1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án Tiến sĩ Đối chiếu ẩn dụ ý niệm về người phụ nữ trong tiếng Anh và tiếng Việt (trên cứ liệu các tác phẩm văn học thế kỉ 20)

315 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đối chiếu ẩn dụ ý niệm về người phụ nữ trong tiếng Anh và tiếng Việt (trên cứ liệu các tác phẩm văn học thế kỉ 20)
Tác giả Phạm Thuỳ Giang
Người hướng dẫn PGS. TS. Hà Quang Năng
Trường học Học viện Khoa học Xã hội
Chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 315
Dung lượng 34,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Luận án sử dụng lý thuyết về ẩn dụ ý niệm để tìm hiểu việc sử dụng các ẩn dụ ý niệm về người phụ nữ trong các tác phẩm văn học Mỹ và Việt thế kỉ 20, từ đó so sánh, đ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI -

PHẠM THUỲ GIANG

ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ

TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT (TRÊN CỨ LIỆU CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC THẾ KỈ 20)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI - 2023

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-

PHẠM THUỲ GIANG

ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ

TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT (TRÊN CỨ LIỆU CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC THẾ KỈ 20)

Ngành: Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu

Mã số: 9.22.20.24

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS HÀ QUANG NĂNG

HÀ NỘI - 2023

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ nhan đề “Đối chiếu ẩn dụ ý niệm về người phụ nữ

trong tiếng Anh và tiếng Việt (trên cứ liệu các tác phẩm văn học thế kỉ 20)” là công

trình nghiên cứu khoa học do tôi thực hiện Các số liệu do tôi tự thống kê và hoàn toàn trung thực Đề tài nghiên cứu và các kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác

Tác giả luận án

Phạm Thuỳ Giang

Trang 4

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo tại Học viện Khoa học Xã hội, Viện Ngôn ngữ học, Viện Từ điển học và Bách khoa thư và các nhà khoa học đã cung cấp kiến thức, góp ý và chỉ dẫn cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu sinh và làm luận án, giúp tôi nâng cao chất lượng đề tài nghiên cứu Tôi cũng xin cảm ơn các cán bộ tại Học viện Khoa học Xã hội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận án

Tôi xin ghi nhận và biết ơn Ban Giám hiệu, Lãnh đạo Trường Đại học Thương mại, các Phòng, Ban, Khoa Tiếng Anh, các Bộ môn trong Khoa và toàn thể đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện và chia sẻ mọi mặt với tôi trong quá trình tôi thực hiện luận án này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến gia đình và bạn bè, những người luôn yêu thương, khuyến khích, hỗ trợ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 04 tháng 05 năm 2023

Tác giả luận án

Phạm Thuỳ Giang

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 7

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7

1.1.1 Dẫn đề 7

1.1.2 Tổng quan về ẩn dụ ý niệm 7

1.1.3 Tổng quan về ẩn dụ ý niệm về người phụ nữ 12

1.2 Cơ sở lý luận về đề tài nghiên cứu 18

1.2.1 Cơ sở lý luận về ẩn dụ ý niệm 18

1.2.2 Cơ sở lý luận về văn học Mỹ và văn học Việt Nam thế kỉ 20 39

1.2.3 Cơ sở lý luận về văn hoá và các đặc trưng văn hoá Mỹ và văn hoá Việt Nam 40 1.2.4 Cơ sở lý luận về ngôn ngữ học đối chiếu 44

1.2.5 Khung cơ sở lý thuyết 46

1.2.6 Khung phân tích 46

Tiểu kết chương 1 47

Chương 2. ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ CÓ MIỀN NGUỒN LÀ THỰC THỂ HỮU SINH TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 48

2.1 Dẫn đề 48

2.2 Khái quát kết quả nghiên cứu ẩn dụ ý niệm về người phụ nữ có miền nguồn THỰC THỂ HỮU SINH trong tiếng Anh và tiếng Việt 48

2.3 Đối chiếu ẩn dụ ý niệm NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ THỰC THỂ HỮU SINH trong tiếng Anh và tiếng Việt 50

2.3.1 Ẩn dụ ý niệm NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ ĐỘNG VẬT 50

2.3.2 Ẩn dụ ý niệm NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ THỰC VẬT 70

2.3.3 Ẩn dụ ý niệm NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ NGƯỜI KHÁC 81

2.3.4 Ẩn dụ ý niệm NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ THẾ LỰC SIÊU NHIÊN 96

Tiểu kết chương 2 101

Chương 3. ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ Ý NIỆM CÓ MIỀN NGUỒN LÀ THỰC THỂ VÔ SINH TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 103

3.1 Dẫn đề 103

3.2 Khái quát kết quả nghiên cứu ẩn dụ ý niệm về người phụ nữ có miền nguồn THỰC THỂ VÔ SINH trong tiếng Anh và tiếng Việt 103

Trang 6

3.3 Đối chiếu ẩn dụ ý niệm NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ THỰC THỂ VÔ SINH trong

tiếng Anh và tiếng Việt 104

3.3.1 Ẩn dụ ý niệm NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ ĐỒ VẬT 104_Toc130669307 3.3.2 Ẩn dụ ý niệm NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ THỰC THỂ TỰ NHIÊN 136

3.3.3 Ẩn dụ ý niệm NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ ĐỒ ĂN 153

Tiểu kết chương 3 164

KẾT LUẬN 166

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 171

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 172

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Mô hình văn hóa đa chiều của HOFSTEDE Pl1 Phụ lục 2: Cây ngữ nghĩa (Semantic Tree) Pl2 Phụ lục 3: Thống kê các tiểu loại ẩn dụ về người phụ nữ Pl7 Phụ lục 4: Thống kê dụ dẫn của các tiểu loại ẩn dụ có miền nguồn là THỰC THỂ HỮU SINH Pl13 Phụ lục 5: Thống kê dụ dẫn của các tiểu loại ẩn dụ có miền nguồn là THỰC THỂ

VÔ SINH Pl38 Phụ lục 6: Danh mục các tác phẩm văn học Mỹ và Việt Nam được khảo sát trong luận án Pl63 Phụ lục 7: Một số biểu thức ẩn dụ ý niệm tiêu biểu trong văn học Mỹ Pl66 Phụ lục 8: Một số biểu thức ẩn dụ ý niệm tiêu biểu trong văn học Việt Nam Pl101

Trang 7

Danh mục các chữ viết tắt tiếng Anh

IDV: Individualism Index (Chỉ số đo mức độ cá nhân)

MAS: Masculinity and Femininity (Chỉ số đo mức độ tính nam)

MIP: Metaphor Identification Procedure (Quy trình nhận diện ẩn dụ) PDI: Power Distance Index (Chỉ số đo khoảng cách quyền lực)

UAI: Uncertainty Avoidance Index (Chỉ số đo mức độ tránh mơ hồ)

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ ĐỘNG VẬT 51

Bảng 2.2 Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ CON MỒI 63

Bảng 2.3 Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ KẺ SĂN MỒI 67

Bảng 2.4 Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ THỰC VẬT 70

Bảng 2.5 Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ NGƯỜI KHÁC 81

Bảng 2.6 Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ CHIẾN BINH 81

Bảng 2.7 Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ QUÝ TỘC 89

Bảng 2.8 Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ NÔ LỆ 93

Bảng 2.9 Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ THẾ LỰC SIÊU NHIÊN 96

Bảng 3.1 Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ ĐỒ VẬT 104

Bảng 3.2 Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ HÀNG HOÁ 109

Bảng 3.3 Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 122

Bảng 3.4 Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ VẬT QUÝ 125

Bảng 3.5 Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ VẬT VÔ GIÁ TRỊ 129

Bảng 3.6 Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ MÁY MÓC 133

Bảng 3.7 Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ THỰC THỂ TỰ NHIÊN 136

Bảng 3.8 Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ LỬA 139

Bảng 3.9 Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ ÁNH SÁNG/ BÓNG TỐI 145

Bảng 3.10 Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ BIỂN 149

Bảng 3.11 Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ ĐỒ ĂN 153

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Hình 1.1 Khung phân tích của ẩn dụ ý niệm về người phụ nữ 46 Hình 2.1 Tần suất của các tiểu loại ẩn dụ về người phụ nữ có miền nguồn THỰC THỂ HỮU SINH 48 Hình 2.2 Tính tầng bậc của ẩn dụ về người phụ nữ có miền nguồn THỰC THỂ HỮU SINH trong tiếng Anh và tiếng Việt 49 Hình 3.1 Tần suất của các tiểu loại ẩn dụ về người phụ nữ có miền nguồn THỰC THỂ

VÔ SINH 104 Hình 3.2 Tính tầng bậc của ẩn dụ về người phụ nữ có miền nguồn THỰC THỂ VÔ SINH trong tiếng Anh và tiếng Việt 105

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

“Cuộc cách mạng Lakoff - Johnson”, theo như cách gọi của Trần Văn Cơ [11], gắn

liền với cuốn sách kinh điển “Metaphors we live by” (Chúng ta sống bằng ẩn dụ) của

Lakoff và Johnson [137] đã làm thay đổi tư duy khoa học về ngôn ngữ của nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới và bùng nổ một trào lưu nghiên cứu mới về ẩn dụ Theo quan điểm truyền thống, ẩn dụ là phương thức tu từ hay hiện tượng chuyển nghĩa của từ, được

sử dụng rất phổ biến trong ngôn ngữ nói chung, đặc biệt là trong ngôn ngữ nghệ thuật - các tác phẩm văn chương nói riêng Không chỉ đơn thuần là phép tu từ và phương thức chuyển nghĩa của từ, ẩn dụ, theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận (NNHTN), là công

cụ tư duy đắc lực giúp ta hiểu một miền ý niệm này thông qua một miền ý niệm khác

“Ẩn dụ tồn tại khắp nơi trong cuộc sống hàng ngày, không chỉ trong ngôn ngữ mà còn cả trong tư duy và hành động” (metaphor is pervasive in everyday life, not just in language but in thought and action) [137, tr.8] Ẩn dụ không chỉ được sử dụng trong các văn bản hàn lâm, học thuật, trong các sáng tác văn học mà còn hiện hữu trong tất cả hoạt động thường ngày của con người, đến mức người sử dụng không hề nhận biết được đó là

ẩn dụ Nói cách khác, hệ thống khái niệm trong suy nghĩ và hành động của con người về bản chất có tính chất ẩn dụ Như vậy, ẩn dụ không những chi phối nhận thức mà còn cả hành động của con người Ẩn dụ không chỉ là những vấn đề của ngôn ngữ mà còn là vấn

đề tư duy, nhận thức, tác động đến trí tuệ con người, giúp con người nắm bắt và lĩnh hội thế giới Do đó, ẩn dụ trở thành chìa khoá quan trọng giúp con người hiểu và lĩnh hội những cơ sở của tư duy và nhận thức những biểu tượng tinh thần về thế giới

Trong quá trình giao tiếp, chúng ta có thể sử dụng ẩn dụ một cách tự nhiên nhưng chúng ta không thể chỉ ra một cách rõ ràng những quy tắc đưa đến quá trình chuyển di ý niệm giữa các lĩnh vực như thế Chính vì vậy cần có những nghiên cứu về ẩn dụ từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận để khám phá những quá trình chuyển di ý niệm đó

Với tuyên bố giương cao ngọn cờ “Dĩ nhân vi trung” (lấy con người làm trung tâm),

NNHTN dĩ nhiên có gắn bó chặt chẽ với khoa học về con người (nhân học/ nhân chủng học) Những cách nhìn nhận về con người, về những hành động, suy nghĩ và bản sắc của mỗi cá nhân trong xã hội đều xuất hiện trong các học thuyết, nghiên cứu và phương pháp luận của NNHTN Phụ nữ cũng là một đối tượng nghiên cứu không chỉ trong văn thơ mà còn trong NNHTN Thật vậy, phụ nữ là một nửa quan trọng của thế giới và từ trước đến giờ luôn là nguồn cảm hứng bất tận cho rất nhiều tác giả sáng tác nên các áng văn thơ lắng đọng lòng người Maxim Gorki – nhà văn lớn của nước Nga thế kỉ 20 đã từng tôn vinh những người phụ nữ: “Вся гордость мира от матерей Без солнца не цветут

Trang 11

цветы, без любви нет счастья, без женщины нет любви, без матери нет ни поэта, ни

героя!” (“Tất cả niềm kiêu hãnh của thế giới đều xuất phát từ các bà mẹ Nếu không có

mặt trời, thì hoa đâu có nở, không có tình yêu thì đâu có hạnh phúc, không có phụ nữ thì đâu có tình yêu, không có bà mẹ thì đâu có thi nhân, đâu có anh hùng!” [62]

Vấn đề ẩn dụ ngày càng thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế, triết học, xã hội học, v.v và văn học Ẩn dụ ý niệm (ADYN)

về người phụ nữ cũng được sử dụng khá nhiều trong văn, thơ Có thể nói ẩn dụ là hơi thở

và diện mạo của các tác phẩm văn học Tuy nhiên, đến nay chưa có nghiên cứu nào so sánh đối chiếu giữa ADYN về người phụ nữ trong các tác phẩm văn học Mỹ và Việt Nam thế kỉ 20 Chính vì vậy, chúng tôi đã chọn đề tài ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT (TRÊN CỨ LIỆU CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC THẾ KỈ 20) cho luận án của mình

Luận án sẽ dựa trên lý thuyết về NNHTN để giải thích các ADYN về người phụ nữ trên cứ liệu các tác phẩm văn học thế kỉ 20 Trên cơ sở phân tích các ADYN, luận án sẽ

so sánh, đối chiếu các nét đồng nhất và khác biệt về văn hoá, tư duy giữa hai cộng đồng người Mỹ và người Việt, góp phần làm sáng tỏ sự giống và khác biệt về văn hóa cũng như tư duy trong văn hóa ngôn từ của các nhà văn Mỹ và Việt thế kỷ 20, đặt trong sự tương quan giữa cái mang tính phổ quát toàn nhân loại với cái đặc trưng mang tính dị biệt của từng dân tộc

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án sử dụng lý thuyết về ẩn dụ ý niệm để tìm hiểu việc sử dụng các ẩn dụ ý niệm

về người phụ nữ trong các tác phẩm văn học Mỹ và Việt thế kỉ 20, từ đó so sánh, đối chiếu để tìm ra sự tương đồng cũng như khác biệt trong các ẩn dụ ý niệm tiếng Anh và tiếng Việt với các lý giải dựa trên mối quan hệ giữa ngôn ngữ - văn hoá và tư duy dân tộc

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra, luận án phải thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Hệ thống hoá lý luận về ADYN liên quan đến đề tài của luận án để xây dựng Khung cơ sở lý thuyết

- Thống kê, phân loại để thiết lập và miêu tả các ADYN về người phụ nữ trong văn học Mỹ và Việt thế kỉ 20, tìm hiểu tần suất và mô hình ánh xạ của các ẩn dụ này

- So sánh, đối chiếu các ADYN trong tiếng Anh và tiếng Việt dựa trên các tiêu chí: tần suất, cơ chế ánh xạ và tư duy dân tộc

- Giải thích sự tương đồng và khác biệt trong các ADYN về người phụ nữ giữa hai ngôn ngữ trong mối tương quan giữa ngôn ngữ, văn hoá và tư duy

Trang 12

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và ngữ liệu nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là ADYN chứa miền đích là NGƯỜI PHỤ NỮ trong tiếng Anh và tiếng Việt trong các tác phẩm văn học Mỹ và Việt Nam thế kỉ 20, gọi chung là ADYN về người phụ nữ trong tiếng Anh và tiếng Việt Đối với ngữ liệu tiếng Anh, tác giả chọn khảo sát các tác phẩm văn học Mỹ vì Mỹ cũng là một nền văn hoá lớn, tiếng Anh cũng là ngôn ngữ chính thức của Mỹ

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu ADYN về người phụ nữ theo hai miền nguồn: THỰC THỂ HỮU SINH và THỰC THỂ VÔ SINH trên cứ liệu các tác phẩm văn học Mỹ và Việt Nam thế kỉ 20 Ngữ liệu nghiên cứu sẽ được trình bày kĩ trong phần dưới đây

3.3 Ngữ liệu nghiên cứu

Luận án khảo sát các tác phẩm văn học Mỹ và Việt Nam trong thế kỉ 20, bao gồm 10 tiểu thuyết và truyện ngắn tiếng Anh, 94 tiểu thuyết, truyện ngắn hoặc truyện vừa tiếng Việt (trích trong các tuyển tập) của các tác giả người Mỹ bản xứ và người Việt bản

xứ, nhiều tác phẩm có nội dung xoay quanh cuộc đời người phụ nữ Các tác phẩm này được sắp xếp theo trình tự thời gian sáng tác và được mã hoá theo quy tắc: loại ngôn ngữ + số thứ tự (tác phẩm tiếng Anh mã hoá là TA, tiếng Việt là TV) và được sử dụng để trích nguồn các biểu thức ẩn dụ (BTAD) được đưa ra trong phần ví dụ (Phụ lục 6) Những tác phẩm này đều được chọn lọc để đảm bảo sự trải đều các tác phẩm từ các tác giả khác nhau, chứ không tập trung vào một vài tác giả và qua các giai đoạn khác nhau của thế kỉ 20 để làm rõ các ADYN về người phụ nữ, phản ánh các nét văn hoá và dân tộc qua từng thời kì Luận án không tập trung phân loại các thể loại văn học mà chỉ tập trung vào độ dài của các tác phẩm Nguồn tác phẩm tác giả sử dụng được lấy từ các website tin cậy và các tác phẩm bản in giấy Nguồn tài liệu văn học được lựa chọn dựa vào ba tiêu chí sau: (1) Năm xuất bản: các tác phẩm được hoàn thiện và xuất bản lần đầu vào thế kỉ

20, nội dung có thể lấy bối cảnh của thế kỉ 19 hoặc thế kỉ 20 (2) Độ dài của các tác phẩm: đảm bảo có cả truyện ngắn, truyện vừa và tiểu thuyết; (3) Tần suất của các ADYN trong các tác phẩm: những tác phẩm có rất ít ADYN về NGƯỜI PHỤ NỮ không được lựa chọn

Thông qua việc khảo sát khối ngữ liệu, chúng tôi có chủ đích tìm ra 1.950 BTAD trong tiếng Anh và 1.950 BTAD trong tiếng Việt Số lượng BTAD tương đương nhau là một tiêu chí quan trọng đảm bảo cho việc so sánh, đối chiếu trong hai ngôn ngữ Các BTAD này chủ yếu được biểu đạt qua cấu trúc một câu Tuy nhiên, với mục đích xác định rõ ngữ cảnh, một số BTAD được diễn tả qua 2 - 4 câu

Trang 13

Thời gian thu thập dữ liệu từ tháng 11 năm 2018 đến tháng 09 năm 2021

Sau quá trình thu thập, các BTAD này được phân thành 2 nhóm: BTAD tiếng Anh và BTAD tiếng Việt Do dung lượng luận án hạn chế nên chúng tôi chỉ trình bày 501 BTAD tiếng Anh và 637 BTAD tiếng Việt đại diện chứa các dụ dẫn phổ biến hoặc mang tính đặc trưng cho văn hoá dân tộc đối với mỗi mô hình ẩn dụ trong phần Phụ lục 7 và Phụ lục 8 Với ngữ liệu tiếng Anh, luận án sử dụng các bản dịch tiếng Việt của các dịch giả người Việt (các bản dịch đều được xuất bản và lưu hành trên thị trường) Ngoài ra, một số

truyện ngắn Mỹ và tiểu thuyết “East of Eden” (Phía Đông Vườn Địa đàng) không có bản

dịch tiếng Việt tương ứng nên chúng tôi sử dụng bản dịch của mình (theo phương pháp chuyên gia) cho các BTAD và để bản dịch này trong ngoặc đơn sau biểu thức với mục đích làm rõ ý niệm được thể hiện trong biểu thức Đối với những dụ dẫn đã được dịch thoát nghĩa (mang nghĩa văn chương), chúng tôi bổ sung nghĩa đen (để trong ngoặc đơn) cho dụ dẫn để làm nổi bật lên ánh xạ

Quá trình xử lý dữ liệu được tiến hành theo 2 giai đoạn Trước hết, các ẩn dụ được

nhận diện trong khối ngữ liệu dựa trên Khung lý thuyết được trình bày trong Chương 1 Chúng tôi phân chia các ẩn dụ này theo hai miền nguồn lớn: THỰC THỂ HỮU SINH và THỰC THỂ VÔ SINH, sau đó phân chia thành các tiểu loại dựa vào miền nguồn được sử

dụng để kích hoạt các ẩn dụ này Ở giai đoạn thứ hai, chúng tôi thực hiện việc đối chiếu

các tiểu loại ẩn dụ trong tiếng Anh và tiếng Việt nhằm tìm ra các nét tương đồng và khác biệt trong hai ngôn ngữ Các ADYN sẽ được phân tích và so sánh dựa trên cơ chế ánh xạ của các ẩn dụ Quy trình này sẽ được trình bày rõ hơn trong mục 1.2.1.7

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Cách tiếp cận

Luận án tiếp cận đường hướng ngôn ngữ học tri nhận theo lý thuyết ADYN của

Lakoff và Johnson [137] để nhận dạng các ADYN về người phụ nữ Ngoài ra, luận án có

cách tiếp cận liên ngành Theo quan điểm hiện đại, ẩn dụ không chỉ là phương thức

chuyển nghĩa của ngôn ngữ mà còn là một cách thức tri nhận Do vậy, ẩn dụ có liên quan với nhiều yếu tố về văn hóa, xã hội, lịch sử, tâm lý, v.v Cách tiếp cận liên ngành giúp tìm hiểu ẩn dụ một cách toàn diện, sâu sắc hơn dựa trên mối quan hệ giữa ngôn ngữ (từ ngữ,

dụ dẫn, các mô hình ẩn dụ), văn học (hình ảnh, hình tượng, biểu trưng về người phụ nữ)

và văn hoá (tư duy và đặc trưng văn hoá: địa lý, lịch sử, phong tục, tập quán )

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp phân tích diễn ngôn: được sử dụng để phân tích các diễn ngôn văn

học nhằm xác định các ẩn dụ ý niệm về người phụ nữ

- Phương pháp miêu tả: được sử dụng để miêu tả các dụ dẫn, cấu trúc ánh xạ của các

Trang 14

ADYN về người phụ nữ trong văn học Mỹ và Việt mà luận án sử dụng làm cứ liệu

- Phương pháp so sánh, đối chiếu 2 chiều: được sử dụng để so sánh các ADYN trong

hai khối ngữ liệu dựa trên 3 tiêu chí: tần suất, cơ chế ánh xạ và tư duy văn hoá dân tộc của hai cộng đồng Mỹ và Việt Nam

- Phương pháp chuyên gia: được vận dụng, theo đó 10 giảng viên tiếng Anh đọc

kiểm, kiểm tra, chỉnh sửa bản dịch các BTAD từ tiếng Anh sang tiếng Việt của chúng tôi trong luận án

4.3 Thủ pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng thủ pháp phân tích ẩn dụ ý niệm để phân tích cấu trúc và ngữ nghĩa của ADYN, thủ pháp phân loại các dụ dẫn, ADYN về người phụ nữ trong hai ngôn ngữ

Thủ pháp thống kê được sử dụng nhằm cung cấp các thông tin định lượng cần thiết cho

việc mô tả, nhận xét, đánh giá về các dụ dẫn cũng như tần suất trong các tác phẩm Mỹ và Việt

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

5.1 Đóng góp về mặt lý luận

Luận án đã hệ thống các khái niệm cơ bản của NNHTN và ADYN trên cơ sở kế thừa

lý thuyết ADYN của Lakoff và Johnson [137], các khái niệm về ADYN của Kövecses [127], từ đó làm rõ các lý luận về ADYN nói chung và ADYN trong văn học nói riêng Luận án cũng bổ sung và làm sáng tỏ các đặc trưng văn hoá dân tộc Mỹ và Việt Nam

5.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Luận án đã thành lập được sơ đồ tầng bậc của các ẩn dụ về người phụ nữ, so sánh đối chiếu về các bình diện: tần suất, mô hình ánh xạ và đặc trưng tư duy dân tộc thông qua các ẩn dụ để tìm ra sự tương đồng cũng như khác biệt giữa hai ngôn ngữ, từ đó nêu bật mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hoá và tư duy Đây là cơ sở giúp cho các nhà nghiên cứu, dịch thuật, những người giảng dạy và học tập về ngôn ngữ có một cái nhìn rõ hơn về cách thức tư duy về người phụ nữ của hai dân tộc Mỹ và Việt Nam cùng những biểu hiện của tư duy này trong văn học

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận án góp phần củng cố lý thuyết về ẩn dụ ý niệm như khái niệm, đặc điểm của ADYN, mối quan hệ giữa ẩn dụ trong ngôn ngữ, văn hoá và tư duy, từ đó khẳng định sự phát triển trong lý thuyết ngôn ngữ học hiện đại này

Thông qua việc so sánh đối chiếu các BTAD trong tiếng Anh và tiếng Việt để tìm ra các đặc trưng văn hoá, xã hội của cả hai dân tộc, luận án làm phong phú thêm các đặc trưng văn hoá và tư duy dân tộc trong các nghiên cứu về NNHTN hiện nay, đồng thời khẳng định các luận điểm mang tính phổ quát và minh hoạ cho tính đa dạng văn hoá của

Trang 15

ADYN

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Những kết quả thu được từ luận án sẽ có ý nghĩa đối với những nhà nghiên cứu ngôn ngữ, người sử dụng ngôn ngữ và có thể được ứng dụng vào các lĩnh vực khác nhau trong giảng dạy ngôn ngữ như dịch thuật, ngữ nghĩa học, phân tích diễn ngôn, văn học Mỹ, giảng dạy tiếng Việt cho người nói tiếng Anh hay tiếng Anh cho người Việt Nam Ngoài

ra, kết quả của luận án có thể giúp ích cho những người giảng dạy ngôn ngữ hoặc những người học ngôn ngữ hiểu rõ hơn ngôn ngữ được sử dụng trong văn học

7 Cấu trúc của luận án

Luận án gồm các phần chung như Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục Ngoài ra, luận án gồm 3 chương, cụ thể như sau:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận Chương này tổng

hợp và phân tích các các nghiên cứu liên quan đến ADYN nói chung và ADYN về người phụ nữ Một số lý luận chung về ADYN, văn học, văn hoá, ngôn ngữ học đối chiếu cũng được làm rõ trong chương này

Chương 2 Đối chiếu ẩn dụ ý niệm về người phụ nữ có miền nguồn là THỰC THỂ HỮU SINH trong tiếng Anh và tiếng Việt Trong chương này, các mô hình ẩn dụ

theo miền nguồn THỰC THỂ HỮU SINH, gồm các ẩn dụ cơ sở và ẩn dụ phái sinh (ẩn dụ bậc dưới) được xác định và phân tích, từ đó được so sánh dựa trên cơ sở văn hoá dân tộc

Chương 3 Đối chiếu ẩn dụ ý niệm về người phụ nữ có miền nguồn là THỰC THỂ VÔ SINH trong tiếng Anh và tiếng Việt Chương này đi sâu phân tích các mô

hình ẩn dụ theo miền nguồn THỰC THỂ VÔ SINH, từ đó sắp xếp các ẩn dụ này theo tầng bậc và so sánh dựa trên đặc trưng văn hoá dân tộc

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Dẫn đề

Để có một cái nhìn tổng quát về tình hình nghiên cứu ADYN và ADYN về người phụ nữ, chúng tôi tổng hợp và hệ thống hoá các giáo trình, chuyên khảo, luận án, bài báo khoa học và các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài nghiên cứu Nội dung phần tổng quan được sắp xếp theo trình tự thời gian và theo vấn đề nghiên cứu nhằm làm nổi bật sự thay đổi trong cách nhìn nhận và nghiên cứu về bản chất ẩn dụ Chúng tôi phân tích các nghiên cứu này từ khái quát đến cụ thể, từ cái chung đến cái riêng, bắt đầu từ việc tổng quan các công trình nghiên cứu về ADYN nói chung, từ đó khai thác các nghiên cứu về ẩn dụ về người phụ nữ trong cả ngôn ngữ ở nước ngoài lẫn trong nước Từ đây, chúng tôi tìm ra các khoảng trống nghiên cứu mà các nghiên cứu trước đây chưa đề cập đến, qua đó thiết lập cơ sở lý luận và thực tiễn cho luận án

1.1.2 Tổng quan về ẩn dụ ý niệm

1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới về ẩn dụ ý niệm

Về những phát triển trong lý thuyết ẩn dụ, trải qua nhiều năm, lý thuyết về ẩn dụ

ngày càng phát triển và đi vào chiều sâu, từ đó khắc hoạ một bức tranh ngày càng rõ nét

về việc ẩn dụ cấu trúc tư duy như thế nào Trước hết lý thuyết tri nhận về ẩn dụ bắt nguồn

từ Lakoff giúp cho danh tiếng của ông vượt ra ngoài phạm vi thuần tuý ngôn ngữ học và thổi một luồng gió mới cho việc phát triển lý thuyết ẩn dụ Năm 1980, Lakoff và Johnson

[137] đã xuất bản quyển “Metaphors we live by” (Chúng ta sống bằng ẩn dụ) – quyển

sách trình bày về lý thuyết ADYN và được xem là xương sống cho rất nhiều nghiên cứu

về ẩn dụ sau này Hai ông đã nhìn nhận và nghiên cứu ẩn dụ thông qua các lĩnh vực kinh nghiệm Họ cho rằng ẩn dụ là hiện tượng tri nhận hơn là hiện tượng ngôn ngữ và những BTAD tiếng Anh bắt gặp trong ngôn ngữ chính là cái phản ánh các ẩn dụ tồn tại ở các bậc tầng ý niệm Như vậy bản chất và chức năng của NNHTN nói chung và ẩn dụ tri nhận nói riêng là nghiên cứu cách con người nhìn nhận và đánh giá thế giới qua lăng kính ngôn ngữ và văn hoá dân tộc [126], [127], [128], [130] Một tiến bộ quan trọng trong lý thuyết

ẩn dụ là nghiên cứu ADYN chỉ ra rằng kinh nghiệm hàng ngày, kinh nghiệm cảm giác của con người là cơ sở đưa ra các đánh giá chủ quan của nhận thức ngôn ngữ [107], [108] Các nhà tri nhận học như Lakoff, Johnson và Turner có nhiều mới lạ trong tư tưởng khi phát hiện ra ý niệm tổng quát ẩn sau những phát ngôn ẩn dụ khác nhau Nói cách khác, các ông đi tìm những ý niệm tổng quát thông qua cách hệ thống hóa những ý niệm đặc thù Thay vì tìm cách giải thích các ý niệm chứa đựng trong mỗi ẩn dụ (nghĩa là trong mỗi diễn đạt ngôn ngữ), vốn là nền tảng cho sự xuất hiện của chúng, các ông đã tìm

Trang 17

ra nguồn gốc của sự dịch chuyển nghĩa trong ẩn dụ, đó chính là ánh xạ xuyên lãnh vực Tiếp theo đó, nhiều công trình nghiên cứu quan trọng về ADYN dần được các nhà ngôn ngữ học thực hiện và phát triển Fauconnier [94] đã phát triển lý thuyết về không gian tinh thần để khảo sát các quá trình kết cấu nghĩa Năm 1996, Fauconnier và Sweetser [95] đã biên soạn và tổng hợp 12 bài viết nhằm mở rộng khung không gian tinh thần

trong “Spaces, Worlds and Grammar” Sau đó, Fauconnier kết hợp với Turner [96] để

phát triển lý thuyết này thành lý thuyết về sự pha trộn ý niệm, từ đó phân tích quá trình hình thành một số hỗn dụ Nội dung quan yếu của lý thuyết này là việc xây dựng nghĩa thường gắn với sự hợp nhất cấu trúc Các nhà lý luận về pha trộn cho rằng quá trình pha trộn ý niệm là một hoạt động tri nhận cơ bản và chung, đóng vai trò trung tâm trong cách chúng ta tư duy và tưởng tượng Grady, Oakley và Coulson [111] cũng cho rằng lý thuyết Pha trộn ý niệm và lý thuyết ADYN bổ sung (complementary) cho nhau hơn là cạnh tranh và loại trừ nhau Ngoài tính chất bổ sung, Evans và Green [93] cũng cho rằng hai lý thuyết này đề cập đến các hiện tượng nhất định không được giải thích bởi lý thuyết còn lại Ví dụ lý thuyết Pha trộn miêu tả về cấu trúc nổi bật (emergent structure) - nghĩa khác

lạ (novel meaning): nghĩa không chỉ đơn thuần là nghĩa tổng thể của các bộ phận cấu thành nó, trong khi lý thuyết ADYN thì không Nguyên nhân là do lý thuyết ADYN dựa vào mô hình 2 miền (2 - domain model) Fauconnier và Turner [96] cho rằng khả năng của con người trong việc pha trộn hoặc hợp nhất ý niệm có thể là cơ chế chính tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển các hành vi cao cấp của con người, những hành vi phụ thuộc vào khả năng biểu tượng phức tạp Những hành vi này bao gồm các lễ nghi, sản xuất, nghệ thuật, sử dụng công cụ và ngôn ngữ

Về các ứng dụng của lý thuyết ẩn dụ, những năm gần đây, các nghiên cứu về tri nhận

nói chung và ADYN nói riêng có chiều hướng chú trọng tính ứng dụng Nói về tính ứng dụng của ADYN, theo Croft và Cruse [87], mục đích chính của Lakoff trong việc phát triển lý thuyết ADYN là tìm hiểu các ánh xạ giữa hai miền nguồn và đích và lý giải thông qua lý lẽ và hành vi của con người, từ đó ứng dụng lý thuyết này vào các lĩnh vực cụ thể Bản thân Lakoff và Johnson luôn cố gắng hoàn thiện học thuyết ẩn dụ tri nhận của mình

và mở rộng phạm vi ứng dụng học thuyết này sang nhiều lĩnh vực khác nhau Đến nay, lý thuyết ADYN đã được sử dụng trong các lĩnh vực như văn học [103], [140], [176], [177], triết học [119], [138], toán học [139], chính trị [84], [132], [134], [135], kinh tế [78], [113], giáo dục [144], đạo đức [120], tôn giáo [165], pháp luật [181], [182], quảng cáo [151] và diễn ngôn truyền thông [153] hay về các đối tượng tri nhận như cảm xúc [91], [123], [124], [125], [126], [148], điệu bộ cử chỉ [86], sự thay đổi ngữ nghĩa [169], cơ thể người [119], âm nhạc [185], nghệ thuật [121], đồ ăn [74], tình yêu [147], tình dục [179] với sự đa dạng trong ngữ liệu nghiên cứu

Trang 18

Cụ thể, trong lĩnh vực văn học, Lakoff và Turner [140] đã cho thấy ADYN là vấn đề trung tâm được sử dụng trong tục ngữ hay văn học Năm 1996, Turner [177] đã chứng minh ADYN là yếu tố quan trọng trong việc sáng tác các truyện ngụ ngôn và các sản phẩm phổ biến khác của trí tưởng tượng văn học Lĩnh vực chính trị và luật pháp cũng ghi nhận những ứng dụng quan trọng của lý thuyết ADYN Winter [183] nêu bật vai trò quan trọng của ẩn dụ trong lập luận pháp lý, theo đó ẩn dụ trở thành một công cụ pháp lý quyền lực trong đời sống xã hội Năm 1992, Lakoff [132] phân tích cách chính phủ Mỹ

sử dụng ẩn dụ để thuyết phục nhân dân về cuộc chiến vùng Vịnh, đồng thời làm rõ vai trò của ADYN trong việc hoạch định các chính sách ngoại giao Một lĩnh vực dường như rất

cụ thể, không mang tính nghiệm thân là toán học cũng được Lakoff và Núñez [139] chứng minh rằng hoàn toàn mang tính ẩn dụ với các ẩn dụ như CON SỐ LÀ CÁC ĐIỂM TRÊN ĐƯỜNG THẲNG hay CON SỐ LÀ NHỮNG TẬP HỢP Hai ông đã tiến hành một nghiên cứu lớn về cấu trúc ẩn dụ của toán học bao gồm số học, lý thuyết tập hợp và logic, hình thức, vô hạn, và cuối cùng là toán học cao cấp cổ điển Ngôn ngữ học tri nhận

sử dụng lý thuyết ẩn dụ để lý giải các khía cạnh của ngôn ngữ với các nghiên cứu chính

về cách ngôn ngữ cấu trúc không gian [173], không gian và tri nhận không gian [77], ngữ pháp tri nhận [141], [142], [143], ngữ pháp cấu trúc tri nhận [105], [106]), ngữ nghĩa khung [97], [98], [99], [100], [170], ngữ nghĩa học ý niệm [116], [117], [118], [174] Đối tượng tri nhận được nhiều nhà tri nhận học quan tâm là vấn đề tình cảm của con người bởi đó là vấn đề thường nhật nhất, gần gũi nhất của mỗi con người Nghiên cứu nổi bật gần đây của Esenova [91] đề cập đến 3 miền đích cùng lúc nên có thể miêu tả các trải nghiệm tình cảm phức tạp, trong đó một số yếu tố cảm xúc xảy ra đồng thời Kết quả nghiên cứu khẳng định rằng khi so sánh với các nghiên cứu về NNHTN trước đây, hầu hết các ẩn dụ ý niệm về cảm xúc đều ổn định theo thời gian Bên cạnh đó, các biểu thức phi ngôn từ như cử chỉ hay hình ảnh nghệ thuật cũng trở thành đối tượng nghiên cứu của NNHTN Theo Cienki [86], các cử chỉ mang tính ẩn dụ có thể thực sự liên quan đến lời nói theo nhiều cách khác nhau và thay đổi cũng như nhất quán giữa các nền văn hóa Cử chỉ cung cấp một góc nhìn để hiểu cách chúng ta cấu trúc ý niệm và cách chúng ta sử dụng các cấu trúc đó trong khi nói Cử chỉ có thể chỉ ra rằng ẩn dụ ý niệm cũng được kích hoạt về mặt nhận thức khi không được diễn đạt thành lời nói Kennedy [121] khẳng định rằng ẩn dụ có rất nhiều trong nghệ thuật và thực tế là các hình ảnh có thể mang tính ẩn dụ Các hình ảnh cũng được sử dụng một cách ẩn dụ, tạo ra ẩn dụ đơn thức (ẩn dụ hình ảnh

“pictorial metaphor”) trong quảng cáo Forceville (trong Gibbs [102]) minh chứng điều này qua một số ẩn dụ hình ảnh như TÓC ÓNG MƯỢT LÀ KEM (HAIR SILK IS ICECREAM) trong quảng cáo dầu gội Dove hay MÁY PHA CÀ-PHÊ LÀ NGƯỜI PHỤC VỤ (COFFEE MACHINE IS SERVANT) trong quảng cáo máy pha cà phê

Trang 19

Philips’ Senseo

Mặc dù gần đây có một số hướng nghiên cứu khai thác các hạn chế trong thuyết ADYN, chẳng hạn thuyết này không đề cập đến bản chất phụ thuộc vào ngữ cảnh hay lệ thuộc ngôn cảnh của ẩn dụ (context-sensitive nature) [146], [168], khó có thể phủ nhận rằng thuyết ADYN có rất nhiều ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống Các nhà nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khác nhau cho thấy ADYN được sử dụng nhiều trong các diễn ngôn pháp luật, văn chương, chính trị, tâm lý học, toán học, v.v Cấu trúc ẩn dụ đã làm sáng tỏ cách thức con người tư duy trong một số lĩnh vực trí tuệ Có thể nói rằng, thuyết ADYN ngày càng được xây dựng kỹ lưỡng với khung lý thuyết cụ thể, rõ ràng và

mở rộng không chỉ nằm trong giới hạn của ngành ngôn ngữ mà còn giúp khám phá các lĩnh vực nghiên cứu đa ngành khác NNHTN có mối quan hệ mật thiết với các ngành khoa học tri nhận như tâm lý học tri nhận, nhận thức luận, thần kinh học, văn hoá học, v.v nên nó được xem như môn khoa học liên ngành

1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam về ẩn dụ ý niệm

Là một khuynh hướng nghiên cứu mới mẻ về ngôn ngữ, NNHTN đến với Việt Nam nhờ công sức dịch thuật và nghiên cứu của các nhà khoa học tiên phong là Nguyễn Lai [36], Lý Toàn Thắng [56], Trần Văn Cơ [9], v.v Nguyễn Lai [36] có thể được xem là người tiếp cận ngôn ngữ học tiền tri nhận sớm nhất khi chỉ ra quá trình phát triển ngữ nghĩa của các từ chỉ hướng LÊN XUỐNG, RA VÀO, LẠI QUA, SANG, VỀ với giả thuyết nghiệm thân Sau đó, các nghiên cứu về ADYN ở Việt Nam chú trọng phát triển theo ba hướng

Thứ nhất, một số tác giả giới thiệu, tổng hợp, giải thích và bổ sung làm sáng tỏ

những vấn đề thuộc NNHTN nói chung và lý thuyết ADYN nói riêng như Lý Toàn Thắng [55], [56] hay Trần Văn Cơ [9], [10], [11] Tác giả Lý Toàn Thắng [55] đã giới thiệu NNHTN vào Việt Nam với các quan điểm đáng chú ý làm cơ sở để hiểu được ẩn dụ

ý niệm như: sự ý niệm hoá và các quá trình ý niệm, các phạm trù tri nhận, v.v Các khái niệm cơ bản của NNHTN cùng những vấn đề trọng tâm có liên quan đến lý thuyết ADYN được tóm tắt một cách có hệ thống và toàn diện trong nghiên cứu của Trần Văn Cơ [9], [10] dựa trên các tác phẩm của Lakoff và Johnson [137] và Lakoff [131]

Thứ hai, lý thuyết ADYN được ứng dụng vào phân tích các ngữ liệu tiếng Việt thuộc

nhiều lĩnh vực khác nhau như văn học, kinh tế, chính trị, v.v hay tìm hiểu các chủ đề như không gian, thời gian, cảm xúc, ăn uống, v.v

Trong vài năm gần đây, các công trình nghiên cứu ngôn ngữ từ góc độ tri nhận đã tăng lên đáng kể về cả số lượng và chất lượng, và thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, điển hình như Nguyễn Thị Bích Hạnh [18], Nguyễn Thị Bích Hợp [27], Phạm Thị Hương Quỳnh [52], v.v Các nghiên cứu này thể hiện tính liên ngành của ngôn

Trang 20

ngữ học tri nhận khi tìm hiểu ẩn dụ trong các lĩnh vực khác nhau Một số nghiên cứu tập trung phân tích ADYN trong thơ, văn của các tác giả nổi tiếng như Trịnh Công Sơn [19], [31], [39], Nguyễn Duy [70], Xuân Diệu [60], Chế Lan Viên [8], Nguyễn Bính [64], Xuân Quỳnh [52], Huy Cận [54], Lưu Quang Vũ [2], v.v Trong những nghiên cứu này, các tác giả đã hoàn toàn nắm bắt và làm rõ tư tưởng chủ đạo của lý thuyết ADYN của Lakoff và Johnson, theo đó ẩn dụ không chỉ là hình thái tu từ của ngôn ngữ mà quan trọng hơn là cơ chế nhận thức thế giới bằng tư duy, hành động và cảm xúc của con người Trong đó, nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Hạnh [18], [19] là một trong những nghiên cứu nổi bật vì tác giả không chỉ dừng lại ở việc chỉ ra mô hình mà còn giải thích được cơ chế ánh xạ cũng như cấu trúc tầng bậc của ẩn dụ khi tiếp cận một cách đa chiều các khía cạnh của nhiều miền ý niệm khác nhau nhằm tìm hiểu chiều sâu văn hoá và cái nhìn sâu sắc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn về thế giới, hay nói cách khác, phản ánh thế giới quan và nhân sinh quan của Trịnh Công Sơn qua lăng kính tiếng Việt và văn hoá Việt

Các nghiên cứu gần đây có xu hướng chú trọng khai thác ADYN trong các diễn ngôn

ở nhiều lĩnh vực khác nhau như diễn ngôn báo chí [53], thành ngữ [1], [19], báo mạng [20], v.v hay các nghiên cứu và bài báo về một vấn đề tri nhận cụ thể như đồ ăn/ ẩm thực [27], tình yêu [41], v.v

Hướng nghiên cứu thứ ba là so sánh, đối chiếu ADYN trong các ngôn ngữ khác nhau

như tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Hán, tiếng Pháp Trong đối sánh Anh - Việt, các nghiên cứu nổi bật về ADYN thuộc các lĩnh vực và chủ đề đa dạng như chính trị [12], kinh tế [17], [32], văn học [24], [33], [52], tình yêu [25], [157], ẩm thực [30], [158], tâm lý tình cảm, cảm xúc [37], [45], [61], quảng cáo [21], [50], thực vật [40] Nổi bật, vào năm 2009, Phan Thế Hưng [29] đã tổng kết một cách đầy đủ những vấn đề cốt lõi trong lý thuyết về

ADYN Tác giả còn sử dụng lý thuyết ADYN để phân tích, đối chiếu Ẩn dụ cảm xúc, Ẩn

dụ ý niệm về thời gian, Ẩn dụ cấu trúc sự kiện trong tiếng Việt và tiếng Anh Đây là một

công trình nghiên cứu ứng dụng lý thuyết ADYN vào phân tích, đối chiếu tiếng Việt và tiếng Anh rất có giá trị Ngoài ra, nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan Phương [50] có nhiều kết quả đáng ghi nhận vì tác giả tập trung khai thác cả ba loại ẩn dụ gồm ẩn dụ cấu trúc,

ẩn dụ bản thể và ẩn dụ định hướng, đồng thời đưa ra mô hình ánh xạ và các tiểu loại ẩn

dụ rất rõ ràng và chi tiết Nghiên cứu về thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm từ góc độ tri nhận trong tiếng Hán có liên hệ với tiếng Việt được tiến hành bởi Vi Trường Phúc [46] Trong nghiên cứu của mình, Võ Thị Mai Hoa [22] tiến hành đối chiếu ADYN “vị giác” trong 3 ngôn ngữ Việt - Hán - Anh Ngoài ra, đối chiếu ADYN trong tiếng Pháp với tiếng Việt được thực hiện bởi Lê Lâm Thi [58]

Mặc dù trong một số nghiên cứu, một vài kết luận dựa vào hiểu biết và lý giải chủ quan của tác giả nên chưa có tính thuyết phục cao như nghiên cứu của Phạm Huỳnh Phú

Trang 21

Quý [158] hoặc ngữ liệu khảo sát còn hạn chế do đó kết quả nghiên cứu chưa đủ tin cậy như nghiên cứu của Ngô Đình Phương, Nguyễn Thị Kim Anh [157], nhưng nhìn chung, các nghiên cứu trên đều tập trung tìm ra các mô hình ẩn dụ, so sánh, đối chiếu để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt trong cơ chế hình thành ẩn dụ Một số nhà nghiên cứu còn gợi ý sử dụng các ẩn dụ này trong thực tế giảng dạy, giao tiếp hoặc biên, phiên dịch [33], [41], [122], [158] Như vậy, tính ứng dụng của ADYN ngày càng được chú trọng Ngoài

ra, các nghiên cứu về so sánh, đối chiếu ẩn dụ tiếng Việt và một ngôn ngữ khác cũng khẳng định một số ẩn dụ mang tính tổng quát nhưng vẫn có những biến thể liên văn hoá trong ADYN giữa tiếng Anh và tiếng Việt [51], [157], và chính các ẩn dụ phức hợp tạo ra

sự khác biệt trong tư duy của con người, tạo ra các nét đặc thù, các dấu ấn về văn hoá [64] Nguyên nhân tạo ra sự khác biệt giữa các ngôn ngữ có thể do các nền văn hoá, môi trường và điều kiện sống khác nhau [25], [50]

Nói tóm lại, các nghiên cứu ADYN ở Việt Nam đã góp phần làm sáng tỏ, phong phú thêm khung lý thuyết và tính ứng dụng của ADYN trong thực tiễn

1.1.3 Tổng quan về ẩn dụ ý niệm về người phụ nữ

1.1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới về ẩn dụ ý niệm về người phụ nữ

Có nhiều nghiên cứu trên thế giới về ADYN về người phụ nữ, chủ yếu tập trung vào các nội dung chính sau:

Thứ nhất, về mô hình ADYN về người phụ nữ, các nghiên cứu cho thấy nhiều điểm

tương đồng cũng như khác biệt, thể hiện sự phong phú trong các mô hình ADYN cơ sở

(15 mô hình) và ADYN phái sinh (13 mô hình) (Bảng 1.1) Về cơ chế ánh xạ, nghiên cứu

của nhóm tác giả Takada, Shinohara, Morizumi và Sato [171] đã chỉ ra được các lỗ hổng trong ánh xạ với các phân tích rõ ràng và sâu sắc, trong đó chỉ một vài loài động vật (bướm, vật nuôi/ thú cưng) và thực vật (hoa) được dùng để chỉ người phụ nữ, trong khi các loài khác không bao giờ được ánh xạ sang người phụ nữ (cây to, các bộ phận của cây như lá hoặc cành cây, động vật hoang dã và động vật lớn như chó sói, gấu, v.v.) Một số đặc tính nổi bật/ đặc trưng của các loài động vật (bốn chân, đuôi, mỏ, cánh), và thực vật (sự quang hợp, sự thụ phấn) bị làm mờ khi ánh xạ sang người phụ nữ Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những ẩn dụ về người đàn ông và người phụ nữ có hệ thống ánh xạ không đối xứng và không giống nhau Trong nghiên cứu của Murashova và Pravikova [152], các phép chiếu ẩn dụ về phụ nữ chuyển từ các cảm giác cơ thể ĐỐI TƯỢNG CỦA TÌNH YÊU LÀ ĐỒ ĂN sang các miền tinh thần, nhận thức hoặc logic

Trang 22

Bảng 1.1 Các mô hình ADYN trong các nghiên cứu nước ngoài trước đây

Thứ hai, một số nghiên cứu tìm hiểu các ẩn dụ dung tục về người phụ nữ Chin [85]

đưa ra phát hiện khá hay và thú vị rằng hiện nay việc sử dụng các ẩn dụ tục tĩu đã trở nên bình thường hóa đến mức ngay cả người phụ nữ cũng có thể sử dụng chúng để mô tả các

bộ phận cơ thể của chính họ chứ không phải chỉ có người đàn ông mới làm vậy như chúng ta thường nghĩ trước đây Ví dụ, bộ ngực lớn của một người phụ nữ được mô tả như một vũ khí - một tên lửa (missile) có sức công phá lớn và có thể hạ gục người đàn ông Nghiên cứu cũng khẳng định rằng một khi xu hướng sử dụng các ẩn dụ tục tĩu này trở thành chuẩn mực, mọi người sẽ có xu hướng bỏ qua thực tế tiềm ẩn rằng nó sẽ giới hạn một cách tinh vi người phụ nữ với vai trò là đối tượng tình dục Cũng xét trên quan điểm về tình dục, nghiên cứu của Murashova và Pravikova [152] cho thấy hình ảnh người phụ nữ được thể hiện trong phân chia nhị phân: họ vừa là đối tượng thụ động thoả mãn nhu cầu của đàn ông, đồng thời cũng là đối tượng chủ động khi dụ dỗ, điều khiển, lừa dối

Trang 23

và lợi dụng đàn ông Việc sử dụng ngữ nghĩa để chỉ người phụ nữ dễ dãi và đồng tính là một khía cạnh quan trọng trong ẩn dụ về tình dục của người phụ nữ

Thứ ba, về cách nhìn nhận người phụ nữ thông qua các ADYN, hầu hết các nghiên

cứu chỉ ra giá trị tư tưởng tiêu cực hay cái nhìn thiên lệch về người phụ nữ so với nam giới Ngoài ra, một số nghiên cứu so sánh ADYN về nam và nữ cho thấy sự bất bình đẳng đặc trưng giữa nam và nữ, ở đó người phụ nữ bị hạ thấp, coi thường hơn so với nam giới,

họ bị phân biệt đối xử trong khi nam giới có địa vị thống trị hơn [101], [186] Chin [85] cho rằng việc sử dụng các ẩn dụ dung tục có tác động rất xấu đến xã hội vì mọi người có thể làm theo và áp dụng cách mô tả và quan sát phụ nữ và cơ thể của họ, từ đó việc bất bình đẳng giới được mọi người, kể cả phụ nữ, thừa nhận và duy trì một cách tự nhiên mà

họ cũng không hề ý thức được Nói cách khác, những ẩn dụ tục tĩu sẽ dần thay đổi cách nhìn của chúng ta về người phụ nữ, từ đó làm sâu sắc thêm sự bất bình đẳng giới Vì vậy, đây là một vấn đề khá nghiêm trọng và cần nhiều nỗ lực để khắc phục xu hướng đáng lo ngại này trên báo chí Hồng Kông Nghiên cứu của Turpín [178] cho thấy ADYN PHỤ

NỮ LÀ ĐỘNG VẬT thể hiện các giá trị tư tưởng tiêu cực trong việc thể hiện hành vi và

vẻ đẹp của người phụ nữ như hạ thấp họ khi so sánh họ với động vật Tương tự, Barasa và Opande [76] chứng minh được rằng khi được ví với bất cứ cái gì như vật nuôi, gia cầm hay động vật hoang dã, người phụ nữ đều bị coi là phái yếu, thấp kém, vô giá trị và phụ thuộc vào nam giới Vì các định kiến trong xã hội nên phụ nữ chịu thiệt thòi, bị phân biệt đối xử trong các vấn đề như việc đưa ra quyết định, xây dựng chính sách, phân phối nguồn lực và tham gia chính trị Ngoài ra, phụ nữ trong hình ảnh những đồ vật được sử dụng để làm đẹp và có thể được sử dụng hoặc bị vứt bỏ không khác gì các đối tượng tình dục của đàn ông Các hình ảnh ẩn dụ cũng giúp người đọc hiểu được phụ nữ là người giúp việc trong gia đình, người vợ và người chăm sóc gia đình Vai trò của phụ nữ là thứ yếu Như vậy, phép ẩn dụ xây dựng bản sắc (identity) xã hội của phụ nữ Do đó, các ẩn

dụ củng cố các hệ tư tưởng giới như một hệ thống niềm tin trong văn hóa Bukusu và Gusii Điều này tạo ra sự phân chia phạm vi công và cá nhân trong xã hội, khuyến khích

sự phụ thuộc của phụ nữ vào đàn ông và không trao quyền cho phụ nữ Các tác giả đề xuất rằng trong các xã hội có cấu trúc bất đối xứng, ngôn ngữ nên được sử dụng một cách

có hệ thống để ghi nhớ vai trò lãnh đạo của nam giới và sự phụ thuộc, dễ tổn thương và yếu đuối của nữ giới Các tác giả khẳng định những câu tục ngữ được nghiên cứu thể hiện định kiến về giới trong cộng đồng hai dân tộc Bukusu và Gussi vì vậy đã trở nên lỗi thời

vì hiện nay có những phụ nữ quyết đoán, độc lập và nắm giữ các vị trí cao trong xã hội Kết quả nghiên cứu của Ahmed [72] chỉ ra rằng nhận thức của phụ nữ Nigeria vẫn bị ảnh hưởng lớn bởi hệ tư tưởng của giới thống trị trong xã hội đề cao vai trò của nam giới và

sự phụ thuộc của nữ giới, một số tác giả nữ cũng chấp nhận sự gia trưởng của đàn ông

Trang 24

trong gia đình và hầu hết trong số họ có xu hướng phân biệt giới tính

Thứ tư, các nghiên cứu cũng tìm hiểu sự tương đồng và biến thiên văn hoá trong ẩn

dụ về người phụ nữ Nghiên cứu tiêu biểu về ADYN về người phụ nữ được tiến hành bởi López-Rodríguez [150], trong đó, tác giả đã chỉ ra sự tương đồng và khác biệt giữa ADYN về người phụ nữ trong hai ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha Tác giả cũng lý giải nguyên nhân tạo ra ý nghĩa của các ADYN này Đó là do quyền lực và tình trạng chiếm ưu thế của nam giới trong quá trình lịch sử của hai đất nước Tác giả khẳng định rằng thông qua các ADYN này, con người được xã hội hoá về mặt ngôn ngữ, từ đó dẫn tới việc chấp nhận quan điểm gia trưởng về người phụ nữ Nghiên cứu của Chin [85] nêu bật sự khác biệt về đặc trưng văn hoá của người Anh và người Hồng Kong Chẳng hạn, miền nguồn bò sữa trong tiếng Trung Quốc dùng để chỉ một người phụ nữ có vòng một lớn vì mục đích duy nhất của bò sữa là cung cấp sữa, và bầu vú của nó mới là cái quan trọng Trong tiếng Anh, việc mô tả một người phụ nữ là một con bò sữa chỉ có nghĩa

cô ấy không dễ chịu, và bò sữa không được sử dụng theo cách tương tự trên đây Con cáo (fox) trong tiếng Anh mang ý nghĩa là một người xảo quyệt, nhưng nó không có nghĩa là một kẻ quyến rũ như trong ẩn dụ tiếng Trung Quốc Trong tiếng Trung Quốc, con cáo thành tinh được dùng để chỉ một người phụ nữ đang quyến rũ một người đàn ông đã có

vợ hoặc bạn gái Nguồn gốc của phép ẩn dụ này có thể bắt nguồn từ một số thần thoại cổ xưa của Trung Quốc và những truyện thần thoại khác, trong đó cáo thường được mô tả là xấu xa và xảo quyệt, và chúng có thể biến thành người để quyến rũ đàn ông Do đó từ

“fox-goblin” (cáo thành tinh) mang ý nghĩa “ác quỷ, xảo quyệt/ mưu mô và dâm đãng” Ngược lại, khi tìm hiểu các BTAD về đối tượng của tình yêu (người phụ nữ) thông qua các bài hát tình yêu của hai nghệ sĩ Kenya, Akuno, Oloo và Achieng' Lilian [73] đã chỉ ra các tương đồng cũng như biến thể trong cùng một nền văn hoá, lần lượt được quy định bởi nền tảng văn hoá chung và các khác biệt cá nhân Cụ thể, điểm giống nhau ở chỗ hai nghệ sĩ Kenya đều tư duy người yêu như những đồ ăn ngon, bao gồm: kẹo, mật ong, đường, sữa do họ có cùng nền tảng văn hoá Điểm khác nhau có được do sự khác biệt cá nhân về phong cách và sự sáng tạo trong sử dụng ngôn ngữ (idiolect) cho thấy hai nghệ sĩ

sử dụng các thuật ngữ ngôn ngữ cụ thể (loại kẹo cụ thể) hoặc chung (kẹo nói chung) Barasa và Opande [76] cho rằng ý nghĩa và biểu trưng trong các ẩn dụ về người phụ nữ được phát hiện trong nghiên cứu liên quan tới niềm tin văn hoá và xã hội trong cộng đồng người Bukusu và Gussi Chính các khía cạnh văn hóa của ngôn ngữ Bukusu và Gusii tạo

ra sự khác biệt về ý nghĩa khác nhau trong các lược đồ ẩn dụ trong tục ngữ của hai dân tộc này và sự miêu tả rập khuôn những người phụ nữ được cho là phụ thuộc và phục tùng đàn ông, và được đánh giá cao về vẻ đẹp quyến rũ, sự trong trắng và khả năng sinh con trai để nối dõi tông đường đã thể hiện rõ sự bất bình đẳng giới

Trang 25

Như vậy, các nghiên cứu trên thế giới về ADYN về người phụ nữ được đề cập ở trên đều áp dụng khung lý thuyết ADYN của Lakoff và Johnson [137] nhằm tìm ra các biến thể ẩn dụ về người phụ nữ trong cùng một nền văn hoá hoặc giao thoa văn hoá, từ đó khẳng định hệ tư tưởng giới và cách nhìn về người phụ nữ trong các xã hội khác nhau Tuy nhiên, có thể thấy các mô hình ADYN còn rời rạc và đôi khi sự phân chia chưa thật

rõ ràng, khối ngữ liệu của các nghiên cứu còn hạn chế như nghiên cứu của Akuno, Oloo

và Achieng' Lilian [73] chỉ bó hẹp trong 10 bài hát của hai nghệ sĩ nam Kenya nên kết quả tìm được không có tính khái quát hoá vì chỉ tập trung vào phong cách sử dụng ngôn ngữ của hai nghệ sĩ hay quy mô của bài báo của Chin [85] nhỏ vì chỉ tập trung nghiên cứu một số lượng nhỏ ấn phẩm của một tạp chí trong khoảng thời gian ngắn (6 tháng) vì vậy chỉ có thể tiết lộ một phần nhỏ của toàn bộ vấn đề

1.1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam về ẩn dụ ý niệm về người phụ nữ

Ở Việt Nam, một số nghiên cứu về ADYN về người phụ nữ được tiến hành trong một vài năm trở lại đây và tập trung theo các hướng sau:

Thứ nhất, về mô hình ADYN về người phụ nữ, các nghiên cứu khai thác ADYN theo

ánh xạ ẩn dụ hoặc miền nguồn Trên cơ sở tìm hiểu ánh xạ, Lương Ngọc Khánh Phương [48] đã đề xuất 5 ADYN gồm: PHỤ NỮ LÀ ĐỘNG VẬT, PHỤ NỮ LÀ THỰC VẬT, PHỤ NỮ LÀ THỨC ĂN, PHỤ NỮ LÀ ĐỒ VẬT, PHỤ NỮ LÀ TRẺ CON Dựa theo các trường nghĩa (semantic field) để xác định miền nguồn, Nguyễn Thị Hồng Phúc [156]

đã tìm hiểu một loạt các ADYN về NGƯỜI PHỤ NỮ trong Truyện Kiều bao gồm: PHỤ

NỮ LÀ THỰC VẬT với các tiểu loại CÂY, HOA; PHỤ NỮ LÀ HÀNG HOÁ, PHỤ NỮ

đã xác định các tiểu phạm trù của miền MÓN ĂN gồm các tiểu miền TÊN GỌI MÓN

ĂN, MÙI VỊ MÓN ĂN, HOẠT ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI VỚI MÓN ĂN, CẢM NHẬN CỦA CON NGƯỜI VỚI MÓN ĂN; từ đó xác định, phân tích rất cụ thể và rõ nét

4 ẩn dụ bậc dưới của hệ thống ý niệm của ẩn dụ này bao gồm: NGOẠI HÌNH PHỤ NỮ

LÀ HÌNH THỨC MÓN ĂN; ĐẶC ĐIỂM PHỤ NỮ LÀ ĐẶC ĐIỂM MÓN ĂN; HOẠT ĐỘNG VỚI PHỤ NỮ LÀ HOẠT ĐỘNG VỚI MÓN ĂN; THÂN PHẬN PHỤ NỮ LÀ

Trang 26

LOẠI MÓN ĂN Nghiên cứu này tìm hiểu ngữ liệu văn học dân gian, văn học viết và ngôn ngữ sinh hoạt đời thường, tuy nhiên tác giả không chỉ ra những khác biệt về ADYN

về người phụ nữ sử dụng trong đời thường và ẩn dụ văn chương Bàn về vẻ đẹp của con người, cụ thể là vẻ đẹp của người phụ nữ, Lê Lâm Thi [58], [59] kết hợp khá đa dạng nguồn ngữ liệu để đảm bảo tính tin cậy của kết quả nghiên cứu như: từ điển, thành ngữ, tục ngữ, ca dao, giao tiếp hàng ngày trên các website (ngôn ngữ đời sống), tác phẩm văn học (ngôn ngữ văn học), tạp chí, trang web trong tiếng Việt, từ đó thu được các miền nguồn gồm: THỰC VẬT, ĐỘNG VẬT, HIỆN TƯỢNG, VẬT CHẤT TỰ NHIÊN, NHÂN VẬT, ĐIỂN TÍCH VĂN HỌC, CẢM GIÁC và các miền nguồn khác Tác giả cũng cho thấy “đa số những ẩn dụ ý niệm về vẻ đẹp ngoại hình của con người đều được xây dựng trên cơ sở ánh xạ VẺ ĐẸP NGOẠI HÌNH CỦA CON NGƯỜI Ở MIỀN ĐÍCH

TƯƠNG ỨNG VỚI HÌNH DÁNG CỦA NHỮNG ĐỐI TƯỢNG MIỀN NGUỒN”

Thứ hai, về tác động của văn hoá đối với ADYN, các nghiên cứu đều cho thấy mối

quan hệ chặt chẽ giữa văn hoá và tư duy, văn hoá và ngôn ngữ Ý nghĩa ADYN trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Hợp [26] phản ánh rõ nét đặc trưng tư duy và văn hoá của người Việt: “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm” - người phụ nữ đóng một vai trò quan trọng việc thu vén, chăm chút cho gia đình Thông qua phân tích các ADYN này, tác giả đã làm nổi bật đặc điểm văn hoá dân tộc trong tư duy người Việt, đó là sự trọng tình, trọng lí, đề cao giá trị nhân văn, lấy gia đình làm hạt nhân cố kết Đây là một nghiên cứu có giá trị tham khảo quan trọng cho các nghiên cứu sau này Lê Lâm Thi [59] cũng

có nhiều nhận định khá sâu sắc về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, giữa ngôn ngữ

và văn hoá, chẳng hạn sự khác nhau về đức tin và tôn giáo của người Việt và người Pháp dẫn tới những khác biệt trong sử dụng ngôn ngữ, đồng thời đặc trưng văn hoá khác nhau tạo ra sự không tương đồng trong việc lựa chọn và ưu tiên sử dụng các hình ảnh ẩn dụ Lương Ngọc Khánh Phương [49] đã phân tích các ADYN về người phụ nữ trong tiếng Việt và chỉ ra sự đa dạng văn hoá của các ẩn dụ này từ khía cạnh nội tại văn hoá và xuyên văn hoá Một số ADYN như PHỤ NỮ LÀ TRÒ CHƠI, PHỤ NỮ LÀ MÓN HÀNG cho thấy cái nhìn thiên lệch của xã hội về phụ nữ với tư tưởng nam quyền, sản phẩm tiêu biểu của ý thức hệ Nho giáo từng tồn tại trong xã hội phong kiến ở các nước khu vực Á Đông

Từ đó, tác giả khẳng định các yếu tố văn hóa, xã hội Việt Nam chi phối khá rõ hoạt động tạo lập diễn ngôn của người Việt

Ngoài ra, một số nghiên cứu và bài báo bàn về ADYN về con người nhưng đề cập nhiều dụ dẫn liên quan đến ẩn dụ về người phụ nữ như nghiên cứu về ADYN CON NGƯỜI LÀ CÂY, CON NGƯỜI LÀ THỰC PHẨM/ MÓN ĂN, CON NGƯỜI LÀ HÀNG HOÁ [20], CON NGƯỜI LÀ THỰC VẬT [40], CON NGƯỜI LÀ LỬA [58], [59], CON NGƯỜI LÀ THỰC VẬT/ CÂY CỎ [52]

Trang 27

Như vậy, số lượng các nghiên cứu của Việt Nam tìm hiểu ADYN về người phụ nữ còn chưa nhiều Các nghiên cứu này chưa phân tích một cách kĩ lưỡng và sâu sắc các ADYN về người phụ nữ với các miền nguồn đa dạng và không tìm hiểu một cách hệ thống các ẩn dụ tương đương trong ngữ liệu tiếng Anh Các nghiên cứu cũng không chỉ ra

mô hình ánh xạ ẩn dụ về người phụ nữ Tính đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa có nghiên cứu nào đi sâu phân tích và so sánh, đối chiếu ADYN về người phụ nữ trong các tác phẩm văn học tiếng Anh và tiếng Việt của nhiều tác giả, chứ không chú trọng vào một tác giả cụ thể Ngoài ra, chưa có nghiên cứu trước đây chỉ ra những khác biệt trong ADYN

về người phụ nữ đời thường (thường quy) và trong văn học Đây chính là khoảng trống nghiên cứu để chúng tôi tiến hành luận án này nhằm bổ sung và củng cố cho quan điểm tri nhận về ẩn dụ nói chung và ADYN về người phụ nữ nói riêng

Ngoài ra, trong việc hệ thống hoá các ADYN, luận án kế thừa một số mô hình ADYN của các nghiên cứu trước đây được trình bày trong phần tổng quan (ĐỘNG VẬT, THỰC VẬT, NGƯỜI KHÁC, MÁY MÓC, HÀNG HOÁ, ĐỒ ĂN, ĐỒ VẬT, VẬT CÓ GIÁ TRỊ, LỬA), đồng thời cũng xây dựng các mô hình mới được tìm thấy trong khối ngữ liệu nghiên cứu

1.2 Cơ sở lý luận về đề tài nghiên cứu

Nền tảng lý thuyết cho nghiên cứu này được tạo lập thông qua việc hệ thống hoá lý thuyết liên quan đến đề tài và được chia thành bốn vấn đề chính bao gồm: ADYN; Đặc trưng văn học Mỹ và văn học Việt Nam thế kỉ 20; Đặc trưng văn hoá Mỹ và văn hoá Việt; Ngôn ngữ học đối chiếu

1.2.1 Cơ sở lý luận về ẩn dụ ý niệm

1.2.1.1 Các quan điểm về ẩn dụ

a Ẩn dụ theo quan điểm truyền thống

Ngôn ngữ học truyền thống xem xét ẩn dụ dưới hai phương diện Thứ nhất, là đối tượng nghiên cứu của phong cách học, ẩn dụ là một biện pháp tu từ Thứ hai, là đối tượng

nghiên cứu của từ vựng học, ẩn dụ được coi như một phương thức chuyển nghĩa

Từ thời Cổ đại, ẩn dụ đã được các nhà nghiên cứu nước ngoài dành nhiều sự quan tâm ở cả hai phương diện tu từ và phương thức chuyển nghĩa Trong hơn 2000 năm, ẩn dụ

là đối tượng nghiên cứu của Thuật hùng biện hay Tu từ học vốn bắt nguồn từ Hy Lạp cổ đại với trọng tâm sử dụng các công cụ tu từ để thuyết phục người khác Ẩn dụ là một trong các công cụ này và được coi là phép tu từ chính và là vật trang trí nhằm tạo ra hiệu ứng đặc biệt đối với người nghe hoặc người đọc Chúng ta nói và viết một cách ẩn dụ để giao tiếp khi hùng biện, để gây ấn tượng với người khác bằng những từ "đẹp", dễ chịu về mặt thẩm mỹ, hoặc để thể hiện những cảm xúc sâu sắc Đồng thời ẩn dụ cũng được coi là phương thức chuyển nghĩa hữu hiệu, theo đó ẩn dụ được tạo thành dựa vào công thức: A

Trang 28

là B như trong “Achilles is a lion in the fight.” (Achilles là một con sử tử khi đánh nhau)

Aristotle đưa ra quan điểm của mình trong tác phẩm Poetics (Thi ca học): “Ẩn dụ là một

tên gọi khác được chuyển từ giống sang loài hoặc từ loài sang giống, hoặc từ loài sang loài, hoặc do phép tương đồng…” (A metaphor is “the application of an alien name by transference either from genus to species, or from species to genius, or from species to species, or by anology…” (dẫn theo Trần Văn Cơ [11, tr.24]) Theo ông, bản chất của ẩn

dụ là phép chuyển đổi tên gọi Những ví dụ về ẩn dụ như “Achilles is a lion” (Achilles là một con sư tử) dựa trên sự so sánh Theo Grady [107], [109], [110], thuật ngữ “tương đồng” (resemblance) được sử dụng để miêu tả sự so sánh này Trong trường hợp này, sự tương đồng không nằm ở đặc điểm thể chất: Achilles thực sự không có vẻ ngoài giống một con sư tử; mà nằm ở đặc tính dũng cảm và sức mạnh Ẩn dụ loại này được gọi là ẩn

dụ tương đồng (“resemblance metaphors”) [109] Ju X Xtepanov cho rằng “Bản thân

từ Metaphora từ tiếng Hy Lạp cũng có nghĩa là “sự chuyển nghĩa”” và “khi một từ tuy

vẫn còn liên hệ với biểu vật cũ nhưng lại có thêm một sự liên hệ mới, với cái biểu vật mới thì hiện tượng ngôn ngữ đó là ẩn dụ” (dẫn theo Nguyễn Đức Tồn và Vũ Thị Sao Chi [63]) Như vậy, ẩn dụ là sự so sánh ngầm dựa vào sự tương đồng hay giống nhau, từ đó

có sự chuyển đổi tên gọi giữa hai vật

Đối với các nhà nghiên cứu trong nước, ẩn dụ, theo cách hiểu truyền thống, cũng là một biện pháp tu từ và phương thức chuyển nghĩa Ở địa hạt tu từ học, ẩn dụ được sử dụng nhằm tăng tính gợi hình, gợi cảm trong diễn đạt và tạo ấn tượng đối với người đọc Các nhà nghiên cứu sử dụng nhiều tên gọi khác nhau để phân loại ẩn dụ, dựa trên cơ sở tương đồng Cù Đình Tú [67, tr.27] đã phân biệt 5 loại ẩn dụ tu từ thường gặp, bao gồm:

hành động (“Con sông nhỏ hứng đủ trăm dòng suối trút xuống”), trạng thái (“Ngôi sao ấy

lặn hóa bình minh”), cơ cấu (“Thầy quen nhẫn nại như một người đan rổ: tay bắt từng nan một, uốn nắn cho khéo vào khuôn vào khổ Nhiều nan bị gẫy nhưng rổ vẫn thành rổ”), phúng dụ (“Con cò chết rũ trên cây, Cò con mở sách xem ngày làm ma”) và nhân

hóa (“Vì sương nên núi bạc đầu”) Theo Nguyễn Nguyên Trứ [65], có 2 loại ẩn dụ tu từ

là nhân hóa và phúng dụ (tr 101) Một số nhà tu từ học khác như Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hoà [35] đã phân chia ẩn dụ tu từ thành ẩn dụ, nhân hóa, ẩn dụ bổ sung, phúng dụ, vật hóa Ở địa hạt từ vựng học, ẩn dụ là phép gọi tên một sự vật bằng tên của một sự vật khác theo mối quan hệ gián tiếp Muốn hiểu được quan hệ đó chúng ta phải so sánh ngầm [66] Hữu Đạt [13, tr.409] cũng định nghĩa: “Ẩn dụ là kiểu so sánh không nói thẳng ra” Nói cách khác, ẩn dụ là lấy tên đối tượng A để gọi tên đối tượng B dựa trên cơ

sở sự giống nhau giữa hai đối tượng này về màu sắc, hình dáng, kích thước, chức năng, v.v., là sự chuyển đổi tên gọi căn cứ vào sự giống nhau giữa các sự vật, hiện tượng được

so sánh [7], [23], [16] Đỗ Hữu Châu [5, tr.54], [6, tr.160] đã phân biệt một số loại ẩn dụ

Trang 29

từ vựng như ẩn dụ về hình thức (mũi thuyền), vị trí (lòng sông), chức năng, công dụng (bến xe, cái đồng hồ), hành động (mưa đến, mặt trời mọc), cách thức (nắm tư tưởng, cắt

hộ khẩu), kết quả (ấn tượng nặng nề), v.v Nguyễn Thiện Giáp [15, tr.183-185] đã trình

bày 8 loại ẩn dụ từ vựng liên quan đến từ đa nghĩa, đó là hình thức (mũi thuyền), màu sắc (màu da trời), chức năng (đèn điện), tính chất, thuộc tính (tình cảm khô), đặc điểm hay vẻ

bề ngoài (Hoạn Thư, Thị Nở, Chí Phèo), từ cụ thể đến trừu tượng (hạt nhân), chuyển tên con vật sang con người (con họa mi, con rắn độc), chuyển tính chất của sinh vật sang sự vật hoặc hiện tượng khác (con tàu chạy, thời gian đi)

Từ các cách hiểu cơ sở này, ẩn dụ được xem như một biện pháp tu từ, và rộng hơn là phương thức chuyển đổi nghĩa Do đó phạm vi nghiên cứu ẩn dụ thường bị thu hẹp trong văn học và thơ ca

Như vậy, theo quan điểm truyền thống, ẩn dụ là một vấn đề thuộc ngôn ngữ, chứ không phải là ý niệm và hiện tượng Ẩn dụ sử dụng một từ, biểu thức ngôn ngữ để miêu tả một từ, biểu thức ngôn ngữ khác, chứ không phải sử dụng miền ý niệm này để hiểu miền ý niệm khác Cơ sở của ẩn dụ là sự giống nhau

b Ẩn dụ theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận

Trong cuốn “Metaphors We Live by”, Lakoff và Johnson [137] đã làm đảo ngược

quan điểm truyền thống về ẩn dụ khi chứng minh trong lý thuyết về ADYN rằng: 1 ẩn dụ không phải là một thuộc tính của từ hay biểu thức ngôn ngữ, mà là thuộc tính của ý niệm của con người; 2 ẩn dụ không chỉ đơn thuần là một biện pháp tu từ, hơn thế ẩn dụ giúp con người hiểu rõ hơn các khái niệm cụ thể; 3 ẩn dụ không chỉ dựa trên sự giống nhau giữa hai thực thể; 4 không chỉ những người có tài năng xuất chúng mà cả những người bình thường nhất cũng sử dụng ẩn dụ một cách không ý thức và hoàn toàn ngẫu nhiên để 5 thể hiện những suy nghĩ và tư duy trong cuộc sống hàng ngày, vì thế, ẩn dụ trở thành công cụ tư duy đầy ý nghĩa và không thể thiếu đối với các nhà thơ hay cả những người bình thường nhất;

ẩn dụ không chỉ đơn thuần là một vật trang trí nghệ thuật trong thơ ca hay các tác phẩm văn chương, hay là công cụ duy nhất cho trí tưởng tượng văn học sáng tạo

Điều mới mẻ trong quan điểm ngôn ngữ học tri nhận về ẩn dụ là ở chỗ đây là “một học thuyết toàn diện, khái quát và được kiểm chứng thực nghiệm” (it is a comprehensive, generalized, and empirically tested theory) [127, tr.xii] Học thuyết này thách thức quan điểm truyền thống vì không cho rằng ngôn ngữ ẩn dụ và suy nghĩ của con người là võ đoán và không có lý do mà xuất phát từ các trải nghiệm thân thể cơ bản của con người Hiểu ẩn dụ có nghĩa là chúng ta hiểu được một phần quan trọng của chính bản thân mình

và của thế giới nơi chúng ta đang sống Như vậy, ẩn dụ là phương thức phản ánh tư duy sáng tạo của con người thông qua hệ thống các ý niệm, là một hiện tượng tri nhận hơn là hiện tượng ngôn ngữ Theo Lakoff và Johnson [137], bản chất của ẩn dụ là ý niệm, vì thế

Trang 30

hai ông đã sử dụng thuật ngữ “ẩn dụ ý niệm” Chúng ta sống bằng ẩn dụ vì các ẩn dụ kiến tạo các hoạt động của chúng ta khi thực hiện một lĩnh vực gì đó

Theo quan điểm của NNHTN, ADYN là một cơ chế tri nhận nhờ đó logic của những khái niệm có tính trừu tượng được thay thế bằng logic của những khái niệm có tính cụ thể hơn Cơ chế tri nhận của ADYN liên quan đến hai miền ý niệm là miền nguồn và miền đích tồn tại tiền giả định trong ý thức con người ADYN là hiểu một miền ý niệm này dựa vào một miền ý niệm khác: MIỀN Ý NIỆM A LÀ MIỀN Ý NIỆM B ADYN là một sự

“chuyển di” (transfer) hay một sự “ánh xạ” (mapping) cấu trúc và các quan hệ nội tại của một lĩnh vực hay mô hình tri nhận “nguồn” (source) sang một lĩnh vực hay mô hình tri nhận “đích” (target) [137] Như vậy, ADYN chủ yếu dựa trên những sự “tương ứng” (correspondences) trong kinh nghiệm hơn là sự “tương đồng” [56] Tương tự, Lee cho rằng ADYN là “công cụ ý niệm hoá một miền trải nghiệm này sang một miền khác” (bản dịch của Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Hoàng An [38, tr 22]) Nói cách khác, ADYN là một tập hợp các ánh xạ từ miền nguồn đến miền đích được cấu trúc hoá theo mô hình trường - chức năng: trung tâm - ngoại vi, trong đó hạt nhân là khái niệm nằm ở trung tâm mang tính phổ quát toàn nhân loại, và ngoại vi là những yếu tố ngôn ngữ, văn hoá dân tộc

Như vậy, dưới ánh sáng của ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ là hình thức biểu tượng tri thức của con người thông qua ngôn ngữ, vừa mang tính phổ quát, vừa mang những nét đặc thù văn hoá dân tộc Cơ sở của ADYN dựa trên tương quan các trải nghiệm của con người, nội dung này sẽ được trình bày cụ thể trong phần sau

1.2.1.2 Các vấn đề cơ bản của ẩn dụ ý niệm

a Khái niệm ẩn dụ ý niệm

Từ các khái niệm được trình bày trong phần trên, có thể định nghĩa ADYN như sau:

ADYN là sự ý niệm hoá một miền tinh thần này (miền đích) qua một miền tinh thần khác (miền nguồn) thông qua các ánh xạ mang tính hệ thống, phóng chiếu các thuộc tính từ miền nguồn đến miền đích, từ đó tạo nên mô hình tri nhận giúp lĩnh hội miền đích một cách hiệu quả hơn “Điều cốt lõi của ẩn dụ là hiểu và trải nghiệm một sự vật thông qua

một sự vật khác.” (The essence of metaphor is under-standing and experiencing one kind

of thing in terms of another.) [137, tr.9] Quan điểm về ADYN có thể được thể hiện qua công thức: MIỀN Ý NIỆM A LÀ MIỀN Ý NIỆM B (CONCEPTUAL DOMAIN A IS CONCEPTUAL B), trong đó miền ý niệm A là miền đích, còn miền ý niệm B là miền nguồn [127, tr.4] Phương thức ẩn dụ được sử dụng để cấu trúc ý niệm, hoạt động và ngay

cả ngôn ngữ [137, tr.9]

Kövecses dùng thuật ngữ “metaphorical linguistic expression” để chỉ các từ, ngữ được sử dụng một cách ẩn dụ nhằm phát hiện ra các ADYN [127, tr.6] Trong luận án này, chúng tôi dùng thuật ngữ tiếng Việt tương đương là “dụ dẫn”, khác biệt với “biểu

Trang 31

thức ẩn dụ” (metaphorical statement) là biểu thị biểu thức của ánh xạ ẩn dụ, là việc trình bày ADYN Theo quy ước của ngôn ngữ học tri nhận, chúng tôi dùng chữ viết hoa để thể hiện ADYN, chữ viết thường để trình bày BTAD, chữ in nghiêng là các dụ dẫn Các BTAD với sự tham gia của các dụ dẫn chỉ ra sự tồn tại của ADYN, là công cụ giúp ta nhận diện ra các ADYN Mối quan hệ giữa ADYN và các BTAD như sau: BTAD (cách nói) biểu thị và làm các ADYN (cách nghĩ/ tư duy) trở nên rõ ràng hơn Nói cách khác, các BTAD là chất liệu để dựng nên các ADYN và là bằng chứng cho thấy sự tồn tại của các ẩn dụ này Ví dụ, trong ADYN CUỘC ĐỜI LÀ MỘT HÀNH TRÌNH (LIFE IS A

JOURNEY), các BTAD có thể là: He’s without direction in life (Anh ta không có hướng

đi trong cuộc đời); I’m where I want to be in life (Tôi ở nơi mà tôi muốn đến trong cuộc

đời), còn các dụ dẫn bao gồm “direction” và “where”

b Cơ sở hình thành ẩn dụ ý niệm

Quan điểm của NNHTN cho rằng, ngoài sự tương đồng khách quan tồn tại trước (objective, pre-existing similarity), ADYN còn dựa trên các trải nghiệm của con người, các tương đồng không khách quan, các nền tảng văn hoá và sinh học chung giữa hai miền

ý niệm, v.v [127, tr.79] Vì vậy, một vấn đề quan trọng trong thuyết ADYN là các ẩn dụ thường được hình thành dựa vào cơ sở các sự tương quan mà chúng ta nhận thức được trong trải nghiệm của mình Nói cách khác, cơ sở của ADYN là bản chất các tương tác hàng ngày của chúng ta với thế giới hay cơ sở trải nghiệm của con người (experiential basis) [93, tr.195] Các mối tương quan này (correlation) không phải là các sự tương đồng (similarity) Các ẩn dụ dựa vào những mối tương quan trong trải nghiệm và tạo ra các ý niệm, từ đó giúp chúng ta nhận thức được sự tương đồng [137] Theo Kövecses [127], ADYN được tạo thành dựa trên hai nền tảng chính

Thứ nhất, ẩn dụ được tạo ra dựa vào sự tương quan kinh nghiệm Động lực thúc đẩy

sự hình thành ẩn dụ chính là sự tương quan trong trải nghiệm của con người Nếu một sự việc xảy ra dẫn tới một sự việc cũng xảy ra thì giữa chúng có sự tương quan về kinh nghiệm Ví dụ, ẩn dụ SỐ LƯỢNG LÀ SỰ TĂNG LÊN THEO CHIỀU THẲNG ĐỨNG được xây dựng dựa trên sự tương quan trong trải nghiệm về ý niệm “số lượng” và ý niệm

“sự tăng lên theo chiều thẳng đứng”, thể hiện qua các biểu thức: The price of shares is

going up (Giá cổ phiếu đang tăng lên)./ She got a high score in her exam (Cô ấy được

điểm cao trong kì thi) Trong hai ví dụ này, ý niệm về số lượng liên quan đến việc tăng

giá cổ phiếu và kết quả kì thi được thể hiện bằng con số “Going up” (Tăng lên) và “high” (cao) dùng để chỉ ý niệm “sự tăng lên theo chiều thẳng đứng” Như vậy “số lượng” và “sự tăng lên theo chiều thẳng đứng” có liên quan với nhau ở mức độ ý niệm Sự tương liên này bắt nguồn từ các trải nghiệm hàng ngày của con người về thế giới Ví dụ khi chúng ta tăng độ cao của cái gì, điều đó có nghĩa là chúng ta bổ sung thêm số lượng của cái đó

Trang 32

Nếu chúng ta đổ nước vào một cái ly thì mực nước trong ly dâng lên (sự tăng lên theo chiều thẳng đứng) và lượng nước cũng nhiều hơn [93, tr.317] Trong một ví dụ khác, NIỀM VUI (THÌ) HƯỚNG LÊN dựa trên cơ sở trải nghiệm khác với NHIỀU (THÌ) HƯỚNG LÊN hay LÝ TRÍ (THÌ) HƯỚNG LÊN mặc dù ý niệm HƯỚNG LÊN trong các

ẩn dụ này giống nhau Điều này có nghĩa là chiều thẳng đứng xuất hiện trong các trải nghiệm của chúng ta theo nhiều cách khác nhau, vì vậy dẫn tới các ẩn dụ khác nhau Ẩn

dụ đều được hiểu và biểu hiện một cách đầy đủ và không tách rời với cơ sở trải nghiệm của nó Nói cách khác, các bộ phận của mỗi ẩn dụ chỉ được liên kết với nhau thông qua

cơ sở trải nghiệm, từ đó mới có thể làm cho chúng ta hiểu được các ẩn dụ này Theo Lakoff và Johnson [137], loại tương liên này được trải nghiệm trong cuộc sống thường ngày của chúng ta và là tiền đề tạo nên sự kết hợp ở mức độ ý niệm được phản ánh thông qua các ví dụ về ngôn ngữ

Thứ hai, ADYN được tạo ra dựa trên sự tương đồng về cấu trúc được cảm nhận/ lĩnh

hội (perceived structural similarity) Sự tương đồng áp dụng với một số ADYN và tạo nên

cơ sở trải nghiệm của các ẩn dụ này Ví dụ ẩn dụ LIFE IS A GAMBLING GAME (CUỘC ĐỜI LÀ MỘT CANH BẠC) được tạo ra dựa vào sự tương đồng không khách

quan được cảm nhận bởi những người nói tiếng Anh: Tôi sẽ nắm lấy cơ hội của mình./

Đó là vấn đề chưa ngã ngũ./ Hắn đang lừa bịp./ Anh ta đã thắng lớn

Những dụ dẫn này miêu tả cuộc đời của con người như một canh bạc Con người lĩnh hội các tương đồng nhất định giữa cuộc đời và canh bạc, nhưng các tương đồng này không khách quan và có sẵn Những tương đồng này nảy sinh từ việc quan niệm một cách

ẩn dụ cuộc đời như một canh bạc Chúng ta xem các hành động của mình trong cuộc sống như những trò đánh bạc và kết quả của những hành động này là thắng hoặc thua Chúng

ta thấy có sự tương đồng giữa mối quan hệ của cờ bạc và thắng hoặc thua với các hành động trong cuộc sống và kết quả của chúng Khi chúng ta thấy sự tương đồng giữa cấu trúc của một miền và cấu trúc của miền khác thì sự tương đồng cấu trúc được cảm nhận/ lĩnh hội trong ADYN đó Cảm nhận/ Lĩnh hội cuộc đời theo một trò cờ bạc thể hiện quá trình thấu hiểu CUỘC ĐỜI LÀ MỘT CANH BẠC Bất cứ sự tương đồng nào nảy sinh từ

sự cảm nhận/ lĩnh hội này đều được gọi là sự tương đồng cấu trúc được cảm nhận/ lĩnh hội Loại tương đồng này tạo ra tính có cơ sở cho một loạt các ADYN Điều thú vị ở đây

là một số ẩn dụ không dựa trên sự tương đồng mà tạo ra sự tương đồng Ví dụ, ẩn dụ Ý TƯỞNG LÀ THỰC PHẨM tạo ra sự tương đồng giữa ý tưởng và thực phẩm Cả hai đều

có thể được tiêu hoá, nhai ngấu nghiến, nuốt, được hâm lại và có thể nuôi sống bạn

c Đặc điểm của ẩn dụ ý niệm

ADYN có 7 đặc điểm cơ bản

Thứ nhất, ADYN có tính hệ thống Trước hết, cấu trúc ẩn dụ có tính hệ thống Lakoff

Trang 33

và Johnson [137] cho rằng các ADYN tương tác với nhau và có thể hình thành các hệ thống ẩn dụ tương đối phức tạp Các hệ thống này là tập hợp các ánh xạ ẩn dụ giản đồ hơn và các ánh xạ này cấu trúc một loạt các phép ẩn dụ cụ thể hơn Lakoff [133] đã đưa

ra một ví dụ đặc biệt phức tạp về hệ thống ẩn dụ mà ông gọi là ẩn dụ cấu trúc sự kiện

(event structure metaphor) Đây thực sự là một chuỗi các ẩn dụ tương tác trong việc lý

giải các phát ngôn Ẩn dụ CUỘC ĐỜI LÀ MỘT HÀNH TRÌNH (LIFE IS A JOURNEY)

là một ẩn dụ cấu trúc sự kiện, SỰ KIỆN tạo ra phép ẩn dụ này là các sự kiện trong cuộc sống Việc chúng ta ý niệm hoá cuộc đời dưới dạng một hành trình, sử dụng các thuật ngữ của cuộc hành trình để miêu tả cuộc sống đã tác động một cách có hệ thống đến việc miêu

tả các mặt liên quan đến cuộc sống và việc chúng ta tri nhận về cuộc sống Ẩn dụ này bao gồm tổng hợp các ánh xạ từ một loạt các ẩn dụ riêng lẻ có mối quan hệ tương quan và

liên quan lẫn nhau, cụ thể: TÌNH TRẠNG LÀ VỊ TRÍ (Anh ấy ở ngã ba cuộc đời), THAY ĐỔI LÀ CHUYỂN ĐỘNG (Anh ấy chuyển từ tuổi 40 sang tuổi 50 mà không có

dấu hiệu gì của khủng hoảng tuổi trung niên), MỤC ĐÍCH LÀ ĐIỂM ĐẾN (Tôi dường như chẳng thể đến được nơi mà tôi muốn đến trong cuộc đời), PHƯƠNG TIỆN LÀ

ĐƯỜNG ĐI (Trong đời mình, anh ấy đi theo một con đường trái với thông thường), KHÓ KHĂN LÀ TRỞ NGẠI CHO CHUYỂN ĐỘNG (Trong suốt sự nghiệp của mình,

bằng cách nào đó, các mối quan hệ nghề nghiệp không suôn sẻ luôn cản trở anh ấy),

CÁC HOẠT ĐỘNG CÓ MỤC ĐÍCH LÀ CÁC CHUYẾN ĐI (Cuộc đời anh ấy là một

chuyến đi khá kỳ lạ) Mỗi ví dụ (in nghiêng) kế thừa cấu trúc từ một ẩn dụ cụ thể (in hoa)

trong phức hợp cấu trúc sự kiện Đây là một hệ thống tương hợp bao gồm các ý niệm ẩn

dụ và một hệ thống nhất quán tương ứng gồm các cách biểu đạt ẩn dụ đối với các ý niệm

này Ngoài ra, ý niệm ẩn dụ cũng mang tính hệ thống nên các đơn vị ngôn ngữ để nói về

khía cạnh này của ý niệm cũng mang tính hệ thống [137] Ví dụ, khi chúng ta phần nào ý niệm hoá ham muốn tình dục dưới dạng cơn đói hay đối tượng của ham muốn tình dục dưới dạng đồ ăn, việc này đã tác động một cách có hệ thống đến cách chúng ta nói về các biểu hiện cũng như đối tượng của ham muốn tình dục Trong ẩn dụ HAM MUỐN TÌNH DỤC LÀ CƠN ĐÓI (LUST IS HUNGER), các biểu thức ngôn ngữ chứa các đơn vị từ

vựng về cơn đói như: chết đói (starved), sự thèm ăn (appetite), đói (hunger), v.v tạo ra

cách diễn đạt mang tính hệ thống về khía cạnh cơn đói của ham muốn tình dục Theo Lakoff [131, tr.409-410], ham muốn tình dục (lust) là một ý niệm phức hợp được hiểu thông qua hệ thống các ADYN như sau (ngoài các ADYN khác):

LUST IS HUNGER (HAM MUỐN TÌNH DỤC LÀ CƠN ĐÓI); THE OBJECT OF LUST IS FOOD (ĐỐI TƯỢNG CỦA HAM MUỐN TÌNH DỤC LÀ ĐỒ ĂN)

- He is sex-starved (Anh ấy đói tình dục.)

- I hunger for your touch (Em đói sự động chạm của anh.)

Trang 34

- She’s quite a dish (Cô ấy là món ăn.)

- Hi, sugar! (Xin chào, viên đường)

A LUSTFUL PERSON IS AN ANIMAL (MỘT NGƯỜI DÂM ĐÃNG LÀ MỘT CON VẬT)

- Don’t touch me, you animal! (Đừng chạm vào tôi, đồ động vật.)

- He’s a wolf (Hắn là một con sói.)

- He’s a real stud - the Italian Stallion! (Nó là một con ngựa giống thật sự - một

con ngựa đực Ý.)

- She’s a tigress in bed (Nàng là một con hổ cái trên giường.)

(Nguồn: [131, tr.409-410]) Thứ hai, ẩn dụ có thể làm nổi bật (highlighting) hoặc che giấu (hiding) một số đặc

tính nhất định Khi miền nguồn tập trung miêu tả một số khía cạnh của miền đích, đây được gọi là sự làm nổi bật [127, tr.326] Ánh xạ ẩn dụ chỉ sử dụng một vài đặc điểm của miền nguồn và che giấu các đặc điểm khác không phù hợp với miền đích [126, tr.329], [137, tr.3]) hay ẩn dụ “hướng sự chú ý của chúng ta tới các khía cạnh/ đặc điểm cụ thể của một trải nghiệm đồng thời cũng làm lãng trí khỏi các khía cạnh khác của cùng một trải nghiệm” (“direct our attention to certain aspects of experience while also diverting our attention from other aspects of the same experience”) [112, tr.149] Ví dụ, ẩn dụ TRANH LUẬN LÀ CHIẾN TRANH làm nổi bật tính đối đầu của tranh luận nhưng che giấu thực tế là tranh luận thường liên quan đến sự phát triển có trật tự và có tổ chức của

một chủ đề cụ thể (Anh ấy thắng trong cuộc tranh luận; Tôi không thể bảo vệ quan điểm

đó) Ngược lại, ẩn dụ TRANH LUẬN LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH làm nổi bật khía cạnh liên tục và có tổ chức của các cuộc tranh luận trong khi che giấu các khía cạnh đối

đầu như: Chúng tôi sẽ tiến hành từng bước một (We’ve covered a lot of ground.) [93,

tr.304] Như vậy, tính hệ thống của ẩn dụ cho phép chúng ta hiểu một khía cạnh nào đó của một ý niệm này thông qua một ý niệm khác, do đó cũng làm mờ những bình diện khác của ý niệm đó khi những bình diện này không có sự tương thích với nhau Nói cách khác, việc cấu trúc hoá ẩn dụ mang tính bộ phận chứ không có tính toàn bộ, trong đó quá trình ánh xạ từ miền nguồn sang miền đích chỉ diễn ra với một vài đặc tính của miền nguồn Cấu trúc ẩn dụ mang tính bộ phận chứ không có tính tổng thể bởi lẽ nếu nó mang tính tổng thể thì một ý niệm này sẽ trở thành một ý niệm khác chứ không còn được hiểu

thông qua ý niệm khác Ví dụ, thời gian không hoàn toàn là tiền bạc vì nếu bạn tiêu phí

thời gian của mình để làm một việc gì đó mà thất bại thì bạn cũng không thể thu hồi được

thời gian bạn đã bỏ ra; tôi có thể dành cho bạn thời gian nhưng bạn không thể trả lại cho

tôi chính xác khoảng thời gian đó cho dù bạn có thể trả cho tôi cùng lượng thời gian như

vậy, v.v Do đó, một ý niệm này không hoàn toàn trùng khớp với một ý niệm khác

Trang 35

Thứ ba, ánh xạ ẩn dụ có tính một chiều hay đơn hướng Điều này có nghĩa là phép ẩn

dụ ánh xạ cấu trúc từ miền nguồn sang miền đích nhưng không phải theo chiều ngược lại

Ví dụ, trong ADYN TÌNH YÊU LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH, tình yêu được diễn tả thông qua cuộc hành trình, nhưng cuộc hành trình không được miêu tả thông qua tình yêu [137, tr 108]) Chẳng hạn, “khách du lịch” không thể được quy ước là “tình nhân” hay

“tai nạn xe hơi” không thể cấu trúc theo nghĩa “đau lòng”, v.v Vì thế, các miền "đích" và

"nguồn" mã hóa bản chất một chiều của ánh xạ

Thứ tư, cấu trúc ẩn dụ có tính tầng bậc Mô hình ánh xạ của ADYN được tổ chức

theo cấu trúc tầng bậc, trong đó, các ADYN ở bậc thấp hơn (ẩn dụ phái sinh) sẽ thừa hưởng cấu trúc ẩn dụ của bậc cao hơn (ẩn dụ cơ sở) Ví dụ, tính tầng bậc của ADYN

“Cuộc đời là thực phẩm” gồm ba bậc: bậc 1 chính là ADYN này, bậc 2 gồm 2 ẩn dụ

“Cuộc đời là món ăn” và “Con người là thực phẩm”, ẩn dụ “Con người là món ăn” nằm ở

bậc 3, ẩn dụ bậc dưới của “Con người là thực phẩm”

Thứ năm, ADYN mang tính phổ quát Kövecses [129] đã chỉ ra rằng một vài ngôn

ngữ thuộc hệ hình khác nhau vẫn có thể có những ADYN giống nhau để biểu đạt các ý niệm cảm xúc nhất định Một trong những ý niệm cảm xúc đó là hạnh phúc Có một số lượng lớn ẩn dụ cảm xúc trong tiếng Anh [125], trong đó có 3 ẩn dụ nổi bật: HẠNH

PHÚC ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN (“Tôi cảm thấy vui lên”), HẠNH PHÚC LÀ ÁNH SÁNG (“Cô ấy vui rạng rỡ”) và HẠNH PHÚC LÀ CHẤT LỎNG CHỨA TRONG VẬT CHỨA (“Anh ấy tràn đầy niềm hạnh phúc”) Ẩn dụ HẠNH PHÚC ĐỊNH HƯỚNG LÊN

TRÊN cũng được tìm thấy trong các ngôn ngữ khác như Trung Quốc [184] hay Hungary Các nhà ngôn ngữ học tri nhận cho rằng các ẩn dụ cơ sở “primary” hay cơ bản “simple” trở nên có lý do do sự tương quan phổ quát trong trải nghiệm cơ thể của con người Quả thật, khi chúng ta vui, chúng ta thường phấn chấn lên, nhảy cẫng lên, đi loanh quanh, và trở nên nhanh nhẹn Đây là những trải nghiệm mang tính phổ quát liên quan tới hạnh phúc và chúng có thể tạo ra các ẩn dụ đơn giản mang tính phổ quát

Thứ sáu, ADYN có tính biến thiên văn hoá Kövecses [128] cho rằng có hai chiều kích

trong tính biến thiên văn hoá của ẩn dụ: liên văn hoá và nội tại văn hoá Thứ nhất, tính biến thiên liên văn hoá của ẩn dụ thể hiện ở nhiều khía cạnh, chẳng hạn trong ba trường hợp sau:

1 Một nền văn hoá sử dụng một tập hợp các miền nguồn khác nhau cho một miền đích cụ thể hoặc ngược lại, một nền văn hoá khác sử dụng một miền nguồn cụ thể để ý niệm hoá một tập hợp các miền đích khác nhau; 2 Tập hợp các ADYN cho một miền đích cụ thể gần như giống nhau giữa hai ngôn ngữ hoặc hai nền văn hoá nhưng một ngôn ngữ/ nền văn hoá

ưa thích sử dụng một vài ADYN nhất định; 3 Có thể có một số ADYN chỉ xuất hiện trong một ngôn ngữ/ nền văn hoá nhất định Ví dụ, tiếng Trung có chung miền nguồn ẩn dụ cơ

bản cho ý niệm hạnh phúc với tiếng Anh như: HƯỚNG LÊN, ÁNH SÁNG, CHẤT LỎNG

Trang 36

TRONG VẬT CHỨA Theo Yu [184], một ẩn dụ có trong tiếng Trung nhưng không có trong tiếng Anh là HẠNH PHÚC LÀ HOA TRONG TIM Phép ẩn dụ này phản ánh "tính cách hướng nội hơn của người Trung Quốc." ADYN này tương phản với phép ẩn dụ trong tiếng Anh (Mỹ): HẠNH PHÚC LÀ HƯỚNG LÊN KHỎI MẶT ĐẤT Ẩn dụ này hoàn toàn không tồn tại trong tiếng Trung và phản ánh tính cách tương đối “hướng ngoại” của những người nói tiếng Anh (dẫn theo Kövecses [127, tr.216]) Có hai nguyên nhân chủ yếu của biến thể liên văn hoá trong ẩn dụ: ngữ cảnh/ chu cảnh văn hoá rộng hơn (tức là các nguyên tắc chủ đạo và các ý niệm chính trong một nền văn hoá nhất định) và môi trường vật chất và tự nhiên mà nền văn hoá đó tồn tại Thứ hai, việc ý niệm hoá không giống nhau, không đồng nhất trong một nền văn hoá hoặc một xã hội đã tạo ra các biến thể ADYN trong nội tại một nền văn hoá Nguyên nhân là do việc sử dụng ẩn dụ của mỗi cá nhân khác nhau hoặc các yếu tố xã hội và thời gian Ví dụ lịch sử cá nhân (personal history) - các sự kiện và trải nghiệm nổi bật trong cuộc sống trước kia - có thể ảnh hưởng đến việc sử dụng

ẩn dụ trong các giai đoạn sau này của mỗi người

Thứ bảy, ADYN có tính tương hoà văn hoá (cultural coherence) Mặc dù xuất hiện ở

mọi ngôn ngữ của các dân tộc và có thể mang tính phổ quát, nhưng theo Charteris-Black [82], ADYN mang ảnh hưởng của các yếu tố văn hoá Chẳng hạn, người Anh ý niệm hoá

“Thời gian là tiền bạc” [137] trong khi người Việt coi “Thời gian là vàng bạc” Các nghiên cứu khác [83], [90], [154] so sánh ẩn dụ tiếng Anh với ẩn dụ trong các ngôn ngữ khác cũng có chung kết luận rằng việc sử dụng ẩn dụ bị ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố văn hoá Vì ADYN được phản ánh thông qua lăng kính ngôn ngữ và văn hoá dân tộc nên các cấu trúc ẩn dụ của các ý niệm về cơ bản đều tương hoà, hay nói cách khác là phù hợp với phương thức tư duy, cách nghĩ, cách nhìn nhận thế giới, hoạt động tinh thần hay phong tục tập quán của những người hợp thành một cộng đồng văn hoá nào đó - đây chính là những giá trị nền tảng nhất của một nền văn hoá nhất định Ví dụ, theo Lakoff và Johnson [137], “The future will be better” (Tương lai sẽ tốt hơn) tương hoà với những ẩn

dụ THE FUTURE IS UP (Tương lai định hướng lên trên) và GOOD IS UP (Cái tốt định hướng lên trên), còn “The future will be worse” (Tương lai sẽ tồi tệ hơn) không tương hoà với các ẩn dụ này Những giá trị này bám rễ sâu trong nền văn hoá Anh - Mỹ “The future wil be better” là tư tưởng nền móng của sự tiến bộ Như vậy, những giá trị không tồn tại độc lập mà hình hành nên một hệ thống tương hoà với các ADYN chúng ta sử dụng hàng ngày Điều đó có nghĩa là, không thể khẳng định tất cả những giá trị văn hoá đều tương hợp với một hệ thống ẩn dụ hiện hữu mà chỉ những giá trị nào đang tồn tại và bám rễ vào văn hoá mới tương hoà với hệ thống ẩn dụ này Những giá trị trên ngang bằng nhau trong nền văn hoá của chúng ta Tuy nhiên, không phải lúc nào sự vật cũng có các giá trị ngang bằng nhau nên xảy ra các xung đột giữa các giá trị, từ đó dẫn tới các xung

Trang 37

đột giữa các ẩn dụ liên quan tới chúng Để giải thích cho những xung đột này cần phải xác định được thang độ ưu tiên hay mức độ quan trọng khác nhau của các giá trị và các ẩn

dụ được quy định bởi một nền văn hoá nhất định Chẳng hạn, ẩn dụ NHIỀU HƠN ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN (MORE IS UP) được ưu tiên hơn và có mức độ quan yếu hơn so với CÁI TỐT ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN vì nó có cơ sở vật lý rõ ràng hơn Điều này được thể hiện qua các ví dụ “Lạm phát tăng” (Inflation is rising) hay “Tỷ lệ tội phạm tăng” (The crime rate is going up) Rõ ràng có thể thấy ẩn dụ NHIỀU HƠN ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN được ưu tiên hơn, do đó các giá trị gắn liền với nó cũng có mức độ quan trọng hơn Vì thế, mặc dù “lạm phát” và “tội phạm” không phải là cái tốt nhưng chúng vẫn mang định hướng lên trên do sự quan yếu và chi phối của ẩn dụ NHIỀU HƠN ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN Sự ưu tiên các giá trị dựa vào nền tiểu văn hoá (subculture) trong đó con người sinh sống và các giá trị của mỗi cá nhân Có những nền tiểu văn hoá quan niệm SAVING MONEY IS BETTER (TIẾT KIỆM TIỀN THÌ TỐT HƠN) quan trọng hơn BIGGER IS BETTER (CÁI LỚN HƠN LÀ TỐT HƠN), điều này chi phối quyết định của họ trong việc mua các loại xe nhỏ thay vì xe to để tiết kiệm tiền hơn và dành dụm cho tương lai Theo quan niệm sống của một số người, đặc biệt những người tôn sùng chủ nghĩa vật chất, tiền bạc có thể mua được tất cả, càng có nhiều tiền thì càng hạnh phúc thì MORE IS BETTER (NHIỀU HƠN THÌ TỐT HƠN) sẽ được ưu tiên Còn với nhóm người coi nhẹ chủ nghĩa vật chất, đối với họ tiền bạc là ngọn nguồn của mọi đau khổ thì LESS IS BETTER (ÍT HƠN THÌ TỐT HƠN) được xem là quan trọng hơn Các đặc điểm này sẽ được sử dụng để giải thích sự tương đồng và khác biệt của ADYN trong các tác phẩm văn học Mỹ và Việt

1.2.1.3 Các khái niệm liên quan đến ẩn dụ ý niệm

a Ý niệm và ý niệm hoá

Theo Cruse, “Ý niệm là các biểu tượng tinh thần nhằm lưu trữ kiến thức về các phạm trù và cho phép chúng ta gán các sự việc với các phạm trù phù hợp” (Concepts are mental representations that store knowledge about categories, enabling us to assign things

to appropriate categories) [88, tr 30] Ở đây, phạm trù là những tập hợp, những nhóm, là tổng hoà các sự vật, hiện tượng cùng chung các đặc điểm, đặc tính hay thuộc tính nào đó Như vậy, ý niệm chính là những biểu tượng tinh thần phản ánh cách con người tri nhận về thế giới xung quanh và tương tác với thế giới đó, đồng thời là sản phẩm của quá trình nhận thức của con người Tương tự, ý niệm là “đơn vị của những tiềm năng tinh thần hoặc tâm lí của ý thức con người” [9, tr 128] Theo Lý Toàn Thắng [55], ý niệm không chỉ là quá trình tư duy, phản ánh thế giới khách quan vào đầu óc con người mà còn là sản phẩm của quá trình tri nhận, biểu hiện tri thức và sự hiểu biết của con người về thế giới dựa trên cơ sở đúc kết và truyền tải kinh nghiệm từ thế hệ này sang thế hệ khác, mang

Trang 38

đậm tính phổ quát toàn nhân loại cũng như tính đặc thù dân tộc Lakoff và Johnson [137] cho rằng ý niệm chi phối hành động của chúng ta ngay cả những hành động nhỏ nhất và bình thường nhất Hệ thống ý niệm có vai trò quan trọng trong việc định hình các hoạt động thường ngày Như vậy, ý niệm là yếu tố quan trọng giúp cho hoạt động nhận thức của con người đạt hiệu quả Chúng được tổ chức thành những khối kiến thức tiềm tàng, miêu tả việc kết nối các sự vật, hiện tượng, tình huống theo kinh nghiệm của con người Cấu trúc nội tại của ý niệm bao gồm trường - chức năng với mô hình trung tâm (hạt nhân) và ngoại vi, trong đó hạt nhân là khái niệm, nằm ở trung tâm của trường - chức năng, bao gồm nội dung thông tin phổ quát về thế giới hiện thực và thế giới tưởng tượng; nằm ở ngoại vi là các nội dung khác chứa đựng các nét văn hoá đặc trưng của dân tộc, nổi bật và quan trọng nhất là các giá trị văn hoá về cả vật chất lẫn tinh thần Cơ sở của ý niệm

là kinh nghiệm cảm tính của con người thông qua quá trình tri giác, tư duy thế giới và hoạt động giao tiếp dưới hình thức ngôn ngữ Ý niệm là một hình ảnh và có thể chuyển động từ một hình ảnh cảm tính sang hình ảnh tư duy Ví dụ, “lửa” là một hiện tượng thiên nhiên có tính chất phát ra hơi nóng có thể làm cháy các vật xung quanh Lửa cũng có thể phát ra ánh sáng Hình ảnh cảm tính này của “lửa” có thể chuyển sang hình ảnh tư duy trong ý niệm “nhiệt tình”, cụ thể là “ngọn lửa tình yêu”, “ngọn lửa nhiệt tình cách mạng”,

“nhiệt tình của tuổi trẻ có thể đốt cháy dãy Trường Sơn”, v.v

Ý niệm hoá là “quá trình tạo nghĩa do ngôn ngữ đóng góp nên” [92], quá trình này được thực hiện thông qua việc vận dụng kiến thức nền và tạo nên “các quá trình phức hợp khi tạo ra sự kết hợp ý niệm” Ý niệm hoá liên quan tới bản chất tư duy linh hoạt và năng động của con người

b Miền, miền nguồn, miền đích

“Miền nhất thiết phải là thực thể nhận thức: trải nghiệm tinh thần, không gian biểu diễn, ý niệm hoặc phức hợp ý niệm” [141, tr.147] Nói cách khác, miền là thực thể ý niệm với mức độ phức tạp và tổ chức khác nhau Miền là “hệ thống kiến thức tương đối phức tạp” (relatively complex knowledge structures) và có mối liên hệ với “các bình diện kinh nghiệm tương hợp” (coherent aspects of experience) [92, tr.61] Tương tự, Kövecses cũng đồng ý rằng một miền ý niệm là một “tổ chức kinh nghiệm tương hợp” (coherent

organization of experience) [127, tr.4] Chẳng hạn, miền ý niệm cuộc hành trình bao

gồm người đi hay khách lữ hành, hình thức đi, lộ trình, nơi đến, các trở ngại, v.v

Cơ chế tri nhận của ADYN liên quan đến hai miền tri thức: miền nguồn và miền đích Chúng liên hệ với nhau một cách có hệ thống vì theo Lakoff và Johnson [137], giữa chúng có một số nét tương đồng mang tính hệ thống hoặc có liên hệ theo trải nghiệm của con người Miền nguồn là miền ý niệm, từ đó chúng ta rút ra được các biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ cụ thể để có thể hiểu được một miền ý niệm khác Trong khi đó, miền đích là

Trang 39

miền ý niệm được hiểu thông qua việc sử dụng miền nguồn [127, tr.4] Miền nguồn thường “cụ thể hoặc có tính vật chất hơn” (“more concrete or physical”) và dễ nhận biết, trong khi miền đích “mang tính trừu tượng hơn” (“more abstract”) [127, tr.77] và khó xác định hơn Do đó, việc ánh xạ từ miền nguồn sang miền đích giúp tạo lập các lược đồ hình ảnh, làm công cụ để tri nhận và lý giải miền đích dễ dàng hơn Ví dụ, trong ADYN CUỘC ĐỜI LÀ MỘT HÀNH TRÌNH, miền nguồn là MỘT HÀNH TRÌNH còn miền đích là CUỘC ĐỜI, trong đó miền nguồn MỘT HÀNH TRÌNH cụ thể và quen thuộc hơn được dùng để nhận thức miền đích CUỘC ĐỜI trừu tượng và khó xác định hơn Như vậy, thông qua ADYN, các ý niệm trừu tượng và khó hiểu trở nên dễ hiểu và dễ nhận biết Kövecses [127, tr.18-27] đã đề cập danh sách các miền nguồn và miền đích phổ biến như sau: Các miền nguồn phổ biến gồm: animals (động vật), plants (thực vật), games and sport (trò chơi và thể thao), building and construction (toà nhà và xây dựng), machines and tools (máy móc và công cụ), food (đồ ăn), forces (lực đẩy/ thế lực), v.v Các miền đích phổ biến có: cảm xúc, xã hội, chính trị, quốc gia, sự sống, cái chết, v.v

c Ánh xạ

Ánh xạ (mappings) là quá trình phóng chiếu từ miền nguồn đến miền đích Sơ đồ ánh

xạ là một hệ thống cố định các tương ứng (correspondences) ý niệm giữa các yếu tố tạo thành miền nguồn và miền đích [127, tr.7], [167] hay “các tương ứng ẩn dụ có tính hệ thống giữa các ý niệm có liên quan chặt chẽ với nhau” (“systematic metaphorical correspondences between closely related ideas”) [110, tr.190] Nói cách khác, các đặc điểm, thuộc tính của miền nguồn được phóng chiếu sang miền đích, hay “các thuộc tính nhất định của một dụ dẫn ẩn dụ có liên quan một cách hệ thống với các thuộc tính tương ứng của miền đích” (“certain attributes of a metaphor vehicle are associated in a systematic way with (‘mapped onto’) comparable attributes of the topic.” [159, tr.9] Xác lập được sơ đồ ánh xạ giữa một cặp miền nguồn - đích chính là chìa khóa tìm hiểu về ADYN Lakoff [136] đã khái quát quá trình ánh xạ từ miền nguồn sang miền đích như sau: TARGET-DOMAIN IS SOURCE-DOMAIN (MIỀN ĐÍCH LÀ MIỀN NGUỒN) hay A LÀ B, trong đó ý niệm miền B tạo ra ý niệm miền A Ánh xạ giúp chúng ta hiểu được nghĩa của ẩn dụ bằng việc xác định các khía cạnh nhất định của miền nguồn và miền đích tương đồng với nhau như thế nào Những ánh xạ này dựa vào sự giống nhau không theo nghĩa đen (non-literal similarity), điều này có nghĩa là một đơn vị ngôn ngữ

có hai hoặc hơn hai nghĩa khác biệt/ riêng biệt nhưng được quy ước hoá và có liên quan với nhau, bao gồm nghĩa cơ bản và nghĩa văn bản [167, tr.139]

Ánh xạ giữa miền đích và miền nguồn liên quan đến hai loại tương đồng: tương đồng bản thể (ánh xạ bản thể luận) và tương đồng về kiến thức (ánh xạ khoa học luận) [131, tr.386-388] Tương đồng bản thể diễn ra giữa các yếu tố của hai miền Tương đồng về

Trang 40

kiến thức chỉ ra mối quan hệ giữa các yếu tố của hai miền (bao gồm cả kiến thức chung

về mỗi miền)

Như trên đã trình bày, một thuộc tính của ánh xạ là tính cục bộ Chúng ta sử dụng ẩn

dụ để ánh xạ một số khía cạnh nhất định của miền nguồn lên miền đích từ đó có cái nhìn mới mẻ và hiểu rõ hơn về miền đích [140] Ngoài ra, ánh xạ cũng có tính đơn hướng và chỉ được phóng chiếu từ miền nguồn sang miền đích

d Nghiệm thân

Nghiệm thân (embodiment) là một khái niệm cơ bản và quan trọng, là tư tưởng trọng yếu của NNHTN và là một trong những đặc tính cần thiết nhất của tri nhận ở con người Điều này có thể được lý giải ở chỗ khái niệm này là cơ sở phân biệt ngữ pháp tạo sinh và NNHTN, trong đó ngữ pháp tạo sinh chú trọng phân tích ngôn ngữ mang tính bẩm sinh,

di truyền và sẵn có trong não, còn NNHTN cho rằng tri thức về ngôn ngữ là sản phẩm của quá trình tư duy của con người dựa trên những trải nghiệm thân thể có được do sự tương tác dài lâu giữa con người với giới tự nhiên và xã hội Lakoff và Johnson [137] đã xác định ba nguồn cụ thể, gồm cơ thể con người, sự tương tác với môi trường vật chất, sự tương tác với những người khác trong môi trường văn hoá, là cơ sở cho các quá trình chiếu xạ ẩn dụ Tương ứng với đó là 3 loại kinh nghiệm tự nhiên: kinh nghiệm của cơ thể, kinh nghiệm được tạo ra trong sự tương tác với môi trường vật chất và kinh nghiệm có được trong sự tương tác với môi trường văn hoá Chúng chính là các yếu tố tạo ra các miền nguồn cơ bản của ADYN Rohrer cho rằng nghiệm thân là trải nghiệm chung (broadly experiential) và cơ tầng mang tính thân xác (the bodily substrate) và “sự nghiệm thân mang tính xã hội, tri nhận và vật lý của con người là nền tảng cho hệ thống ngôn ngữ

và ý niệm của chúng ta” (“human physical, cognitive, and social embodiment ground our conceptual and linguistic systems” [160, tr 27] Geeraerts (bản dịch của Phạm Văn Lam [14, tr.269]) cho rằng “Trụ cột thứ 3 của lí thuyết ẩn dụ ý niệm chính là quan điểm cho rằng ẩn dụ đã bén rễ từ kinh nghiệm: kinh nghiệm của con người đã định hình ngôn ngữ”

và “có một hướng nghiên cứu quan trọng liên quan đến lí thuyết ẩn dụ ý niệm tập trung vào bản chất hữu hình/ vật chất của nền tảng kinh nghiệm, đó chính là sự nghiệm thân” Như vậy, nghiệm thân được hiểu là sự trải nghiệm chung của con người về cơ thể vật lý, sinh học (con người vật lý, sinh học), về nhận thức xã hội và về xã hội (con người văn hoá, xã hội) Thông qua nghiệm thân mà các quá trình phạm trù hoá, ý niệm hoá, sự suy

lý của con người cũng được tìm hiểu và làm sáng rõ Cả ngôn ngữ và tư duy đều mang tính nghiệm thân [127, tr.118] Ví dụ, cơ sở nghiệm thân cho ADYN “TÍCH CỰC LÀ ÁNH SÁNG” dựa vào trải nghiệm của thị giác cho thấy “CHÓI là cảm giác mắt bị rối loạn, phải nheo lại do cường độ tác động mạnh, chiếu thẳng của ánh sáng” Theo hướng

tích cực, “chói” được dùng để chỉ “sắc đẹp rực rỡ” (“Phút mốt, nó trở nên chói sáng”) hay

Ngày đăng: 08/06/2023, 18:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Kim Anh (2014). Ẩn dụ ý niệm HÔN NHÂN LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH trong kho tàng thành ngữ, tục ngữ, Truy cập 10/05/2019, từ http://nguvan.hnue.edu.vn/Nghiencuu/Ngonngu/tabid/100/newstab/254/Default.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ ý niệm HÔN NHÂN LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH trong kho tàng thành ngữ, tục ngữ
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Anh
Năm: 2014
2. Trần Thị Lan Anh (2017). Ẩn dụ ý niệm trong thơ và kịch Lưu Quang Vũ. Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ ý niệm trong thơ và kịch Lưu Quang Vũ
Tác giả: Trần Thị Lan Anh
Nhà XB: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2017
3. Lê Tú Anh (2013). Tiểu thuyết quốc ngữ đầu thế kỷ XX và chức năng dự báo của văn học. Tạp chí Nghiên cứu văn học, Số 3/2013, 98-109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết quốc ngữ đầu thế kỷ XX và chức năng dự báo của văn học
Tác giả: Lê Tú Anh
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu văn học
Năm: 2013
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2022). Ngữ văn lớp 11 (Tập 1). Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn lớp 11 (Tập 1)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb. Giáo dục Việt Nam
Năm: 2022
5. Đỗ Hữu Châu (1962). Giáo trình Việt ngữ, tập 2 (Từ hội học). Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Việt ngữ, tập 2 (Từ hội học)
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1962
6. Đỗ Hữu Châu (1981). Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt. Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1981
7. Đỗ H ữ u Châu (2005). Đỗ H ữ u Châu tuy ể n tập - tập 1: T ừ v ự ng Ng ữ ngh ĩ a. Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ H ữ u Châu tuy ể n tập - tập 1: T ừ v ự ng Ng ữ ngh ĩ a
Tác giả: Đỗ H ữ u Châu
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2005
8. Vũ Thị Sao Chi, Phạm Thị Thu Thuỷ (2014). Hai ý niệm tương phản - nền tảng cho ẩ n d ụ tri nhận trong th ơ Ch ế Lan Viên. Truy cập 13/04/2019, từ http://nguvan.hnue.edu.vn/Nghiencuu/Ngonngu/tabid/100/newstab/255/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hai ý niệm tương phản - nền tảng cho ẩ n d ụ tri nhận trong th ơ Ch ế Lan Viên
Tác giả: Vũ Thị Sao Chi, Phạm Thị Thu Thuỷ
Năm: 2014
9. Trần Văn Cơ (2007). Ngôn ngữ học tri nhận (Ghi chép và suy nghĩ). Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận (Ghi chép và suy nghĩ)
Tác giả: Trần Văn Cơ
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2007
10. Trần Văn Cơ (2009). Khảo luận ẩn dụ tri nhận. Nxb. Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo luận ẩn dụ tri nhận
Tác giả: Trần Văn Cơ
Nhà XB: Nxb. Lao động xã hội
Năm: 2009
11. Trần Văn Cơ (2011). Ngôn ngữ học tri nhận: Từ điển, tường giải và đối chiếu. Nxb. Phương Đông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận: Từ điển, tường giải và đối chiếu
Tác giả: Trần Văn Cơ
Nhà XB: Nxb. Phương Đông
Năm: 2011
12. Nguyễn Tiến Dũng (2018). Ẩn dụ ý niệm trong các diễn ngôn chính trị (trên tư liệu tiếng Anh và tiếng Việt). Luận án tiến sĩ Ngữ văn. Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ ý niệm trong các diễn ngôn chính trị (trên tư liệu tiếng Anh và tiếng Việt)
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Nhà XB: Học viện Khoa học xã hội
Năm: 2018
13. Hữu Đạt (2000). Phong cách h ọ c và các phong cách ch ứ c năng ti ế ng Việt. Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách h ọ c và các phong cách ch ứ c năng ti ế ng Việt
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb. Văn hóa - Thông tin
Năm: 2000
14. Geeraerts, D. (2015). Các lý thuyết ngữ nghĩa học từ vựng. Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội (Dịch: Phạm Văn Lam) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Geeraerts, D
Nhà XB: Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2015
15. Nguyễn Thiện Giáp (1985). Từ vựng học tiếng Việt. Nxb. ĐH và THCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb. ĐH và THCN
Năm: 1985
16. Nguyễn Thiện Giáp (2005). Từ vựng học tiếng Việt. Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2005
17. Hà Thanh Hải (2011). Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế Anh - Việt. Luận án tiến sĩ Ngữ văn. Trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế Anh - Việt
Tác giả: Hà Thanh Hải
Nhà XB: Trường
Năm: 2011
18. Nguyễn Thị Bích Hạnh (2014). Ẩn dụ tri nhận trong ca từ Trịnh Công Sơn. Luận án tiến sĩ Ngôn ngữ học. Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ tri nhận trong ca từ Trịnh Công Sơn
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hạnh
Nhà XB: Học viện Khoa học xã hội
Năm: 2014
19. Nguyễn Thị Bích Hạnh (2015). Ẩn dụ tri nhận trong ca từ Trịnh Công Sơn. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ tri nhận trong ca từ Trịnh Công Sơn
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hạnh
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2015
20. Nguyễn Thị Bích Hạnh (2020). Ẩn dụ ý niệm (trên tư liệu thành ngữ và báo mạng tiếng Việt). Đề tài Khoa học cấp Bộ. Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ ý niệm (trên tư liệu thành ngữ và báo mạng tiếng Việt)
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hạnh
Nhà XB: Học viện Khoa học xã hội
Năm: 2020

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Các mô hình ADYN trong các nghiên cứu nước ngoài trước đây - Luận án Tiến sĩ Đối chiếu ẩn dụ ý niệm về người phụ nữ trong tiếng Anh và tiếng Việt (trên cứ liệu các tác phẩm văn học thế kỉ 20)
Bảng 1.1. Các mô hình ADYN trong các nghiên cứu nước ngoài trước đây (Trang 22)
Hình 1.1. Khung phân tích của - Luận án Tiến sĩ Đối chiếu ẩn dụ ý niệm về người phụ nữ trong tiếng Anh và tiếng Việt (trên cứ liệu các tác phẩm văn học thế kỉ 20)
Hình 1.1. Khung phân tích của (Trang 55)
Hình 2.1. Tần suất của các tiểu loại ẩn dụ về người phụ nữ - Luận án Tiến sĩ Đối chiếu ẩn dụ ý niệm về người phụ nữ trong tiếng Anh và tiếng Việt (trên cứ liệu các tác phẩm văn học thế kỉ 20)
Hình 2.1. Tần suất của các tiểu loại ẩn dụ về người phụ nữ (Trang 57)
Hình 2.2. Tính tầng bậc của ẩn dụ về người phụ nữ - Luận án Tiến sĩ Đối chiếu ẩn dụ ý niệm về người phụ nữ trong tiếng Anh và tiếng Việt (trên cứ liệu các tác phẩm văn học thế kỉ 20)
Hình 2.2. Tính tầng bậc của ẩn dụ về người phụ nữ (Trang 58)
Hình 3.1. Tần suất của các tiểu loại ẩn dụ về NGƯỜI PHỤ NỮ - Luận án Tiến sĩ Đối chiếu ẩn dụ ý niệm về người phụ nữ trong tiếng Anh và tiếng Việt (trên cứ liệu các tác phẩm văn học thế kỉ 20)
Hình 3.1. Tần suất của các tiểu loại ẩn dụ về NGƯỜI PHỤ NỮ (Trang 113)
Hình 3.2. Tính tầng bậc của ẩn dụ về người  phụ nữ có miền nguồn THỰC THỂ VÔ  SINH trong tiếng Anh và tiếng Việt - Luận án Tiến sĩ Đối chiếu ẩn dụ ý niệm về người phụ nữ trong tiếng Anh và tiếng Việt (trên cứ liệu các tác phẩm văn học thế kỉ 20)
Hình 3.2. Tính tầng bậc của ẩn dụ về người phụ nữ có miền nguồn THỰC THỂ VÔ SINH trong tiếng Anh và tiếng Việt (Trang 114)
Bảng 3.2. Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ HÀNG HOÁ - Luận án Tiến sĩ Đối chiếu ẩn dụ ý niệm về người phụ nữ trong tiếng Anh và tiếng Việt (trên cứ liệu các tác phẩm văn học thế kỉ 20)
Bảng 3.2. Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ HÀNG HOÁ (Trang 118)
Bảng 3.3. Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG - Luận án Tiến sĩ Đối chiếu ẩn dụ ý niệm về người phụ nữ trong tiếng Anh và tiếng Việt (trên cứ liệu các tác phẩm văn học thế kỉ 20)
Bảng 3.3. Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG (Trang 131)
Bảng 1.1. Chỉ số đánh giá chiều văn hoá của một số quốc gia - Luận án Tiến sĩ Đối chiếu ẩn dụ ý niệm về người phụ nữ trong tiếng Anh và tiếng Việt (trên cứ liệu các tác phẩm văn học thế kỉ 20)
Bảng 1.1. Chỉ số đánh giá chiều văn hoá của một số quốc gia (Trang 194)
Bảng 3.1. Thống kê các tiểu loại ẩn dụ về NGƯỜI PHỤ NỮ - Luận án Tiến sĩ Đối chiếu ẩn dụ ý niệm về người phụ nữ trong tiếng Anh và tiếng Việt (trên cứ liệu các tác phẩm văn học thế kỉ 20)
Bảng 3.1. Thống kê các tiểu loại ẩn dụ về NGƯỜI PHỤ NỮ (Trang 200)
Bảng 3.2. Thống kê các tiểu loại ẩn dụ NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ ĐỘNG VẬT - Luận án Tiến sĩ Đối chiếu ẩn dụ ý niệm về người phụ nữ trong tiếng Anh và tiếng Việt (trên cứ liệu các tác phẩm văn học thế kỉ 20)
Bảng 3.2. Thống kê các tiểu loại ẩn dụ NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ ĐỘNG VẬT (Trang 200)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w