PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN VÀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ Chương 1: Tổng quan về kiểm toán 1.1. Khái niệm kiểm toán 1.2. Tổng quan kiểm toán trong lĩnh vực công của cơ quan kiểm toán tối cao Câu hỏi ôn tập chương 1 Chương 2: Tổng quan về dự án đầu tư 2.1. Mục đích và yêu cầu của quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình 2.2. Khái niệm về dự án đầu tư xây dựng công trình 2.3. Trình tự đầu tư xây dựng công trình Câu hỏi ôn tập chương 2 Chương 3: Tổng quan về kiểm toán dự án đầu tư 3.1. Khái niệm kiểm toán dự án xây dựng công trình trong khu vực công 3.2. Mục tiêu, nội dung và phạm vi kiểm toán 3.3. Bằng chứng kiểm toán Câu hỏi ôn tập chương 3 PHẦN 2: QUY TRÌNH KIỂM TOÁN VÀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ Chương 4: Lập kế hoạch kiểm toán dự án xây dựng công trình 4.1. Tổng quan về kế hoạch kiểm toán 4.2. Khảo sát, thu thập thông tin về dự án đầu tư và đánh giá rủi ro dự án 4.3. Xác định trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán dự án đầu tư 4.4. Hệ thống kiểm soát quản lý dự án và rủi ro kiểm soát 4.5. Đánh giá rủi ro do không tuân thủ pháp luật và gian lận Câu hỏi ôn tập chương 4 Chương 5: Lập kế hoạch kiểm toán dự án xây dựng công trình 5.1. Xác định rủi ro có sai lệch trọng yếu còn lại 5.2. Thiết kế các thủ tục kiểm toán để thu thập bằng chứng kiểm toán 5.3. Xây dựng chương trình kiểm toán 5.4. Thực hiện các thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản giao dịch 5.5. Thực hiện các thủ tục phân tích và thử nghiệm chi tiết số dư 5.6. Hoàn thành kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán Câu hỏi ôn tập chương 5 PHẦN 3: VẬN DỤNG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN QUY TRÌNH NGHIỆM THUTHANH TOÁN VÀ QUYẾT TOÁN DỰ ÁN HOÀN THÀNH Chương 6: Vận dụng quy trình kiểm toán trong kiểm toán quy trình chi phí đầu tư thực hiện 6.1. Quy trình quản lý chi phí đầu tư 6.2. Phương pháp luận thiết kế các thử nghiệm kiểm soát và các thử nghiệm cơ bản giao dịch đối vơí quy trình nghiệm thu thanh toán 6.3. Chọn mẫu kiểm toán Câu hỏi ôn tập chương 6 Chương 7: Kiểm toán quyết toán dự án hoàn thành 7.1. Phương pháp luận thiết kế thử nghiệm chi tiết số dư khoản mục chi phí đầu tư 7.2. Thiết kế và thực hiện các thử nghiệm chi tiết số dư các khoản mục chi phí 7.3. Chọn mẫu kiểm toán đối với các thử nghiệm chi tiết số dư 7.4. Một số sai sót thường gặp 7.5. Hoàn thành kiểm toán báo cáo quyết toán dự án đầu tư Câu hỏi ôn tập chương 7 Tài liệu tham khảo
Trang 2GIÁO TRÌNH KIỂM TOÁN DỰ ÁN ĐẦU TƯ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
“Kiểm toán dự án đầu tư xây dựng” là môn học chuyên ngành trong chương
trình đào tạo cử nhân - kỹ sư ngành Kinh tế xây dựng Môn học cung cấp cho sinh viên những kiến thức và nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kiểm toán các dự án xây dựng
Giáo trình “Kiểm toán dự án đầu tư xây dựng” được biên soạn trên cơ sở kế
thừa lý thuyết kiểm toán, kiểm toán báo cáo tài chính và kiểm toán dự án đầu tư xây dựng được đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn của các tác giả nhằm cung cấp các khối kiến thức cơ bản về kiểm toán nói chung và kiểm toán dự án đầu tư xây dựng nói riêng phù hợp với thực tiễn hoạt động kiểm toán do các Kiểm toán nhà nước Việt Nam và các công ty kiểm toán độc lập đang thực hiện
Giáo trình được biên soạn nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu học tập và nghiên cứu của sinh viên ngành Kinh tế Xây dựng đồng thời cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các đối tượng hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán, xây dựng
Giáo trình “Kiểm toán dự án đầu tư xây dựng”được biên soạn lần đầu, mặc dù
đã có nhiều cố gắng nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi rất mong được sự góp ý của các thầy, các đồng nghiệp và tất cả bạn đọc để tài liệu được hoàn chỉnh trong lần tái bản sau
Mọi đóng góp xin gửi về địa chỉ: Bộ môn Kinh tế Xây dựng, Khoa Kinh tế Vận tải, Trường Đại học Giao thông Vận tải TP.HCM
Các tác giả
Trang 5PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN VÀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
Chương 1: Tổng quan về kiểm toán
1.1 Khái niệm kiểm toán
1.2 Tổng quan kiểm toán trong lĩnh vực công của cơ quan kiểm toán tối cao
Câu hỏi ôn tập chương 1
Chương 2: Tổng quan về dự án đầu tư
2.1 Mục đích và yêu cầu của quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
2.2 Khái niệm về dự án đầu tư xây dựng công trình
2.3 Trình tự đầu tư xây dựng công trình
Câu hỏi ôn tập chương 2
Chương 3: Tổng quan về kiểm toán dự án đầu tư
3.1 Khái niệm kiểm toán dự án xây dựng công trình trong khu vực công
3.2 Mục tiêu, nội dung và phạm vi kiểm toán
3.3 Bằng chứng kiểm toán
Câu hỏi ôn tập chương 3
PHẦN 2: QUY TRÌNH KIỂM TOÁN VÀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
Chương 4: Lập kế hoạch kiểm toán dự án xây dựng công trình
4.1 Tổng quan về kế hoạch kiểm toán
4.2 Khảo sát, thu thập thông tin về dự án đầu tư và đánh giá rủi ro dự án
4.3 Xác định trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán dự án đầu tư
4.4 Hệ thống kiểm soát quản lý dự án và rủi ro kiểm soát
4.5 Đánh giá rủi ro do không tuân thủ pháp luật và gian lận
Câu hỏi ôn tập chương 4
Chương 5: Lập kế hoạch kiểm toán dự án xây dựng công trình
5.1 Xác định rủi ro có sai lệch trọng yếu còn lại
Trang 65.2 Thiết kế các thủ tục kiểm toán để thu thập bằng chứng kiểm toán
5.3 Xây dựng chương trình kiểm toán
5.4 Thực hiện các thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản giao dịch
5.5 Thực hiện các thủ tục phân tích và thử nghiệm chi tiết số dư
5.6 Hoàn thành kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán
Câu hỏi ôn tập chương 5
PHẦN 3: VẬN DỤNG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN QUY TRÌNH NGHIỆM THU-THANH TOÁN VÀ QUYẾT TOÁN DỰ ÁN HOÀN THÀNH
Chương 6: Vận dụng quy trình kiểm toán trong kiểm toán quy trình chi phí đầu tư thực hiện
6.1 Quy trình quản lý chi phí đầu tư
6.2 Phương pháp luận thiết kế các thử nghiệm kiểm soát và các thử nghiệm
cơ bản giao dịch đối vơí quy trình nghiệm thu - thanh toán
6.3 Chọn mẫu kiểm toán
Câu hỏi ôn tập chương 6
Chương 7: Kiểm toán quyết toán dự án hoàn thành
7.1 Phương pháp luận thiết kế thử nghiệm chi tiết số dư khoản mục chi phí đầu tư
7.2 Thiết kế và thực hiện các thử nghiệm chi tiết số dư các khoản mục chi phí
7.3 Chọn mẫu kiểm toán đối với các thử nghiệm chi tiết số dư
7.4 Một số sai sót thường gặp
7.5 Hoàn thành kiểm toán báo cáo quyết toán dự án đầu tư
Câu hỏi ôn tập chương 7
Tài liệu tham khảo
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1 Ví dụ về ba loại hình kiểm toán
Bảng 2.1 Các loại dự án đầu tư xây dựng công trình
Bảng 2.2 Nội dung đáng giá dự án sử dụng nguồn vốn khác
Bảng 2.3 Các nội dung chủ yếu của giám sát thi công xây dựng công trình
Bảng 2.4 Các hình thức hợp đồng xây dựng
Bảng 3.1 Mục tiêu kiểm toán tổng thể theo từng hình thức kiểm toán
Bảng 3.2 Phân biệt các sai lệch trọng yếu
Bảng 3.3 Cơ sở dẫn liệu về độ tin cậy của thông tin trên Báo cáo QTDAĐT
Bảng 3.4 Cơ sở dẫn liệu về chấp hành pháp luật
Bảng 3.5 Mỗi quan hệ giữa quyết định thu thập bằng chứng và mức độ
Bảng 4.3 Mức trọng yếu đề xuất đối với từng loại báo cáo
Bảng 4.4 Minh hoạ sự khác biệt trong việc thu thập bằng chứng kiểm toán
giữa các chu trình quản lý thực hiện dự án
Bảng 4.5 Bảng ma trận đánh giá rủi ro
Bảng 4.6 Bảng ma trận đánh giá rủi ro và bằng chứng kiểm toán
Bảng 4.7 Các thành phần của hệ thống kiểm soát nội bộ áp dụng cho hệ
thống kiểm soát quản lý dự án đầu tư
Bảng 5.1 Đánh giá hệ thống kiểm soát quản lý dự án và rủi ro kiểm soát
Bảng 5.2 Mô hình đánh giá rủi ro
Bảng 5.3 Yêu cầu thiết kế thủ tục kiểm toán
Bảng 5.4 Các bước công việc lập kế hoạch kiểm toán dự án đầu tư
Bảng 5.5 Mỗi quan hệ giữa năm loại bằng chứng kiểm toán chủ yếu và các
khái niệm liên quan
Bảng 6.1 Phân loại giao dịch, tài khoản, chức năng quản lý chi phí và hồ
sơ tài liệu liên quan đến quy trình nghiệm thu thanh toán
Bảng 6.2 Bảng câu hỏi khảo sát đánh giá Hệ thống kiểm soát quản lý dự
án
Trang 8Bảng 6.3 Mục tiêu kiểm toán – giao dịch, kiểm soát chủ chốt, thử nghiệm
kiểm soát, kiểm soát không hữu hiệu và thử nghiệm cơ bản giao dịch đối
với dự án Trường Mầm non Hoa Hồng
Bảng 6.5 Thủ tục kiểm toán đối với hồ sơ nghiệm thu – thanh toán dự án
Xây dựng trường Mầm non Hoa Hồng
Bảng 6.6 Định nghĩa các thuộc tính và điều kiện ngoại lệ đối chu trình
nghiệm thu – thanh toán dự án Xây dựng trường Mầm non Hoa Hồng
Bảng 6.7 Bảng chọn mẫu kiểm toán đối với công tác nghiệm thu- thanh
toán dự án xây dựng Trường Mầm non Hoa Hồng
Bảng 6.8 Hướng dẫn đánh giá TSC và RRKST khi chọn mẫu phi thống
kê: Thử nghiệm kiểm soát
Bảng 6.9 Hướng dẫn đánh giá TSC và RRKST khi chọn mẫu phi thống
kê: Thử nghiệm cơ bản giao dịch
Bảng 6.10 Ảnh hưởng của các yếu tố tới cỡ mẫu
Bảng 6.11 Bảng chọn mẫu kiểm toán đối với công tác nghiệm thu- thanh
toán dự án xây dựng Trường Mầm non Hoa Hồng
Bảng 6.12 Bảng phân tích sai lệch
Bảng 7.1 Mỗi quan hệ giữa mục tiêu kiểm toán – giao dịch và mục tiêu
kiểm toán – số dư đối với chu trình nghiệm thu – thanh
Bảng 7.2 Ảnh hưởng của các yếu tố tới cỡ mẫu
Bảng 7.3 Phương pháp chọn mẫu
Bảng 7.4 Tổng thể mẫu
Bảng 7.5 Phương pháp chọn mẫu
Bảng 7.6 Mỗi quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến RSC và cỡ mẫu
Bảng 7.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến cỡ mẫu của các thử nghiệm chi tiết số
dư
Bảng 7.9 Phương pháp chọn mẫu
Bảng 7.10 Phương pháp chọn mẫu
Trang 9DANH MỤC HÌNH ẢNH
Trang
Hình 1.1 Ví dụ minh hoạ về định nghĩa kiểm toán
Hình 1.2 Mối quan hệ trách nhiệm giữa kiểm toán viên, đơn vị/đối tượng
được kiểm toán và người sử dụng báo cáo kiểm toán
Hình 1.3 Các dạng công việc kiểm toán và chức năng đảm bảo
Hình 1.4 Các lĩnh vực được điều chỉnh bởi các nguyên tắc kiểm toán lĩnh
vực công
Hình 2.1 Mục đích của quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
Hình 2.2 Các chủ thể tham gia vào hoạt động quản lý dự án
Hình 2.3 Trình tự bồi thường, hổ trợ tái định cư dự án đầu tư xây dựng
Hình 2.4 Các thành phần chi phí xây dựng
Hình 2.5 Các nguyên tắc khi thực hiện đấu thầu
Hình 2.6 Quy trình tổ chức đấu thầu
Hình 2.7 Nội dung Báo cáo quyết toán dự án hoàn thành
Hình 3.1 Quy trình kiểm toán dự án đầu tư
Hình 3.2 Chủ thể kiểm toán dự án đầu tư
Hình 3.3 Các bên liên quan đến dự án đầu tư
Hình 3.4 Các bước phát triển mục tiêu kiểm toán
Hình 3.5 Lưu đồ quy trình thực hiện dự án đến Báo cáo DAĐT
Hình 3.6 Mối quan hệ giữa các quy trình thực hiện dự án
Hình 3.7 Cơ sở dẫn liệu quản lý thực hiện dự án
Hình 3.8 Mỗi quan hệ giữa chuẩn mực kiểm toán, loại bằng chứng,
quyết định thu thập bằng chứng
Hình 4.1 Quy trình kiểm toán dự án đầu tư
Hình 4.2 Quy trình lập kế hoạch kiểm toán dự án đầu tư
Hình 4.3 Quy trình tìm hiểu dự án đầu tư và việc quản lý dự án của chủ
đầu tư dự án
Hình 4.4 Quy trình tìm hiểu dự án đầu tư và lĩnh vực xây dựng, rủi ro dự
án, và rủi ro có sai lệch trọng yếu trên báo cáo dự án đầu tư
Hình 4.5 Phương pháp tiếp cận nội dung kiểm toán trọng yếu
Hình 4.6 Mô hình rủi ro kiểm toán và hiểu biết dự án đầu tư và lĩnh vực
xây dựng
Hình 4.7 Mối quan hệ giữa rủi ro và thu thập bằng chứng kiểm toán
Hình 4.8 Mối quan hệ giữa rủi ro, thu thập bằng chứng kiểm toán và mức
Trang 10trọng yếu
Hình 4.9 Các thành phần của Hệ thống kiểm soát nội bộ theo COSO 1992
Hình 4.10 Ví dụ về những hạn chế vốn có ảnh hưởng đến tính hữu hiệu
của hệ thống kiểm soát nội bộ
Hình 4.11 Quy trình tìm hiểu hệ thống kiểm soát quản lý dự án và đánh
giá rủi ro kiểm soát
Hình 4.12 Phương pháp xác định hạn chế và yếu kém của kiểm soát
Hình 5.1 Phương pháp tiếp cận kiểm toán
Hình 5.4 Mốc thời gian nghiệm thu hoàn thành và quyết toán dự án
Hình 5.5 Lịch trình thiết kế các thủ tục kiểm toán dự án đầu tư
Hình 5.6 Các thủ tục kiểm toán tiếp theo và Mô hình rủi ro kiểm toán
Hình 5.7. Vai trò của các thử nghiệm kiểm toán trong kiểm toán phê duyệt
quyết toán chi phí đầu tư
Hình 5.8 Mối quan hệ giữa thử nghiệm kiểm toán và loại bằng chứng
Hình 5.9 Phương pháp luận thiết kế các thử nghiệm kiểm soát và thử
nghiệm cơ bản đối với các giao dịch
Hình 5.10 Phương pháp tiếp cận bốn bước để thiết kế các thử nghiệm kiểm
soát và thử nghiệm cơ bản đối với các giao dịch
Hình 5.11 Phương pháp luận thiết kế các thử nghiệm chi tiết số dư – khoản
mục chi phí đầu tư
Hình 5.12 Phương pháp tiếp cận thiết kế các thử nghiệm chi tiết số dư
Hình 6.1 Mối quan hệ giữa các quy trình thực hiện dự án
Hình 6.2 Phương pháp luận thiết kế các thử nghiệm kiểm soát và thử
nghiệm cơ bản giao dịch đối với công tác nghiệm thu – thanh toán
Hình 6.3 Định hướng các thử nghiệm đối với công tác nghiệm thu – thanh
toán
Hình 6.4 Loại thử nghiệm đối với quy trình nghiệm thu – thanh toán
Hình 6.5 Phương pháp tiếp cận lựa chọn phương pháp chọn mẫu
Hình 7.1 Phương pháp luận thiết kế các thử nghiệm chi tiết số dư khoản
mục chi phí đầu tư sử dụng Mô hình rủi ro kiểm toán
Trang 11DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT
Trang 13PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN VÀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN
1.1 KHÁI NIỆM KIỂM TOÁN
1.1.1 Sơ lược về sự hình thành và phát triển kiểm toán
Thuật ngữ kiểm toán “audit” được sử dụng phổ biết ngày nay có nguồn gốc từ tiếng Latinh nghĩa là “lắng nghe” nhưng hoạt động kiểm tra cổ xưa gần với kiểm toán ngày nay xuất hiện lần đầu tiên ở Ai Cập, Hi Lạp và Trung Quốc vào khoảng năm thứ
350 trước công nguyên (Boyd, 1905) Trách nhiệm chính của kiểm toán viên giúp xác nhận của cải trong ngân khố của Vua và phát hiện gian lận nhưng chỉ giới hạn trong việc xác nhận mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh thông qua việc đọc to những số liệu, tài liệu cho một bên độc lập nghe và sau đó chứng thực Mục đích kiểm toán trong giai đoạn này như Littleton (1933) đã chỉ ra “nhằm xác nhận sự trung thực của người nắm giữ ngân sách hơn là trách nhiệm của người quản lý ngân sách”
Khi các quốc gia phương Tây thực hiện công nghiệp hoá từ những năm cuối thế
kỷ 18 (từ năm 1778) đến giữa thế kỷ 20 (những năm 1960), các công ty cổ phần ra đời, nhu cầu vốn tăng cao, thị trường chứng khoán bắt đầu hình thành nhưng hoạt động tự phát, chủ yếu là các hoạt động đầu cơ Hậu quả là tỷ lệ phá sản của các doanh nghiệp tăng cao, nhà đầu tư chuyển từ vị trí chủ nợ trở thành con nợ Điều này thúc đẩy nhu cầu cần có cơ chế kiểm soát mới Theo Brown (1962) đây là thời điểm chín muồi cho sự xuất hiện nghề nghiệp kiểm toán Khoảng những năm 1840 công ty kiểm toán đầu tiên được hình thành ở Vương Quốc Anh và ngày nay nó là một trong bốn công ty kiểm toán hàng đầu trên thế giới (Big 4) Hình thức hoạt động chủ yếu của các công ty kiểm toán trong giai đoạn sơ khai này là cung cấp dịch vụ kiểm toán dựa trên thoả thuận và ký kết hợp đồng với khách hàng kiểm toán Mục tiêu kiểm toán chủ yếu nhằm phát hiện gian lận, sai sót và cung cấp thông tin về khả năng trả nợ của khách hàng kiểm toán (Heang
& Ali 2008)
Sau giai đoạn suy thoái kinh tế vào đầu những năm 1930, hoạt động đầu tư vào các doanh nghiệp tăng mạnh, thị trường chứng khoán phát triển nhanh cùng với sự ra đời của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm đã thúc đẩy thị trường vốn và doanh nghiệp phát triển Chức năng điều hành, quản lý dần tách khỏi chức năng sở hữu vốn của các cổ đông Theo đó, nhiệm vụ của kiểm toán chuyển sang phục vụ cho cổ đông trong cộng đồng hơn là lợi ích của những chủ sở hữu vắng mặt Vì vậy, mục tiêu kiểm toán chủ yếu nhằm cung cấp sự tin cậy của báo cáo tài chính (BCTC) do nhà quản lý lập gửi tới các
cổ đông của họ Khái niệm trọng yếu (Queenan 1946), kỹ thuật chọn mẫu (Brown, 1962)
và kiểm soát nội bộ bắt đầu được sử dụng trong nghề nghiệp kiểm toán do các kiểm toán
Trang 14ty ngày càng lớn Theo Porter & cộng sự (2005), đặc điểm chính của phương pháp tiếp cận kiểm toán trong giai đoạn này là (i) dựa vào kiểm soát nội bộ; (ii) thu thập bằng chứng kiểm toán cả bên trong và bên ngoài; (iii) nhấn mạnh tính trung thực và hợp lý của BCTC; (iv) bổ sung kiểm toán báo cáo kết quả kinh doanh và (v) quan sát và kiểm
kê tài sản vật chất và các bằng chứng khác ngoài sổ sách công ty
Từ những năm 1970, khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 xuất hiện, với sự
ra đời và lan tỏa của công nghệ thông tin (CNTT), điện tử và tự động hóa sản xuất gắn với cách mạng máy tính hay cách mạng số (thập niên 1970 và 1980) và Internet (thập niên 1990) Theo đó, nhu cầu về thông tin tin cậy ngày càng cao, kỳ vọng của công chúng đối với nghề nghiệp kiểm toán là tăng cường tính tin cậy của thông tin tài chính
và thúc đẩy hiệu quả thị trường vốn (Porter & cộng sự 2005) Mục tiêu kiểm toán trong giai đoạn này nhằm xác nhận sự trung thực của BCTC và đảm bảo rằng BCTC được trình bày hợp lý Trong đó, khái niệm “trình bày hợp lý” bao hàm cả khái niệm “tuân thủ các nguyên tắc kế toán được thừa nhận chung” Thời điểm này, nghề nghiệp kiểm toán đã từ chối trách nhiệm lập BCTC cho doanh nghiệp (Mautz & Sharaf 1961) Vào đầu thập niên 1980, phương pháp tiếp cận kiểm toán đã thay đổi so với giai đoạn trước, chuyển từ tiếp cận hệ thống sang tiếp cận dựa trên đánh giá rủi ro (Turley & Cooper, 1991) Theo đó, trách nhiệm chủ yếu của kiểm toán viên không phải là phát hiện gian lận mà chuyển sang xác định tình hình tài chính và kết quả hoạt động thực sự của doanh nghiệp Vì vậy, mục tiêu kiểm toán chủ yếu trong giai đoạn này đưa ra ý kiến về sự trung thực và hợp lý của BCTC thay vì “đảm bảo” tính chính xác của số liệu tài chính Kiểm toán viên cũng không có trách nhiệm phát hiện gian lận mà trách nhiệm này thuộc
về Ban giám đốc Việc phát hiện gian lận chỉ là trách nhiệm gián tiếp khi kiểm toán viên thiết kế các thủ tục đánh giá rủi ro
Vào cuối thế kỷ 20, môi trường kinh doanh thay đổi, các chuẩn mực kiểm toán quốc tế ban hành vào năm 1994 ngày càng bộc lộ các khuyết điểm mà đỉnh điểm là những năm đầu thế kỷ 21, đã xảy ra sự sụp đổ hàng loạt các công ty hàng đầu trên thế giới như Enron, Worldcom…Trong đó, có lỗi của các công ty kiểm toán Nguyên nhân chính là có quá nhiều xung đột về mặt lợi ích giữa các công ty kiểm toán và người sử dụng BCKT liên quan đến việc (1) thẩm quyền bổ nhiệm KTV độc lập; (2) sự độc quyền của Big 4 chiếm tới 98% thị phần các công ty trên sàn chứng khoán Mỹ, dẫn tới không tạo áp lực lên danh tiếng lên các hãng kiểm toán này; (3) sự lỏng lẻo của quy định pháp luật giúp các hãng kiểm toán né tránh được hầu hết các vụ kiện tụng, chẳng hạn, tháng
4 năm 2013, Công ty kiểm toán Earn & Young đã được tuyên bố vô tội trong vụ phá sản của Lehman Brothers
Để giảm thiểu những khiếm khuyết của hệ thống chuẩn mực kiểm toán cũ và khôi phục lại niềm tin của công chúng sau những vụ tai tiếng, trong giai đoạn này, các tổ chức nghề nghiệp đã tăng cường sửa đổi, ban hành mới các chuẩn mực kiểm toán theo hướng tăng cường hơn nữa trách nhiệm của KTV Theo Trần Thị Giang Tân (2014), có
Trang 15bốn nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi hệ thống chuẩn mực kiểm toán trong giai đoạn này (i) toàn cầu hóa thúc đẩy tăng cường nhu cầu thông tin cho người sử dụng BCKT trên phạm vi toàn cầu, do vậy, cần áp dụng hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế có chất lượng cao giúp nâng cao chất lượng thông tin; (ii) các công ty kiểm toán đã phát triển nhiều dịch vụ bảo đảm khác ngoài dịch vụ kiểm toán cùng với áp dụng phương pháp tiếp cận kiểm toán mới dựa vào rủi ro kinh doanh; (iii) báo cáo COSO năm 1992 định hình khuôn mẫu về KSNB khiến cho các nội dung trong chuẩn mực kiểm toán ban hành vào năm 1994 không còn phù hợp và (iv) cấu trúc, nội dung và yêu cầu của chuẩn mực kiểm toán ban hành vào năm 1994 dù đã bổ sung, chỉnh sửa nhưng vẫn bộc lộ những bất cập qua quá trình áp dụng vào thực tiễn
Mặc dù mục tiêu tổng thể kiểm toán không thay đổi so với thời kỳ trước nhưng theo Leung & cộng sự (2004), nghề nghiệp kiểm toán đã tăng cường thêm trách nhiệm của mình theo cách (i) vai trò KTV được củng cố như: tập trung vào lợi ích công chúng, định nghĩa lại mối quan hệ trong kiểm toán, đảm bảo trung thực của BCTC, phân chia chức năng kiểm toán và các chức năng tư vấn khác; (ii) phương pháp kiểm toán dựa trên tiếp cận rủi ro, nhận thức gian lận, khách quan và độc lập và (iv) hướng sự chú ý tới nhu cầu của người sử dụng BCKT
Hiện nay, gắn với sự phát triển không ngừng của kinh tế thị trường kết hợp với cuộc cách mạng công nghệ 4.0, thông tin ngày càng trở nên quan trọng và có giá trị cao nhưng đồng thời rủi ro thông tin cũng ngày càng lớn Theo đó, kiểm toán có vai trò chính là giảm rủi ro thông tin thay vì tăng cường trách nhiệm giải trình của nhà quản lý Rủi ro thông tin là việc thông tin đó được lưu hành trong một tổ chức sẽ dẫn đến hoạt động chệch hướng hoặc thất bại Bởi vì các bên liên quan đưa ra quyết định kinh tế hoặc quyết định khác đều phụ thuộc mức độ tin cậy của thông tin nhưng không phải lúc nào thông tin được cung cấp đều hữu ích, có thể hiểu được và kịp thời cho việc đưa ra các quyết định
1.1.2 Kiểm toán là gì?
Kiểm toán vừa là khoa học vừa là nghệ thuật bởi vì để hành nghề kiểm toán kiểm toán viên phải kết hợp hiểu biết về các vấn đề, quy định, thủ tục kiểm toán (khoa học) cùng với xét đoán chuyên môn và thái độ hoài nghi nghề nghiệp (nghệ thuật) để thực hiện các cuộc kiểm toán với chất lượng cao (Arens và cộng sự 2019)
Arens và cộng sự (2019) định nghĩa kiểm toán sau: Kiểm toán là việc thu thập và đánh giá các bằng chứng về một thông tin nhằm xác định và báo cáo về sự phù hợp của thông tin này với các tiêu chí được thiết lập Việc kiểm toán cần được thực hiện bởi các kiểm toán viên đủ năng lực và độc lập
❖ Thu thập và đánh giá bằng chứng
Bằng chứng là bất kỳ thông tin nào được sử dụng bởi kiểm toán viên nhằm đánh giá liệu thông tin được kiểm toán có phù hợp với các tiêu chí kiểm toán được thiết lập
Trang 16Bằng chứng kiểm toán có nhiều dạng khác nhau, bao gồm:
‐ Bằng chứng tài liệu và bằng chứng điện tử về các giao dịch, sự kiện;
‐ Thông tin dưới dạng điện tử hoặc văn bản được cung cấp từ bên ngoài;
‐ Kết quả quan sát của kiểm toán viên;
‐ Kết quả trao đổi, phỏng vấn thu được từ đơn vị được kiểm toán
Ví dụ, các bằng chứng kiểm toán bao gồm ttrong kiểm toán báo cáo quyết toán dự
án hoàn thành, báo cáo quyết toán A-B, các quyết định phê duyệt dự án hoàn thành của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền (bằng chứng tài liệu); thông báo chấp thuận nghiệm thu bàn giao công trình đưa vào sử dụng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (bằng chứng cung cấp từ bên ngoài); biên bản ghi nhận kết quả kiểm tra hiện trường công trình xây dựng của kiểm toán viên (bằng chứng được kiểm toán viện tạo ra); biên bản làm việc với cán bộ phụ trách dự án, tư vấn giám sát, tư vấn thiết kế (bằng chứng thu được qua phỏng vấn)
Theo các định nghĩa này, kiểm toán gồm hai hoạt động chủ yếu là thu thập và đánh giá bằng chứng Để đạt được mục tiêu kiểm toán, kiểm toán viên phải thu thập được đầy
đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp Nhằm xác định loại và số lượng bằng chứng thích hợp, kiểm toán viên phải đánh giá rủi ro có sai lệch trọng yếu Dựa trên các bằng chứng thu thập được, kiểm toán viên sẽ xác định mức độ phù hợp giữa thông tin và tiêu chí kiểm toán Quyết định bằng chứng kiểm toán nào cần thu thập và việc đánh giá bằng chứng kiểm toán là nội dung quan trọng nhất đối với mỗi cuộc kiểm toán
❖ Cơ sở dẫn liệu, thông tin và tiêu chí kiểm toán
Mục tiêu kiểm toán là cung cấp ý kiến kết luận kiểm toán (hoặc mức độ đảm bảo) thông qua đánh giá cơ sở dẫn liệu và thông tin được cung cấp bởi người lập Công việc này được thực hiện bằng việc xem xét các tiêu chí kiểm toán hiện hữu, thu thập bằng chứng, và đưa ra kết luận kiểm toán dưới dạng khẳng định hoặc xác nhận thông tin Nghĩa là thông tin phải được chuẩn hoá dưới dạng các báo cáo, mẫu biểu để người lập
dễ dàng thực hiện và người sử dụng thông tin có thể hiểu và đánh giá được thông điệp
mà người lập báo cáo muốn truyền tải
Thông tin có nhiều dạng từ con số, chữ viết, âm thanh và hình ảnh được trao đổi dưới nhiều hình thức khác nhau dữ liệu, dữ kiện ban đầu được xử lý, phân tích và tổng hợp để tạo ra những thông tin có giá trị hơn nhằm đáp ứng nhu cầu của người sử dụng Kiểm toán viên có trách nhiệm báo cáo mức độ phù hợp của thông tin (cơ sở dẫn liệu của nhà quản lý) bao gồm cả thông tin tài chính, thông tin phi tài chính so với các tiêu chí được thiết lập
Tiêu chí được sử dụng để đánh giá cơ sở dẫn liệu trong kiểm toán tuỳ thuộc vào thông tin được kiểm toán Ví dụ kiểm toán báo cáo tài chính do các doanh nghiệp kiểm toán độc lập thực hiện, tiêu chí kiểm toán chính là khuôn khổ lập và trình bày báo cáo
Trang 17tài chính liên quan như Chuẩn mực Báo cáo tài chính Quốc tế (IFRS), Chuẩn mực Kế toán cho doanh nghiệp, Chuẩn mực kế toán cho các tổ chức phi lợi nhuận Trong kiểm toán việc quản lý và sử dụng tài sản công, tài chính công do các Cơ quan Kiểm toán tối cao (SAI) thực hiện, tiêu chí kiểm toán chính là các báo cáo được lập theo Chuẩn mực
kế toán khu vực công Tương ứng, tại Việt Nam, tiêu chí kiểm toán báo cáo tài chính trong khu vực tư sẽ là Chuẩn mực kế toán Việt Nam và và các quy định liên quan, trong khu vực công là các quy định Bộ Tài chính về lập các báo cáo tài chính trong các đơn
vị công và Chuẩn mực Kế toán công Việt Nam Theo đó, nhiệm vụ kiểm toán là xác định liệu rằng báo cáo tài chính có được lập và trình bày theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam và cung cấp đảm bảo hợp lý cho người sử dụng về tính chính xác đối với cơ sở dẫn liệu của nhà quản lý
Trường hợp thiếu các tiêu chí được thừa nhận chung như đề cập trên, thông thường, kiểm toán viên và đơn vị được kiểm toán phải thống nhất về các tiêu chí trước khi bắt đầu kiểm toán Ví dụ, kiểm toán nhằm đánh giá tính hiệu lực trong việc thực hiện đầu
tư một dự án công, các tiêu chí kiểm toán có thể bao gồm các mục tiêu đầu tư dự án, tiến độ, ngân sách tương ứng thực hiện dự án
❖ Năng lực chuyên môn, tính độc lập của kiểm toán viên
Kiểm toán viên phải có năng lực chuyên môn để có thể hiểu được rủi ro kiểm toán
và các tiêu chí kiểm toán được sử dụng, và có đủ trình độ để biết được loại và khối lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập để đưa ra được các kết luận chính xác sau khi kiểm tra bằng chứng Kiến thức chuyên môn và kỹ năng đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn được coi là điều kiện cần để kiểm toán viên có thể đưa ra các ý kiến kiểm toán phù hợp Điều này có nghĩa là kiểm toán viên phải thực hiện công việc đúng đắn, trung thực cùng với việc duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp và tính độc lập
Thái độ hoài nghi nghề nghiệp được hình thành trên cơ sở xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên Hình thức biểu hiện bên ngoài của thái độ hoài nghi nghề nghiệp là việc luôn đưa ra các câu hỏi dạng nghi vấn (tại sao hoặc liệu rằng) ngay từ trong ý nghĩ, đến việc kiểm tra cơ sở dẫn liệu và tiến hành đánh giá bằng chứng kiểm toán Xét đoán chuyên môn phù hợp đòi hỏi kiểm toán viên phải thực hiện nhiệm vụ một cách thận trọng (duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp) và khách quan Tính khách quan đề cập đến việc kiểm toán viên phải đạt được tính độc lập về cả hình thức (tư tưởng) và nội dung (hành vi)
Kiểm toán viên phải cố gắng đạt được tính độc lập ở mức cao để duy trì sự tin tưởng của người sử dụng báo cáo kiểm toán Kiểm toán BCTC các doanh nghiệp trong khu vực tư thường do kiểm toán viên độc lập thực hiện, dưới dạng hợp đồng có thu phí kiểm toán nhưng họ vẫn phải đảm bảo tính độc lập đầy đủ để người sử dụng báo cáo kiểm toán có thể tin tưởng sử dụng Thậm chí, ngay cả các kiểm toán viên nội bộ là những bên trong tổ chức là khách hàng kiểm toán cũng phải đảm bảo được tính độc lập
Trang 18chức và độc lập với các đơn vị, bộ phận trực thuộc tổ chức đó
❖ Báo cáo kiểm toán
Giai đoạn cuối cùng của cuộc kiểm toán là lập báo cáo kiểm toán Đây là kết quả công việc của kiểm toán viên được trình bày trong báo cáo để gửi tới cho người sử dụng Các báo cáo kiểm có thể khác nhau về bản chất, chúng tuỳ thuộc vào từng loại hình hoặc mục tiêu kiểm toán nhưng nhìn chung chúng đều cung cấp cho người sử dụng mức độ tin tưởng rằng kiểm toán viên đã tiến hành kiểm toán các cơ sở dẫn liệu và thông tin được cung cấp bởi nhà quản lý so với các tiêu chí kiểm toán Báo cáo kiểm toán cũng
có thể khác nhau về mặt hình thức hoặc có thể có khuôn mẫu chung
Ví dụ minh hoạ việc áp dụng định nghĩa kiểm toán trong kiểm toán dự án đầu tư
do kiểm toán nhà nước thực hiện được minh hoạ trong Hình 1.1
Nhóm kiểm toán bao gồm những kiểm toán viên có chuyên môn về kiểm toán và kiến thức trong lĩnh vực xây dựng cũng như là các kiến thức đặc thù liên quan đến đối tượng kiểm toán như hiểu biết về pháp luật đầu tư, xây dựng, các quy trình thực hiện và quản lý dự án; nghiệm thu, thanh quyết toán công trình
Đầu tiên kiểm toán viên phải thu thập thông tin về tình hình thực hiện dự án và hệ thống kiểm soát và quản lý dự án để thực hiện đánh giá rủi ro dựa trên các yếu tố như kinh nghiệm kiểm toán các dự án; sai phạm tồn tại trong lĩnh vực xây dựng; các tình huống, sự kiện thiếu nhất quán hoặc bất thường trong quá trình thực hiện dự án; tiến độ, chi phí và chất lượng công trình xây dựng; hình thức và cơ cấu tổ chức quản lý dự án Bước kế tiếp kiểm toán viên thu thập và kiểm tra các bằng chứng kiểm toán liên quan, chẳng hạn như báo cáo quyết toán dự án hoàn thành, báo cáo quyết toán A-B, hồ sơ hoàn công công trình, hồ sơ mua sắm đấu thầu và lựa chọn nhà thầu, tài liệu hợp đồng,
hồ sơ thiết kế, dự toán, hồ sơ pháp lý của dự án…cũng như là các thông tin từ bên thứ
ba cung cấp như các báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư của dự án, các báo cáo thẩm tra, thẩm định dự án và thiết kế dự toán, các biên bản, công văn, hình ảnh lưu trữ trong quá trình thực hiện dự án được lưu trữ bởi đơn vị tư vấn giám sát…Thủ tục kiểm toán được lựa chọn tuỳ thuộc vào xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên, chẳng hạn, nếu cảm thấy nghi ngờ về sự hiện hữu của một hạng mục công việc nào đó, kiểm toán viên có thể lựa chọn thực hiện kiểm tra trực tiếp tại hiện trường (quan sát) hoặc thông qua kiểm tra hình ảnh lưu trữ (kiểm tra tài liệu) Sau khi hoàn thành kiểm toán, nhóm kiểm toán
sẽ lập và phát hành báo cáo kiểm toán cung cấp các phát hiện kiểm toán, ý kiến, kết luận
và kiến nghị kiểm toán (nếu có) dựa trên các bằng chứng thu thập được Liệu rằng dự
án đầu tư xây dựng công trình được đầu tư, triển khai thực hiện có tuân thủ đúng pháp luật và chế độ quản lý xây dựng?; liệu chi phí đầu tư dự án có được quyết toán theo đúng quy định hiện hành và đảm bảo trung thực và hợp lý Chủ đầu tư và cấp quyết định đầu tư/chủ sở hữu nhận được những các ý kiến về vấn đề trên trong báo cáo kiểm toán
Trang 19Hình 1.1 Ví dụ minh hoạ về định nghĩa kiểm toán
1.1.3 Tại sao cần phải kiểm toán?
Xã hội càng phát triển, càng có nhiều khả năng thông tin cung cấp cho người sử dụng trở nên thiếu tin cậy, nhất là khi các doanh nghiệp áp dụng công nghệ cao luôn cần nguồn dữ liệu lớn Có ba lý do chính giải thích tại sao thông tin được cung cấp có xu hướng trở nên thiếu tin cậy hơn trong môi trường dữ lớn như (i) thông tin được cung cấp không kịp thời do khoảng cách về không gian và thời gian; (ii) thông tin không đầy
đủ và chính xác xuất phát từ động cơ của người cung cấp thông tin; (iii) thông tin được cung cấp còn sai lệch và không thích hợp do chúng được tạo ra trong môi trường dữ liệu lớn cùng với việc các giao dịch, sự kiện ngày càng trở nên phức tạp khiến cho việc ghi chép, kiểm soát, bảo vệ an toàn dữ liệu trở nên khó khăn Xu hướng chung được gọi chung là rủi ro thông tin
Rủi ro thông tin là việc thông tin đó được lưu hành trong một tổ chức sẽ dẫn đến hoạt động chệch hướng hoặc thất bại Bởi vì thông tin được cung cấp sẽ không phù hợp,
dễ hiểu và kịp thời cho việc đưa ra các quyết định Giải pháp hữu hiệu là giảm rủi ro thông tin xuống mức hợp lý Tuỳ theo ước tính đánh đổi giữa lợi ích/quyền lợi và chi phí/trách nhiệm mà các bên lựa chọn những giải pháp giảm rủi ro thông tin khác nhau Theo Arens và cộng sự (2019) có ba cách thức đối phó chủ yếu với rủi ro thông tin gồm:
‐ Giảm thiểu rủi ro bằng cách người sử dụng xác nhận trực tiếp thông tin:
Phương pháp này thông thường không khả thi trên thực tế Ví dụ, để kiểm tra các khoản đầu tư của mình, các cổ đông sáng lập của công ty có thể trực tiếp kiểm tra việc chi tiêu của doanh nghiệp, tuy nhiên, do không am hiểu sâu về tài chính, kế toán hoặc lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp nên việc kiểm tra trực tiếp có thể không đạt được mục tiêu
Thu thập thông tin
và đánh giá rủi ro
Kiểm tra báo cáo quyết toán dự án
và hồ sơ liên quan
Báo cáo kiểm toán
Dự án đầu tư và đơn vị quản lý
Luật xây dựng và các quy định khác liên quan
Thông tin
Đối chiếu tương ứng
Tiêu chí kiểm toán
Báo cáo kết quả phù hợp
Trang 20mà vẫn tốn kém thời gian, chi phí Tương tự, trước khi phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành sử dụng vốn ngân sách nhà nước, cấp quyết định đầu tư thường uỷ quyền hoặc phân cấp cho cơ quan có thẩm quyền thẩm tra báo cáo trước khi phê duyệt nhưng đối với các dự án đầu tư có quy mô lớn, nhiệm vụ này vượt quá năng lực của một số cơ quan chịu trách nhiệm thẩm tra, phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành Do đó, nếu thực hiện
sẽ tăng chi phí kiểm soát rủi ro mà không loại bỏ hẳn được rủi ro liên quan đến việc đầu
tư dự án;
‐ Người sử dụng chia sẻ rủi ro thông tin với nhà quản lý: Thường luôn có khuôn
khổ pháp lý quy định việc nhà quản lý phải có trách nhiệm cung cấp thông tin tin cậy cho người sử dụng Ví dụ, chuẩn mực kiểm toán báo cáo tài chính quy định việc lập và trình bày báo cáo tài chính chính xác là trách nhiệm của nhà quản lý hay luật doanh nghiệp quy định nhà quản lý phải thiết kế và xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ trong đơn vị nhằm ngăn ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các sai lệch trọng yếu dẫn tới việc không đạt được mục tiêu của tổ chức Trong khu vực công, quy định cấp quyết định đầu tư/chủ sở hữu vốn có trách nhiệm tổ chức, thực hiện dự án đảm bảo đúng quy định pháp luật Nếu người sử dụng thông tin tài chính được cung cấp không chính xác để đưa ra các quyết định đầu tư dẫn tới bị mất vốn hoặc các tổ chức tín dụng cho vay nhưng không thu hồi được vốn do doanh nghiệp không còn khả năng chi trả hay cấp quyết định đầu
tư phê duyệt một khoản chi phí phát sinh không chính xác đối với một dự án đầu tư Khi
đó, người sử dụng thông tin có thể có một số biện pháp để trừng phạt nhà quản lý liên quan đến trách nhiệm dân sự, trách nhiệm pháp lý nhưng trên thực tế, người sử dụng thông tin khó có thể xác định được nguyên nhân khoản lỗ hoặc việc giảm giá trị tài sản trong doanh nghiệp hay các khoản chi phí phát sinh được phê duyệt liệu có cần thiết hoặc chính xác Do đó, người sử dụng thông tin cũng phải chia sẻ rủi ro với nhà quản lý;
‐ Kiểm toán: Phương pháp thông dụng nhất đối với người sử dụng để có được
thông tin tin cậy là thực hiện kiểm toán Chẳng hạn, chủ doanh nghiệp hoặc uỷ ban kiểm toán đối với công ty đại chúng thuê các kiểm toán viên độc lập kiểm toán báo cáo tài chính nhằm đảm bảo thông tin được cung cấp là tin cậy; cấp quyết định đầu tư dự án yêu cầu dự án trước khi phê duyệt quyết toán hoàn thành phải được kiểm toán độc lập tiến hành kiểm toán hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền đề nghị kiểm toán nhà nước kiểm toán để xác định tính chính xác của chi phí đầu tư các dự án làm cơ sở thanh toán các hợp đồng BT, BOT…
Người sử dụng thông tin bên ngoài phụ thuộc vào thông tin trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp để quyết định góp vốn, mua cổ phiếu, cho vay Cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức thẩm tra báo cáo quyết toán dự án hoàn thành để phê duyệt, tổng kết, đánh giá và đưa ra các quyết định đối với các dự án tiếp theo và/hoặc đánh giá trách nhiệm quản lý dự án của cơ quan cấp dưới Công chúng tiếp cận thông tin về tình hình triển khai thực hiện dự án, kết quả thực hiện dự án và tác động từ dự án mang lại để gây
Trang 21áp lực lên cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp đối với việc quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước, điển hình là việc các phương tiên truyền thông, công chúng luôn yêu cầu, chất vấn việc trễ hẹn tuyến đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông Họ sử dụng báo cáo kiểm toán để xác nhận tính tin cậy của thông tin trước khi đưa ra các quyết định với giả định rằng thông tin được kiểm toán là đầy đủ, chính xác
và không thiên lệch Bởi vì các thông tin này được các kiểm toán viên độc lập, có năng lực chuyên môn (nghệ tinh), chính trực (tâm sáng), chuyên nghiệp và hiểu biết sâu về thông tin được kiểm toán Theo đó, để cho cuộc kiểm toán trở nên hữu hiệu, lợi ích của người sử dụng thông tin phải được bảo vệ thông qua kiểm toán
Hình 1.2 Mối quan hệ trách nhiệm giữa kiểm toán viên, đơn vị/đối tượng được kiểm
toán và người sử dụng báo cáo kiểm toán
1.1.4 Loại hình kiểm toán
Đối tượng sử dụng thông tin thường có các yêu cầu khác nhau đối với vấn đề được kiểm toán Tuỳ thuộc mục đích và chủ thể kiểm toán mà kiểm toán được phân loại theo các hình thức khác nhau Theo mục đích, kiểm toán có thể được phân thành ba loại hình phổ biến gồm kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động Theo chủ thể thực hiện, kiểm toán do kiểm toán độc lập, kiểm toán nhà nước và kiểm toán nội bộ thực hiện
1.1.4.1 Phân loại theo mục đích kiểm toán
‐ Kiểm toán báo cáo tài chính được tiến hành để xác định xem liệu báo cáo tài
chính hoặc thông tin tài chính của đơn vị có được trình bày phù hợp với khuôn khổ quy
định về lập và trình bày báo cáo tài chính và các quy định hiện hành khác có liên quan;
Người sử dụng báo cáo kiểm toán bên ngoài
Kiểm toán viên
Đơn vị/đối tượng được kiểm toán
Người sử dụng nội bộ trong đơn
vị được kiểm toán
Thuê kiểm
toán
viên/thực
hiện theo
Gửi báo cáo tới người sử dụng
để giảm rủi ro thông tin
Trang 22‐ Kiểm toán tuân thủ được tiến hành để đánh giá hoặc xác nhận việc tuân thủ luật
và các quy định liên quan (gọi chung là các quy định), hoặc các chính sách, quy chế và quy định trong nội bộ đơn vị (gọi chung là chính sách) Ví dụ, kiểm toán việc tuân thủ quy trình mua sắm trong doanh nghiệp; kiểm toán việc tuân thủ quy định về chất lượng
công trình xây dựng theo luật xây dựng Mục tiêu kiểm toán tuân thủ là nhằm đưa ra ý
kiến về việc tuân thủ đơn vị được kiểm toán, xét trên các khía cạnh trọng yếu có tuân
thủ các quy định và chính sách liên quan;
‐ Kiểm toán hoạt động được tiến hành để đánh giá tính kinh tế, hiệu quả và hiệu
lực của các hoạt động Kiểm toán hoạt động tập trung vào việc xem xét các chương trình, các hoạt động, các đơn vị hoặc các nguồn công quỹ và các thể chế có vận hành theo các nguyên tắc về tính kinh tế, tính hiệu quả và hiệu lực không và có cần cải tiến không Kiểm toán viên đối chiếu kết quả thực hiện của các chương trình, các hoạt động, các đơn vị hoặc các nguồn công quỹ và các thể chế với các tiêu chí phù hợp; phân tích các nguyên nhân dẫn đến sự sai lệch so với các tiêu chí đó cũng như các vấn đề khác để
đánh giá tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực và đưa ra kiến nghị để cải thiện tình hình
• Các nguyên tắc về tính kinh tế, tính hiệu quả và tính hiệu lực được hiểu như sau:
‐ Nguyên tắc về tính kinh tế có nghĩa là tối thiểu hóa chi phí của nguồn lực trong khi vẫn đảm bảo được chất lượng của nguồn lực Nguồn lực cần phải được bố trí đúng thời điểm, với số lượng và chất lượng phù hợp, đồng thời có giá tốt nhất Tính kinh tế
quan tâm đến nguồn lực đầu vào;
‐ Nguyên tắc về tính hiệu quả có nghĩa là tối đa hóa đầu ra trên cơ sở các nguồn lực được sử dụng hoặc tối thiểu hóa nguồn lực sử dụng để tạo ra cùng sản phẩm đầu ra Tính hiệu quả quan tâm đến mối quan hệ giữa nguồn lực sử dụng và đầu ra về mặt số
lượng, chất lượng và thời gian;
‐ Nguyên tắc về tính hiệu lực có nghĩa là việc đạt được các mục tiêu đã định và kết
quả dự kiến
Sơ đồ dưới đây thể hiện mối quan hệ giữa các nguyên tắc về tính kinh tế, tính hiệu quả và tính hiệu lực:
Mục tiêu, Kết quả dự kiến
TÍNH HIỆU LỰC
Trang 23Bảng 1.1 Ví dụ về ba loại hình kiểm toán
Loại và mục tiêu
kiểm toán Ví dụ Thông tin
Tiêu chí kiểm toán
Bằng chứng kiểm toán
Kiểm toán báo cáo tài
Báo cáo quyết toán dự án hoàn thành đối với dự án đường sắt trên cao
Quy định về lập báo cáo quyết toán
dự án hoàn thành
và các quy định liên quan đến quản
Kiểm toán tuân thủ là
việc kiểm toán để đánh
giá hoặc xác nhận việc
tuân thủ của đơn vị
được kiểm toán đối với
tiêu chí bên ngoài (luật
Hồ sơ mua sắm, đấu thầu
và lựa chọn nhà thầu do chủ đầu tư cung cấp
Các quy định của nhà nước về mua sắm đấu thầu và lựa chọn nhà thầu như luật đấu thầu
và các quy định liên quan
Báo cáo đánh giá kết quả trúng thầu, thông báo kết quả trúng thầu có đảm bảo theo đúng quy định
Kiểm toán hoạt động
là việc kiểm tra, đánh
giá các hoạt động trong
đơn vị được kiểm toán
có kinh tế, hiệu quả và
hiệu lực
Đánh giá liệu rằng dự án đầu tư xây dựng công trình được xây dựng có phù hợp với thiết kế được phê duyệt, đáp ứng nhu cầu sử dụng, đúng tiến
độ và trong phạm
vi giới hạn ngân sách
Báo cáo giám sát, đánh giá kết quả và tình hình triển khai thực hiện dự
án của chủ đầu
tư
Tính kinh tế trong việc áp dụng hình thức và tổ chức thực hiện đấu thầu lựa chọn nhà thầu
và ký hợp đồng;
Tính hiệu quả trong việc lựa chọn phương án thiết kế, dây chuyền công nghệ phù hợp Tính hiệu lực trong việc triển khai thực hiện dự án đảm bảo tiến độ, chất lượng
và nằm trong giới hạn ngân sách
Báo cáo tồn tại, hạn chế về nguyên nhân chậm tiến độ, thay đổi thiết kế, phát sinh thêm chi phí
1.1.4.2 Theo chủ thể kiểm toán
‐ Kiểm toán nội bộ: Kiểm toán nội bộ thường được tiến hành bởi các nhân viên
kiểm toán trong nội bổ tổ chức đó Hiệp hội Kiểm toán nội bộ (IIA) định nghĩa kiểm toán nội bộ là “một hoạt động đảm bảo và tư vấn độc lập, khách quan được thiết kế
Trang 24nhằm gia tăng giá trị và cải thiện các hoạt động của tổ chức Kiểm toán nội bộ giúp cho
tổ chức đạt được các mục tiêu của mình bằng cách áp dụng phương pháp tiếp cận có tính nguyên tắc và hệ thống nhằm đánh giá và nâng cao hiệu quả của các quy trình quản
lý rủi ro, kiểm soát và quản trị” Theo định nghĩa trên của IIA, kiểm toán nội bộ cung cấp nhiều dịch vụ đảm bảo, chẳng hạn như kiểm toán tài chính, kiểm soát nội bộ, kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán an ninh hệ thống, kiểm toán điều tra và gian lận Các loại hình kiểm toán này bổ sung thêm giá trị và giúp cải thiện hoạt động của tổ chức, cũng như là giúp giảm gian lận, lãng phí và lạm quyền trong tổ chức Kiểm toán viên nội bộ cũng thực hiện hoạt động tư vấn chẳng hạn như hỗ trợ đánh giá việc ứng dụng một hệ thống mới trước khi lắp đặt hoặc đánh giá rủi ro trong tổ chức; + Theo Arens và cộng sự (2019), kiểm toán viên nội bộ trong các công ty đại chúng cung cấp dịch vụ đảm bảo cho các nhà quản lý hoặc ban giám đốc để xác định xem kiểm soát nội bộ có được thiết kế phù hợp và hoạt động hữu hiệu Nhiệm vụ này được thực hiện theo quy định pháp luật tại một số quốc gia Ví dụ như Ở Canada, Hoa Kỳ tuân thủ theo Đạo luật Sarbanes-Oxley (được đề cập như SOX);
+ Để thực hiện chức năng kiểm toán nội bộ hữu hiệu, kiện toán viên nội bộ phải độc lập với đối tượng được kiểm toán nhưng nó không độc lập hoàn toàn với đơn vị do luôn tồn tại mối quan hệ giữa người chủ và nhân viên Để duy trì tính độc lập, kiểm toán viên nội bộ phải báo cáo trực tiếp tới uỷ ban kiểm toán và các nhà quản lý cấp cao Trong khi kiểm toán viên nội bộ cung cấp cho nhà quản lý những thông tin có giá trị để đưa ra các quy định, việc người bên ngoài đơn vị sử dụng thông tin được xác nhận bởi các kiểm toán viên nội bộ là không thích hợp vì họ thiếu tính độc lập;
+ Trách nhiệm của kiểm toán viên nội bộ cũng thay đổi tùy thuộc vào lãnh đạo của đơn vị Ví dụ, nhà quản lý của một công ty cổ phần tự quyết định việc kiểm toán viên nội bộ nên tham gia vào việc phát triển các hệ thống, trong khi một số khác có thể quyết định rằng công việc của họ nên tập trung ưu tiên vào các khía cạnh phát hiện gian lận
và kiểm soát tài chính Quy mô kiểm toán viên nội bộ trong một tổ chức có thể thay đổi
từ một trăm đến hai trăm nhân viên, mỗi người trong số họ có các trách nhiệm khác nhau bao gồm cả trách nhiệm bên ngoài lĩnh vực kế toán tài chính;
+ Hiện nay, có khoảng trên 185.000 kiểm toán viên nội bộ là thành viên của Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (IIA) trên phạm vi toàn cầu IIA xây dựng và ban hành các chuẩn mực về đạo đức và thực hành kiểm toán cũng như là cấp chứng chỉ kiểm toán viên nội bộ (CIA) cho các kiểm toán viên nội bộ khi đáp ứng các yêu cầu về kinh nghiệm
và vượt qua các kỳ thi sát hạch
‐ Kiểm toán độc lập: Kiểm toán bên thứ ba hay còn gọi là kiểm toán độc lập được
thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có chức năng kiểm toán bên ngoài như Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Nhà nước, Thanh tra chuyên ngành, Thanh tra thuế Họ cũng có thể là các công ty cung cấp dịch vụ kiểm toán, ví dụ như Công ty
Trang 25kiểm toán KPNG Tuy nhiên, trong thực tế khi đề cập tới kiểm toán độc lập, thường nói tới các doanh nghiệp kiểm toán
‐ Kiểm toán Nhà nước (các cơ quan kiểm toán tối cao): Đối với kiểm toán thuộc
lĩnh vực công, các Cơ quan Kiểm toán Tối cao (SAI) thực hiện nhiệm vụ kiểm toán đối với các đơn vị quản lý và sử dụng tài chính công và tài sản công và các đơn vị khác có liên quan Nhiệm vụ kiểm toán của các SAI cũng nhằm mục đích đưa ra ý kiến liệu rằng các chủ đề kiểm toán như báo cáo tài chính có đảm bảo độ tin cậy (trung thực và hợp lý), hoặc tuân thủ luật và các quy định liên quan Trách nhiệm của các SAI là cung cấp mức độ đảm bảo, vì hoạt động kiểm toán được thiết kế và thực hiện nhằm nâng cao độ tin cậy hoặc mức độ đảm bảo của những người sử dụng báo cáo kiểm toán Mức độ đảm bảo các SAI cam kết thực hiện là:
+ Đảm bảo hợp lý: Yêu cầu này đòi hỏi kiểm toán viên phải giảm rủi ro kiểm toán
xuống mức thấp nhất có thể chấp nhận được nhằm đưa ý kiến kiểm toán được trình bày dưới dạng khẳng định (kết luận) về chủ đề kiểm toán xét trên các khía cạnh trọng yếu nội dung kiểm toán đã tuân thủ hoặc chưa tuân thủ, hoặc trong các trường hợp khác có thể trình bày rằng các thông tin về nội dung kiểm toán là đúng đắn, trung thực, hợp lý
và phù hợp với các chuẩn mực áp dụng Để cung cấp mức độ đảm bảo hợp lý kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến xác nhận để nâng cao mức độ tin cậy của thông tin tài chính và việc tuân thủ luật và các quy định liên quan
+ Đảm bảo hạn chế: Trong trường hợp cung cấp sự đảm bảo hạn chế, kiểm toán
viên thực hiện ít các thủ tục kiểm toán và với nhiều giới hạn hơn so với mức độ đảm bảo hợp lý nhưng vẫn phải đảm bảo mức độ đảm bảo vừa phải Đây là mức độ mà các ý kiến kết luận kiểm toán dưới dạng phủ định, chẳng hạn như không có bằng chứng nào cho thấy chủ đề được kiểm toán không trung thực và hợp lý hoặc không tuân thủ luật và quy
định
Ví dụ về công việc kiểm toán
Năm 1929, uy tín của giải Oscar bị đe dọa nghiêm trọng bởi nguy cơ gian lận trong quá trình bỏ phiếu Chính vì thế, người ta nghĩ tới việc mời đơn vị kiểm toán độc lập tham gia kiểm phiếu, nhằm đảm bảo kết quả cuối cùng hoàn toàn chính xác Từ năm
1935, một công ty kiểm toán hàng đầu là Price Waterhouse Coopers (PwC) chịu trách nhiệm kiểm phiếu và giám sát kết quả của giải Oscar và đã thực hiện tốt vai trò của mình trong suốt 83 năm cho đến Lễ trao giải Oscar 2017, khi công ty bất ngờ trở thành trung tâm của một trong những câu chuyện giật gân nhất trong lịch sử giải Oscar Vậy điều gì
đã xảy ra?
Để đảm bảo không xảy ra sai sót khi công bố giải thưởng, PwC sử dụng hai bộ phong bì hoàn chỉnh được giao phó cho hai đối tác của PwC ở mỗi bên sân khấu Cho đến khi trao giải cuối cùng của buổi tối cho bộ phim hay nhất, mọi thứ vẫn diễn ra suôn
sẻ Vào thời điểm đó, một đối tác của PwC đã trao nhầm phong bì cho Warren Beatty
Trang 26Thay vì phong bì chứa người chiến thắng cho bộ phim hay nhất, đối tác đã vô tình trao cho ông Beatty một bản sao của phong bì dành cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất - một giải thưởng mà Emma Stone đã nhận cho vai diễn của cô trong La La Land ngay trước đó Faye Dunaway, người trao giải cùng Beatty, đã thông báo lầm rằng La La Land đã đoạt giải Oscar cho phim hay nhất Một lúc sau, hai đối tác của PwC lên sân khấu và các nhà sản xuất La La Land thông báo rằng Moonlight thực tế là người chiến thắng
Nhiều người hiện đang đặt câu hỏi tại sao cần phải có một công ty kiểm toán tại lễ trao giải Oscar Trên thực tế, trong sáu lễ trao Giải Oscar đầu tiên, không có kiểm toán viên nào tham gia Tuy nhiên, mọi người liên tục đặt câu hỏi về tính trung thực của quy trình bỏ phiếu và tính hợp pháp của các kết quả
Tuy nhiên, sau thất bại vào năm 2017, một số người suy đoán rằng mối quan hệ
đã bị suy thoái PwC đã đưa ra thông cáo vào đầu ngày hôm sau để xin lỗi và nhận trách nhiệm về sai sót Ngay sau sai lầm, chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Mỹ (Viện Hàn lâm) đã thông báo rằng hai đối tác của PwC chịu trách nhiệm về lỗi này và bị cấm vĩnh viễn khỏi tất cả các hoạt động của Viện Tuy nhiên, bất chấp dư luận tiêu cực, Viện Hàn lâm quyết định tiếp tục mối quan hệ lâu dài với PwC Để tránh các sai sót tương tự có thể xảy ra, kể từ lễ trao giải Oscar 2018, một kiểm toán viên thứ 3 sẽ được thêm vào đội ngũ nhân viên của hãng kiểm toán PricewaterhouseCoopers (PwC), đồng thời việc đăng bài, tải ảnh hậu trường lên mạng xã hội sẽ bị cấm hoàn toàn Tất cả kiểm toán viên sẽ phải bàn giao điện thoại và các thiết bị điện tử khác trước khi làm nhiệm vụ tại lễ trao giải Oscar
1.2 TỔNG QUAN KIỂM TOÁN TRONG KHU VỰC CÔNG
1.2.1 Kiểm toán trong khu vực công là gì?
Về tổng quan, kiểm toán khu vực công là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng một cách khách quan, có hệ thống để xác định sự tin cậy của thông tin và/hoặc việc tuân thủ quy định, chính sách theo các tiêu chí đã được xác lập của các thông tin hoặc các điều kiện thực tế để báo cáo sự phù hợp của thông tin tới người sử dụng thông tin
Nếu các doanh nghiệp kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán theo thoả thuận với khách hàng để thu phí kiểm toán thì các SAI thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm toán theo luật định và không thu phí kiểm toán đối với các đơn vị được kiểm toán và các đơn
vị có liên quan đến việc quản lý, sử dụng tài chính công và tài sản công
Mục đích kiểm toán khu vực công nhằm cung cấp cho các cơ quan lập pháp, cơ quan giám sát, những người chịu trách nhiệm điều hành và công chúng thông tin và những đánh giá độc lập, khách quan về việc thực hiện các chính sách, chương trình và hoạt động của các đơn vị quản lý và sử dụng tài chính công, tài sản công với một số vai trò chủ yếu sau:
Trang 27‐ Góp phần nâng cao hiệu quả quản trị công với việc nhấn mạnh các nguyên tắc về minh bạch, trách nhiệm giải trình, quản trị và điều hành;
‐ Nâng cao chất lượng quản lý tài chính, tài sản công thông qua việc:
+ Cung cấp cho đối tượng sử dụng báo cáo kiểm toán các thông tin, kết luận, ý kiến kiểm toán độc lập, khách quan, đáng tin cậy và có đầy đủ bằng chứng thích hợp; + Nâng cao trách nhiệm giải trình và sự minh bạch, khuyến khích cải tiến liên tục
và củng cố niềm tin vào việc sử dụng hợp lý tài chính công, tài sản công và việc quản trị công;
+ Nâng cao hiệu lực của các cơ quan có chức năng giám sát và các tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động có sử dụng công quỹ;
+ Tạo ra các động lực cải tiến thông qua các kết quả và kiến nghị kiểm toán
‐ Kiểm toán khu vực công cũng được phân thành ba loại hình chính: kiểm toán tài chính, kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ Một cuộc kiểm toán trong khu vực công có thể thực hiện riêng rẽ hay kết hợp đồng thời các hình thức kiểm toán này và chúng phụ thuộc vào mục tiêu của mỗi cuộc kiểm toán
1.2.2 Các yếu tố cơ bản của kiểm toán trong khu vực công
Các yếu tố cơ bản của kiểm toán khu vực công bao gồm: Cơ quan kiểm toán, đối tượng chịu trách nhiệm và đối tượng sử dụng báo cáo kiểm toán còn được gọi là ba bên liên quan đến cuộc kiểm toán; hình thức và nội dung kiểm toán và các thông tin liên quan đến nội dung kiểm toán, tiêu chí kiểm toán; các dạng công việc kiểm toán
1.2.2.1 Các bên liên quan
Một cuộc kiểm toán khu vực công có liên quan đến ít nhất ba bên khác nhau: Cơ quan kiểm toán tối cao (kiểm toán nhà nước), đối tượng chịu trách nhiệm và đối tượng
sử dụng báo cáo kiểm toán Mối quan hệ giữa các bên được quy định cụ thể trong các
luật và quy định
‐ Cơ quan kiểm toán tối cao: Là các cơ quan được thành lập có thể trực thuộc chính
phủ, hoặc trực thuộc quốc hội hoặc trực thuộc toà án tối cao (Toà thẩm kế), hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công;
‐ Đối tượng chịu trách nhiệm: Là các đơn vị được kiểm toán; các cơ quan, tổ chức,
cá nhân chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến đơn vị được kiểm toán, chịu trách nhiệm quản lý đơn vị được kiểm toán hay chịu trách nhiệm thực thi các kiến nghị kiểm toán Trách nhiệm của các đối tượng này được quy định trong Hiến pháp, thấp hơn là các đạo luật hoặc các văn bản pháp luật khác;
‐ Đối tượng sử dụng báo cáo kiểm toán: Là các cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng
báo cáo kiểm toán theo quy định của Hiến pháp và pháp luật về kiểm toán
Trang 281.2.2.2 Sự tin cậy và đảm bảo trong kiểm toán lĩnh vực công
❖ Yêu cầu về sự tin cậy và đảm bảo
Đối tượng sử dụng báo cáo kiểm toán luôn mong muốn có thể tin tưởng vào các thông tin mà họ sẽ sử dụng Vì vậy các cuộc kiểm toán phải cung cấp thông tin dựa trên bằng chứng đầy đủ và thích hợp và kiểm toán viên nhà nước phải thực hiện các thủ tục
để giảm thiểu và quản lý rủi ro đưa ra các kết luận kiểm toán không phù hợp Sự đảm bảo của các thông tin cung cấp phải được thể hiện rõ ràng, minh bạch Tuy nhiên, do các cuộc kiểm toán đều có hạn chế nhất định nên một cuộc kiểm toán có thể không bao
giờ cung cấp được sự đảm bảo tuyệt đối
❖ Các hình thức thông tin về sự đảm bảo
Tùy thuộc vào từng cuộc kiểm toán và yêu cầu của đối tượng sử dụng báo cáo
kiểm toán, sự đảm bảo có thể được trình bày theo hai cách sau:
‐ Thông qua các ý kiến và kết luận kiểm toán để trình bày sự đảm bảo Dạng trình bày này được áp dụng cho tất cả các cuộc kiểm toán với công việc là kiểm tra xác nhận
và được áp dụng trong một số trường hợp kiểm toán với công việc là kiểm tra đánh giá;
‐ Theo các hình thức khác: Đối với một số trường hợp công việc là kiểm tra đánh giá, kiểm toán viên nhà nước không đưa ra một thông tin rõ ràng về sự đảm bảo đối với nội dung kiểm toán Trong các trường hợp này, kiểm toán viên nhà nước cung cấp cho đối tượng sử dụng báo cáo kiểm toán mức độ tin cậy cần thiết thông qua việc giải thích cách thức hình thành các phát hiện, tiêu chí và kết luận kiểm toán và giải thích rõ việc xem xét tổng thể các phát hiện và tiêu chí kiểm toán để đưa ra một kết luận hoặc kiến nghị kiểm toán
‐ Đảm bảo hạn chế: Trong trường hợp cung cấp sự đảm bảo hạn chế, kết luận kiểm toán đề cập như sau: “Theo ý kiến của kiểm toán viên nhà nước không có yếu tố nào để
kiểm toán viên nhà nước cho rằng nội dung kiểm toán không tuân thủ với các tiêu chí được áp dụng” Các thủ tục kiểm toán được thực hiện trong một cuộc kiểm toán có sự
đảm bảo hạn chế thường có giới hạn hơn so với các thủ tục cần thực hiện để đạt được
sự đảm bảo hợp lý Tuy nhiên, theo xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên nhà nước,
sự đảm bảo hạn chế có giá trị nhất định đối với đối tượng sử dụng báo cáo kiểm toán
1.2.2.3 Các dạng công việc kiểm toán (chức năng kiểm toán)
Trang 29Có hai dạng công việc trong kiểm toán khu vực công: Kiểm tra xác nhận và kiểm tra đánh giá Phần lớn các SAI trên thế giới đều thực hiện hai chức năng kiểm toán cơ bản là chức năng xác nhận và chức năng đánh giá:
Xác nhận là việc kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến hàm ý khẳng định thông tin do đơn vị được kiểm toán lập, trình bày và công bố có trung thực và hợp lý (kiểm toán báo cáo và thông tin tài chính), đúng đắn (kiểm toán tuân thủ pháp luật) và kịp thời, thích hợp, chính xác và đầy đủ (kiểm toán hoạt động) Chẳng hạn, xác nhận báo cáo quyết toán ngân sách quốc gia, hoặc địa phương có được lập trung thực và hợp lý, nghĩa là không còn chứa đựng sai sót trọng yếu (kiểm toán báo cáo tài chính); thông tin các khoản chi ngân sách có đúng mục đích chi, đúng đối tượng chi, đảm bảo tiêu chuẩn định mức chi theo quy định (kiểm toán tuân thủ) và thông tin về tình hình và kết quả hoạt động trong đơn vị được kiểm toán cho thấy chúng được lập, trình bày và báo cáo kịp
thời, thích hợp, chính xác và đầy đủ (kiểm toán hoạt động) Đối với dạng công việc kiểm
tra xác nhận, đơn vị được kiểm toán tiến hành đo lường các nội dung so với các tiêu chí
và trình bày thông tin, kết quả về các vấn đề liên quan Kiểm toán viên nhà nước thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp làm căn cứ hợp lý để đưa ra kết luận kiểm toán Kết quả kiểm toán được trình bày trong báo cáo kiểm toán dưới dạng xác nhận mức độ phù hợp của nội dung, thông tin, số liệu được kiểm toán so với các tiêu chí Đánh giá là chức năng phổ biến thứ hai được các SAI áp dụng và thường được thực hiện độc lập hoặc thực hiện kết hợp trước khi đưa ra ý kiến xác nhận Đánh giá là việc kiểm toán viên đưa ra ý kiến kiểm toán về một chủ đề/đối tượng kiểm toán theo từng tiêu chí nhất định nhằm khẳng định chủ đề/đối tượng kiểm toán đó có phù hợp với các tiêu chí được thiết lập không Chính vì chủ đề/đối tượng kiểm toán bao gồm cả báo cáo, thông tin đã được chuẩn hoá hoặc luật hoá và các báo cáo và thông tin được tạo lập cho các mục đích khác nhau nên phạm vi đánh giá thường khá rộng, hiếm khi kiểm toán viên đưa ra ý kiến tổng thể về việc liệu đơn vị được kiểm toán có tuân thủ quy định pháp luật, chính sách của đơn vị (kiểm toán tuân thủ) hoặc đạt được tính kinh tế, hiệu quả và
hiệu lực (kiểm toán hoạt động) Đối với dạng công việc kiểm tra đánh giá, kiểm toán
viên nhà nước tiến hành đo lường hoặc đánh giá nội dung kiểm toán so với tiêu chí kiểm toán Kiểm toán viên nhà nước lựa chọn nội dung và tiêu chí kiểm toán trên cơ sở xem xét rủi ro và trọng yếu kiểm toán Kết quả đo lường, đánh giá các nội dung kiểm toán so với tiêu chí được trình bày trong báo cáo kiểm toán dưới các hình thức như phát hiện, kết luận, kiến nghị hay ý kiến kiểm toán Kết quả kiểm toán cũng có thể cung cấp các thông tin, vấn đề và các phân tích mới Các cuộc kiểm toán tài chính luôn là dạng công việc kiểm tra xác nhận, vì chúng dựa vào các thông tin tài chính do đối tượng chịu trách nhiệm trình bày Các cuộc kiểm toán hoạt động thông thường là dạng công việc kiểm tra đánh giá Các cuộc kiểm toán tuân thủ có thể là kiểm tra xác nhận hoặc kiểm tra đánh giá, hoặc có thể đồng thời cả hai dạng công việc này
Trang 30Hình 1.3 Các dạng công việc kiểm toán và chức năng đảm bảo
Chức năng xác nhận và đánh giá có thể được áp dụng riêng rẽ hoặc lồng ghép trong tất cả các loại hình kiểm toán khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ đảm bảo cần cung cấp Tuy nhiên, trong hoạt động các SAI, xác nhận thường được áp dụng trong kiểm toán báo cáo và thông tin tài chính và kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động thường dừng lại mức độ đánh giá (ý kiến kiểm toán là ý kiến đánh giá)
1.2.2.4 Nội dung kiểm toán
Nội dung hay nhiệm vụ kiểm toán (một số tài liệu kiểm toán gọi là các vấn đề hoặc đối tượng kiểm toán) là các thông tin, tình hình hay các hoạt động được đo lường hoặc đánh giá so với các tiêu chí nhất định Nội dung kiểm toán được xác định phụ thuộc vào mục tiêu kiểm toán, khi trình bày trong kế hoạch kiểm phải đảm bảo rõ ràng và có thể giúp xác định các thủ tục kiểm toán để thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp
để đưa ra ý kiến hoặc kết luận kiểm toán
Nội dung kiểm toán trọng yếu đối với ba loại hình kiểm toán:
‐ Kiểm toán tài chính: Nội dung kiểm toán tài chính là các thông tin tài chính
được trình bày dưới dạng đơn vị tiền tệ gồm kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính, dòng tiền và các thuyết minh hay các yếu tố khác đã được phản ánh, đo lường và trình bày trong các báo cáo tài chính Thông tin liên quan đến nội dung kiểm toán có thể là các báo cáo tài chính, các sổ kế toán, chứng từ kế toán ;
‐ Kiểm toán tuân thủ: Nội dung kiểm toán của một cuộc kiểm toán tuân thủ được
xác định theo phạm vi kiểm toán, đó là các hoạt động, các nghiệp vụ, các giao dịch hay các thông tin có liên quan Thông tin có liên quan có thể là thông tin tài chính hoặc thông tin phi tài chính Trường hợp, nếu thông tin tài chính được lập, trình bày và công bố theo khuôn mẫu chung được thừa nhận, kiểm toán tuân thủ tương tự như kiểm toán báo cáo
Xác nhận thông tin tình hình/kết quả
Đánh giá
Mức độ đảm bảo trung
bình
Trang 31tài chính (xác nhận độ tin cậy của thông tin) Đối với thông tin phi tài chính hoặc thông tin tài chính được tạo, lập và báo cáo theo mục đích của từng đơn vị hoặc chưa được thừa nhận chung, nội dung kiểm toán tuân thủ thường dừng lại trong việc đánh giá thông tin đó gắn với các hoạt động, các nghiệp vụ, các giao dịch;
‐ Kiểm toán hoạt động: Nội dung kiểm toán của một cuộc kiểm toán hoạt động
được xác định theo các mục tiêu kiểm toán và các vấn đề cần kiểm toán Nội dung kiểm toán có thể là các chương trình, các hoạt động, các đơn vị hoặc các nguồn công quỹ cụ thể (có kết quả đầu ra, tác động và ảnh hưởng), tình hình hiện tại (bao gồm nguyên nhân
và hậu quả) Các thông tin liên quan đến nội dung kiểm toán hoạt động có thể là các thông tin tài chính hoặc phi tài chính Kiểm toán viên nhà nước tiến hành đo lường hay đánh giá các nội dung kiểm toán để xem xét mức độ đạt được hay không đạt được theo các tiêu chí đã được xác lập
‐ Đối với kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động:
+ Nếu đơn vị được kiểm toán có khuôn mẫu lập, trình bày và trách nhiệm công bố báo cáo tuân thủ hoặc báo cáo kết quả hoạt động về tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực thì nội dung kiểm toán tuân thủ hoặc hoạt động có thể thực hiện dưới hai dạng công việc tương ứng với mức độ đảm bảo gồm (i) chức năng xác nhận (mức độ đảm bảo hợp lý) đối với việc trình bày thông tin về kết quả hoạt động, để đưa ra ý kiến tổng thể về việc đạt được các tiêu chí kiểm toán về tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực; (ii) chức năng đánh giá (mức độ đảm bảo trung bình) do phạm vi kiểm toán có thể chưa bao phủ được toàn
bộ các chương trình, hoạt động hoặc nguồn công quỹ của đơn vị Trong trường hợp này, chức năng đánh giá thực hiện đối với nội dung kiểm toán là các cơ dẫn dẫn liệu về tuân thủ pháp luật hoặc về kết quả đạt được liên quan đến tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực; + Khi đơn vị không có khuôn mẫu chung về báo cáo tuân thủ hoặc báo cáo hoạt động, thông thường các kiểm toán viên chỉ áp dụng chức năng đánh giá đối với từng cơ
sở dẫn liệu và do đó không thể đưa ra ý kiến đánh giá, kết luận về tổng thể đối tượng kiểm toán Trong trường hợp này, kiểm toán viên nhà nước không thực hiện chức năng xác nhận mức độ tin cậy của thông tin
1.2.2.5 Tiêu chí kiểm toán
Tiêu chí kiểm toán được kiểm toán viên sử dụng để so sánh sự phù hợp với nội dung kiểm toán Tiêu chí kiểm toán có thể là các quy định pháp luật, các quy chuẩn, tiêu chuẩn, thông lệ thực tiễn tốt, các chính sách nội bộ đơn vị và mong đợi của người sử dụng Mỗi cuộc kiểm toán cần có các tiêu chí kiểm toán phù hợp Tiêu chí kiểm toán càng phù hợp, mức độ đảm bảo cuộc kiểm toán có thể cung cấp càng cao, rủi ro kiểm toán càng giảm Để xác định sự phù hợp của tiêu chí kiểm toán, kiểm toán viên nhà nước cần xem xét các tiêu chí đó có liên quan đến nội dung kiểm toán không, đối tượng sử dụng báo cáo kiểm toán có hiểu được tiêu chí kiểm toán đó không Kiểm toán viên nhà nước cũng cần xem xét các yếu tố khác như sự đầy đủ, tin cậy, khách quan, được chấp
Trang 32yếu tố, trong đó có các mục tiêu kiểm toán và loại hình kiểm toán Tiêu chí kiểm toán
có thể cụ thể hoặc có tính tổng hợp, có thể hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như các văn bản luật, các quy định, các chuẩn mực, các nguyên tắc phổ biến và các thực hành tốt Thông tin về các tiêu chí kiểm toán cần được cung cấp cho đối tượng sử dụng báo cáo kiểm toán để giúp họ hiểu được cách thức nội dung kiểm toán được đánh giá hay đo lường
Trang 33CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1
1 Kiểm toán có vai trò gì trong xã hội? Liệt kê 5 vai trò chủ yếu?
2 Điểm tương đồng và khác biệt giữa kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ
và kiểm toán hoạt động?
3 So sánh kiểm toán độc lập, kiểm toán nội bộ và kiểm toán nhà nước?
4 Các dạng công việc kiểm toán trong khu vực công là gì?
5 Liệt kê 5 ví dụ mà Kiểm toán nhà nước có thể thực hiện liên quan đến kiểm toán hoạt động?
Trang 35Chương 2: TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
2.1 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
Trong những năm qua, Bộ Xây dựng có nhiều định hướng phát triển ngành Xây dựng theo hướng hiện đại, nhanh, bền vững dựa trên nền tàng khoa học - công nghệ và đổi mới, sáng tạo Ngành đã và đang có sự phát triển nhanh chóng cũng như đóng góp
to lớn vào sự phát triển của kinh tế - xã hội thông qua nhiều hoạt động đầu tư các dự án
hạ tầng kỹ thuật, giao thông, dân dụng… đem lại nhiều lợi ích cho đất nước Hoạt động đầu tư xây dựng có quy trình khá phức tạp, vì vậy để đạt được hiệu quả đầu tư cao thì
sự phối hợp quản lý giữa các bên liên quan có vai trò vô cùng quan trọng
Quản lý dự án là quá trình áp dụng những kiến thức, kỹ năng, kỹ thuật và công cụ vào các hoạt động dự án để thỏa mãn các yêu cầu đối với dự án Để đạt được những yêu cầu đó, các nhà đầu tư cần phải nghiên cứu và lập kế hoạch, chỉ đạo tổ chức thực hiện, kiểm soát và định giá toàn bộ quá trình từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc dự án Mục đích của quản lý dự án tùy theo đặc điểm, quy mô, tính chất của dự án cũng như những đặc điểm kinh tế - xã hội của từng khu vực Tuy nhiên, mục tiêu của quản lý dự án phải đảm bảo ba yếu tố cơ bản đó là thời gian, chi phí, chất lượng và những yếu tố cần thiết khác
Hình 2.1 Mục đích của quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
Hoạt động quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm nhiều lĩnh vực quản
lý như phạm vi dự án, thời gian dự án, chi phí dự án, chất lượng dự án, nguồn nhân lực, việc trao đổi thông tin dự án, rủi ro trong dựa án, việc mua sắm của dự án, các bên liên quan, việc giao nhận dự án Với nhiều lĩnh vực khác nhau và phải thực hiện xuyên suốt trong quá trình đầu tư thì việc quản lý dự án phải tuân thủ các yêu cầu sau:
‐ Đảm bảo tuân thủ các qui định của pháp luật về việc quản lý dự án đầu tư xây
dự án trong ngân sách đã được phê duyệt
Đảm bảo hoàn thành
dự án trong thời gian đã được phê duyệt
Đảm bảo ATLĐ, VSMT trong thời gian thực hiện dự
án
Đảm bảo đạt được những mục tiêu về quản lý rủi
ro
Đảm bảo dự án được thực hiện mà không có những thay
đổi so với kế hoạch ban đầu đặt ra
Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
Tuân thủ các qui định pháp luật về đầu tư xây dựng…
Trang 36dựng;
‐ Đảm bảo thực hiện công tác quản lý đúng với những nội dung trong hợp đồng đã
ký kết với chủ đầu tư;
‐ Các tổ chức hoặc cá nhân khi tham quản lý dự án phải có đầy đủ chuyên môn, chứng chỉ năng lực hoạt động, chứng chỉ hành nghề phù hợp với quy mô, đặc điểm dự án;
‐ Việc quản lý dự án phải được tổ chức thực hiện nghiêm túc, đặt dưới sự kiểm tra
và giám sát chặt chẽ của chủ đầu tư;
‐ Quy trình quản lý dự án phải có tính khoa học, trình tự rõ ràng và thực hiện đầy
đủ các công việc cần thiết Tùy theo yêu cầu của dự án mà có nhiều quy trình quản lý khác nhau nhưng việc quản lý nên thực hiện theo quy trình quản lý dự án theo chuẩn PMI được đông đảo cộng đồng quản lý dự án trên thế giới công nhận để đạt được kết quả tốt nhất
2.2 KHÁI NIỆM VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc sử dụng nguồn vốn để đầu tư xây dựng mới, sữa chữa hoặc cải tạo công trình nhằm phát triển, duy trì và nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong khoảng thời gian
và chi phí xác định Hay nói một cách dễ hiểu, dự án đầu tư xây dựng công trình là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế Trên mỗi phương diện khác nhau thì dự án đầu tư xây dựng được hiểu là:
‐ Ở góc độ tổng quát dự án đầu tư có thể được coi là một bản kế hoạch chi tiết để triển khai các hoạt động đầu tư từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc đầu tư nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện các nguồn lực được ấn định trước;
‐ Xét về hình thức: Dự án đầu tư xây dựng là một tập hồ sơ gồm thuyết minh, thiết
kế, bản vẽ trình bày một cách chi tiết có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được kết quả thực hiện được theo mục tiêu nhất định;
‐ Xét ở góc độ quản lý của dự án: Dự án đầu tư xây dựng là tài liệu về quản lý việc
sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra kết quả tài chính, kinh tế xã hội trong một thời gian dài;
‐ Trên góc độ kế hoạch hóa: Dự án đầu tư xây dựng là công cụ thực hiện kế hoạch chi tiết về các công việc thiết kế, xây dựng và khai thác kinh doanh nhằm đạt được hiệu quả
‐ Xét về mặt nội dung: Dự án đầu tư xây dựng là một tập hợp các hoạt động xây dựng có liên quan với nhau nhằm đạt được mục tiêu đã định bằng việc tạo ra kết quả cụ thể trong thời gian nhất định thông qua việc sử dụng các nguồn lực nhất định
2.2.1 Phân loại dự án đầu tư xây dựng công trình
Trang 37Dự án đầu tư xây dựng được phân loại theo cấp độ dự án; quy mô, mức độ quan trọng; công năng phục vụ, tính chất chuyên ngành của công trình và mục đích quản lý; nguồn vốn sử dụng và hình thức đầu tư
Bảng 2.1 Các loại dự án đầu tư xây dựng công trình
‐ Dự án đầu tư xây dựng công trình quốc phòng, an ninh;
‐ Dự án đầu tư xây dựng nhà ở, xây dựng khu đô thị và dự án đầu tư xây dựng có công năng phục vụ hỗn hợp khác
Theo nguồn vốn sử
dụng và hình thức
đầu tư
‐ Dự án sử dụng vốn đầu tư công;
‐ Dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài đầu tư công;
‐ Dựa vào đặc điểm từng công trình mà áp dụng hình thức quản lý dự án; thời hạn
và mức phí bảo hành công trình; bảo hiểm công trình xây dựng… phù hợp
2.2.2 Giám sát, đánh giá dự án đầu tư xây dựng công trình
Đầu tư xây dựng công trình góp phần vào việc phát triển lực lượng sản xuất, tăng cường tiềm lực kinh tế và phát huy năng lực của mỗi thành phần kinh tế trong xã hội, qua đó góp phần thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc phát triển các thành phần kinh tế Do vậy, ngoài việc thực hiện tốt công tác quản lý dự án đầu
tư xây dựng còn phải có sự giám sát chặt chẽ và đánh giá hiệu quả đầu tư của dự án Tùy vào nguồn vốn sử dụng, công tác giám sát và đánh giá dự án của mỗi loại có nhiều điểm khác nhau, nhưng nhìn chung các dự án đều được giám sát, đánh giá để đảm bảo các mục tiêu đã đặt ra của dự án
2.2.2.1 Giám sát, đánh giá dự án đầu tư công
Trang 38a Giám sát dự án đầu tư công
Chủ đầu tư tự tổ chức thực hiện theo dõi, kiểm tra toàn bộ quá trình đầu tư dự án theo nội dung và những chỉ tiêu được phê duyệt nhằm đảm bảo mục tiêu và hiệu quả đầu tư
Cơ quan chủ quan, người có thẩm quyền quyết định đầu tư thực hiện theo dõi, kiểm tra dự án thuộc phạm vi quản lý Việc kiểm tra được thực hiện ít nhất một lần đối với dự án có thời gian thực hiện trên 12 tháng và kiểm tra khi điều chỉnh dự án làm thay đổi địa điểm, mục tiêu, quy mô, tăng tổng mức đầu tư
Cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư công và cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành thực hiện theo dõi, kiểm tra dự án thuộc phạm vi quản lý Các cơ quan nhà nước,
cơ quan chủ quản và người có thẩm quyền quyết định đầu tư quyết định tổ chức kiểm tra dự án theo kế hoạch hoặc đột xuất Công tác giám sát dự án đầu tư công của các chủ thể liên quan bao gồm những nội dung sau:
❖ Chủ đầu tư, chủ sử dụng
‐ Chủ đầu tư tự theo dõi và kiểm tra toàn bộ quá trình thực hiện dự án và lập báo cáo giám sát với các nội dụng như việc quản lý dự án; tiến độ, chi phí đã thực hiện; việc huy động vốn; giải ngân; quyết toán vốn dự án hoàn thành; việc chấp hành các quy định
về quản lý đầu tư; đề xuất giải pháp xử lý các vướng mắc, khó khăn…;
‐ Chủ sử dụng công trình cũng tổ chức thực hiện theo dõi và kiểm tra toàn bộ quá trình khai thác, vận hành dự án và báo cáo các nội dung như việc quản lý, khai thác, vận hành; khó khăn, vướng mắc trong quá trình sử dụng; đề xuất phương án xử lý…
❖ Người có thẩm quyền quyết định đầu tư
‐ Theo dõi tình hình thực hiện báo cáo của chủ đầu tư, chủ sử dụng; tổng hợp tình hình dự án, tổng hợp tình hình vận hành, khai thác; việc chấp hành các biện pháp xử lý của chủ đầu tư, chủ sử dụng…;
‐ Tiến hành kiểm tra việc chấp hành các quy định về giám sát; đánh giá đầu tư; đấu thầu; đền bù giải phóng mặt bằng, tái định cư; thanh quyết toán vốn đầu tư; việc quản
lý thực hiện dự án của chủ đầu tư; tiến độ thực hiện…
❖ Cơ quan chủ quản và cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư công
‐ Theo dõi quá trình thực hiện báo cáo của người có thẩm quyền quyết định đầu
tư, chủ đầu tư, chủ sử dụng theo quy định; tổng hợp tình trạng thực hiện dự án; tình trạng vận hành, khai thác; việc chấp hành biện pháp xử lý của các chủ thể…;
‐ Thực hiện kiểm tra việc chấp hành các quy định về đầu tư, giám sát, đánh giá đầu tư; công tác quản lý dự án; tiến độ thực hiện; khai thác và vận hành; việc chấp hành biện pháp xử lý vấn đề của cơ quan được giao chuẩn bị đầu tư, người có thẩm quyền quyết định đầu tư, chủ đầu tư, chủ sử dụng
❖ Cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành
Trang 39Dựa trên các chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực quản lý nhà nước được phân công,
cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành thực hiện giám sát dự án đầu tư công theo quy định pháp luật
b Đánh giá dự án đầu tư công
Đối với dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A cần thực hiện đánh giá ban đầu, giữa kỳ, kết thúc và đánh giá tác động; chỉ đánh giá kết thúc và đánh giá tác động đối với các dự án nhóm B và C
Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức thực hiện đánh giá ban đầu, đánh giá giữa kỳ
và đánh giá kết thúc Người có thẩm quyền quyết định đầu tư có trách nhiệm tổ chức thực hiện đánh giá đột xuất, đánh giá tác động Cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư công tổ chức thực hiện các loại đánh giá theo kế hoạch và đánh giá đột xuất dự án thuộc phạm vi quản lý
Nội dung đánh giá dự án đầu tư công bao gồm:
❖ Đánh giá ban đầu
‐ Công tác chuẩn bị, tổ chức, huy động các nguồn lực để thực hiện dự án bảo đảm đúng mục tiêu, tiến độ đã được phê duyệt;
‐ Những vướng mắc, phát sinh mới xuất hiện so với thời điểm phê duyệt dự án;
‐ Đề xuất các biện pháp giải quyết các vấn đề vướng mắc, phát sinh phù hợp với điều kiện thực tế
❖ Đánh giá giữa kỳ hoặc đánh giá giai đoạn
‐ Sự phù hợp của kết quả thực hiện dự án so với mục tiêu đầu tư;
‐ Mức độ hoàn thành khối lượng công việc đến thời điểm đánh giá so với kế hoạch được phê duyệt;
‐ Đề xuất các giải pháp cần thiết, kể cả việc điều chỉnh dự án
❖ Đánh giá kết thúc
‐ Đánh giá hoạt động quản lý thực hiện dự án; kết quả thực hiện các mục tiêu của
dự án; các nguồn lực đã huy động; các lợi ích do dự án mang lại cho những đối tượng thụ hưởng; các tác động, tính bền vững của dự án;
‐ Bài học rút ra sau quá trình thực hiện dự án và đề xuất các khuyến nghị cần thiết; trách nhiệm của chủ đầu tư, người có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư và các bên liên quan
Trang 40‐ Tính bền vững của dự án;
‐ Bài học rút ra từ chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, thực hiện, vận dự án; trách nhiệm của chủ đầu tư, người có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư và các bên liên quan
‐ Xác định những phát sinh ngoài dự kiến (nếu có), nguyên nhân phát sinh ngoài
dự kiến và trách nhiệm của các bên liên quan;
‐ Ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của những phát sinh ngoài dự án đến việc thực hiện dự án và khả năng hoàn thành các mục tiêu dự án;
‐ Đề xuất các giải pháp cần thiết
Tùy theo quy mô và tính chất của dự án, có thể sử dụng các phương pháp đánh giá hiệu quả đầu tư như phương pháp so sánh, đối chiếu hoặc phương pháp phân tích chi phí - lợi ích Bên cạnh đó, quá trình đánh giá hiệu quả đầu tư dự án cần phải dựa trên các chỉ tiêu như mức độ đạt được mục tiêu đầu tư dự án theo quyết định đầu tư đã được phê duyệt; chỉ số khai thác, vận hành thực tế của dự án so với các chỉ số khai thác, vận hành của dự án đã được phê duyệt; tỷ suất hoàn vốn nội bộ (EIRR); các tác động kinh
tế - xã hội, môi trường và các mục tiêu phát triển đặc thù khác (xóa đói giảm nghèo, bình đẳng giới, hộ chính sách, đối tượng ưu tiên); các biện pháp để giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực về xã hội, môi trường được thực hiện
2.2.2.2 Giám sát, đánh giá dự án PPP
a Giám sát dự án PPP
Cơ quan ký kết hợp đồng dự án PPP và nhà đầu tư tự tổ chức thực hiện theo dõi, kiểm tra quá trình đầu tư dự án theo nội dung được phê duyệt và hợp đồng dự án Người
có thẩm quyền phê duyệt dự án, cơ quan có thẩm quyền thực hiện theo dõi, kiểm tra dự
án thuộc thẩm quyền kiểm tra ít nhất một lần đối với các dự án do mình phê duyệt và kiểm tra khi điều chỉnh dự án làm thay đổi địa điểm, mục tiêu, quy mô, tăng tổng vốn đầu tư
Cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư theo phương thức đối tác công tư, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành thực hiện theo dõi, kiểm tra dự án thuộc phạm vi quản
lý Các cơ quan nhà nước, cơ quan có thẩm quyền và người có thẩm quyền phê duyệt
dự án quyết định tổ chức kiểm tra dự án theo kế hoạch hoặc đột xuất Công tác giám sát
dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư của các chủ thể bao gồm những nội dung sau: