hiệu quả kinh tế và phát huy hết tiềm năng của các thành phần kinh tế vào sự phát triển chung của đất nước15

1.3.4 Về quan hệ quản lý nền kinh tế

Trong nhiều nền KTTT trên thế giới, nhà nước đều có vai trò điều tiết, can thiệp vào quá trình phát triển kinh tế của thị trường nhằm khắc phục những hạn chế, khuyết tật vốn có của thị trường và định hướng chúng theo mục tiêu đã được đề ra Các quốc gia như Trung Quốc, Lào hay cả Việt Nam đều định hướng phát triển theo nền KTTT định hướng XHCN nhưng quan hệ quản lý nền kinh tế lại rất khác nhau, được hình thành theo quá trình xây dựng và phát triển của kinh tế - xã hội của quốc gia đó Ở Việt Nam có đặc trưng riêng, đó là: Nhà nước quản lý và thực hành cơ chế quản lý là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, chịu sự giám sát của nhân dân

Đảng lãnh đạo nền KTTT định hướng XHCN thông qua cương lĩnh, đường lối phát triển kinh tế - xã hội và các chủ trương, quyết sách lớn trong từng thời kỳ phát triển của đất nước, là yếu tố quan trọng bảo đảm tính định hướng XHCN của nền KTTT

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của nhà nước góp phần giúp nền kinh tế khắc phục những hạn chế, khiếm khuyết của thị trường của thị trường và định hướng theo những mục tiêu đã định ra ban đầu Khi

đã đề ra đường lối, con đường phải đi, nhà nước tiến hành từng bước quản lý nền kinh

tế thông qua pháp luật, các chiến lược, kế hoạch, quy hoạch và cơ chế chính sách trên

cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của các nền kinh tế trên toàn thế giới nhưng phải phù hợp với định hướng xây dựng nền kinh tế XHCN ở Việt Nam Một ví dụ điển hình trong tình hình đại dịch Covid 19 kết hợp với những biến động về chính trị lẫn kinh tế trên thế giới làm cho giá xăng cho xu hướng tăng một cách chóng mặt, tạo ra một cú sốc cho nền kinh tế Việt Nam Trước tình hình đó, Nhà nước đã sử dụng các công cụ

15 Bộ Giáo Dục đào tạo (2021), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác- Lê nin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, trang 114

Trang 19

như thuế xuất nhập khẩu xăng dầu hoặc thông qua quỹ bình ổn xăng dầu để điều hòa giá xăng trong nước nhằm hạn chế tối đa nguy cơ khủng hoảng kinh tế16

Bên cạnh đó, nhà nước còn góp phần xây dựng và hoàn thiện dần thể chế chính trị định hướng XHCN, tạo môi trường cởi mở, từ đó phát triển đồng bộ nhiều loại thị trường tạo sự đa dạng, phát triển cho nền kinh tế Việt Nam Không những thế, còn không ngừng khuyến khích, các thành phần kinh tế phát huy mọi nguồn lực để mở mang kinh doanh, thị trường của chính bản thân mình trong tư thế cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng có trật tự Cùng với đó, nhà nước còn tác động vào thị trường nhằm đảm bảo tính bền vững của các cân đối kinh tế vĩ mô, khắc phục những khuyết tật to lớn của nền KTTT, khủng hoảng chu kỳ, khủng hoảng cơ cấu, khủng hoảng tài chính – tiền tệ, thảm họa thiên tai, nhân tai,… Bên cạnh đó nhà nước còn góp phần hỗ trợ thị trường trong nước khi cần thiết, hỗ trợ nhóm dân cư thu nhập thấp, gặp rủi ro trong cuộc sống … nhằm giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo và sự bất bình đẳng trong xã hội

mà KTTT mang lại17

1.3.5 Về quan hệ phân phối

Nền KTTT định hướng XHCN là nền kinh tế nhiều thành phần với sự đa dạng hóa các loại hình sở hữu và do vậy thích ứng với nó là các loại hình phân phối khác nhau ở cả đầu vào và đầu ra của nền kinh tế Do vậy, việc thực hiện nhiều hình thức phân phối ở nước ta sẽ có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống cho mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, bảo đảm công bằng xã hội trong sử dụng các nguồn lực kinh tế và đóng góp của họ trong quá trình lao động và sản xuất kinh doanh18 Cụ thể, chúng ta có một số hình thức phân phối như sau:

Thứ nhất, phân phối theo kết quả lao động có bản chất là dựa trên kết quả về

chất lượng, số lượng lao động, làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít

16 Trần Hoàng Hải (2021) Đặc trưng của Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Truy cập từ:

huongxa-hoi-chu-nghia-18.html

https://giasuglory.edu.vn/ly-luan-chinh-tri/kinh-te-chinh-tri-mac-lenin/dac-trung-cua-kinh-te-thi-truong-dinh-17 Bộ Giáo Dục đào tạo (2021), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác- Lê nin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, trang 115

18 Bộ Giáo Dục đào tạo (2021), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác- Lê nin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, trang 116

Trang 20

Thứ hai, phân phối theo hiệu quả kinh tế, theo mức đóng góp vốn (ví dụ như

dựa trên kết quả sản xuất kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp lỗ hay lãi hoặc dựa trên lợi tức đóng góp vốn là nhiều hay ít)

Thứ ba, phân phối thông qua hệ thống phúc lợi tập thể và xã hội (ví dụ như hệ

thống quỹ phúc lợi hưu trí, quỹ xóa đói giảm nghèo, các công trình phúc lợi xã hội

mà nhân dân được hưởng)

Nền kinh tế ở Việt Nam thực hiện phân phối công bằng các yếu tố sản xuất, tiếp cận và sử dụng các cơ hội, điều kiện phát triển của mọi chủ thể kinh tế để từ đó tiến tới xây dựng xã hội mọi người đều giàu có “cơm ăn, áo mặc”, đồng thời từ đó cũng phân phối kết quả thành quả đóng góp, hiệu quả kinh tế theo mức đóng góp của từng chủ thể kinh tế đóng góp vào thông qua các hệ thống, công cụ của nhà nước như hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội Tuy vậy quan hệ phân phối vẫn bị chi phối bởi quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất Phân phối theo lao động và hiệu quả kinh tế, phân phối theo phúc lợi là hai hình thức phân phối mang đậm sắc nền KTTT định hướng XHCN

1.3.6 Về quan hệ giữa gán tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội

Nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam thực hiện song hành cả hai mục tiêu vừa tăng trưởng kinh tế gắn liền với công bằng xã hội, phát triển kinh tế đi đôi với phát triển xã hội – văn hóa, thể hiện rõ trong từng chính sách được nhà được ban hành, tuyên bố, từng kế hoạch và giai đoạn của nền kinh tế

Đây là nét đặc trưng rất riêng của nền kinh tế ở Việt Nam phản ảnh một cách rõ ràng về định hướng XHCN Bởi tiến bộ trong văn hóa, công bằng trong xã hội không những góp phần vào việc ổn định và phát triển bền vững nền kinh tế của chúng ta mà còn là bản chất tốt đẹp của chế độ XHCN mà chúng ta hướng đến Hiện tại, do những tác động tiêu cực của nền kinh tế TBCN mang lại bùng lên những vấn đề xã hội vốn đã gay gắt càng thêm gay gắt hơn như phân biệt sắc tộc, màu da, địa vị xã hội và phân hóa giàu nghèo… đe dọa rất lớn tới sự tồn vong của chính nền kinh tế tư bản, vì thế họ

đã đề ra những cách thức, giải pháp giải quyết vấn đề này nhưng chỉ nằm trong khuôn khổ tính chất tư bản để duy trì sự phát triển của chế độ mà không phải là giải quyết gốc rễ của vấn đề xã hội này Còn tại nền kinh tế định hướng XHCN, “công bằng, bình đẳng, bác ái” có thể nói là kim chỉ nam cho sự phát triển bền vững, ổn định của nền

Ngày đăng: 10/06/2023, 21:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo Dục đào tạo (2021), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác- Lê nin, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế chính trị Mác- Lê nin
Tác giả: Bộ Giáo Dục đào tạo
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2021
2. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1977), “Báo cáo chính trị của BCH Tư Đảng tại ĐHĐBTQ lần thứ IV” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của BCH Tư Đảng tại ĐHĐBTQ lần thứ IV
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Năm: 1977
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội XII 4. Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, H, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội XII 4. Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 4
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2011
8. ThS. Trần Thị Hoa (2022), “Thực trạng và giải pháp phát triển thành phần kinh tế tư nhân”, Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật công nghiệp. Truy cập từhttps://tapchitaichinh.vn/thuc-trang-va-giai-phap-phat-trien-thanh-phan-kinh-te-tu-nhan.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp phát triển thành phần kinh tế tư nhân
Tác giả: ThS. Trần Thị Hoa
Nhà XB: Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật công nghiệp
Năm: 2022
9. Trần Hữu Tiến (2007), “Dân giàu, nước mạnh, xã hội, công bằng, văn minh”, tạp chí Cộng Sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân giàu, nước mạnh, xã hội, công bằng, văn minh
Tác giả: Trần Hữu Tiến
Nhà XB: tạp chí Cộng Sản
Năm: 2007
10. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (2021), “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Phú Trọng
Năm: 2021
11. Nguyễn Văn Thạo (2019), “Nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa qua những năm đổi mới”. Truy cập từ: https://hdll.vn/vi/nghien-cuu---trao-doi/nhan-thuc-ve-kinh-te-thi-truong-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-qua-nhung-nam-doi-moi.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa qua những năm đổi mới
Tác giả: Nguyễn Văn Thạo
Nhà XB: Hội đồng Lý luận Trung ương
Năm: 2019

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w