Tóm tắt Đề tài hướng đến việc cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của quy mô đến mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại NHTM Việt Nam.Bằng cách sử dụng hai phương
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHẠM THÙY TRANG
TÁC ĐỘNG CỦA QUY MÔ ĐẾN MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN RỦI
RO CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM TRONG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHẠM THÙY TRANG
TÁC ĐỘNG CỦA QUY MÔ ĐẾN MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN RỦI
RO CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM TRONG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bài luận văn “Tác động của quy mô đến mức độ chấp nhận
rủi ro của ngân hàng thương mại ở Việt Nam trong giai đoạn 2011-2021” hoàn
toàn do tôi tự thực hiện Các trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn có nguồn gốc và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2023
Học viên thực hiện
PHẠM THÙY TRANG
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ này, tôi đã nhận được sự giúp
đỡ, quan tâm và động viên từ cơ quan và đồng nghiệp Luận văn cũng được hoàn thành dựa trên sự tham khảo, đúc kết kinh nghiệm từ các sách báo chuyên ngành, kết quả nghiên cứu liên quan Đặc biệt là sự giúp đỡ cũng như tạo điều kiện về vật chất
và tinh thần từ phía gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Lưu Thu Quang, người đã luôn dành nhiều thời gian, công sức để định hướng, lắng nghe ý kiến, nhận xét và đưa
ra lời khuyên để tôi có thể hoàn thành đề tài một cách tốt nhất
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu và toàn thể các thầy cô giáo công tác trong Trường Đại học Ngân hang TP HCM đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi đã cố gắng hết sức để hoàn thành bài luận văn này, nhưng với kiến thức có hạn nên không tránh khỏi những thiếu sót Mong Quý thầy cô, các chuyên gia và những người quan tâm đến đề tài đưa ra những ý kiến đóng góp, giúp đỡ để đền tài được hoàn thiện hơn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 5TÓM TẮT 1.1 Tiêu đề
“Tác động của quy mô đến mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng thương mại ở Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2021”
1.2 Tóm tắt
Đề tài hướng đến việc cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của quy mô đến mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam.Bằng cách sử dụng hai phương pháp định tính và định lượng, tác giả phát hiện quy mô ngân hàng có tương quan dương với mức độ chấp nhận rủi ro trong hệ thống các ngân hàng được kiểm tra Việc phân tích chi tiết các nhân tố cấu thành biến đo lường mức độ chấp nhận rủi ro (Z-score) cho thấy mức độ chấp nhận rủi ro của các NHTM Việt Nam chủ yếu thông qua gia tăng mức độ đòn bẩy tài chính Bên cạnh đó, yếu tố về tỷ lệ sở hữu của CEO được đưa vào mô hình nghiên cứu như là một phương tiện để giải thích
hệ quả của các cơ chế quản trị tại các NHTM Việt Nam với mức độ chấp nhận rủi ro.Ngoài ra, một số biến công cụ được tác giả sử dụng như quy mô tiền gửi không kỳ hạn, số lượng nhân viên và tổng giá trị tài sản cố định góp phần giải thích rõ hơn tác động của quy mô đến mức độ chấp nhận rủi ro tại các NHTM Việt Nam.Kết quả nghiên cứu kết luận rằng các ngân hàng có quy mô càng lớn thì càng có xu hướng chấp nhận rủi ro cao hơn Khi đạt đến một quy mô đủ lớn, các ngân hàng được chính phủ bảo hộ tránh khỏi tình trạng phá sản nhằm đảm bảo tín nhiệm của người dân và sự
ổn định của nền kinh tế Đây cũng là lý do khiến cho các ngân hàng có quy mô lớn tranh thủ sự bảo hộ của chính phủ mà tăng khẩu vị rủi ro, chấp nhận các phương án kinh doanh rủi ro thấp đổi lấy tỷ suất sinh lời cao Ngoài ra, bài nghiên cứu thu được kết quả rằng sự bùng phát của đại dịch Covid19 khiến các NHTM thận trọng hơn trong hoạt động ngân hàng để đảm bảo hoạt động ổn định của hệ thống tài chính quốc
gia
1.3 Từ khóa:
Quy mô ngân hàng, mức chấp nhận rủi ro, đòn bẩy tài chính.
Trang 6ABSTRACT 2.1 Title
“The impact of firm size on the risk-taking level of Vietnam commercial banks in the period 2011 - 2021”
as deposit size, number of employees and total value of fixed assets contribute to better explaining the impact of size on risk-taking level in Vietnam commercial banks The research results that the larger the banks, the more they tend to accept higher risks When they reach a large enough scale, banks are protected by the government to avoid bankruptcy to ensure the trust of the people and the stability of the economy This is also the reason why large-scale banks take advantage of government protection and increase their risk appetite, accepting low-risk business plans in exchange for high profitability In addition, the study found that the outbreak of the Covid-19 pandemic reduced the risk tolerance of commercial banks Prudence in banking activities during the pandemic is important to ensure the stable operation of the national financial system
2.3 Keywords
Bank size, Bank risk-taking, Financial leverage
Trang 7DANH MỤC TỪVIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
Từ viết
OLS Ordinary Least Squares Phương pháp bình phương tối
thiểu FEM Fixed Effects Model Mô hình tác động cố định
REM Random Effects Model Mô hình tác động ngẫu nhiên 2SLS Two-Stage least squares Mô hình hồi quy hai giai đoạn ROA Return on total assets Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản HNX Hanoi Stock Exchange Sở giao dịch chứng khoán Thành
phố Hà nội HoSX Ho Chi Minh City Stock
Exchange
Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
FED Federal Reserve Cục dự trữ liên bang Mỹ
TBTF Too big to fail Trạng thái quá lớn để sụp đổ
Trang 9MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
ABSTRACT iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG ANH vi
MỤC LỤC vii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
CHƯƠNG 1.GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu 5
1.6 Ý nghĩa thực tiễn của bài nghiên cứu 5
1.7 Bố cục của đề tài 6
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 8
2.1 Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu 8
2.1.1 Các tranh luận xung quanh vấn đề “TBTF” 8
2.1.2 Ngân hàng thương mại 10
2.1.3 Rủi ro 11
2.1.4 Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 12
2.1.5 Mức độ chấp nhận rủi ro 18
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây 19
CHƯƠNG 3.GIẢ THUYẾT, MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
Trang 103.1 Giả thuyết nghiên cứu 24
3.2 Mô hình nghiên cứu 24
3.3 Phương pháp ước lượng 27
3.4 Dữ liệu và mẫu 27
3.5 Mô tả và định nghĩa các biến 28
3.5.1 Mô tả và định nghĩa các biến 28
CHƯƠNG 4.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
4.1 Thống kê mô tả 39
4.2 Kết quả nghiên cứu 43
4.2.1 Kết quả hồi quy mô hình không có MB 43
4.2.2 Kết quả hồi quy mô hình có biến MB 45
4.2.3 Kết quả hồi quy 2SLS 46
4.2.4 Kết quả hổi quy từng nhân tố Zscore 48
4.3 Phân tích kết quả nghiên cứu 49
CHƯƠNG 5.KẾT LUẬN 57
5.1 Kết luận 57
5.2 Kiến nghị 60
5.3 Hạn chế của đề tài 62
5.4 Hướng phát triển của đề tài 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO i
PHỤ LỤC 1 DANH SÁCH CÁC NGÂN HÀNG TRONG MẪU vii
PHỤ LỤC 2 CÁC KIỂM ĐỊNH ix
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Mô tả các biến trong mô hình 25
Bảng 4.1 Thống kê mô tả 39
Bảng 4.2 Ma trận hệ số tương quan 42
Bảng 4.3 Kết quả hồi quy mô hình không có biến MB 44
Bảng 4.4 Kết quả hồi quy mô hình có biến MB 45
Bảng 4.5 Kết quả hồi quy 2SLS 47
Bảng 4.6 Kết quả hồi quy từng nhân tố Zscore 48
Bảng 4.7 Tổng hợp kết quả hồi quy của 3 mô hình chính bao gồm: Mô hình có MB, không có MB và mô hình hồi quy 2SLS 50
Bảng 4.8 Bảng tổng hợp kết quả 55
Trang 12CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1.1 Lí do chọn đề tài
Theo xu hướng phát triển hệ thống NHTM hiện nay, các ngân hàng thường tiến tới các thoả thuận hợp nhất với nhau hoặc mua lại các ngân hàng khác Qua đó hướng đến việc xây dựng nên hệ thống NHTM hoạt động ngày càng hiệu quả, phát triển cả về chất lượng lẫn dịch vụ và đồng thời giảm thiểu rủi ro trong hoạt động Sự gia tăng quy
mô ngân hàng là điều cần thiết trong tình hình kinh doanh ngân hàng hiện đại Một câu hỏi lớn đặt ra là sự gia tăng quy mô đó thật sự có đảm bảo được giảm thiểu các yếu tố rủi ro trong hoạt động của NHTM hay không
Theo các chuyên gia trên thế giới, khi gia tăng quy mô đến ngưỡng “too big, too fail” thì các ngân hàng càng có nhiều động cơ gia tăng mức độ chấp nhận các rủi ro trong hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận Ngân hàng là huyết mạch của nền kinh tế, là hệ thống có kết nối rộng khắp với nền kinh tế Do vậy, sự sụp
đổ của bất kỳ một ngân hàng nào cũng sẽ tạo ra hiệu ứng domino, tác động dây chuyền và ảnh hưởng xấu đến toàn bộ nền kinh tế của các quốc gia Do đó, nhà nước
và chính phủ các quốc gia luôn phải đứng ra can thiệp hỗ trợ hoạt động của các ngân hàng đang ở bờ vực phá sản bằng những biện pháp hành chính và điều tiết của mình thông qua hệ thống tài chế, luật pháp, đồng thời hỗ trợ các ngân hàng có tiềm lực tài chính mạnh mua lại, hợp nhất hoặc sát nhập các ngân hàng lại Qua đó hạn chế khả năng phá sản hoặc mất khả năng thanh toán của các ngân hàng đang gặp khó khăn Thực tế, các chính sách bảo trợ liên quan đến các ngân hàng “too big, too fail” đã bị nhiều chuyên gia chỉ trích, là một trong những yếu tố làm ảnh hưởng méo mó đến các chính sách ưu đãi tài chính, đóng vai trò then chốt dẫn trong các cuộc khủng hoảng tài chính thế giới gần đây Chính sách này có thể gây ra vấn đề rủi ro về mặt đạo đức khi các tổ chức tài chính có thể lợi dụng sự hậu thuẫn của chính phủ để gia tăng các rủi ro trong hoạt động kinh doanh, bất chấp các rủi ro để đạt các mục tiêu lợi nhuận kinh tế Kết quả làm gia tăng rủi ro cho toàn nền kinh tế
Trang 13Nghiên cứu về ảnh hưởng của quy mô đến mức độ chấp nhận rủi ro trong các công ty tài chính, tổ chức tài chính, ngân hàng đang là hướng khai thác được nhiều chuyên gia, nhà kinh tế khai thác ở nhiều góc độ khác nhau, ở nhiều quốc gia và cấp khu vực trên thế giới Nhiều nghiên cứu được tiến hành để đánh giá mối tương quan giữa quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại như nghiên cứu của Bruce Kogut và Hitesh Harnal (2010); Ray Barrell, Philip Davis và cộng sự (2011), Sanjai Bhagat và cộng sự (2015),…vv Sanjai Bhgat và cộng sự (2015) cho thấy quy mô các ngân hàng càng lớn thì mức độ chấp nhận rủi ro càng cao và các cơ quan quản lý tin rằng tổ chức tài chính càng lớn, thì càng có khả năng đạt đến trạng thái “too big, too fail” và dễ gây ra rủi ro hệ thống Những người ủng hộ đề xuất kiểm soát quy mô các tổ chức tài chính trở lên lớn mạnh, sẽ giảm thiểu nguy cơ rủi ro cho nền kinh tế Những nhà phản đối thì cho rằng sự kiềm chế này có thể làm ảnh hưởng đến sự cạnh tranh trong ngành tài chính quốc gia và thị phần tài chính toàn cầu Ngoài
ra, việc hạn chế quy mô có thể gây nên những ảnh hưởng khác như thiếu đa dạng hoá rủi ro tín dụng và việc xác định chính xác ngưỡng “too big, too fail” cho từng khu vực, quốc gia là khó khăn và phức tạp
Hệ thống ngân hàng Việt Nam đã và đang ngày một phát triển với sự tăng trưởng nhanh chóng cả về quy mô và mức độ hoạt động của các ngân hàng thương mại Bên cạnh đó, tâm lý ỷ lại và luôn tự tin về sự bảo đảm của chính phủ Việt Nam trong việc kiểm soát các rủi ro hệ thống để tránh cho bất kỳ tổ chức ngân hàng nào phá sản, làm ảnh hưởng đến toàn nền kinh tế là một trong những yếu tố khiến cho nhiều NHTM tăng trưởng quá nóng bất chấp việc kiểm soát rủi ro tín dụng để đạt mục tiêu lợi nhuận Các nghiên cứu, đề tài tương quan giữa quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro tại các NHTM Việt Nam đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và khai thác Các nghiên cứu đặt ra câu hỏi là liệu rằng có sự tương quan giữa quy mô với mức độ rủi ro được chấp nhận trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, và sự khác biệt trong các quy
mô có ảnh hưởng đến mức độ chấp nhận rủi ro tại các NHTM Việt Nam hay không?
Trang 14Đối với Việt Nam, quy mô có phải là vấn đề quan trọng đến việc giảm thiểu mức độ chấp nhận rủi ro trong hệ thống NHTM? Sử dụng dữ liệu thu thập được từ hệ thống NHTM Việt Nam, tác giả kiểm tra sự thay đổi của quy mô có ảnh hưởng đến mức độ chấp nhận rủi ro trong hệ thống NHTM? Bên cạnh đó, tác giả sử dụng Z-score làm biến đo lường mức độ chấp nhận rủi ro với các nhân tố cấu thành là: đòn bẩy tài chính (CAR), lợi nhuận trên tài sản (ROA) và sự biến động của thu nhập (σ(ROA)) cho phép tìm hiểu sâu hơn mối liên hệ với quy mô, nhằm xác định nguyên nhân chính dẫn đến mối quan hệ này để đưa ra những chính sách phù hợp giúp cho việc hoạch định chính sách quản lý rủi ro hệ thống ngân hàng hiệu quả hơn
Từ những vấn đề nêu trên, tác giả thực hiện nghiên cứu với đề tài “Tác động của quy mô đến mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng thương mại ở Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2021” Thông qua bài nghiên cứu, tác giả kỳ vọng giải quyết được các câu hỏi và góp phần làm phong phú thêm các bằng chứng thực nghiệm về chủ đề nghiên cứu này và gia tăng tính vững đối với các giả thiết nghiên cứu được đưa ra
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu của bài nghiên cứu nhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của quy mô đến mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam dựa trên dữ liệu nghiên cứu được lấy từ 34 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2011-2021
Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu tổng quan, bài nghiên cứu đưa ra những mục tiêu cụ thể như sau:
- Thực hiện kiểm định mức độ tác động và chiều hướng tác động của quy
mô đến mức độ chấp nhận rủi ro tại 34 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2011-2021
Trang 15- Thực hiện kiểm định tác động của các nhân tố đại diện quy mô đến từng biến số cấu thành Z-score
- Ngoài ra, bài nghiên cứu còn xem xét tác động của một số yếu tố khác như tỷ lệ sở hữu của CEO, thâm niên hoạt động, sàn niêm yết, tính sở hữu Nhà Nước, tài sản cố định, số lượng nhân viên và giá trị thị trường trên giá trị sổ sách
Đồng thời, hai sự kiện đặc biệt trong giai đoạn nghiên cứu cũng được đề cập đến trong bài là cuộc khủng hoảng tài chính năm 2009-2012 và sự bùng phát của dịch Covid19 năm 2019-2021
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
1) Mức độ tác động của quy mô lên mức độ chấp nhận rủi ro và các yếu tố cấu thành Z-score và chiều hướng giữa chúng như thế nào?
2) Những yếu tố cấu thành thước đo về quy mô có mối tương quan như thế nào đến mức độ chấp nhận rủi ro?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của bài là tác động của quy mô đến mức độ chấp nhận rủi
ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
- Thời gian: Từ 2011 đến 2021
- Không gian: Việt Nam
- Dữ liệu nghiên cứu: Là nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập thông qua Vietstock và Vietdata, kết hợp thu thập thủ công từ báo cáo tài chính và báo cáo thường niên đăng tải trên trang chủ của 34 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2011-2021
Trang 161.5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu bảng thu thập từ 34 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2011-2021 Dữ liệu được thu thập thông qua nguồn từ Vietstock và Vietdata, kết hợp thu thập thủ công từ các báo cáo tài chính đã kiểm toán
và các báo cáo thường niên được đăng tải rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng
Trên cơ sở mẫu được hình thành, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng: hồi quy dữ liệu bảng Robust Check, Mô hình Hiệu ứng cố định – Fixed Effect Model (FEM) để kiểm tra mức ý nghĩa trong mối quan hệ giữa quy mô hoạt động và mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam Bên cạnh đó, phương pháp hồi quy 2 giai đoạn Two-Stages Least Squares (2SLS) cũng được sử dụng để khắc phục việc lựa chọn biến đại diện cho phù hợp với nghiên cứu
Trong bài nghiên cứu, tác giả sử dụng Z-score để đo lường mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam, đây là phương pháp được sử dụng trong rất nhiều nghiên cứu trên thế giới về mức độ chấp nhận rủi ro của các tổ chức tài chính Bên cạnh biến quy mô, tác giả sử dụng thêm các biến kiểm soát, cụ thể: tỷ lệ M/B, tỉ lệ sở hữu của lãnh đạo ngân hàng, biến giá trị cổ phiếu sở hữu của lãnh đạo ngân hàng, biến giả ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước Các biến trên được lựa chọn để
áp dụng cho phù hợp với quá trình chạy mô hình hồi quy
1.6 Ý nghĩa thực tiễn của bài nghiên cứu
Là một trong số nghiên cứu thuộc lĩnh vực này, đề tài đóng góp những lý giải
cơ bản về thực nghiệm mức độ chấp nhận rủi ro và tác động của quy mô trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam Đầu tiên, nghiên cứu mở rộng những phát hiện thực nghiệm về mối quan hệ giữa quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro khi phân tích tác động chung của quy mô và cơ cấu sở hữu thay vì tác động riêng biệt của một yếu tố quyết định Thứ hai, đề tài đưa ra các khuyến nghị hữu ích cho cơ quan có thẩm
Trang 17quyền về những gì có thể cải thiện dựa trên quy mô và cơ cấu sở hữu để giảm thiểu các hoạt động rủi ro cao trong lĩnh vực ngân hàng Những hiểu biết này là bắt buộc từ góc độ chính sách công vì mức độ chấp nhận rủi ro càng lớn khuyến khích các tổ chức
đổ lỗi cho một nền kinh tế mong manh và bất ổn, theo Bernanke (1983) đã chỉ ra Hơn nữa, những hiểu biết như vậy được coi là còn quan trọng hơn ở quốc gia bị điều tra Việt Nam, nơi các chỉ số rủi ro chính không được quản lý chặt chẽ, không đáp ứng các chuẩn theo Basel Accord Đồng thời, các quy định và luật cũng như hệ thống xếp hạng tín dụng chưa được thiết lập hoàn thiện để quản lý rủi ro
1.7 Bố cục của đề tài
Đề tài có kết cấu gồm 5 chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu đề tài, trong chương này tác giả giới thiệu lý do chọn đề tài, mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu đề tài
Chương 2: Tổng quan nghiên cứu về quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro, trong chương này tác giả tập hợp và trình bày các bằng chứng thực nghiệm trên Thế giới và Việt Nam trước đây về tác động của quy mô hoạt động đến mức độ chấp nhận rủi ro của các công ty tài chính, ngân hàng thương mại… và một số quan điểm về sự tác động này
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, trong chương này tác giả trình bày cụ thể đến phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và cở sở dữ liệu để thực hiện nghiên cứu cũng như mô tả các biến được sử dụng và các giả định phục vụ cho việc nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu, trong chương này tác giả trình bày kết quả thực nghiệm của nghiên cứu về tác động của quy mô ngân hàng đến mức độ chấp nhận rủi
ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam được xử lý thông qua bộ số liệu thu thập được, bao gồm các phân tích, giải thích về các mô tả thống kê, các phân tích về tương quan và hồi quy
Trang 18Chương 5: Kết luận, trong chương này tác giả tổng hợp lại kết quả của vấn đề được nghiên cứu trên cơ sở kết quả của mô hình thực nghiệm đã sử dụng, nêu bật các hạn chế trong nghiên cứu và hướng mở rộng trong tương lai Bên cạnh đó, tác giả đưa
ra các khuyến nghị cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách trên cơ sở kết quả thực nghiệm từ nghiên cứu
Trang 19CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN
CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu
2.1.1 Các tranh luận xung quanh vấn đề “TBTF”
Các cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra trên toàn cầu trong suốt ba thập kỷ gần đây với sức ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh tế của các quốc gia trên toàn thế giới Nhiều chuyên gia nghiên cứu, các nhà khoa học đặc biệt dành sự quan tâm lớn đến mức độ chấp nhận rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các tổ chức tài chính, các ngân hàng thương mại Các tranh luận sôi nổi nổ ra về vấn đề quy mô tối ưu, mức
độ phức tạp của tổ chức tài chính và phạm vi hoạt động của NHTM Trên thế giới đã diễn ra nhiều sự liên kết, hợp nhất, sát nhập và hợp tác giữa các ngân hàng của các tập đoàn đa quốc gia với nhau Các ngân hàng lớn gia tăng quy mô và trở nên mở rộng hơn bằng nhiều sự kết nối mang tính toàn cầu Hiện tượng quá lớn để sụp đổ “too big, too fail” được hiểu khi những công ty hay tập đoàn lớn với quy mô hoạt động rộng và liên kết chặt chẽ với nhiều thành phần kinh tế khác, có tầm ảnh hưởng nhất định đến
sự phát triển kinh tế quốc gia Một khi có sự đổ vỡ hay phá sản xảy ra, dù vì lý do gì thì chính phủ của quốc gia đó sẽ không để tập đoàn đó phải sụp đổ để tránh các ảnh hưởng lan truyền gây nên hiệu ứng domino cho toàn nền kinh tế Chính phủ sẽ phải thực hiện các biện pháp như hỗ trợ vốn hoặc cho sát nhập với các tập đoàn khác, hoặc
là chính nhà nước sẽ mua lại tập đoàn đó nhằm đảm bảo giữ vững hoạt động của tập đoàn này Mục đích là tránh sự sụp đổ dây chuyền với các công ty liên kết với tập đoàn này, gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động của nền kinh tế nước đó Những biện pháp đỡ đầu và bảo vệ của Chính phủ đối với các tập đoàn lớn này có thể giải quyết được vấn đề trước mắt nhằm tránh rủi ro hệ thống nhưng trong dài hạn, các nhà đầu tư vào ngân hàng giờ đây có ít lý do hơn để theo dõi chặt chẽ hoạt động của các NHTM được xếp vào nhóm “too big, too fail” Chính phủ không muốn đóng cửa các ngân hàng vì họ lo sợ ảnh hưởng lan truyền gây rủi ro cho nền kinh tế (Laeven và cộng sự,
Trang 202015) Các ngân hàng này thường có xu hướng chấp nhận rủi ro quá mức trong hoạt động kinh doanh của mình khi họ nhận thức được sự bảo hộ của nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của tập đoàn ngay cả trong trường hợp kinh doanh thất bại hoặc đứng trước rủi ro phá sản Tâm lý ỷ lại và tự tin quá mức của các nhà quản trị ngân hàng đối với sự bảo hộ của nhà nước, Chính phủ có thể được xem là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến chính sách quản trị doanh nghiệp theo hướng rủi ro mạo hiểm để đạt nhiều lợi nhuận mong muốn Qua đó, quy mô tập đoàn càng mở rộng, rủi ro càng cao và hiện tượng “too big, too fail” càng được củng cố hơn khi có sự bảo đảm từ Chính phủ (Laeven và cộng sự, 2015) Các ngân hàng thương mại thường tham gia vào các hoạt động giao dịch rủi ro cao khi quy mô càng lớn, điều này dẫn đến các nguy cơ về rủi ro mất khả năng thanh khoản (Shlefer và Vishny, 2010)
Các chính sách về “too big, too fail” tạo cho doanh nghiệp quy mô lớn một cơ
sở đảm bảo rằng chắc chắn sẽ có các gói cứu trợ của Chính phủ đối với doanh nghiệp khi hoạt động kinh doanh của họ gặp sự cố Chính sách này thực sự nguy hại khi cho phép các nhà quản trị doanh nghiệp có nhiều sự tự tin hơn khi họ chấp nhận mức độ rủi ro cao trong hoạt động kinh doanh để tìm kiếm cơ hội đầu tư sinh lợi lớn Theo báo cáo Squam Lake: “Fixing the Financial System”, các cổ đông, chủ nợ, nhân viên và nhà quản lý doanh nghiệp cùng chia sẻ sự cám dỗ đó Kết quả tất yếu là gia tăng những rủi ro cho toàn xã hội
Khi các ngân hàng phát triển với quy mô ngày càng lớn, cơ cấu tổ chức và quản trị doanh nghiệp của họ sẽ ngày càng phức tạp hơn Theo đó dẫn đến phát sinh thêm vấn đề chi phí đại diện trong doanh nghiệp và các vấn đề liên quan đến lợi ích của cổ đông, nhà điều hành, chủ nợ đối với quản trị lợi nhuận doanh nghiệp
Bên cạnh đó, theo lý thuyết về tài chính hành vi, luôn tồn tại những lệch lạc trong việc ra quyết định quản trị do tính chủ quan của nhà quản lý Điều này tùy thuộc vào khẩu vị rủi ro hoặc tâm lý quá tự tin, khiến nhà quản lý chấp nhận rủi ro cao với các dự án có NVP âm Mặt khác, theo lý thuyết quyền chọn (option theory), nhiều
Trang 21doanh nghiệp thực hiện việc gắn kết kết quả hoạt động kinh doanh của mình với việc chi thưởng cho nhà quản lý thông qua hình thức cổ phiếu Đây cũng là một tác nhân thúc đẩy các nhà quản lý gia tăng chấp nhận rủi ro để nâng cao giá trị cổ phiếu doanh nghiệp, nhằm tìm kiếm thêm thu nhập bản thân Tác giả kỳ vọng sẽ quan sát được mối quan hệ của các yếu tố này với việc chấp nhận rủi ro thông qua số liệu thực nghiệm
2.1.2 Ngân hàng thương mại
Hiểu một cách đơn giản nhất, ngân hàng là một doanh nghiệp chuyên về kinh doanh đồng vốn và các dịch vụ tiền tệ liên quan và được coi là một loại hình kinh doanh đặc thù Sản phẩm kinh doanh chủ yếu là việc sử dụng những khoản tiền tệ nên
có thể hiểu ngân hàng thương mại chính là nơi vừa cung cấp tiền vốn và cũng là nơi giúp khách hàng tiêu thụ những đồng vốn Điều này sẽ phát sinh ra các giao dịch giữa khách hàng và ngân hàng, từ đó sẽ tạo ra những hoạt động làm cho ngân hàng tác động ngược lại với khách hàng Các hoạt động của ngân hàng thương mại được thực hiện bằng những chức năng nghiệp vụ kết hợp với các công cụ chuyên dụng của ngân hàng Việc tối đa hóa lợi nhuận chính là công việc chính của ngân hàng thương mại khi mục đích là kinh doanh đồng vốn Ngân hàng sẽ được phép hoạt động kinh doanh trong các nghiệp vụ được quy định theo Ngân hàng Nhà Nước tại Luật các tổ chức tín dụng
Trong nền kinh tế, ngân hàng sẽ đóng vai trò trung gian như một nhà điều phối dòng tiền trong nền kinh tế Ngân hàng thương mại hình thành quỹ và cho vay để phân
bổ vốn tới nền kinh tế thông qua việc huy động những nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các nhà đầu tư trong kinh tế Với chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò tạo ra lợi ích cho các bên tham gia Đồng thời nó cũng thúc đẩy được
sự phát triển của nền kinh tế
Nếu chọn hình thức gửi tiết kiệm, bạn sẽ được hưởng lãi thông qua khoản tiền nhàn rỗi của mình Đối với hình thức vay, khi có nhu cầu vay bạn sẽ được cung cấp một khoản tiền trong hạn mức thỏa thuận để sử dụng cho các mục đích chi tiêu, thanh toán cá nhân hoặc nhu cầu vốn để kinh doanh Mọi giao dịch qua ngân hàng đều minh
Trang 22bạch và được pháp luật bảo vệ Đồng thời, ngân hàng cũng được hưởng lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất tiền cho vay và lãi tiền gửi từ khách hàng Đây được xem là chức năng quan trọng nhất trong ngân hàng thương mại vì đó đem lại nguồn vốn đảm bảo cho quá trình kinh doanh, sản xuất được phát triển và mở rộng hơn
Bên cạnh vai trò là một nhà điều phối, ngân hàng còn đóng vai trò giúp cho ngân hàng nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ Bằng cách tham gia vào quá trình kiểm soát các hoạt động kinh tế, giúp ổn định của thị trường chứng khoán và thị trường tài chính Tạo điều kiện phát triển cho nền kinh tế thông qua việc chiết khấu giải quyết khả năng lưu thông tiền tệ, hàng hóa nhanh chóng Ngân hàng thương mại còn có vai trò tư vấn, cung cấp thông tin và dịch vụ đầu tư hiệu quả
cố riêng biệt trong quá khứ và do đó cho phép các nhà quản trị doanh nghiệp xác định được phân bố xác suất xuất hiện các biến cố trong tương lai
Như vậy rủi ro là sự bất trắc không thể đo lường được, rủi ro thường đi kèm với
sự không chắc chắn xảy ra trong tương lai Thực tế người ta gắn rủi ro với những tổn thất có thể xảy ra đối với hoạt động của tổ chức
Trang 232.1.4 Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
Rủi ro của NHTM được định nghĩa là những thay đổi không lường trước được
về giá trị tài sản (gồm tài sản có và tài sản nợ) và các nghĩa vụ khác trong hoạt động của ngân hàng (Nguyễn Văn Nam và Hoàng Xuân Quyến, 2002)
Hoạt động ngân hàng luôn song hành với rủi ro nên việc nhận dạng và có biện pháp ứng phó với các loại rủi ro là vô cùng cần thiết Có nhiều cách phân loại rủi ro trong hoạt động của NHTM, theo Basel thì các rủi ro chính liên quan đến trụ cột 1 bao gồm: rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường
Theo Hennie van Greuning - Sonja Brajovic Bratanovic (2009): " Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng Đây là thuộc tính vốn
có của hoạt động ngân hàng Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không hoàn trả được toàn bộ Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và gây ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng”
Trang 24Theo Ủy ban Basel (2005) thì “Rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay (doanh nghiệp) hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thỏa thuận” Cũng theo Ủy ban này, một định nghĩa khác được nêu ra là “Rủi ro thất thoát đối với một ngân hàng là sự vỡ nợ của người giao ước trong hợp đồng, trong đó sự vỡ nợ được xác định là bất kỳ sự vi phạm nghiêm trọng nào đối với nghĩa vụ hợp đồng khi hoàn trả gốc và / hoặc lãi”
Theo A Sauders và H Lange (2005) định nghĩa “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm năng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng (doanh nghiệp), nghĩa là luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể được thực hiện
Ở Việt Nam, căn cứ Khoản 1, Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của Tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Văn bản số 22 / VBHN - NHNN ngày 04/6/2016 của Thống đốc NHNN thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy
ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết” Như vậy , rủi ro tín dụng là rủi ro tiềm ẩn đối với thu nhập hoặc vốn phát sinh khi người vay hoặc đối tác không thực hiện đúng điều khoản của hợp đồng hoặc không thực hiện đầy đủ như thỏa thuận tại điều khoản của hợp đồng Ngoài các hoạt động cho vay, rủi ro tín dụng cũng phát sinh trong nhiều loại hoạt động ngân hàng như bảo lãnh, tài trợ ngoại thương
Trang 25kể cả việc lựa chọn các sản phẩm cho danh mục đầu tư, các TCTD đại lý, các đối tác kinh doanh sản phẩm phái sinh hay các đối tác ngoại hối
Khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn, điều này làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi Khi không thu được nợ thì vòng quay vốn tín dụng giảm, ngân hàng kinh doanh không có hiệu quả Khi gặp phải rủi ro tín dụng, ngân hàng thường rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản, làm mất lòng tin người gửi tiền, ảnh hưởng đến uy tín ngân hàng Khi không thu được vốn, lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng
2.1.4.2 Rủi ro hoạt động
Rủi ro hoạt động là tổn thất phát sinh do quy trình và thủ tục nội bộ không đầy
đủ hoặc bị lỗi, do con người, dohệ thống hoặc do sự kiện bên ngoài
Rủi ro hoạt động tiềm ẩn trong hầu hết các hoạt động và các bộ phận của TCTD như trong hệ thống máy tính, trong hầu hết các giao dịch, các cam kết, các giao dịch của nhân viên
Rủi ro hoạt động liên quan đến bốn yếu tố: con người, quy trình, hệ thống và các sự kiện bên ngoài Rủi ro hoạt động tăng lên cùng với sự tham gia của con người vào hoạt động khởi tạo, phê duyệt, báo cáo, hoặc điều chỉnh một giao dịch Các yếu tố của rủi ro hoạt động liên quan đến hành vi gian lận, sự bỏ sót và lạm dụng của nhân viên NHTM càng có nhiều nhân viên, nhiều địa điểm giao dịch và khách hàng thì rủi
ro hoạt động càng cao Rủi ro hoạt động tăng theo mức độ phức tạp của giao dịch Giao dịch có nhiều bước, nhiều quy định, hoặc nhiều mốc tham chiếu nên đòi hỏi phải
có kiểm soát nội bộ và phê duyệt Các hệ thống xử lý dữ liệu được lựa chọn phải có tính tính chính xác, an toàn, tính tương hỗ thích hợp và luôn sẵn sàng cho việc sử
Trang 26dụng, hạn chế thời gian chết khi nhân viên và khách hàng không thể truy cập Sự kiện bên ngoài là các yếu tố nằm ngoài sự kiểm soát của NHTM cũng góp phần gây ra rủi
ro hoạt động Ví dụ: các vấn đề về cơ sở hạ tầng (bao gồm điện , nước , điện thoại , hệ thống truyền dữ liệu , giao thông , vận chuyển ) , đình công , các thay đổi về pháp lý hoặc chính trị và ngay cả thời tiết khắc nghiệt có thể tạo ra hoặc làm tăng thêm các rủi
ro trong NHTM
Một số vấn đề khác có ảnh hưởng đến mức độ rủi ro hoạt động như: khối lượng
và giá trị giao dịch , mức độ phức tạp của giao dịch , những thay đổi mà NHTM đang gặp phải ( quyền sở hữu mới , lãnh đạo mới , nhân viên mới , sản phẩm mới , những thay đổi về chính sách , quy trình , hệ thống ) Các NHTM đang trong quá trình sát nhập với tổ chức hoạt động ngân hàng khác thì có mức độ rủi ro hoạt động đặc biệt cao
Tập hợp nhiều yếu tố rủi ro hoạt động có nghĩa là rủi ro hoạt động cao Ví dụ:
hệ thống thanh toán là một trong những lĩnh vực có rủi ro hoạt động cao nhất ở hầu hết các TCTD, là vì: lượng tiền trong các giao dịch lớn, số lượng giao dịch nhiều, nhiều quy trình phê duyệt, khả năng xảy ra lỗi của con người và phụ thuộc quá nhiều vào các
hệ thống
2.1.4.3 Rủi ro thị trường
Rủi ro thị trường là rủi ro tiềm ẩn gây ra tác động tiêu cực đến thu nhập hoặc vốn của ngân hàng do những biến động của các yếu tố trên thị trường như biến động lãi suất, tỷ giá, giá chứng khoán, giá hàng hóa
Rủi ro thị trường có nhiều hình thức nên được chia ra làm 3 loại: rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, và rủi ro giá cả
• Rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất là loại rủi ro do sự biến động của lãi suất hoặc những yếu tố liên quan đến lãi suất làm tổn thất về tài sản và thu nhập của ngân hàng
Trang 27NHTM không thể tránh rủi ro lãi suất hoàn toàn Rủi ro lãi suất cao sẽ đe dọa đến thu nhập, vốn, thanh khoản và khả năng thanh toán NHTM Loại rủi ro này phát sinh khi ngân hàng duy trì kỳ hạn khác nhau giữa tài sản Nợ và tài sản Có Nếu ngân hàng duy trì tài sản Có có kỳ hạn dài hơn so với tài sản Nợ thì ngân hàng luôn đứng trước rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ đối với tài sản Nợ khi lãi suất tăng Ngược lại, khi lãi suất giảm ngân hàng gặp rủi ro về lãi suất trong việc tái đầu tư tài sản Có nếu tài sản Có có kỳ hạn ngắn hơn so với kỳ hạn của tài sản Nợ
Mặt khác, ngân hàng còn có thể gặp rủi ro làm giảm giá trị tài sản khi lãi suất thị trường thay đổi Như chúng ta đã biết, giá thị trường của tài sản Có hay tài sản Nợ
là dựa trên giá trị hiện tại của tiền tệ Vì vậy, nếu lãi suất thị trường tăng lên thì mức chiết khấu giá trị tài sản cũng tăng lên, và do đó giá trị hiện tại của tài sản Có và tài sản Nợ giảm xuống Ngược lại, nếu lãi suất thị trường giảm thì giá trị của tài sản Có
và tài sản Nợ sẽ tăng lên Nếu kỳ hạn của tài sản Có lớn hơn kỳ hạn của tài sản Nợ mà lãi suất tăng thì ngân hàng bị tổn thất và nếu kỳ hạn của tài sản Có nhỏ hơn kỳ hạn của tài sản Nợ mà lãi suất giảm thì ngân hàng bị tổn thất
Ngoài ra rủi ro lãi suất còn có thể xảy ra do các nguyên nhân khác như: bất lợi trong cạnh tranh buộc ngân hàng phải tăng lãi suất huy động và hạ lãi suất cho vay để thu hút khách hàng do đó làm tăng chi phí và giảm thu nhập của ngân hàng; do cung tiền tệ nhỏ hơn cầu tiền tệ nên ngân hàng phải tăng lãi suất để huy động vốn; do chính sách ưu đãi cho vay của Nhà nước nên ngân hàng phải giảm lãi suất cho vay
• Rủi ro ngoại hối
Rủi ro ngoại hối là rủi ro do sự biến động của tỷ giá hối đoái gây nên Những rủi ro này có thể phát sinh trong tất cả các nghiệp vụ có liên quan đến ngoại tệ của ngân hàng như: cho vay, huy động vốn bằng ngoại tệ, mua bán ngoại tệ, đầu tư chứng khoán bằng ngoại tệ
Trang 28Loại rủi ro này chủ yếu xảy ra khi TCTD có sự chênh lệch giữa tài sản Có và tài sản Nợ bằng ngoại tệ cả trong nội bảng và ngoại bảng Thay đổi của tỷ giá sẽ tác động lên giá trị của chênh lệch này Vì vậy, trong các giao dịch ngoại hối và trong cân đối tài sản bằng ngoại tệ của ngân hàng, bất cứ một trạng thái ngoại hối dương hay âm đều
có thể gặp rủi ro hối đoái khi tỷ giá ngoại tệ thay đổi
• Rủi ro giá cả
Rủi ro về giá cả là khả năng có những tác động xấu lên vốn và thu nhập phát sinh do những thay đổi bất lợi của giá trị các công cụ tài chính, các khoản đầu tư hoặc các tài sản nội bảng, ngoại bảng của NHTM hay do thay đổi của các yếu tố thị trường
Hoạt động ngân hàng luôn song hành với rủi ro Khi rủi ro phát sinh, NHTM phải đối diện với nhiều tổn thất Các loại tổn thất này có thể phân chia thành tổn thất
dự kiến và tổn thất không dự kiến Tổn thất dự kiến là mức tổn thất mà ngân hàng có thể tính toán và dự tính trước được tương ứng với mỗi khoản mục trong danh mục đầu
tư Tổn thất không dự kiến là những tổn thất nằm ngoài dự kiến của ngân hàng Đây là tổn thất ứng với các rủi ro mà ngân hàng không thể dự đoán trước
Để hạn chế tổn thất do rủi ro gây ra, các NHTM cần thực hiện quy trình quản trị rủi ro Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát
và những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro đến hoạt động của NHTM Đối với rủi ro tín dụng, NHTM áp dụng các biện pháp phòng ngừa bao gồm: thiết lập chính sách tín dụng phù hợp, phân tích tín dụng và thẩm định dự án đầu tư, xếp hạng tín dụng, bảo đảm tín dụng, mua bảo hiểm tín dụng, lập quỹ dự phòng rủi ro tín dụng
Trang 292.1.5 Mức độ chấp nhận rủi ro
Mức độ chấp nhận rủi ro của tổ chức đóng vai trò nền tảng trong việc ra quyết định và có ảnh hưởng quan trọng đến kết quả kinh doanh cũng như sự sống còn của tổ chức trong dài hạn (Sanders & Hambrick, 2007)
Mức độ chấp nhận rủi ro được hiểu là cách xử lý với rủi ro và thường bị chi phối bởi sự đánh đổi giữa lợi ích và rủi ro Mức độ chấp nhận rủi ro có thể được định nghĩa trong 2 cách, gồm chấp nhận rủi ro quản lý và chấp nhận rủi ro mang tính tổ chức (Palmer và Wiseman, 1999) Chấp nhận rủi ro quản lý được định nghĩa như là chiến lược chủ động trong quản lý lựa chọn trong việc phân bổ nguồn lực Trong hầu hết các trường hợp, những quyết định này là nguyên nhân thay đổi trong sự tổ chức Chấp nhận rủi ro mang tính tổ chức được định nghĩa như là sự không chắc chắn về thu nhập của doanh nghiệp (Bowman, 1984; Bromiley, 1991)
Về bản chất, ngân hàng luôn phải hoạt động theonguyên tắc thận trọng nhằm hạn chế tối đa những rủi ro có thể xảy ra chủ yếu trong quá trình quản lý vốn, huy động vốn và sử dụng vốn Tuy nhiên, với tính chất đặc thù của các nghiệp vụ, hoạt động ngân hàng luôn đi liền với rủi ro Do đó các quyết định về kinh doanh của ngân hàng (như cho vay khách hàng) phải được phân tích, đánh giá, thẩm định kỹ càng
Để hoạt động có hiệu quả, năng động, các ngân hàng cần phải đánh giá được mức độ rủi ro của khách hàng và cả tình trạng rủi ro của mình; cân bằng giữa lợi nhuận và rủi ro, giữa tăng trưởng và năng lực quản trị rủi ro Bởi nếu chấp nhận rủi ro cao, ngân hàng có thể có lợi nhuận cao, nhưng ngân hàng lại rơi vào tình trạng không chắc chắn, kém bền vững và do đó hệ thống sẽ dễ tổn thương, dẫn đến đổ vỡ
Như vậy, mức độ chấp nhận rủi ro của NHTM là cách ứng xử của ngân hàng trước rủi ro thông qua việc duy trì hệ thống để nhận diện, theo dõi, đo lường và kiểm soát các rủi ro có thể xảy ra Mức độ chấp nhận rủi ro của NHTM cũng bị chi phối bởi
sự đánh đổi giữa lợi nhuận, tăng trưởng và rủi ro
Trang 302.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây
Chủ đề về mức độ ảnh hưởng của quy mô ngân hàng đối với rủi ro ngân hàng
đã được khá nhiều nhà kinh tế mang ra nghiên cứu, song các kết quả thu về được còn khá mâu thuẫn Vào năm 2008, Deng và Elyasiani nhận thấy rằng các nguồn tài trợ và danh mục cho vay sẽ được đa dạng hóa tốt hơn nhờ vào quy mô ngân hàng, do đó rủi
ro chung sẽ được giảm thiểu Wheelock và Wilson (2012) nhận thấy rằng quy mô làm tăng lợi nhuận Mặt khác, do chi phí giám sát tăng theo quy mô, Laeven và Levin (2009) lại cho rằng tại các ngân hàng có nhiều chi nhánh khác nhau về mặt địa lý, thì các nhà quản lý có nhiều khả năng hành động theo lợi ích của mình Goetz và các cộng
sự (2013) cũng có cùng quan điểm, các nhà quản lý có xu hướng cung cấp các khoản vay cho người trong cuộc và làm giảm chất lượng khoản vay trong một ngân hàng có danh mục cho vay đa dạng
Theo Saunders, Stock và Travlos (1990) đưa ra kết luận có tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô và biến đo lường mức độ chấp nhận rủi ro Được đo lường bằng công cụ độ lệch chuẩn lợi nhậu hàng ngày của cổ phiếu niêm yết củ ngân hàng dựa trên mẫu số là 38 ngân hàng được niêm yết tại Mỹ giai đoạn từ 1978 đến 1985, bài nghiên cứu đã đưa ra kết quả rằng khi ban quản trị là chủ sở hữu của ngân hàng, họ thường có xu hướng chấp nhận rủi ro nhiều hơn
Boyd và Runkle (1993) đã chỉ ra rằng có tương quan âm giữa tổng tài sản và mức độ chấp nhận rủi ro, dựa trên mẫu dữ liệu được thu thập từ các ngân hàng lớn đã được niêm yết ở Mỹ Kết quả còn chỉ ra giữa tổng tài sản với độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản và tỷ lệ vốn chủ sở hữu là nghịch biến
Demsetz, Saidenberg và Strahan (1997) đưa ra kết luận dựa trên mẫu thực nghiệm của 134 ngân hàng lớn đã được niêm yết tại Mỹ trong giai đoạn 1980 – 1993, giữa quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng có tác động ngược chiều lên nhau Ngoài ra, bài nghiên cứu còn cho thấy rủi ro của ngân hàng được đại diện ở đây
là rủi ro đặc thù và không có sự mối quan hệ giữa quản trị rủi ro và quy mô
Trang 31Boyd, De Nicolo và Al Jalal (2006) dựa trên mẫu nghiên cứu là các ngân hàng
ở khu vực phi nông thôn và có quy mô nhỏ đã đưa ra kết luận có mối quan hệ ngược chiều giữa tổng tài sản và mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng, với rủi ro được tính toán bằng tỷ lệ vốn trên vốn chủ sở hữu và điểm số Z-score
Laeven và Levine (2009) đưa ra kết luận rằng có mối quan hệ cùng chiều giữa biến quy mô và biến đo lường mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng, dựa trên mẫu nghiên cứu thực nghiệm của 270 ngân hàng công lớn nhất được lựa chọn từ 48 quốc gia trong giai đoạn 1996 – 2001 Rủi ro của bài nghiên cứu được đo lường bởi logarit
tự nhiên của điểm số Z-score và biến tổng tài sản được đại diện cho quy mô của ngân hàng Kết quả chỉ ra rằng tùy theo cấu trúc sở hữu của từng ngân hàng mà chịu sự quản lý trực tiếp bởi những chủ sở hữu thường có mức độ chấp nhận rủi ro cao hơn với mục đích bù đắp cho các chi phí về yêu cầu vốn cao
Rajan (2006) và Diamond và Rajan (2009) cũng đưa ra thêm ý kiến cho thấy rằng trong ngắn hạn các nhà quản lý có xu hướng chấp nhận nhiều rủi ro hơn thông qua việc đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận với nguyên nhân thành tích của nhà quản lý
sẽ được đánh giá dựa vào thành quả hoặc lợi nhuận mà các nhà quản lý này tạo ra được cho công ty
Houston và cộng sự (2010) cũng ủng hộ rằng có mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô và biến mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng dựa trên mẫu nghiên cứu thực nghiệm gồm 300 ngân hàng trên thế giới trong giai đoạn 2000 – 2007 Rủi ro được đo lường bằng điểm số Z-score, tỷ lệ an toàn vốn, tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản và độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản Kết quả chỉ ra được mối quan hệ tương quan dương giữa tài sản và độ lệch chuẩn lợi nhuận hàng ngày của cổ phiếu
Cheng, Hong và Scheinkman (2010) đưa ra kết luận có mối tương quan dương giữa các khoản chi trả thưởng trong ngắn hạn với rủi ro gánh chịu đo lường bởi biến động lợi nhuận của cổ phiếu và beta Bài nghiên cứu được thực hiện dựa trên mẫu bao
Trang 32gồm các tổ chức tài chính tại Mỹ với mục đích tìm ra mối tương quan giữa chế độ đãi ngộ và mức độ chấp nhận rủi ro của công ty
Bolton, Mehran và Shapiro (2010) nghiên cứu về giải pháp giảm thiểu mức độ chấp nhận rủi ro bằng cách ràng buộc các chế độ lương thưởng và đãi ngộ của ban quản trị vào giá của chứng khoán và nợ Cơ sở đánh giá về khả năng quản trị của ban quản trị hướng đến việc ban quản trị thể hiện tài lãnh đạo tốt của mình thông qua việc đầu tư vào những dự án mang giá trị NPV dương, nhưng trong thực tế không phải tất
cả dự án đều mang NPV dương, do đó ban quản trị sẽ chấp nhận rủi ro cao hơn để đầu
tư vào các dự án với kỳ vọng đem lại lợi nhuận cao hơn vì lợi ích của cổ đông
Beltratti và Stulz (2012) đưa ra kết luận rằng các ngân hàng nhỏ hơn, lợi nhuận ngoài lãi càng cao và quyền sở hữu tập trung thì mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng đó càng cao Nghiên cứu được thực hiện trên mẫu 164 ngân hàng lớn với điều kiện có tổng tài sản trên 50 tỷ USD trong giai đoạn khủng hoảng tài chính 2007 – 2008
để đo lường mức độ thay đổi trong hiệu quả hoạt động
Sanjai Bhagat và các cộng sự (2015) với mẫu dữ liệu được thu thập từ tổng
7095 ngân hàng thương mai, ngân hàng đàu tư và công ty bảo hiểm, đây cũng chính là tài liệu cơ sở tham khảo của bài Kết quả cho thấy được rằng các ngân hàng có quy mô càng lớn càng thì xu hướng dễ dàng chấp nhận rủi ro thì càng cao, rủi ro được đo lường bằng điểm số Z-score Tổng kết lại bài nghiên cứu đưa ra bốn kết luận chính như sau: (i) quy mô hoạt động tổ chức tài chính càng lớn, mức độ chấp nhận rủi ro càng cao tại Mỹ trong giai đoạn 2002 – 2012 (ii) các ngân hàng dựa vào công cụ gia tăng đòn bẩy tài chính để tăng mức độ chấp nhận rủi ro của mình (iii) các ngân hàng được quản trị tốt hơn sẽ giảm thiểu được rủi ro hoạt động (iv) việc gia tăng quy định
về yêu cầu vốn tối thiểu ngoài việc giới hạn quy mô hoạt động để giảm thiểu mức độ chấp nhận rủi ro
Nghiên cứu của Das và Saibal (2007) cho rằng có thể nâng cao hiệu quả quản lý
nợ xấu nhờ vào quy mô ngân hàng Bởi vì các ngân hàng lớn sẽ dễ dàng hơn trong
Trang 33công tác đa dạng hóa danh mục cho vay và khả năng quản lý rủi ro Tuy nhiên, vào bài nghiên cứu năm 2017 của Nguyễn Thùy Dương và Trần Thị Thu Hương lại cho rằng các ngân hàng lớn kỳ vọng khi được chính phủ bảo vệ nên sẵn sàng chấp nhận rủi ro cao hơn nên dẫn đến gia tăng mức tỷ lệ nợ xấu
Nghiên cứu Houston và cộng sự (2010) kết luận rằng mối quan hệ thuận giữa quy mô và đo lường mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng, mối quan hệ tương quan dương giữa tài sản và độ lệch chuẩn lợi nhuận của cổ phiếu mỗi ngày
Bên cạnh đó, cũng trong năm 2010 Cheng, Hong và Scheinkman thì đưa ra kết luận mối tương quan dương giữa các khoản chi thưởng ngắn hạn và mức gánh chịu rủi ro được tính bằng biến động lợi nhuận của cỗ phiếu và beta
Các nghiên cứu khác xét đến mức độ vốn hóa bằng cách sử dụng biến tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản Theo Delis, Tran và Staikouras (2011) các ngân hàng nên thận trọng khi các có các yêu cầu về vốn khắt khe hơn bởi lúc này ngân hàng có thể có mức độ đòn bẩy tài chính cao hơn và ngược lại
Trong khi đó, Zribi và cộng sự (2011) cho rằng, một ngân hàng sẽ ít bị ràng buộc hơn khi tham gia vào các hoạt động cấp tín dụng có rủi ro khi chúng có khả năng sinh lời cao hơn, từ đo làm giảm động lực tạo thu nhập Tuy nhiên, nghiên cứu của Schechman và Gaglianone (2011) lại cho thấy giữa tốc độ phát triển của nền kinh tế và mức độ cho vay của ngân hàng tồn tại một mối quan hệ đồng biến Khi nền kinh tế tăng trưởng liên tục cao các ngân hàng sẽ cho vay dễ dàng hơn và trở nên ỷ lại hơn, nguy cơ RRTD gia tăng
Beltratti và Stulz (2012) đã đưa ra kết luận các ngân hàng nhỏ, lợi nhuận ngoài lãi càng cao và quyền sở hữu tập trung thì mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng đó càng cao
Trang 34Ahlem và cộng sự (2013) đã nghiên cứu rằng khi lãi suất thực tăng dẫn đến chi phí vay mượn tăng cao khiến các khoản đầu tư giảm xuống, làm gia tăng các khoản nợ xấu do khả năng đáp ứng của người đi vay giảm xuống
Sanjai Bhagat và cộng sự (2015) nghiên cứu được thực hiện dựa trên 7095 mẫu từ nhiều ngân hàng và công ty Kết quả chỉ ra mối quan tương quan dương giữa biến quy
mô và biến đo lường mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng, chứng tỏ rằng ngân hàng
có quy mô càng lớn càng có xu hướng dễ dàng chấp nhận rủi ro cao hơn Rủi ro được
đo lường bằng điểm số Z-score
Trang 35CHƯƠNG 3 GIẢ THUYẾT, MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 3.1 Giả thuyết nghiên cứu
H: Quy mô hoạt động có tác động đồng biến lên mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân
hàng thương mại Việt Nam
3.2 Mô hình nghiên cứu
Mô hình cơ sở:
▪ Zi = α0 + α1SIZE + α2CEO + α3STA + α4 FCD + α5CD + α7GEN + εi
▪ Zi = α0 + α1SIZE + α2CEO + α3STA + α4 FCD + α5CD + α6MB + α5GEN + εi
Mô hình 2SLS (Giải quyết nội sinh):
▪ Zi = α0 + α1SIZE + α2CEO + α3STA + α4 FCD + α5CD + εi
với mô hình biến công cụ:
▪ SIZE = α0 + α1DEL + α2EMP + α3PPE + α4AGE +α5CASA + εi
Phân tích sâu Zi:
𝑍 − 𝑠𝑐𝑜𝑟𝑒 = (𝑅𝑂𝐴 + 𝐶𝐴𝑅)
𝜎 (𝑅𝑂𝐴)
▪ CAR = α0 + α1SIZE + α2CEO + α3AGE + εi
▪ ROA = α0 + α1SIZE + α2CEO + α3AGE + εi
▪ σ(ROA) = α0 + α1SIZE + α2CEO + α3AGE + εi
Trang 36Bảng 3.1 Mô tả các biến trong mô hình
CAR Tỷ lệ an toàn vốn Vốn chủ sở hữu / Tổng tài sản
Giá trị cao hơn thể hiện sự ổn định hơn
σ(ROA) Độ lệch chuẩn của lợi
nhuận trên tổng tài sản
Biến độc lập
MB Hệ số giá trị sổ sách Giá trị thị trường của cổ phiếu chia cho giá
Trang 37Biến công cụ
AGE Tuổi ngân hàng Năm i – Năm thành lập
DEL Biến giả sàn niêm yết HOSE: 1
HNX: 0
PPE
Tổng giá trị tài sản cố định hữu hình và vô hình
Ln (PPE)
EMP Số lượng nhân viên Ln (Employees)
CASA Quy mô tiền gửi
không kỳ hạn Ln (Tiền gửi không kỳ hạn)
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
Tác giả đã thêm ba biến bổ sung so với mô hình của bài nghiên cứu gốc:
Thứ nhất là biến kiểm soát State Ownership (biến tỷ lệ sở hữu Nhà nước) để kiểm chứng mức độ tác động của tỷ lệ sở hữu Nhà nước lên mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng
Trang 38Thứ hai là biến giả Financial Crisis dummy (biến giả khủng hoảng tài chính) để xem xét mức độ tác động của cuộc khủng hoảng đến mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng
Thứ ba là biến giả Covid dummy (biến giả đại dịch COVID-19) để xem xét mức độ tác động của dịch bệnh COVID-19 lên mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng
3.3 Phương pháp ước lượng
Trên cơ sở mẫu được hình thành, bài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng: hồi quy dữ liệu bảng Robust Check, Mô hình Hiệu ứng cố định – Fixed Effect Model (FEM) để kiểm tra mức ý nghĩa trong mối tương quan giữa quy
mô hoạt động và mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam Bên cạnh đó, phương pháp hồi quy 2 giai đoạn Two-Stages Least Squares (2SLS) cũng được sử dụng để khắc phục việc lựa chọn biến đại diện cho phù hợp với nghiên cứu
3.4 Dữ liệu và mẫu
Mẫu bao gồm dữ liệu tài chính của 34 ngân hàng thương mại trong nước và dữ liệu kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2021 Dữ liệu thứ cấp của bài nghiên cứu được thu thập thông qua nguồn từ Vietstock và Vietdata, kết hợp thu thập thủ công từ các báo cáo tài chính đã kiểm toán và các báo cáo thường niên được đăng tải rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng
Mẫu nghiên cứu bao gồm 34 ngân hàng thương mại cổ phần với tổng số 442 quan sát tính theo năm Đây là mẫu đủ điều kiện để thực hiện nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam Trong số 34 ngân hàng thương mại cổ phần này, có 6 ngân hàng thương mại chưa được niêm yết và vẫn đang giao dịch trên sàn OTC như BaoVietBank, DongABank, GPBank, Oceanbank, PVcomBank, SCB, còn lại là 27 ngân hàng thương mại cổ phần đã được niêm yết trên sàn HOSE, HNX hoặc UpCom
Trang 393.5 Mô tả và định nghĩa các biến
3.5.1 Mô tả và định nghĩa các biến
Biến đo lường mức độ chấp nhận rủi ro (Z)
Z (Z-score), hay còn được gọi là Altman Z-score, là một thước đo dùng để xác định liệu một công ty, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất, có dẫn đến phá sản hay không Trong lĩnh vực ngân hàng, Z-score là một công cụ có ích giúp cho các ngân hàng có thể dự báo được khả năng phá sản trong tương lai cũng như giúp cho các ngân hàng có được những kế hoạch cụ thể dự phòng cho các trường hợp xảy ra những rủi ro đặc thù của ngành ngân hàng như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh toán, … Z-score được phát triển và giới thiệu vào cuối những năm 1960 bởi Edward Altman, một giáo sư tại Đại học New York, đã cung cấp cho công chúng hoặc cụ thể hơn là những nhà đầu tư một công cụ để đo lường sức khỏe tài chính tổng thể của một công ty Giá trị Z-score gần bằng 0 cho thấy một công ty sắp rơi vào tình trạng phá sản, ngược lại, giá trị Z-score gần bằng 3 cho thấy một công ty đang ở vị trí tài chính vững chắc
Dựa theo nghiên cứu của Laeven và Levine (2009), Houson và các cộng sự (2010), Sanjai Bhagat, Brian Bolton, Jun Lu (2015) và Mohsni và Otchere (2018), Z-score được đo bằng lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) cộng với tỷ lệ tài sản vốn (CAR), chia cho độ lệch chuẩn của lợi nhuận trên tổng tài sản σ(ROA) Tỷ lệ này được tính như sau:
𝑍 − 𝑠𝑐𝑜𝑟𝑒 = (𝑅𝑂𝐴 + 𝐶𝐴𝑅)
𝜎 (𝑅𝑂𝐴)Roy (1952) định nghĩa z-score như một thước đo khoảng cách về sự mất khả năng thanh toán Điểm z-score cao hơn hàm ý sự ổn định hơn, do đó ngân hàng chấp nhận mức rủi ro thấp hơn và ngược lại Roy (1952) cũng chỉ ra rằng lợi nhuận không bắt buộc phải được phân phối bình thường để có thể được xem là thước đo xác suất hợp lệ Về mặt trực quan, phép đo chỉ ra rằng số độ lệch chuẩn dưới mức trung bình
Trang 40lợi nhuận sẽ phải giảm để làm cạn kiệt vốn tự có (Boyd và cộng sự, 2006; Houston và cộng sự, 2010) Tỷ lệ cao hơn cũng có nghĩa là cần phải có lợi nhuận âm lớn hơn để làm cho ngân hàng mất khả năng thanh toán Do đó, như một thước đo rủi ro theo kinh nghiệm, điểm số Z-score là một thước đo rất phù hợp vì phá sản sẽ xảy ra khi vốn tự
có của một ngân hàng cạn kiệt Với độ lệch cao của điểm z-score, logarit tự nhiên của điểm z-score thu được theo Laeven và Levin (2009), Houston và các cộng sự (2010)
và Bhagat và các cộng sự (2015) Trong tính toán điểm số z-score, các giá trị hàng năm của CAR và ROA được sử dụng và thời gian cuốn chiếu 5 năm được sử dụng để tính toán σ(ROA) cho mỗi quan sát trong năm của ngân hàng CAR được tính bằng tổng vốn chủ sở hữu chia cho tổng tài sản của từng ngân hàng Để biết thêm bằng chứng về điểm số Z-score được sử dụng như là một thước đo mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng, hãy xem nghiên cứu của Boyd và cộng sự (2006) và Beltratti và Stulz (2012)
Ngoài việc sử dụng điểm số z-score như một thước đo mức độ chấp nhận rủi ro, theo Houston và các cộng sự (2010) và Bhagat và các cộng sự (2015), để hiểu thành phần nào của điểm số z-score chủ yếu ảnh hưởng đến biến quy mô ngân hàng, ba thành phần của điểm số z-score (ROA, CAR và σ(ROA)) được sử dụng làm các biến phụ thuộc riêng biệt để áp dụng vào mô hình
Biến đo lường quy mô hoạt động của ngân hàng (SIZE)
Những thước đo tiềm năng cho việc đo lường quy mô hoạt động của ngân hàng bao gồm các thước đo dựa trên kế toán như tổng tài sản và tổng doanh thu, và các thước đo dựa trên thị trường như vốn hóa thị trường Bài nghiên cứu sử dụng thước đo theo phương pháp kế toán với lý do thứ nhất, các số liệu như tổng tài sản, tổng lợi nhuận được dễ dàng thu thập thông qua báo cáo tài chính đã kiểm toán qua các năm tài chính của từng ngân hàng, và thứ hai, nếu đo lường theo phương pháp dựa trên thị trường thì số liệu về vốn hóa thị trường trên thị trường chứng khoán rất khó để thu thập vì tình hình niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam hiện nay vẫn còn hạn chế