Hiệu giá kháng thể của lợn ở các liều miễn dịch với virus giống gốc PRRS Hanvet1.vn nhược độc .... Mục đích và đối tượng nghiên cứu của luận án Mục đích: Tạo được chủng virus gây hội ch
T Ổ NG QUAN TÀI LI Ệ U
H ộ i ch ứ ng r ố i lo ạ n sinh s ả n và hô h ấ p ở l ợ n
1.1 1 Lịch sử xuất hiện hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS)
Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn do virus thuộc họ Arteriviridae gây ra, ảnh hưởng đến lợn ở mọi lứa tuổi Các triệu chứng bao gồm bỏ ăn hàng loạt, hắt hơi, sổ mũi, tăng tần số hô hấp và thở khó Lợn con thường có tỷ lệ chết cao, trong khi lợn trưởng thành có tỷ lệ chết thấp hơn nhưng thường bị đồng nhiễm với các vi khuẩn gây bệnh khác, đặc biệt là vi khuẩn ảnh hưởng đến hệ hô hấp.
Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn được ghi nhận vào năm 1987 ở
Bệnh đã xuất hiện tại vùng bắc của bang California, Iowa và Minnesota, Mỹ Năm 1988, bệnh lan sang Canada, và sau đó xuất hiện ở Đức vào năm 1990 Đến năm 1991, bệnh đã có mặt tại Hà Lan, Tây Ban Nha, Bỉ và Anh, và tiếp tục lan rộng đến Pháp vào năm 1992 (Benfield D et al., 1999).
Bệnh PRRS, hay Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn, đã được gọi bằng nhiều tên khác nhau từ khi xuất hiện, ban đầu được biết đến là Bệnh bí hiểm ở lợn (MDS) do chưa xác định được nguyên nhân Một số tác giả đã đặt tên bệnh dựa trên các triệu chứng như tai xanh (BED) hoặc các đặc điểm như sảy thai, đẻ non, và rối loạn hô hấp ở lợn Năm 1992, tại Hội nghị Quốc tế ở Minnesota, OIE đã chính thức công nhận tên gọi PRRS Bệnh này gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi lợn, ước tính lên đến 560 triệu USD mỗi năm tại Mỹ.
1.1.2 Tình hình PRRS trên thế giới và ở Việt Nam
+Tình hình PRRS trên thế giới
Theo báo cáo của tổ chức Thú y thế giới (2014), virus PRRS type 2 xuất hiện ở Trung Quốc và lan rộng khắp Châu Á (Đông, Nam và Bắc Á): Bhutan,
Campuchia, Trung Quốc, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippine, Nga, Singapore, Việt Nam
Hình 1.1 Sự phân bố của các type PRRSV trên thế giới
The PRRS pandemic has rapidly spread across more than 10 provinces in China, resulting in the death of 2 million pigs, including over 400,000 cases of abortion and premature births.
Vào năm 2007, dịch PRRS đã bùng phát tại hơn 25 tỉnh, khiến hơn 180.000 con lợn mắc bệnh và 45.000 con chết Nghiên cứu quy mô lớn đã xác định rằng virus PRRS tại Trung Quốc thuộc chủng Bắc Mỹ có tính cường độc (Tian et al., 2007) Tại Hàn Quốc, PRRS ở lợn chủ yếu do hai chủng virus thuộc loại EU-1 và loại EU-2 gây ra.
2 (Bắc mỹ) gây ra (Yeom et al., 2015)
Từ tháng 4/2012 đến tháng 8/2013, nghiên cứu của Marinou và cộng sự (2015) đã thu thập 359 mẫu huyết thanh từ lợn rừng ở nhiều địa phương tại Hy Lạp nhằm xác định tỷ lệ lưu hành của một số mầm bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, bao gồm hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn Kết quả cho thấy có 5,6% số mẫu dương tính với virus PRRS.
Từ năm 2008 đến năm 2013 (Jantafong et al., 2015) cho biết: hàng năm có khoảng 13,86% số lợn ở Thái Lan nhiễm virus hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp
Năm 2008, virus PRRS lần đầu tiên được phát hiện ở Thái Lan và Campuchia, 2 năm sau đó, nó trở thành nguyên nhân gây bùng phát dịch tại 2 nước này
Theo Tornimbene et al (2015), vào năm 2006, Trung Quốc và Việt Nam đã phát hiện một biến thể mới của virus HP-PRRS gây hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn Các vụ dịch này thường xuyên xảy ra tại hai quốc gia này, tạo ra nguy cơ lây nhiễm cao cho đàn lợn ở Campuchia Năm 2010, nghiên cứu tại tỉnh Takeo, giáp biên giới Việt Nam, cho thấy hơn 85% đàn lợn được khảo sát có lợn nhiễm virus PRRS.
Trong vòng 3 năm, tại 140 trang trại thuộc miền Bắc Italia (Salogni et al.,
2016) đã phát hiện 323 lợn bị xảy thai do virus, có nhiều loại virus đã được đề cập đến trong đó có 108 lợn bị xảy thai do nhiễm virus PRRS
Kể từ năm 2005, 25 quốc gia và vùng lãnh thổ trên hầu hết các châu lục đã ghi nhận sự lưu hành của virus PRRS Đặc biệt, từ năm 2006-2007, một biến chủng mới của virus PRRS với độc lực cao đã xuất hiện ở Trung Quốc và nhanh chóng lan rộng ra nhiều nước ở Châu Á, gây ra nhiều vụ dịch nghiêm trọng (Tian et al., 2007).
Vụ dịch PRRS làm chết hàng triệu lợn đã bùng phát từ năm 2006 (Zhou and Yang,
Bệnh PRRS lần đầu tiên bùng phát tại Việt Nam vào đầu năm 2007 và sau đó đã lan rộng sang các nước Đông Nam Á như Lào, Philippines và Campuchia.
Ni et al., 2012; Tornimbene et al., 2015)
Hiện nay, Tổ chức Thú Y thế giới đã có qui trình chẩn đoán, giám sát và dự phòng đối với hội chứng rốiloạn sinh sản và hô hấp ở lợn
(Nguồn: http://www.oie.int/fileadmin/Home/eng/Ourscientificexpertise/docs/pdf/PRRS guide web bulletin.pdf)
+ Tình hình PRRS tại Việt Nam
Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS) lần đầu tiên được phát hiện tại Việt Nam vào năm 1997 trên đàn lợn nhập khẩu từ Mỹ, với 10/51 lợn giống dương tính Từ tháng 3/2007 đến 2008, PRRS đã bùng phát thành đại dịch, gây thiệt hại kinh tế lớn cho người chăn nuôi, với hàng triệu con lợn mắc bệnh và bị tiêu hủy Nghiên cứu và chẩn đoán virus PRRS tại Việt Nam đã được tiến hành để hiểu rõ hơn về tình hình dịch bệnh này.
Từ năm 2007 đến 2008, số lượng lợn mắc bệnh PRRS đã gia tăng, với các virus PRRS được phân lập từ các ổ dịch có mức độ tương đồng cao với chủng virus PRRS độc lực cao của Trung Quốc Bệnh phẩm chứa virus có khả năng gây chết 100% lợn thí nghiệm, cho thấy rằng virus hoặc vi khuẩn đồng nhiễm đóng vai trò quan trọng trong việc gây ra tỷ lệ chết cao trên thực địa (Tô Long Thành và cs., 2008).
Từ 2009 đến 2015 tình hình dịch PRRS diễn ra vẫn phức tạp, dịch còn xảy ra ở nhiều tỉnh trên cả nước
Từ năm 2016 đến 2019, dịch PRRS không xuất hiện tại Việt Nam, nhưng nguy cơ bùng phát vẫn cao do virus PRRS vẫn tồn tại trong môi trường chăn nuôi và các hoạt động liên quan đến thịt lợn Để phòng ngừa hiệu quả, cần tổ chức tiêm phòng triệt để cho đàn lợn và thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp vệ sinh, cũng như áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học.
Tháng 10/2020 xuất hiện trở lại ổ dịch PRRS tại huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam, tại Nghệ An trong năm 2020 cũng có ổ dịch thuộc các huyện: Nam Đàn, Tân
Kỳ, Nghĩa Đàn và thị xã Thái Hòa đang triển khai các biện pháp cấp bách để phòng chống dịch PRRS Các Sở, ngành và địa phương nơi dịch xảy ra đã tập trung thực hiện quyết liệt và đồng bộ các biện pháp này.
B ả ng 1.1 T ổ ng h ợ p các ổ d ị ch PRRS x ả y ra ở Vi ệ t Nam t ừ 2007-2016
Năm Tỉnh Quận/Huyện Xã/Phường Số lợn mắc
PRRS Số lợn bị tiêu hủy
PRRS là một bệnh thường gặp ở lợn ở mọi lứa tuổi, gây ra triệu chứng ốm và sốt cao Bệnh này đặc biệt nghiêm trọng đối với lợn con theo mẹ và lợn nái chửa giai đoạn cuối, dẫn đến tỷ lệ chết cao hơn so với lợn thịt và lợn đực giống.
Dịch lây lan nhanh chủ yếu là do phát hiện chậm và dấu hiệu dịch bệnh không rõ ràng Người chăn nuôi thường bán lợn mắc bệnh mà không nhận thức được tình hình, dẫn đến việc không kiểm soát được việc vận chuyển lợn ốm từ vùng có dịch sang vùng không có dịch.
Virus gây h ộ i ch ứ ng r ố i lo ạ n sinh s ả n và hô h ấ p ở l ợ n
1 2.1 Nguồn gốc, phân loại virus PRRS
Virus PRRS là một RNA chuỗi đơn dương, được xếp vào bộ Nidovirales, họ Arteriviridae, chi Arterivirus (Collins et al., 1992) Các thành viên khác trong họ
Họ Arteriviridae bao gồm các virus như virus viêm động mạch ngựa (EAV), virus nâng mức khử hydro lactate (LDV) của chuột lang và virus sốt xuất huyết khỉ (SHFV) Dựa trên sự tương đồng về cấu trúc gen và cơ chế nhân lên, Arteriviridae có mối liên hệ chặt chẽ với các họ virus khác.
Coronaviridae, Roniviridae và Mesoniviridae được xếp vào bộ Nidovirales (Dea et al.,
1992), trong hệ thống phân loại ICTV (International committee on taxonomy of viruses) (Christianson et al., 1992)
Hình 1.2 Cây phả hệ của virus PRRS
(Nguồn: Amonsin et al., 2009) Khi phân tích cấu trúc và nguồn gốc hệ gen các nhà khoa học đã chia virus làm
Nhóm 1 gồm những virus thuộc chủng Châu Âu (thường gọi là Lelystad Virus-LV)
Nhóm 2 gồm những virus thuộc chủng Bắc Mỹ mà đại diện là VR-2332 (Collins, 1991; Murtaugh et al., 1995)
Hai nhóm virus này có sự tương đồng lên đến 60% về cấu trúc ribonucleotide, tuy nhiên, sự khác biệt 40% trong cấu trúc gen tạo ra tính đa dạng di truyền và kháng nguyên Các nghiên cứu cho thấy virus PRRS phân lập từ các vùng địa lý khác nhau có dấu hiệu khác biệt về di truyền Đặc biệt, virus cùng một nhóm có thể khác nhau đến 20% về trình tự và số lượng nucleotide, như các chủng virus thuộc dòng Bắc Mỹ.
Sự đa dạng và khả năng biến đổi cấu trúc di truyền của virus PRRS đã tạo ra sự phức tạp cho mầm bệnh này trên toàn cầu, gây nhiều khó khăn trong việc phát triển vaccine phòng bệnh hiệu quả.
B ảng 1.2 So sánh đặc điể m h ệ gen c ủ a các ch ủ ng virus PRRS trên th ế gi ớ i
Độ dài của gen và hệ gen được đo bằng cặp base (bp), trong đó đầu 5’ và đầu 3’ là các phần không mã hóa nằm ở đầu và cuối của hệ gen.
Hệ gen của virus PRRS chủng VR2332 (AY150564) tại Mỹ có độ dài 15.451 bp, với 15.071 bp dành cho 7 khung đọc mở Trong khi đó, virus PRRS chủng GD (EU109503) ở Trung Quốc, cũng thuộc genotype II, có độ dài 15.353 bp và 14.981 bp cho 7 khung đọc mở Sự khác biệt về độ dài gen và trình tự nucleotide giữa các chủng virus PRRS đã tạo ra khoảng cách di truyền và sự khác biệt về mức độ tương đồng kháng nguyên, thể hiện tính phức tạp của bệnh PRRS.
1.2.2 Cấu trúc, chức năng hệ gen virus PRRS
Virus PRRS có cấu trúc hình cầu, được quan sát dưới kính hiển vi điện tử, với kích thước từ 45-80 nm Virus này có vỏ bọc và nhiều gai nhô ra trên bề mặt, bên trong chứa nhân nucleocapside có kích thước từ 25-35 nm.
Hệ gen của virus PRRS là một chuỗi RNA đơn dương dài khoảng 15 kb, chứa 9 khung đọc mở (ORF), trong đó ORF1a và ORF1b chiếm khoảng 80% và được dịch thành hai polyprotein lớn là pp1a và pp1b Các protein này được chuyển hóa bởi 4 protease thành 14 protein phi cấu trúc (NSPs), từ NSP1α đến NSP12 NSP9 mã hóa RNA polymerase phụ thuộc RNA và NSP10 mã hóa helicase, là hai protein chính chịu trách nhiệm cho sao chép và phiên mã của virus Đặc biệt, protein NSP11 có vai trò quan trọng trong chu trình sao chép của tất cả các virus thuộc chi Arterivirus Các ORFs 2a, 2b và ORF3-7 nằm ở đầu 3’ của hệ gen và sau khi dịch mã được phân cắt thành các protein cấu trúc của virus PRRS.
Structural proteins are expressed from mRNA segments located at the 3' end of the viral genome, sharing regulatory sequences at the 5' end of these segments (Meulenberg et al., 1995; Wu et al., 2001; Snijder and Meulenberg, 1998) The main components of the virus particle, including glycoprotein 5 (GP5), membrane protein (M), and nucleoprotein (N), are encoded by open reading frames (ORFs) 5-7 (Dea et al., 2000).
ORF 2a, 3 và 4 mã hóa cho các protein GP2a, GP3 và GP4, tạo thành một phức hệ đa thành phần trong virion Các protein này không chỉ tương tác với nhau mà còn đóng vai trò quan trọng trong quá trình nhiễm trùng của virus (Wissink et al., 2005) Bên cạnh đó, ORF 2b mã hóa cho protein vỏ (E).
ORF2a, ORF2b, and ORFs 3-7 encode the viral structural proteins GP2a, GP2b (E), GP3, GP4, GP5, M, and N (Snijder and Meulenberg, 1998) Notably, GP2b is a small internal ORF that is entirely contained within ORF2 Additionally, GP2a, GP3, and GP4 are glycosylated envelope proteins at the N-terminus, forming a heterotrimer through disulfide linkages (Wieringa et al, 2003a; Wissink et al, 2004).
H ì nh 1.3 C ấ u tr ú c thông tin di truy ề n c ủ a virus PRRS
(Nguồn: http://www.porcilis-prrs.com/microbiology-Virus PRRS-structure.asp)
B ả ng 1.3 H ệ gen c ủ a virus PRRS v à c á c thông tin liên quan
TT ORF Protein đượ c mã hóa Ch ức năng Vai trò trong mi ễ n d ị ch, b ả o h ộ
Protein trong cấu trúc nsp 1 là cystein protease, tương tự như papain, có khả năng kháng IFN và TNF Nsp 1 cũng là cystein protease giống papain Nsp 2 là cystein protease, tương tự papain, và có chất đối kháng IFN mạnh Nsp 3 là protein chuyển màng nhưng chưa có số liệu cụ thể Nsp 4 là serine protease, thông tin còn hạn chế Nsp 5 là protein chuyển màng nhưng chưa rõ thông tin Nsp 6 và nsp 7 hiện chưa có thông tin cụ thể, trong khi nsp 7 và nsp 8 cũng chưa được xác định rõ.
2 ORF 1b nsp 9 Polymerase RNA phụ thuộc Chưa biết nsp 10 Helicase Chưa biế t nsp 11 Endoribonuclease Ch ất đố i kháng IFN m ạ nh nsp 12 Chưa biế t Chưa biế t
GP2a Protein v ỏ nh ỏ, tương tác vớ i
CD163 Epitop trung hòa nh ỏ
4 ORF2b GP2b Protein v ỏ nh ỏ Chưa biế t
5 ORF3 GP3 Protein vỏ nhỏ Epitop trung hòa nhỏ
6 ORF4 GP4 Protein v ỏ nh ỏ, tương tác vớ i
CD163 Epitop trung hòa nhỏ
8 ORF5 GP5 Protein vỏ chính, tương tác với sialoadhesin Epitop trung hòa chính
8 ORF6 M protein Protein vỏ chính, tương tác với heparansulfate
Epitop tế bào T, epitop trung hòa nhỏ
9 ORF7 N protein Nucleocapside Epitop không trung hòa
1.2.3 Đa dạng di truyền hệ gen virus PRRS
Virus PRRS có hai genotype với sự tương đồng nucleotide đạt 60%, nhưng các tính chất sinh học của chúng lại rất tương đồng (Kim et al., 2008) Sự tương đồng này giữa các chủng phân lập cho thấy tính chất sinh học của virus PRRS là nhất quán.
Mỹ và vùng Lelystad của Hà Lan chỉ là 45,7% trong ORF1b, 65%-67% trong ORF2, 61%-64% trong ORF3, 63%-66% trong ORF4, và 61%-63% trong ORF5 (Meng et al., 1995a; Meng et al., 1995b)
Các gen trong khung đọc ORF6 và ORF7 cho thấy sự bảo tồn tương đối giữa các chủng phân lập ở Mỹ và Châu Âu Tuy nhiên, có sự biến đổi di truyền đáng kể giữa các chủng ở hai khu vực này Cụ thể, sự khác biệt giữa các chủng ở Mỹ chỉ dao động từ 2,5% đến 7,9%, trong khi sự khác biệt giữa các chủng ở Mỹ và vùng Lelystad lên tới 35% (Kapur et al., 1996).
Trình tự ORF1 giữa các chủng phân lập ở Châu Âu và Mỹ có sự khác biệt đáng kể, với mức độ tương đồng chỉ đạt 55% (Allende et al., 1999; Nelsen et al., 1999).
ORF1b có tính bảo thủ cao hơn ORF1a và độ tương đồng về nucleotide đạt 63,4%
Sự biến đổi lớn nhất trong hệ gen virus được tìm thấy ở vùng NSP2, với độ tương đồng về axit amin chỉ đạt 47% giữa các mẫu phân lập ở Châu Âu và Mỹ Đặc biệt, sự đa hình gen lớn nhất nằm trong vùng NSP2 của virus LV Khái niệm về nhóm virus liên quan được hình thành bởi các đột biến giống nhau (quasispecies) khi virus đồng nhiễm ở động vật, như đã được Goldberg và cộng sự (2003) đề xuất Các nghiên cứu đã chỉ ra sự xuất hiện các quần thể phụ của virus PRRS với biến đổi di truyền từ các chủng phân lập ở cơ quan sinh sản của lợn sau quá trình tiến hóa kiểu quasispecies (Rowland et al., 1999) Sự xuất hiện này gây khó khăn cho việc tiêm chủng phòng PRRS, vì vaccine có thể không còn hiệu lực hoặc giảm hiệu lực chống lại các chủng virus PRRS biến đổi di truyền (Domingo et al., 1998; Duarte et al., 1994; Domingo and Holland, 1992).
1 2.4 Các protein kháng nguyên quan trọng của virus PRRS
Nghiên c ứ u t ạ o vaccine PRRS
Vaccine là chế phẩm sinh học có khả năng tạo miễn dịch đặc hiệu, giúp tăng cường sức đề kháng của cơ thể đối với các tác nhân gây bệnh cụ thể.
Tiêm phòng bằng vaccine giúp lợn duy trì sức khỏe và phát triển bình thường Ngay cả khi lợn bị nhiễm virus PRRS sau tiêm, triệu chứng lâm sàng và tổn thương sẽ nhẹ hơn, đồng thời thời gian bài thải virus cũng ngắn hơn so với lợn không được tiêm vaccine (Tô Long Thành và cs., 2014).
Vaccine là công cụ hiệu quả trong việc phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh Việc giám sát virus PRRS dựa trên thông tin di truyền, cấu trúc kháng nguyên và nguồn gốc của các chủng virus là yếu tố quyết định cho sự thành công của các giải pháp can thiệp bằng vaccine.
1 3.2 Các loại vaccine được nghiên cứu phòng PRRS
Kể từ khi hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn được phát hiện, vaccine đầu tiên đã được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi tại châu Âu từ năm 1993.
Kể từ năm 1995, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để phát triển vaccine PRRS, dẫn đến sự ra đời và thương mại hóa hàng loạt thế hệ vaccine này Tuy nhiên, việc lựa chọn dạng vaccine PRRS phù hợp phụ thuộc vào chiến lược của từng quốc gia, trình độ phát triển công nghệ và điều kiện cụ thể Hiện nay, các loại vaccine PRRS được sản xuất và sử dụng được chia thành ba nhóm chính.
Vaccine vô hoạt bao gồm vaccine vô hoạt kinh điển và vaccine vô hoạt biến đổi gen Vaccine PRRS vô hoạt được sản xuất bằng cách nuôi cấy virus PRRS và bất hoạt virus bằng nhiệt hoặc hóa chất, hoặc chỉ tách lấy phần cần thiết từ virus Vaccine PRRS vô hoạt có đặc tính an toàn cao, không gây ra phản ứng không mong muốn hay ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của lợn Tuy nhiên, nhược điểm của vaccine này là chỉ tạo ra mức kháng thể dịch thể không cao, đặc biệt là kháng thể trung hòa Mặc dù vậy, vaccine PRRS vô hoạt vẫn kích thích lợn sản sinh kháng thể và tăng cường miễn dịch tế bào kháng virus, làm tăng sinh tế bào lympho và tiết chất kháng virus Interferon gamma sau 2 tuần tiêm.
Một số nghiên cứu chỉ ra rằng vaccine vô hoạt có thể hoàn toàn không có hiệu lực hoặc chỉ có hiệu lực rất thấp, và không thể giảm được virus huyết.
Vaccine vô hoạt có khả năng tạo ra kháng thể trung hòa, tuy nhiên, nó không đủ hiệu quả để bảo vệ lợn khỏi nhiễm trùng virus PRRS khi tiếp xúc với chủng độc lực.
Vaccine vô hoạt không cung cấp khả năng bảo vệ chéo cho lợn chống lại nhiễm virus PRRS trong thai kỳ Bằng chứng cho thấy điều này bao gồm các dấu hiệu lâm sàng, tình trạng mất khả năng sinh sản, sự hiện diện của virus trong máu và nhiễm trùng qua nhau thai ở lợn con Hơn nữa, vaccine vô hoạt cũng không bảo vệ được lợn nái và lợn đực giống (Scortti et al., 2007).
Một vài loại vaccine vô hoạt đang được lưu hành, như Progressis® của Merial, Ingelvac®-PRRS KV của Boehringer Ingelheim, hoặc là Suipravac®-PRRS của Hipra
- Vaccine PRRS thế hệ mới
Các nghiên cứu về vaccine PRRS thế hệ mới đang tập trung vào việc nâng cao tính sinh miễn dịch và bảo hộ phổ rộng để tạo ra "vaccine lý tưởng" Việc sử dụng đa chủng vaccine và các phương pháp bổ trợ nhằm nâng cao đáp ứng miễn dịch được ưu tiên Nhiều công trình nghiên cứu đã phát triển các loại vaccine mới như vaccine DNA, vaccine tiểu phần, vaccine sinh tổng hợp peptide, và vaccine sử dụng vector mang virus, vi khuẩn và thực vật Tuy nhiên, hiệu quả phòng ngừa PRRS của các vaccine thế hệ mới vẫn chưa rõ ràng, dẫn đến việc chưa được sử dụng phổ biến trong việc phòng chống bệnh này.
Bảng 1.5 Một số vaccine thế hệ mới
Tính sinh mi ễ n d ị ch Kh ả năng bả o h ộ
Kháng th ể CMI Ch ủng tương đồ ng Ch ủ ng không tương đồ ng
Vaccine dưới đơn vị GP5 Yếu Yếu - ND
Peptide tổng hợp GP5 - - ND -
Vaccine vector Adenovirus GP3,4,5 + ND ND
Vaccine vector PRV GP5,M + + + ND
Vaccine vector virus đậu GP3,5,M + + + ND
Vaccine vector TGEV GP5,M + ND + ND
Vaccine vector vi khu ẩ n GP5,M + - + ND
Vaccine nguồn gốc tế bào côn trùng ORF3,5,7 + ND + ND
Vaccine sản xuất trên thực vật GP5 + + ND ND
(Ngu ồ n: Wasin Charerntantanakul, 2012) Chú thích: (+): có; (-): Không; ND: Không xác định; CMI: Miễn dịch qua trung gian tế bào
Một hướng phát triển vaccine phòng bệnh tại cửa vào phổi và âm hộ là vaccine niêm mạc Đối với virus PRRS, vaccine tái tổ hợp mang GP5 và protein N gắn với giải độc tố phẩy khuẩn tả đã được phát triển như một loại vaccine niêm mạc Tuy nhiên, khi tiêm bắp, vaccine này không bảo hộ lợn, dẫn đến triệu chứng phổi và không làm giảm virus huyết (Hyland et al., 2004).
Protein tái tổ hợp GP5-ELP của virus PRRS, được tổng hợp trong mô lá cây thuốc lá, có khả năng kích thích sản sinh kháng thể IgG đặc hiệu trên chuột thí nghiệm Nghiên cứu này mở ra hướng phát triển vaccine tiểu đơn vị từ thực vật nhằm phòng chống virus PRRS tại Việt Nam (Nguyễn Thị Minh Hằng và cs., 2018).
Vaccine nhược độc tái tổ hợp với virus Giả dại (chủng Bartha) đã được phát triển để biểu hiện protein GP 5 vỏ của virus PRRS Mặc dù vaccine này không tạo ra kháng thể trung hòa, nhưng nó có khả năng giảm triệu chứng lâm sàng và rút ngắn thời gian virus máu khi nhiễm virus PRRS.
Vaccine BCG tái tổ hợp, sử dụng vi khuẩn lao (Mycobacterium tuberculosis) để biểu hiện GP 5 và protein M của virus PRRS, khi tiêm cho lợn chỉ mang lại hiệu quả bảo vệ một phần, tương tự như các loại vaccine khác.
Các tác giả đã nghiên cứu chế tạo vaccine niêm mạc nhằm tạo miễn dịch tại các cửa ngõ của virus PRRS, như đường hô hấp và đường âm đạo, tương tự như một số virus khác ở người Họ đã kết hợp GP5 và protein N của virus PRRS với độc tố cholera để phát triển vaccine uống, giúp tăng cường đáp ứng kháng thể trên bề mặt niêm mạc đường ruột và đường sinh dục Tuy nhiên, hiệu quả bảo vệ của vaccine này vẫn chưa được đánh giá, và sau khi tiêm bắp, vaccine không thể bảo vệ lợn khỏi virus máu và bệnh ở đường hô hấp (Charerntantanakul, 2012).